1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của hành vi hợp tác của đối tác đến sự hài lòng của phía việt nam trong các công ty liên doanh

76 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này sự thành công của liên doanh được xem xét ở một góc độ nhỏ là sự hài lòng của phía trong nước đối với quan hệ liên doanh 1 và đối với kết quả hoạt động của liên doan

Trang 1

VÕ VĂN TRƯỜNG

TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH VI HỢP TÁC CỦA ĐỐI TÁC

ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA PHÍA VIỆT NAM

TRONG CÁC CÔNG TY LIÊN DOANH

Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 12 năm 2008

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Lê Nguyễn Hậu

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được nhiều sự giúp

đỡ của các thầy cô giáo, các bạn học, gia đình và Ban lãnh đạo Công ty CP Công nghệ Viettel – nơi tôi làm việc và rèn luyện Tôi xin được bày tỏ sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với những sự giúp đỡ này

Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong ban giảng huấn của Khoa Quản lý Công nghiệp, trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM – những người đã nhiệt tình giảng dạy

và giúp đỡ cho tôi trong suốt khóa học này Đặc biệt, tôi xin trân trọng gởi lời cảm

ơn đến TS Lê Nguyễn Hậu đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện hoàn thành luận văn này

Xin gởi lời cảm ơn đến các bạn của tôi – những người đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập dữ liệu cho luận văn

Cuối cùng, tôi xin được trân trọng cảm ơn tất cả thành viên trong gia đình tôi – những người luôn động viên, giúp đỡ nhất là về mặt tinh thần cho tôi trong suốt khoá học này

Võ Văn Trường Tp.Hồ Chí Minh, tháng 12 - 2008

Trang 4

TÓM TẮT

Với xu hướng toàn cầu hoá, tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng tăng, việc hình thành các liên minh chiến lược đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược kinh doanh của nhiều công ty Tại Việt Nam, nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước Hình thức liên minh dưới dạng liên doanh quốc tế trở nên phổ biến và tăng về số lượng lẫn qui mô kể từ khi Việt Nam mở cửa Để tạo nên thành công cho liên doanh tại Việt Nam, cụ thể là sự hài lòng của các đối tác, thì việc nghiên cứu các yếu tố trong hành vi hợp tác có tác động đến sự hài lòng của các đối tác là rất cần thiết Nghiên cứu này thực hiện nhằm mục đích xem xét tác động của hành vi hợp tác giữa các đối tác trong liên doanh quốc tế tại Việt Nam đến sự hài lòng của phía trong nước

Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước định tính và định lượng Nghiên cứu định tính theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp nhằm đánh giá mức độ rõ ràng của từ ngữ và khả năng trả lời các câu hỏi Nghiên cứu định lượng thông qua phỏng vấn bằng bảng câu hỏi trong liên doanh quốc tế tại Tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu Dữ liệu được sử dụng để đánh giá thang đo và kiểm định các giả thuyết Phân tích hệ số Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), và phân tích hồi qui được sử dụng trong phần này Kết quả kiểm định hai mô hình cho thấy phần lớn các giả thuyết được chấp nhận Kết quả nghiên cứu góp phần đem lại ý nghĩa thực tiễn cho các nhà quản trị trong liên doanh quốc tế và các nhà nghiên cứu liên doanh quốc tế tại Việt Nam Hơn nữa, nó giúp nhà quản trị nâng cao nhận thức và

có hành vi phù hợp nhằm tạo nên một liên doanh hoạt động hiệu quả hơn

Bên cạnh đó, nghiên cứu vẫn còn một vài hạn chế Trước tiên, nghiên cứu này chỉ dựa vào đánh giá bởi nhận thức chủ quan của đại diện phía Việt Nam trong liên doanh, không thu thập được thông tin từ phía đối tác nước ngoài Nghiên cứu chỉ xem xét tác động của một vài yếu tố trong hành vi hợp tác để xem xét tác động lên

sự hài lòng Nghiên cứu chỉ thu thập dữ liệu của các liên doanh đang hoạt động, không phỏng vấn được các liên doanh đã giải thể nên cũng hạn chế tính tổng quát

Trang 5

ABSTRACT

With the current trend toward globalization and the increasing competition among firms, the formation of international strategic alliances has become an important part of many firm’s international business strategy In Vietnam, sources from foreign direct investment (FDI) take an important part in the development of Vietnam’s economy The formation of strategic alliances as international joint venture (IJV) has become a common way and the number of IJVs has increased in quantity and scale since Vietnam’s economy was opened In order to build the success for IJV in Vietnam under the partners’ satisfaction, conducting the cooperative behavior research is very critical to understand the effect of cooperative behavior to the satisfaction of Vietnamese partners This study, therefore, aims to assess the impact of cooperative behavior on the success of IJV as partners’ satisfaction

The study was conducted by two stages of preliminary survey and main survey The purpose of the preliminary survey is to examine whether the questions are clear for respondents to answer or not The main survey is carried out via a self-completed questionnaire in HCM city, Dongnai, Binhduong, and Vungtau province Data is used to access the scales’ reliability and validity, and test the hypotheses Cronbach’s alpha analysis, exploring factor analysis and regression analysis are applied for this stage The results show that cooperative behavior plays a significant role in explaining overall IJV performance High levels of commitment, coordination, and communication are found to be good predictors of IJV success There are a number of limitations to this study First, the analysis conducted in this study was based on the perception of the Vietnamese partners engaged in IJV and, therefore, does not capture the cooperative behaviors of both partners Second, the study examines a limit number of factors so the model fit is rather low And finally, the study only examines firms in operation so the result might be bias

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH HÌNH VẼ ix

DANH SÁCH BẢNG BIỂU ix

CHƯƠNG 1 1

TỔNG QUAN 1

1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

1.5 Bố cục luận văn 3

CHƯƠNG 2 4

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1 Giới thiệu 4

2.2 Định nghĩa liên doanh 4

2.2.1 Phân loại liên doanh 4

2.2.2 Đánh giá hoạt động của liên doanh 5

2.3 Các yếu tố thành công của liên doanh 6

2.3.1 Các yếu tố tạo thành công ban đầu của quá trình thành lập liên doanh 7

2.3.2 Các yếu tố sau khi thành lập liên doanh (ex-post) 7

2.3.3 Hành vi hợp tác (Cooperative Behavior) trong liên doanh 7

Trang 7

2.4 Mô hình nghiên cứu 8

2.4.1 Sự phối hợp (Coordination) trong hoạt động giữa các đối tác 9

2.4.2 Sự phụ thuộc (Dependency) vào liên doanh của các đối tác 9

2.4.3 Sự cam kết (Commitment) với liên doanh 10

2.4.4 Thông tin giao tiếp 11

2.4.4.1 Chất lượng thông tin 11

2.4.4.2 Chia sẻ thông tin 11

2.4.4.3 Sự tham gia 12

2.4.5 Hài lòng với quan hệ liên doanh và với kết quả hoạt động của liên doanh 12

2.5 Tóm tắt 13

CHƯƠNG 3 15

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Giới thiệu 15

3.2 Thiết kế nghiên cứu 15

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 15

3.2.2 Qui trình nghiên cứu 16

3.3 Các biến nghiên cứu và thang đo 18

3.3.1 Sự phối hợp giữa các đối tác trong liên doanh 18

3.3.2 Sự phụ thuộc 19

3.3.3 Sự cam kết 20

3.3.4 Thông tin giao tiếp 21

3.3.5 Đo lường sự hài lòng 22

3.4 Mẫu nghiên cứu định lượng chính thức 22

Trang 8

3.5 Tóm tắt 23

CHƯƠNG 4 25

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Giới thiệu 25

4.2 Thống kê mô tả mẫu 25

4.2.1 Tỷ lệ hồi đáp 25

4.2.2 Thời gian hoạt động của liên doanh 26

4.2.3 Quốc tịch của đối tác 26

4.2.4 Ngành hoạt động 27

4.3 Đánh giá thang đo 27

4.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach alpha 27

4.3.2 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 29

4.3.2.1 Sự phối hợp 29

4.3.2.2 Sự phụ thuộc 29

4.3.2.3 Sự cam kết 29

4.3.2.4 Thông tin giao tiếp 30

4.3.2.5 Sự hài lòng 31

4.3.2.6 Phân tích nhân tố 31

4.4 Mô hình điều chỉnh 33

4.5 Phân tích tương quan và phân tích hồi qui 34

4.5.1 Phân tích tương quan 34

4.5.2 Phân tích hồi qui và kiểm định giả thuyết 35

4.5.2.1 Phân tích hồi qui mô hình 1 35

Trang 9

4.5.2.2 Phân tích hồi qui cho mô hình 2 38

4.5.2.3 Kết quả phân tích hồi qui 39

4.6 Thảo luận về kết quả 42

4.7 Tóm tắt 44

CHƯƠNG 5 45

KẾT LUẬN 45

5.1 Kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu 45

5.2 Hàm ý cho nhà quản trị 46

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LỤC 53

Phụ lục 1:Dàn bài thảo luận trực tiếp 53

Phụ lục 2:Bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng 54

Phụ lục 3:Phân tích nhân tố EFA 58

Phụ lục 3a:Phân tích phân tố EFA biến Cam kết ( Commitment) 58

Phụ lục 3b:Phân tích EFA các biến thông tin giao tiếp (Communications) 59

Phụ lục 3c:Phân tích EFA biến hài lòng (Satisfaction) 59

Phụ lục 3d:Phân tích EFA các biến độc lập 60

Phụ lục 4:Phân tích tương quan 61

Phụ lục 5:Phân tích hồi qui 62

Phụ lục 5a: Phân tích hồi qui mô hình 1 62

Phụ lục 5b: Phân tích hồi qui mô hình 2 63

Phụ lục 6:Khảo sát phân phối của phần dư 64

Trang 10

Phụ lục 6a:Phụ lục 6a: Biến ZRE_1, phần dư của phương trình hồi qui 1 64 Phụ lục 6b: Biến ZRE_2, phần dư của phương trình hồi qui 2 65

Hình 4.3 Kết quả của phân tích hồi qui (mô hình 1) 36Hình 4.4 Kết quả phân tích hồi qui (mô hình 2) 38

DANH SÁCH BẢNG BIỂU

Tên bảng Trang

Bảng 4.2: Thống kê các Quốc gia trong liên doanh 27

Bảng 4.5: Kết quả phân tích Cronbach alpha sau khi phân tích EFA 30

Bảng 4.8 Kết quả phân tích hồi qui đa biến 37Bảng 4.9 Kết quả kiểm định các giả thuyết cho mô hình 1 - SaRel 39Bảng 4.10 Kết quả kiểm định các giả thuyết cho mô hình 2 - SaPer 41

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

Với xu hướng toàn cầu hóa ngày nay, tính cạnh tranh ngày càng tăng, việc hình thành các liên minh chiến lược đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược kinh doanh của nhiều công ty (Kauser, 2004) Liên minh chiến lược được xem là cách hiệu quả để nhanh chóng tiếp cận công nghệ mới để thâm nhập vào một thị trường mới, để nhanh chóng vượt qua những rào cản thương mại của luật pháp nước

sở tại (Contractor và Lorange, 1988), và để học tập những kỹ năng trong các lĩnh vực chuyên môn của những doanh nghiệp tiên tiến (Elmuti và Kathawala, 2001) Với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước Trong đó, doanh nghiệp liên doanh là phổ biến và tăng về số lượng lẫn qui mô (1) Các đối tác phía Việt Nam thường đóng góp vào liên doanh cơ sở vật chất hiện có, nhân lực, quyền

sử dụng đất đai và phía nước ngoài mang vào tài chính, công nghệ, trình độ quản lý

để tạo nên một doanh nghiệp chung cùng nhau hoạt động (1)

Tuy nhiên, việc xây dựng, duy trì và phát triển liên minh chiến lược nói chung, liên doanh nói riêng không phải là đơn giản Các dự án liên doanh thường thất bại vì các lỗi trong việc quản lý (Elmuti và Kathawala, 2001) Việc không hài lòng với quan

hệ liên minh là một trong những lý do chính khiến nhiều liên minh không thành công (Fortune, 1990) Nhiều vấn đề trong quản lý liên doanh xuất phát từ vấn đề thiếu quan tâm chú ý đến mối quan hệ (Coopers và Lybrand, 1997 trích từ Kauser, 2004) Hiểu các yếu tố liên quan đến thành công cho liên doanh sẽ giúp các nhà quản trị phát triển mối quan hệ đối tác tốt hơn, hiệu quả hơn trong tương lai Khi các liên doanh hoạt động hiệu quả, thành công sẽ góp phần rất lớn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong nước

Trang 12

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Việc đánh giá hoạt động của liên doanh là rất khó khăn tùy thuộc vào mối quan tâm của các nghiên cứu khác nhau Nghiên cứu này dựa trên tiền đề là các yếu tố về hành vi hợp tác có tác động đến thành công của liên doanh (Geringer và Hebert, 1989; Parkhe, 1993; Mohr và Spekman, 1994; Saxton,1997)

Thành công của liên doanh có thể được hình thành từ nhiều yếu tố Trong nghiên cứu này sự thành công của liên doanh được xem xét ở một góc độ nhỏ là sự hài lòng của phía trong nước đối với quan hệ liên doanh (1) và đối với kết quả hoạt động của liên doanh (2) Đề tài này được thực hiện với các mục tiêu:

Trước hết là xem xét tác động của các hành vi hợp tác bao gồm các yếu tố phối hợp, cam kết, phụ thuộc vào đối tác và thông tin giao tiếp đối với sự hài lòng của đối tác trong nước về mối quan hệ liên doanh và về kết quả hoạt động của liên doanh Sau đó là thông qua kết quả của nghiên cứu sẽ đưa ra những đề xuất để các nhà quản trị trong công ty liên doanh hiện tại cũng như sắp hình thành trong tương lai điều chỉnh hoạt động của mình để đạt hiệu quả và thành công cho liên doanh

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu tập trung vào thái độ, nhận thức của đại diện phía Việt Nam trong liên doanh với nước ngoài về sự hài lòng với mối quan hệ liên doanh và với kết quả hoạt động của liên doanh Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước: nghiên cứu định tính để kiểm tra sự phù hợp của các mục hỏi của thang đo sau đó tiến hành nghiên cứu định lượng chính thức Khi nghiên cứu các doanh nghiệp liên doanh, tùy thuộc vào mục tiêu và mối quan tâm của những người nghiên cứu mà các liên doanh có thể được phân chia theo các tiêu chí khác nhau Đề tài nghiên cứu này chỉ tập trung vào các doanh nghiệp liên doanh đang trong giai đoạn hoạt động giữa Việt Nam với đối tác là công ty nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh và mở rộng đến các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu hoạt động kể từ khi Việt Nam thông qua luật đầu tư nước ngoài năm 1988 đến nay Vì đây là khu vực kinh tế trọng điểm của cả nước nên phạm vi nghiên cứu này có tính đại diện cao

Trang 13

1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này đem lại ý nghĩa thực tiễn cho các doanh nghiệp liên doanh,

và các nhà nghiên cứu về liên doanh quốc tế tại Việt Nam Cụ thể, kết quả nghiên cứu này giúp cho các doanh nghiệp liên doanh, các nhà quản trị hiểu biết hơn nữa

sự tác động của các hành vi hợp tác lên sự hài lòng trong liên doanh Từ đó các nhà quản trị có thể điều chỉnh hoặc nâng cao sự chú ý của mình vào yếu tố tác động đến

sự hài lòng liên quan đến hài lòng với quan hệ liên doanh và hài lòng với kết quả hoạt động của liên doanh Cùng với ý tưởng đó, nghiên cứu này giúp những doanh nghiệp sắp liên doanh cũng sẽ xác định được một số yếu tố quan trọng giúp họ xây dựng một liên doanh trong tương lai thành công hơn Và nghiên cứu này cũng góp phần khẳng định thêm các yếu tố thuộc về hành vi trong liên doanh có tác động đến

sự hài lòng của đối tác trong liên doanh

1.5 Bố cục của luận văn

Kết cấu của luận văn được chia thành năm chương Chương 1 giới thiệu tổng quan

về vấn đề nghiên cứu Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về liên doanh, đánh giá hoạt động của liên doanh và xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiên cứu Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng với các giả thuyết đề ra Chương 4 trình bày phương pháp phân tích dữ liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu Chương cuối cùng là chương 5 nêu tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp, hàm ý của nghiên cứu cho nhà quản trị cũng như những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 14

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Giới thiệu

Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Trong chương 2 này sẽ giới thiệu các lý thuyết về liên doanh, các thành phần của các hành vi phối hợp trong liên doanh và đưa ra mô hình tác động của các hành vi phối hợp lên sự hài lòng của đối tác phía Việt Nam trong liên doanh quốc tế Chương này gồm các phần chính: (1) Định nghĩa liên doanh, các hình thức phân loại liên doanh, (2) quan điểm đánh giá hoạt động của liên doanh, và (3) mô hình về sự tác động bởi các yếu tố của hành

vi phối hợp đến sự hài lòng xét với mối quan hệ liên doanh và kết quả hoạt động của đối tác phía trong nước

2.2 Định nghĩa liên doanh

Liên doanh (Joint Venture) là một dạng của liên minh chiến lược (Strategic Alliance) đặc biệt được hình thành từ hai hay nhiều đối tác kết hợp sức mạnh để tạo nên một công ty trong đó mỗi bên chia sẻ nguồn lực và mong đợi sự phân chia lợi ích như lợi nhuận, quản lý, ra quyết định trong liên doanh (Harrigan, 1988) Kết quả của liên doanh tùy thuộc vào mục tiêu của liên doanh Ví dụ, nhiều liên doanh được thành lập như một trung tâm chi phí với lợi ích tập trung vào các hoạt động của đối tác Liên doanh cũng có thể được thành lập để phát triển công nghệ hay học tập những lĩnh vực khác như marketing hơn là lợi ích tài chính trước mắt (Glaister và Buckley, 1998)

2.2.1 Phân loại liên doanh

Có nhiều phân loại liên doanh tùy thuộc vào quan tâm của các nhà nghiên cứu Phân loại thông thường theo các đặc điểm sau:

Góp vốn: Phổ biến là loại liên doanh góp vốn trong đó các công ty mẹ đầu tư tài chính vào Ít phổ biến hơn là liên doanh mà không góp vốn mà một bên chỉ đơn

Trang 15

thuần là cung cấp dịch vụ cho bên còn lại (Gupta và Dutta, 1998 trích từ Le Nguyen Hau, 2007)

Quyền lực: nhiều tác giả phân biệt liên doanh chia sẻ và liên doanh chi phối (Killing, 1983) Đối với liên doanh chia sẻ, vốn được chia đều (có thể 50/50) giữa các bên và do đó quyền lực ra quyết định được chia sẻ giữa mỗi bên Ngược lại, đối với liên doanh chi phối một đối tác đóng vai trò chi phối trong việc ra quyết định chiến lược

Khu vực địa lý: liên doanh được phân loại thành trong nước và quốc tế Một liên doanh quốc tế (IJV) trong đó ít nhất một trong các tổ chức tham gia (hay công ty mẹ) là ở nước khác (Geringer và Hebert, 1989)

Trong nghiên cứu này, sự phân chia liên doanh để nghiên cứu theo tiêu chí khu vực địa lý Các đối tượng nghiên cứu là những doanh nghiệp liên doanh giữa một phía là đại diện cho phía trong nước và phía còn lại là ít nhất một tổ chức đến từ nước khác

2.2.2 Đánh giá hoạt động của liên doanh

Đánh giá hoạt động của liên doanh không phải là một công việc dễ dàng Tùy thuộc vào mục đích, mục tiêu của từng liên doanh cụ thể mà các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động là khác nhau Do đó, thành công của một liên doanh nào đó tùy thuộc vào mục tiêu thiết lập ban đầu (Fryxell và đồng sự, 2002)

Trong nghiên cứu tổ chức, hoạt động của một tổ chức thông thường là biến phụ thuộc cơ bản Đó là khái niệm mô tả hiệu quả của quá trình hoạt động của một tổ chức Tuy nhiên ít có sự thống nhất trong các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động của một tổ chức (Glaister và Buckley,1998) Trong việc liên doanh, trong khi một số tổ chức cho rằng đáp ứng mục tiêu chuẩn về kinh doanh như tạo lợi nhuận,

số tổ chức khác có thể là học một công nghệ hay thâm nhập vào thị trường mới Không dễ để đánh giá một liên doanh đáp ứng tốt như thế nào những mục tiêu định tính đó (Anderson,1990) Một vấn đề khác là mặc dù liên doanh là một tổ chức kinh doanh độc lập, mục tiêu chiến lược cơ bản của liên doanh có thể là lợi nhuận cho

Trang 16

các công ty mẹ điều này có thể gây sự mâu thuẫn cho các công ty mẹ với nhau Do

đó, đây là sự kết hợp mục tiêu chiến lược của các công ty nên việc đánh giá hoạt động trở nên phức tạp hơn

Tranh luận chính liên quan đến hai vấn đề Trước hết, đánh giá hoạt động của liên doanh từ góc nhìn của ai (một đối tác, đối tác còn lại cả hai hay là bản thân liên doanh)? Thứ hai, thang đo nào được sử dụng (từ đánh giá chủ quan đến các chỉ tiêu tài chính – khách quan) ? Sự thiếu nhất trí làm cho việc so sánh và tổng quát hóa hoạt động của liên doanh đặc biệt khó khăn (Calantone và Zhao, 2000 trích từ Le Nguyen Hau, 2007)

Có hai cách đánh giá được sử dụng để đánh giá hoạt động của liên doanh, đánh giá chủ quan và đánh giá khách quan:

Thứ nhất đánh giá hoạt động theo chủ quan, liên quan đến sự hài lòng của những người đánh giá (các nhà quản trị trong liên doanh, các nhà quản trị của công

ty mẹ, hoặc kết hợp cả hai) trên các khía cạnh nào đó của liên doanh trong khi đánh giá khách quan căn cứ vào các đánh giá như: sống sót, ổn định…theo như mục tiêu thành lập được công bố (Swierczek, 1998)

Thứ hai, theo đánh giá khách quan hoạt động của liên doanh, các nghiên cứu trước đây sử dụng nhiều loại chỉ số tài chính khác nhau trong nghiên cứu như lợi nhuận, tăng trưởng, chi phí, giá trị cổ phiếu (Nicholas và Purcell, 2001trích từ Le Nguyen Hau, 2007) Các nghiên cứu khác đánh giá bằng sự sống sót của liên doanh (Killing, 1983), sự lâu bền (Harrigan, 1988) sự ổn định quyền chủ sở hữu, và sự thương lượng lại hợp đồng liên doanh (Gomes, 1987)

2.3 Các yếu tố thành công của liên doanh

Các nhà nghiên cứu phân loại các yếu tố tạo nên thành công thành hai yếu tố chính: Yếu tố ban đầu (ex-ante) liên quan đến thời điểm ban đầu hình thành liên doanh Yếu tố sau (ex-post) được sử dụng trong quá trình hoạt động của liên doanh Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cấu trúc của liên doanh ở thời điểm thành lập là các yếu tố chính cho thành công của liên doanh Do đó, thành công có thể được tiên

Trang 17

đoán bởi các thành phần tạo nên sự kết hợp ban đầu (Doz, 1996 trích từ Andrew Taylor, 2005) ví dụ như sự lựa chọn đối tác, chiến lược, và sự phù hợp tổ chức (Das

và Teng, 1996; Shane, 1998; trích Andrew Taylor, 2005) Những ý kiến khác cho rằng quá trình vận hành của liên doanh và nó phát triển như thế nào qua thời gian có tác động chính đến thành công của quan hệ đối tác (Arino và de la Torre, 1998, trích

có thể ảnh hưởng đến sự kết hợp của các nguồn lực và kỹ năng, chính sách hoạt động và qui trình, sự ổn định ngắn hạn và dài hạn cho liên doanh

2.3.2 Các yếu tố sau khi thành lập liên doanh (ex-post)

Các yếu tố sau khi thành lập liên doanh có thể tác động đến thành công của liên doanh bao như: tương thích văn hoá, thông tin giao tiếp (Glaister và Buckley, 1998); tương thích mục tiêu (Vyvas và đồng sự, 1995); sự phụ thuộc vào đối tác trong liên doanh (Glaister và Buckley, 1998); hiệp lực giữa các đối tác (Vyvas và đồng sự, 1995); học tập và hiểu văn hoá khác nhau (Vyvas và đồng sự, 1995); Cam kết với liên doanh (Vyvas và đồng sự, 1995) Trong sự giới hạn của nghiên cứu này

sẽ cố gắng thực hiện nghiên cứu định lượng các yếu tố trong hành vi hợp tác của các đối tác trong liên doanh

2.3.3 Hành vi hợp tác (Cooperative Behavior) trong liên doanh

Nghiên cứu này dựa trên tiền đề rằng các yếu tố trong hành vi hợp tác có tác động đến thành công của liên doanh (Geringer và Hebert, 1989; Mohr và Spekman, 1994) Theo các yếu tố thành công ex-post kết hợp với mục tiêu đánh giá thành công, mô hình nghiên cứu đề nghị phỏng theo Kauser (2004), hành vi hợp tác được xem xét bao gồm: sự phối hợp, sự cam kết, sự phụ thuộc, và thông tin giao tiếp

Trang 18

Hình 2.1: Các yếu tố của hành vi hợp tác tác động đến sự hài lòng, Kauser (2004)

2.4 Mô hình nghiên cứu

- Sự phối hợp trong hoạt động giữa các đối tác trong liên doanh

- Sự cam kết của đối tác nước ngoài với liên doanh

Hài lòng đối với hoạt động của liên doanh

Chia sẻ thông tin

Sự tham gia lập kế hoạch, mục tiêu

H5bH4b H2a

Trang 19

- Sự phụ thuộc của phía Việt Nam trong liên doanh

- Thông tin giao tiếp trong liên doanh được xét gồm ba thành phần: Chất lương thông tin, chia sẻ thông tin, và sự tham gia của phía Việt Nam trong việc lập kế hoạch mục tiêu cho hoạt động của liên doanh

2.4.1 Sự phối hợp (Coordination) trong hoạt động giữa các đối tác

Sự phối hợp (Coordination) trong liên doanh được mô tả là phạm vi hai tổ chức hội nhập thành tổ chức thống nhất trong một mối quan hệ (Salmond và Spekman, 1986) Trong nghiên cứu của Mohr và Spkeman (1994) sự phối hợp giữa nhà bán buôn và nhà cung ứng là yếu tố dự báo cho thành công

H 1a : Phía đối tác trong nước càng hài lòng với quan hệ liên doanh khi mức độ phối

hợp (Coordination) giữa các đối tác càng cao

H 1b : Phía đối tác trong nước càng hài lòng với kết quả hoạt động của liên doanh

khi mức độ phối hợp (Coordination) giữa các đối tác càng cao

2.4.2 Sự phụ thuộc (Dependency) vào liên doanh của các đối tác

Thành công chung của liên doanh liên quan đến sự phụ thuộc của đối tác vào sự liên minh Khía cạnh này liên quan đến sự hợp nhất trong hoạt động của các đối tác (Glaister và Buckley, 1997) Một mạnh và một không mạnh, điều này tạo nên ưu điểm cho liên doanh hơn là mỗi đối tác thực hiện công việc theo cách riêng của mình (Vyvas và đồng sự, 1995)

Sự phụ thuộc lẫn nhau được định nghĩa là mức độ có thể thay thế và độc lập của mỗi công ty về mặt đầu tư và nguồn lực (Kumar và đồng sự, 1995) Nghiên cứu thực nghiệm liên minh giữa nhà cung cấp và nhà bán buôn cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau làm nâng cao hoạt động của liên minh (Olson và Singsuwan, 1997) Mặc

dù các nghiên cứu này không liên quan trực tiếp đến liên doanh quốc tế, mở rộng ra giả thiết rằng:

H 2a : Trong liên doanh, đối tác phía trong nước càng hài lòng với quan hệ liên doanh khi mức độ phụ thuộc (Dependence) vào đối tác càng cao

Trang 20

H 2b : Trong liên doanh, đối tác phía trong nước càng hài lòng với kết quả hoạt động của liên doanh khi mức độ phụ thuộc (Dependence) vào đối tác càng cao

2.4.3 Sự cam kết (Commitment) với liên doanh

Sự cam kết thành công của các nhà quản trị cấp cao là cần thiết Các cá nhân thực hiện việc đàm phán ban đầu có thể thay đổi bởi sự thuyên chuyển, nghỉ hưu, kết thúc hợp đồng…Sự tiếp tục các cam kết của liên doanh cần thực hiện ở tất cả các cấp độ trong tổ chức (Vyvas và đồng sự, 1995) Việc xây dựng cam kết giữa các đối tác rất được chú ý trong nghiên cứu hành vi tổ chức Sự cam kết được định nghĩa phổ biến là lời hứa đảm bảo ngầm tiếp tục mối quan hệ giữa các đối tác (Dwyer và đồng sự, 1987) các đối tác tỏ ra cam kết của họ thông qua thiện ý chấp nhận mối quan hệ lâu dài (Morgan và Hunt, 1994 trích từ Kauser, 2004) Khi thành lập liên doanh, tạo nên mối quan hệ kinh doanh là dựa trên sự cam kết qua lại với nhau (John C Crotts và Gregory B Turner, 1999) Cam kết là biến quan trọng để phân biệt giữa những người ra đi và những người ở lại trong liên minh kinh doanh Cam kết được đánh giá từ hai góc độ trước tiên là cam kết vì các mục tiêu chung của liên doanh hai là cam kết nổ lực vì liên doanh

Cam kết nổ lực vì liên doanh: Cam kết thể hiện mong muốn và nổ lực vì liên

doanh để bảo đảm sự tiếp tục của mối quan hệ Các đối tác mong muốn tiếp tục mối quan hệ lâu bền trong tương lai vì mong muốn nó sẽ mang đến giá trị và lợi nhuận cho các đối tác (Hardwick and Ford, 1986)

Cam kết vì các mục tiêu trong hoạt động của liên doanh: Theo nghiên cứu của

Monckza và đồng sự, 1998; cam kết với các mục tiêu hoạt động là then chốt cho mức độ hoạt động sinh lợi của liên doanh quốc tế

H 3a : Phía đối tác trong nước càng hài lòng với quan hệ liên doanh khi mức độ cam kết (Commitment) của phía đối tác nước ngoài càng cao

H 3b : Phía đối tác trong nước càng hài lòng với kết quả hoạt động của liên doanh khi mức độ cam kết (Commitment) của phía đối tác nước ngoài càng cao

Trang 21

2.4.4 Thông tin giao tiếp (communications)

Thông tin là nền tảng cho hầu hết các hoạt động của liên doanh và do đó cho thành công của liên doanh Thông tin giao tiếp không hiệu quả có thể làm giảm tính hiệu quả của liên minh và do đó dẫn tới sự thất bại của các đối tác trong liên minh (Jain, 1987 trích từ Saleema Kauser, 2004) Ba thành phần của hành vi thông tin được nhận biết là thiết yếu cho thành công của liên doanh là: chất lượng thông tin, mức độ chia sẻ thông tin và sự tham gia vào việc lập kế hoạch và mục tiêu (Mohr and Spekman, 1994; Daft and Lengel, 1986; Huber and Daft, 1987 trích từ Saleema Kauser, 2004)

2.4.4.1 Chất lượng thông tin (quality of information)

Được hiểu là mặt quan trọng của truyền đạt thông tin bao gồm những khía cạnh như sự chính xác, sự đúng lúc, sự đầy đủ, và sự đáng tin cậy của trao đổi thông tin (Huber và Daft, 1987 trích từ Kauser, 2004) Nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận rằng trao đổi thông tin có ý nghĩa và đúng lúc có thể dẫn đến mối quan hệ tin cậy nhau hơn giữa các đối tác do đó giúp các nhà quản trị nhận ra lợi ích khi giảm việc không hiểu nhau (Mohr và Spekman, 1994) Chất lượng thông tin chia sẻ được xem là yếu

tố dự báo quan trọng cho thành công mối quan hệ đối tác

H 4a : Phía đối tác trong nước hài lòng với quan hệ liên doanh hơn khi chất lượng

thông tin giữa các đối tác tốt hơn

H 4b : Phía đối tác trong nước hài lòng với kết quả hoạt động của liên doanh hơn khi

chất lượng thông tin giữa các đối tác tốt hơn

2.4.4.2 Chia sẻ thông tin (information sharing)

Thông tin có mặt ở mỗi bộ phận và được tạo ra trong mỗi hoạt động trong liên doanh và liên quan đến phạm vi giao tiếp thông tin giữa các đối tác (Badaracco, 1991) Mức độ chia sẻ thông tin là yếu tố tác động tích cực tới sự hài lòng trong quan hệ đối tác (Monckza và đồng sự, 1998)

Trang 22

H 5a : Phía đối tác trong nước hài lòng với quan hệ liên doanh hơn khi mức độ chia

sẻ thông tin giữa các đối tác tốt hơn

H 5b : Phía đối tác trong nước hài lòng với kết quả hoạt động của liên doanh hơn khi

mức độ chia sẻ thông tin giữa các đối tác tốt hơn

2.4.4.3 Sự tham gia (participation in planning and goal setting)

Liên quan đến phạm vi mà các đối tác tham gia vào lập kế hoạch và mục tiêu Khi hành động của một đối tác làm tác động đến khả năng cạnh tranh của đối tác còn lại thì sự góp phần trở nên cần thiết để xác định vai trò và trách nhiệm Tham gia vào lập kế hoạch và mục tiêu được xem là yếu tố dự báo cho thành công của mối quan hệ khách hàng – nhà cung cấp (Mohr và Spekman, 1994) Mục tiêu ngắn hạn, dài hạn cần chia sẻ và nên rõ ràng giữa các đối tác Không có sự phù hợp, liên doanh có thể bị kéo về các hướng khác nhau (Vyvas và đồng sự, 1995)

H 6a : Phía đối tác trong nước hài lòng với quan hệ liên doanh hơn khi mức độ tham

gia trong việc lập kế hoạch và mục tiêu cao hơn

H 6b : Phía đối tác trong nước hài lòng với kết quả hoạt động của liên doanh hơn khi

mức độ tham gia trong việc lập kế hoạch và mục tiêu cao hơn

2.4.5 Hài lòng với quan hệ liên doanh và với kết quả hoạt động của liên doanh

Trong phần trình bày trên về thành công của liên doanh cho thấy rằng không có một thước đo đơn giản đầy đủ cho sự thành công Lý do có thể là vì thiếu định nghĩa cho thành công của liên doanh Cùng với sự khó khăn của những thước đo tài chính của hoạt động của liên doanh, một số nhà nghiên cứu chủ trương sử dụng thang đo chủ quan để đánh giá hoạt động của liên doanh (Saxton, 1997) Trong các nghiên cứu gần đây về liên doanh, các thang đo được sử dụng để đo cả sự hài lòng

và hoạt động của liên doanh bằng sự cảm nhận, bằng thái độ (Kauser, 2004) Điều này không có nghĩa rằng các chỉ tiêu tài chính không đánh giá đủ hoạt động của liên doanh ví dụ như lợi nhuận, doanh thu mà vì thu thập dữ liệu tài chính của liên doanh khó khăn vì đây là thông tin nhạy cảm Do đó, hầu hết các phương pháp phổ

Trang 23

biến để đo thành công hoạt động của liên doanh là nhận thức, thái độ của nhà quản trị về các vấn đề cần đo (Taylor, 2005; Saxton, 1997) Giới hạn của cách này là người trả lời có thể đánh giá thiên lệch thành kiến về hoạt động và sự hài lòng với liên doanh Tuy nhiên, Geringer và Hebert (1991) đã chứng minh rằng đánh giá hoạt động và sự hài lòng bằng nhận thức và thái độ của nhà quan trị có tương quan tốt với thang đo khách quan (trích Saleema Kauser, 2004)

Cũng theo (Kale và đồng sự, 2001; Yan, 2000 trích Kauser, 2004) cho rằng, đánh giá chủ quan của nhà quản trị về hoạt động của liên doanh cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ với các thang đo khách quan Đánh giá bằng nhận thức, thái độ của nhà quan trị trong liên doanh được chấp nhận là biến phụ thuộc Thang đo đánh giá thành công thông qua hài lòng cảm nhận của nhà quản trị đo bằng thang đo

Likert 5 điểm, dựa trên câu hỏi cơ bản: ”Với vai trò là nhà quản trị trong liên

doanh, xin Ông/Bà cho biết ? ”

2.5 Tóm tắt

Chương 2 này mô hình hoá sự tác động của các yếu tố phối hợp lên sự hài lòng với quan hệ liên doanh và kết quả hoạt động (đánh giá từ góc nhìn phía trong nước) của liên doanh quốc tế Sự phối hợp nói chung là khái niệm để nói đến các hành vi bao gồm sự phối hợp trong hoạt động, sự phụ thuộc, sự cam kết, và thông tin giao tiếp trong doanh nghiệp liên doanh Từ đó một mô hình lý thuyết được xây dựng Mô hình này biểu diễn các mối quan hệ giữa các thành phần hành vi trong phối hợp và

sự hài lòng bao gồm hài lòng với quan hệ liên doanh, hài lòng với kết quả hoạt động của liên doanh Trong mô hình này, các mối quan hệ sau đây được giả thuyết:

Một là, Sự phối hợp trong hoạt động giữa các đối tác trong liên doanh là yếu tố tác động vào sự hài lòng của đối tác trong nước Hai là, sự phụ thuộc vào đối tác là yếu

tố tác động vào sự hài lòng của đối tác trong nước Tiếp theo là sự cam kết của đối tác là yếu tố tác động vào sự hài lòng và cuối cùng là thông tin giao tiếp bao gồm ba khía cạnh: chất lượng thông tin, chia sẻ thông tin và sự tham gia trong việc lập kế hoạch cũng là yếu tố tác động vào sự hài lòng

Trang 24

Chương tiếp theo sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện để xây dựng

và đánh giá các thang đo lường và kiểm định sự phù hợp của mô hình lý thuyết với thông tin thu được từ phỏng vấn cũng như các giả thuyết đã đề ra

Trang 25

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu

Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết về đánh giá các yếu tố trong hành vi hợp tác giữa các đối tác và thành công của liên doanh Trong chương 3 này sẽ xét cụ thể thang đo để đo lường các yếu tố trong hành vi hợp tác giữa các đối tác và sự hài lòng của đối tác phía Việt Nam Theo cơ sở lý thuyết, các mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu được xây dựng kèm theo các giả thuyết Chương 3 này nhằm giới thiệu phương pháp nghiên cứu sử dụng để đánh giá các thang đo lường các khái niệm nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết đã đề ra Chương này bao gồm ba phần chính: (1) Thiết kế nghiên cứu, (2) Các thang đo lường các khái niệm nghiên cứu, (3) Mẫu nghiên cứu định lượng chính thức

3.2 Thiết kế nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu

Mục đích của bài nghiên cứu nhằm xác định mức độ tác động của các yếu tố trong hành vi hợp tác giữa các đối tác trong nước và nước ngoài đến sự hài lòng của đối tác phía Việt Nam Khi thiết kế bảng câu hỏi, có một chú ý cho người được hỏi là:

“Với vai trò là đại diện của phía Việt Nam” để người được hỏi tập trung vào vai trò

mà họ đang đảm nhận tại liên doanh

Nghiên cứu này gồm hai phần chính: (1) Nghiên cứu sơ bộ và (2) Nghiên cứu chính thức tương ứng với hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

Nghiên cứu định tính: thực hiện thông qua việc gặp gỡ, trao đổi và thảo luận với 4 nhà lãnh đạo của 4 doanh nghiệp liên doanh là đại diện của phía Việt Nam trong các liên doanh này tại Tp.Hồ Chí Minh trong tháng 03/2008 (xem trong Phụ lục 1 dàn bài thảo luận trực tiếp) Mục đích của nghiên cứu này nhằm kiểm tra mức độ rõ ràng của từ ngữ và khả năng hiểu các phát biểu cũng như tính trùng lắp của các phát biểu trong thang đo để sau đó hiệu chỉnh thang đo

Trang 26

Nghiên cứu định lượng: Tất cả các mẫu được thu thập bằng cách lấy mẫu thuận tiện trực tiếp bằng bảng câu hỏi (xem Phụ lục 2 về bảng câu hỏi) Mẫu cho nghiên cứu định lượng có kích thước n = 128 Việc lấy mẫu được tiến hành từ đầu tháng 4/2008 đến cuối tháng 7/2008 tại Tp.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu Các giả thuyết được kiểm định bằng phương pháp hồi qui đa biến thông qua sự hỗ trợ của phần mềm SPSS phiên bản 15.0

3.2.2 Qui trình nghiên cứu

Qui trình nghiên cứu được trình bày trong Hình 3.1 và tiến độ thực hiện được trình bày trong Bảng 3.1

Bước 1: Hình thành thang đo

Thang đo 1 được hình thành từ cơ sở lý thuyết Các mục hỏi này được dịch sang tiếng Việt từ thang đo đã được sử dụng trong nghiên cứu tại Anh của Kauser, 2004

Do đó để bảo đảm giá trị nội dung của thang đo, nghiên cứu định tính thông qua thảo luận, trao đổi trực tiếp với một số đối tượng đại diện nhằm khẳng định các đối tượng hiểu được nhất quán nội dung và từ ngữ dùng trong thang đo Sau khi hiệu chỉnh từ ngữ, loại bỏ các mục hỏi có ý trùng lắp, chỉnh sửa các ý gây hiểu sai, thang

đo 1 được hiệu chỉnh được gọi là thang đo 2 Thang đo 2 này được sử dụng để phỏng vấn chính thức cho nghiên cứu định lượng

Bước 2: Đánh giá thang đo

Trong nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng này, các thang đo được đánh giá thông qua hai công cụ chính: (1) hệ số tin cậy Cronbach Alpha và (2) phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (exploratory factor analysis) Hệ số Cronbach Alpha được sử dụng trước để loại các biến không phù hợp Các biến có

hệ số tương quan biến-tổng (corrected item-to-total correlations) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi nó có độ tin cậy Alpha từ 0.6 trở lên (Nunnally

& Bernstein, 1994, trích từ Nguyễn Thị Mai Trang & Nguyễn Đình Thọ, 2004) Tiếp theo, phương pháp EFA được sử dụng, phương pháp này chỉ được sử dụng khi

Trang 27

hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) có giá trị từ 0.5 trở lên (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005) Các biến có trọng số (factor loading) nhỏ hơn 0.5 trong EFA sẽ tiếp tục bị loại bỏ (Churchill, 1979, trích từ Andrew Taylor, 2005) Thang

đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50% (Nunnally & Bernstein, 1994, trích từ Nguyễn Thị Mai Trang & Nguyễn Đình Thọ, 2004) Các biến quan sát có độ phân biệt (cross loading), trong trường hợp biến tải lên hai hay nhiều nhân tố lớn hơn 0.35 sẽ bị loại bỏ (Kim và Mueller, 1978, trích từ Andrew Taylor, 2005) Các thang đo tải lên thành phần nhân tố khác hoặc tách nhóm sẽ được xem xét ý nghĩa mới và tạo nên biến mới

Cơ sở lý thuyết Mô hình 1 Thang đo 1 Thảo luận tay đôi

Nghiên cứu định lượng

Thang đo 2

Điều chỉnh

Loại các biến có trọng số EFA nhỏ

Loại các biến có độ phân biệt nhỏ

Kiểm tra yếu tố trích được

Kiểm tra phương sai trích được

Kiểm định giả thuyết Phân tích tương quan

Hồi qui đa biến

Hình 3.1 : Qui trình nghiên cứu

Bước 3: Phân tích kết quả

Trang 28

Các thang đo được đánh giá đạt yêu cầu được đưa vào phân tích phân tích tương quan, và phân tích hồi qui để kiểm định các giả thuyết Phân tích tương quan này là phân tích tương quan Pearson’s (vì các biến được đo bằng thang đo khoảng) để xác định các mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa các biến trước khi tiến hành phân tích hồi qui tiếp theo

Bảng 3.1: Tiến độ thực hiện các nghiên cứu

Bước Dạng nghiên cứu Phương pháp Kỹ thuật thu thập

dữ liệu

Thời gian Địa điểm

1 Sơ bộ Định tính Thảo luận tay đôi 04/2008 Tp.HCM

2 Chính thức Định lượng Lấy mẫu trực tiếp 08/2008 Tp.HCM

3.3 Các biến nghiên cứu và thang đo

Như đã trình bày trong Chương 2, có tám khái niệm nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này, đó là (1) Sự phối hợp giữa các đối tác trong liên doanh, ký hiệu là CoOr; (2) Sự phụ thuộc của phía Việt Nam vào phía đối tác nước ngoài, ký hiệu là DePe; (3) Sự cam kết của đối tác nước ngoài, ký hiệu là CoMi; (4) Chất lượng thông tin, ký hiệu là QCom; (5) Sự chia sẻ thông tin, ký hiệu là SCom; (6) Sự tham gia lập kế hoạch, mục tiêu, ký hiệu PCom; (7) Sự hài lòng với quan hệ liên doanh,

ký hiệu là SaRel; (8) Sự hài lòng với hoạt động của liên doanh, ký hiệu là SaPer Thang đo là các thang đo đa biến (multi-item scales) để đo các khái niệm chính Các thang đo đa biến được áp dụng trong nghiên cứu này đã được chứng minh là phù hợp với các tiêu chuẩn về độ giá trị và độ tin cậy bởi những nghiên cứu trước của Kauser (2004)

3.3.1 Sự phối hợp giữa các đối tác trong liên doanh

Sự phối hợp giữa các đối tác được ký hiệu là CoOr được đo lường thông qua hai biến quan sát, ký hiệu CoOr_01, CoOr_02 Các biến quan sát này dựa vào thang đo của Kauser (2004) Thang đo này được Kauser sử dụng trong nghiên cứu về sự phối hợp giữa các đối tác trong liên doanh quốc tế tại Anh và nó có độ tin cậy Cronbach alpha là 0.88 Nên việc áp dụng thang đo trên vào nghiên cứu này là bảo đảm về giá trị nội dung

Trang 29

Tuy nhiên, qua phỏng vấn định tính thì có hai biến quan sát được cho là trùng về ý

nghĩa hoặc ít nhất khi dịch ra tiếng Việt nó không có tính phân biệt rõ ràng (Phía

đối tác nước ngoài phối hợp tốt trong tất cả các hoạt động trong liên doanh; tương tác hoạt động của đối tác nước ngoài trong liên doanh tốt), nên hai biến này chỉ lấy

một biến đại diện rõ nghĩa nhất “Phía đối tác nước ngoài phối hợp chặt chẽ trong

mọi hoạt động của liên doanh với phía trong nước” Hai biến quan sát khác trùng

lấp ý nghĩa (Trao đổi kế hoạch hành động giữa hai phía trong quá trình hợp tác rất

tốt; Trao đổi ý tưởng hành động giữa hai phía rất tốt), hai biến này giữ lại một biến

“Trao đổi kế hoạch hành động giữa hai phía trong quá trình hoạt động của liên

doanh rất tốt” Vì vậy thang đo cuối cùng chỉ còn hai biến quan sát (xem Bảng 3.2)

Các biến quan sát của thang đo này được đo lường bằng thang đo Likert năm điểm

Bảng 3.2: Thang đo sự phối hợp

Biến quan sát Nội dung

CoOr_01: Phía đối tác nước ngoài phối hợp chặt chẽ trong mọi hoạt động của

liên doanh với phía trong nước CoOr_02: Trao đổi kế hoạch hành động giữa hai phía trong quá trình hoạt

động của liên doanh rất tốt

3.3.2 Sự phụ thuộc

Sự phụ thuộc của phía trong nước vào phía đối tác nước ngoài ký hiệu là DePe, được đo lường thông qua ba biến quan sát, ký hiệu từ DePe_03, đến DePe_05

Bảng 3.3: Thang đo sự phụ thuộc

Biến quan sát Nội dung

DePe_03: Tất cả hoạt động quản lý của liên doanh áp dụng kỹ năng quản lý

từ đối tác nước ngoài DePe_04: Hoạt động của liên doanh rất cần sự hỗ trợ nhân lực từ đối tác

nước ngoài DePe_05: Hoạt động của liên doanh rất cần trình độ chuyên môn của đối

tác nước ngoài Các biến quan sát này dựa vào thang đo của Kauser (2004) Tác giả sử dụng thang

đo này gồm tám biến đánh giá ba khía cạnh của sự phụ thuộc bao gồm phụ thuộc

Trang 30

vào trình độ công nghệ giữa các đối tác, phụ thuộc vào năng lực tài chính giữa các đối tác và phụ thuộc vào năng lực quản lý giữa các đối tác Qua phỏng vấn định tính, các biến đánh giá sự phụ thuộc vào năng lực tài chính là yếu tố nhạy cảm và có thể không thu thập được dữ liệu đầy đủ nên đề tài nghiên cứu này bỏ qua Đối với các biến đánh giá sự phụ thuộc trình độ công nghệ, vì mẫu thu thập từ các doanh nghiệp được chọn lấy mẫu thuận tiện nên đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch

vụ, thương mại không có công nghệ đặc biệt, thông tin này sẽ không được đánh giá Cuối cùng còn lại ba biến quan sát mức độ phụ thuộc vào năng lực quản lý (xem Bảng 3.3)

3.3.3 Sự cam kết

Sự cam kết của đối tác nước ngoài ký hiệu là CoMi được đo lường thông qua sáu biến quan sát, ký hiệu từ CoMi_06 đến CoMi_11 Các biến quan sát này dựa vào thang đo của Randall (1990) được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu hành vi tổ chức Cam kết trong tổ chức được giả thuyết bao gồm ba biến: (1) cam kết trong việc thống nhất mục tiêu hoạt động chung của liên doanh; (2) cam kết sẵn sàng nỗ lực vì quan hệ liên doanh; (3) cam kết gắn bó lâu dài trong liên doanh Tuy nhiên, qua phỏng vấn định tính thì cam kết gắn bó lâu dài trong liên doanh của đối tác nhìn

từ phía Việt Nam khó đánh giá vì đó là những ý kiến chủ quan của đối tác và thể hiện không rõ ràng Trong thực tế đối tác thể hiện cam kết vì mục tiêu chung và cam kết nỗ lực vì liên doanh có thể đánh giá từ phía trong nước dễ dàng

Thành phần cam kết vì mục tiêu chung được đo lường bằng ba biến quan sát, ký hiệu từ CoMi_06 đến CoMi_08

Thành phần cam kết thông qua nỗ lực vì quan hệ liên doanh được đo lường bằng ba biến quan sát, ký hiệu từ CoMi_09 đến CoMi_11

Kết quả thảo luận định tính cũng cho thấy là người được phỏng vấn hiểu được câu hỏi và nó diễn tả được sự cam kết của phía đối tác nước ngoài (xem Bảng 3.4) Các biến quan sát của thang đo này được đo lường bằng thang đo quãng năm điểm

Trang 31

Bảng 3.4: Thang đo sự cam kết

Biến quan sát Nội dung

CoMi_06: Trong việc thiết lập mục tiêu hoạt động, phía đối tác nước ngoài

luôn cố gắng thõa hiệp nhằm đạt mục tiêu chung CoMi_07: Phía đối tác nước ngoài luôn đi đến thống nhất với phía trong

nước mục tiêu đề ra cho liên doanh CoMi_08: Phía đối tác nước ngoài luôn đạt được thống nhất với phía trong

nước các kế hoạch tương lai CoMi_09: Đối tác nước ngoài luôn nhiệt tình và cố gắng tham gia giải quyết

vấn đề khi phía trong nước có sơ suất CoMi_10: Đối tác nước ngoài luôn cố gắng giải quyết khó khăn nảy sinh

trong quá trình hoạt động của liên doanh CoMi_11: Đối tác nước ngoài luôn quan tâm những đề xuất từ phía trong

nước

3.3.4 Thông tin giao tiếp

Thông tin giao tiếp, ký hiệu là COM và được giả thuyết bao gồm ba thành phần: thành phần chất lượng thông tin, thành phần chia sẻ thông tin và thành phần tham gia lập kế hoạch, mục tiêu

Thành phần chất lượng thông tin được đo lường bằng ba biến quan sát, ký hiệu từ QCom_12 đến Qcom_14 (xem Bảng 3.5) Các biến quan sát này dựa vào thang đo của Kauser (2004), có độ tin cậy Cronbach alpha là 0.89, nên việc áp dụng thang đo trên vào nghiên cứu này là bảo đảm về giá trị nội dung Các biến quan sát dùng để

đo lường thành phần đánh giá chất lượng thông tin cung cấp từ phía đối tác nước ngoài Kết quả thảo luận định tính cho thấy các mục hỏi đều phù hợp và dễ hiểu Thành phần sự chia sẻ thông tin được đo lường bằng hai biến quan sát, ký hiệu từ SCom_15 đến SCom_16 (xem Bảng 3.5) Các biến quan sát này dựa vào thang đo của Kauser (2004)

Thành phần sự tham gia lập kế hoạch, mục tiêu được đo lường bằng hai biến quan sát ký hiệu từ PCom_17, PCom_18 (xem Bảng 3.5) theo thang đo của Kauser (2004) Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy người được phỏng vấn hiểu được và

Trang 32

mục hỏi diễn tả được sự tham gia của phía Việt Nam trong việc lập nên kế hoạch mục tiêu cho liên doanh

Bảng 3.5: Thang đo thông tin giao tiếp

Biến quan sát Nội dung

QCom_12: Thông tin hoàn toàn đầy đủ

QCom_13: Thông tin hoàn toàn chính xác

QCom_14: Thông tin rất đúng lúc

SCom_15: Đối tác nước ngoài tham khảo ý kiến từ đối tác trong nước khi ra

mọi quyết định hành động SCom_16: Đối tác nước ngoài luôn luôn cung cấp các thông tin phát sinh

trong quá trình hoạt động cho phía trong nước PCom_17: Phía trong nước tham gia lập kế hoạch cho tất cả các hoạt động

cho liên doanh PCom_18: Phía trong nước tham gia tất cả các cuộc họp thường lệ

3.3.5 Đo lường sự hài lòng

Sự hài lòng của phía trong nước với quan hệ liên doanh được đo lường thông qua hai biến quan sát, ký hiệu từ SaRel_19, SaRel_20 Hài lòng của phía trong nước với kết quả hoạt động của liên doanh thông qua ba biến quan sát, ký hiệu từ SaPer_21 đến SaPer_23 Các biến quan sát này dựa vào thang đo của Kauser, 2004

Bảng 3.6: Thang đo sự hài lòng

Biến quan sát Nội dung

SaRel_19: Mối quan hệ với đối tác trong liên doanh này mang lại lợi ích

hoàn toàn như mong đợi cho phía trong nước SaRel_20: Với vai trò đại diện phía trong nước, tôi hoàn toàn hài lòng với

thị phần của liên doanh SaPer_21: Với vai trò đại diện phía trong nước, tôi hoàn toàn hài lòng với

thị phần của liên doanh SaPer_22: Với vai trò đại diện phía trong nước, tôi hoàn toàn hài lòng với

lợi nhuận của liên doanh SaPer_23: Với vai trò đại diện phía trong nước, tôi hoàn toàn hài lòng với

sự tăng trưởng của liên doanh

3.4 Mẫu nghiên cứu định lượng chính thức

Trang 33

Bước đầu tiên của nghiên cứu được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu thứ cấp thông tin về các doanh nghiệp liên doanh quốc tế giữa Việt Nam và nước ngoài hoạt động từ khi Việt Nam thông qua luật đầu tư nước ngoài năm 1988 đến hết năm

2006 Thông tin có được từ thống kê của Bộ kế hoạch và Đầu tư trên web site của

Bộ này(2), và Sở kế hoạch đầu tư Tp.HCM(3), Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai(4), Bình Dương(6), Vũng Tàu (5) Thông tin thứ cấp thu thập được bao gồm tên doanh nghiệp, địa chỉ, số điện thoại liên lạc, mã số giấy phép được cấp để hoạt động Từ kết quả thống kê này sẽ tiến hành liên hệ các doanh nghiệp để phỏng vấn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện

Người phù hợp để trả lời cho bảng câu hỏi khảo sát này là đại diện của phía Việt Nam trong liên doanh Bảng câu hỏi được mang đến và liên hệ trực tiếp tại các công

ty liên doanh có trong danh sách thu thập được như trình bày ở trên Trước đó, các bảng câu hỏi được gửi qua đường bưu điện đến tất cả các doanh nghiệp liên doanh

để tăng tỉ lệ nhận được hồi đáp Kết quả được hồi đáp rất thấp, chủ yếu thu được từ những bảng câu hỏi đến gửi và nhận trực tiếp

Theo Hair và đồng sự, 1998 (trích từ Lê Nguyễn Hậu, 2007) đề nghị một tỉ số thực nghiệm là cần ít nhất số mẫu gấp 5 lần số biến quan sát đối với phân tích hồi qui và phân tích nhân tố (EFA) Số biến quan sát trong nghiên cứu này là 23, vậy số mẫu tối thiểu cho phân tích này là 23*5, là 115 Số lượng bảng câu hỏi thu thập được là

132 bảng Sau khi kiểm tra, có 4 bảng bị loại do số câu hỏi để trống quá nhiều Cuối cùng số bảng câu hỏi hoàn chỉnh được sử dụng là n = 128, đây cũng là kích cỡ mẫu cuối cùng

3.5 Tóm tắt

Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện để đánh giá thang

đo các khái niệm nghiên cứu và mô hình lý thuyết về tác động của hành vi phối hợp đến sự hài lòng của đối tác Phương pháp nghiên cứu được thực hiện qua hai bước – nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính thông qua thảo luận trực tiếp với nhà quản trị của doanh nghiệp liên doanh (thảo luận với bốn

Trang 34

người riêng lẻ) để điều chỉnh từ ngữ, biến trùng lấp và chắc rằng người được phỏng vấn hiểu rõ câu hỏi Nghiên cứu định lượng thực hiện thông qua kết quả phỏng vấn của 128 nhà quản trị (là đại diện của phía Việt Nam trong liên doanh quốc tế tại Tp.HCM và các tỉnh lân cận) nhằm đánh giá thang đo và kiểm định giả thuyết Trong chương ba này cũng đã trình bày qui trình nghiên cứu, cách hình thành thang

đo và cách thức chọn mẫu cho nghiên cứu Chương tiếp theo sẽ trình bày các kết quả của phân tích dự liệu thông qua sự hỗ trợ của phần mềm SPSS phiên bản 15.0

Trang 35

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Giới thiệu

Chương 4 sẽ trình bày các kết quả của phân tích dữ liệu Chương này bao gồm bốn phần chính, (1) Thống kê mô tả mẫu và các biến nghiên cứu, (2) Đánh giá thang đo thông qua phương pháp hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích yếu tố khám phá EFA, (3) Phân tích tương quan và kiểm định giả thuyết thông qua phân tích hồi qui, (4) Thảo luận về kết quả Công cụ hỗ trợ phân tích số liệu là phần mềm SPSS 15

4.2 Thống kê mô tả mẫu

4.2.1 Tỷ lệ hồi đáp

Mẫu thu được để sử dụng kiểm định cho các giả thuyết nghiên cứu bao gồm 132 (tỉ

lệ hồi đáp 16.52%) bảng trả lời của nhà quản trị đại diện của phía Việt Nam trong các liên doanh tại Tp.HCM (98 mẫu nhận lại được trong tổng số 700 được gửi bằng đường bưu điện hoặc đến gửi nhận trực tiếp, tỉ lệ hồi đáp 14%), Đồng Nai (8 mẫu được hồi đáp trong tổng số 30 mẫu được gửi qua bưu điện hoặc gửi nhận trực tiếp,

tỉ lệ hồi đáp 26.7%), Bình Dương (4 mẫu được hồi đáp trong 20 mẫu được gửi và nhận trực tiếp, tỉ lệ hồi đáp 20%), Vũng Tàu (8 mẫu được hồi đáp trong 25 mẫu được gửi và nhận trực tiếp, tỉ lệ hồi đáp 32%), Long An (4 mẫu được hồi đáp, nhưng do các câu trả lời còn để trống nhiều thông tin và người trả lời không phù hợp nên bị loại bỏ)

Trang 36

Hình 4.1: Tỉ lệ hồi đáp

4.2.2 Thời gian hoạt động của liên doanh

Như trình bày trong Bảng 4.1, thời gian hoạt động của doanh nghiệp trong các trường hợp thu thập được, doanh nghiệp có số năm hoạt động dưới 3 năm chiếm tỉ

lệ 28.13% Số trường hợp hoạt động trong khoảng 4 đến 7 năm chiếm 28.91% Từ 8 đến 12 năm chiếm 19.53% và có 9.38% trường hợp trên 12 năm Không trả lời mục này là 14%

Bảng 4.1: Thống kê năm hoạt động

4.2.3 Quốc tịch của đối tác

Trong mẫu thu thập được, đối tác nước ngoài đến từ các khu vực khác nhau Như trình bày trong Bảng 4.2, 48.4% các đối tác đến từ các nước Đông Á như Nhật, Hàn

Trang 37

Quốc, Đài Loan 21.8% đến từ các nước Tây Âu, Úc và Bắc Mỹ 9.38% đến từ các

nước Đông Nam Á Cấu trúc của mẫu này cho thấy các đối tác của liên doanh trong

mẫu thu được phân bố từ các nơi khác nhau

Bảng 4.2: Thống kê các Quốc gia trong liên doanh

Bắc Mỹ, Châu Âu &

Đối với loại hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp liên doanh trong mẫu

thu thập được, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 50% và

sản xuất chiếm 38.3% (xem Bảng 4.3)

Bảng 4.3 Loại hình kinh doanh

Loại hình kinh doanh Tỉ lệ (%)

Dịch vụ 50.0%

Sản xuất 38.3%

Thương mại 1.6%

Không trả lời 10.2%

4.3 Đánh giá thang đo

4.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach alpha

Tất cả các biến được đo bởi thang đo dạng Likert 5-điểm, từ hoàn toàn không đồng

ý đến hoàn toàn đồng ý Sau khi hoàn thành việc thu thập dữ liệu, các thang đo

được kiểm tra độ tin cậy bởi hệ số Cronbach alpha để xem xét mức độ nhất quán nội

tại, và cơ sở để loại biến không đạt yêu cầu dựa vào hệ số tương quan biến tổng (đã

được trình bày ở Chương 3)

Trang 38

Bảng 4.4: Kết quả phân tích Cronbach alpha

Biến quan sát Tương quan biến tổng Cronbach alpha nếu loại biến Biến CoOr ( Cronbach's Alpha = 0.67)

Ngày đăng: 16/02/2021, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w