1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của văn hóa bản địa nam bộ trong công tác tổ chức và tiếp nhận chương trình thời sự, VH XH trên các đài truyền hình đông nam bộ ( 2001 2006)

168 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 31,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình đấu tranh để tồn tại và phát triển trong điều kiện lịch sử mới đã hình thành ở họ - ngoài nhũng phẩm chất mang tính cách dân tộc Việt Nam, còn là những nét riêng dễ thấy ở từng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN CẢM NAM

TẠC ĐỘNG CỦẠ VĂN HOÃ BẢN ĐỊA NAM BỘ TRONG CÕNG TÁC

TỔ CHỨC VÀ TIẾP NHẬN CHƯƠNG TRÌNH THỜI sự, VH - XH TRÊN

CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH ĐÔNG NAM BỘ (2001 ■ 2006)

CHUYÊN N G À N H : BÁO CHÍ HỌC

N gười hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ M INH THÁI

Đ A I H O C Q U O C G I A H A N Ơ I TRUNG TA VI T H Ò N G TIN THƯ VIÊ N

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Thị

Minh Thái, người đã tận tình hướng dẫn và giủp đỡ tôi trong quá trình

thực hiện Luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban Chủ nhiệm khoa Báo chí, các thầy cô giáo trong khoa, phòng

Quản lý khoa học, trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại

học Quốc gia Hà Nội

Đài Phát thanh- Truyền hình Tây Ninh, nơi tôi công tác

Và người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình

giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Luận văn

Hà Nội, tháng 11 năm 2007

«■» ^

Nguyên Cam Nam

Trang 3

MỘT SÓ TỪ VIÉT TẮT VÀ THUẬT NGỮ ĐƯỢC• • •

SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

II Một sổ thuật ngữ

C om m unication, được hiểu là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ

thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức

2 Các phương tiện truyền thông đại chúng: Từ gốc tiếng Anh là

Mass M edia, được hiểu là bao gồm báo in, đài phát thanh, đài truyền

hình, điện ảnh, internet, tờ bướm, panô, áp phích, và các hoạt động truyền thông khác

3 Pay - TV: Từ gốc tiếng Anh là Pay- Television có nghĩa là

Truyền hình trả tiên

2

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1: Quan hệ giữa văn hoá Bản địa NB với các đài truyền hình

ĐNB 8

1.1 Văn hoá Bản địa NB trong không gian văn hoá Việt N am 8

1.1.1 Không gian văn ho á Việt N am 8

1.1.2 Lãnh thổ văn hoá Việt N a m 10

1.1.3 V ù n g v ă n h o á N B 12

1.1.4 Tiêu vùng văn hoá Đ NB 22

1.2 Truyền hình ĐNB trong hệ thống đài truyền hình quốc gia và khu vực 26 1.3 Tính Bản địa trong chương trình truyền hình từ phía người tổ chức và tiếp n h ận 32

1.4 Tiểu kết chương 1 38

Chưong 2: Văn hoá Bản địa NB tác động đến truyền hình ĐNB 40

2.1 Chương trình Thời sự, VH-XH trên truyền hình N B 40

2.1.1 Chương trình chi tiết ở bảy đài truyền hình ĐNB 45

2.2 Tác động của văn hoá Bản địa Nam Bộ đến chương trình Thời sự, VH-XH 64 2.2.1 Tác động đến nội dung 65

2.2.2 Tác động đến hình th ứ c 68

2.3 Tiểu kết chương 2 76

Chương 3: Kinh nghiệm, giải pháp phát triển chương trình Thời sụ’, VH- X H trên các đài truyền hình Đ N B 78

3.1 Bài học kinh nghiệm trong công tác bảo tồn và phát huy văn hoá Bản địa

Trang 5

3.1.2 Đối với công tác tiếp nhận chương trình truyền h ìn h 87

3.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình Thời sự, VH - XH trên các đài truyền hình ĐNB 90

3.2.1 về nhân lự c 93

3.2.2 vể trang thiết bị truyền thông 94

3.2.3 về một ngành truyền hình chuyên nghiệp và đậm đà bản sắc văn hoá dân tộ c 96

3.3 Tiểu kết chương 3 105

Kết lu ậ n 107

Phụ lụ c 109

Trang 6

MỞ ĐÀU

- Vùng đất miền Đông Nam Bộ là quê hương của cộng đồng cư dân có nguồn gốc từ nhiều địa phương khác nhau trên cả nước tụ họp về Công cuộc khẩn hoang làm chủ thiên nhiên và đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống giặc ngoại xâm đã gắn kết họ thành một khối đoàn kết bền vững Quá trình đấu tranh để tồn tại và phát triển trong điều kiện lịch sử mới đã hình thành ở

họ - ngoài nhũng phẩm chất mang tính cách dân tộc Việt Nam, còn là những nét riêng dễ thấy ở từng địa phương, cùng tồn tại trong vùng văn hoá Nam

Bộ, vốn là một trong 6 vùng văn hoá lớn của không gian văn hoá Việt Nam (Theo cách phân vùng văn hoá của GS Trần Quốc Vượng, đã được đánh giá

là họp lý và khách quan ho'n cả)

- Trong các nhân tố gìn giữ và phát triển văn hoá Bản địa của vùng văn hoá Nam Bộ không thế không kể đến vai trò của báo chí Ngược lại, văn hoá Bản địa Nam Bộ là cái nôi to lớn nuôi giâc cho từng chương trinh, từng tác phẩm báo chí lớn để vươn vai đến với công chúng tiếp nhận

- Trong công tác tô chức của những người làm chương trình và tiếp nhận các chương trình truyền hình từ phía công chúng, nhất là sự tiếp nhận các chương trình Thời sự và VH - XH, văn hoá Bản địa Nam Bộ không những luôn hiện diện xuyên suốt tạo thành bản sắc riêng cho từng đài truyền hình địa phương, góp thành tiêng nói chung đa dạng và phong phú cho các đài truyền hình ở khu vực miền Đông Nam Bộ, mà còn tạo thành một cách tiếp nhận riêng biệt, độc đáo của công chúng xem truyền hình ở miền Đông Nam Bộ

- Vỉ vậy, cần xem xét nghiên cứu một cách nghiêm túc và có tính hệ thống để thấy được tác động tích cực của tính Bản địa trong từng vùng văn

Trang 7

XH trên các đài truyền hình miền Đông Nam Bộ Đồng thời, mỗi chương trình truyền hình được xây dựng ở 6 đài địa phương và 1 đài khu vưc, ngoài hơi thở thời đại luôn mang trong mình, nét văn hoá Bản địa được the hiện là minh chứng hùng hồn cho sự đặc sắc của cách thông tin và tiếp nhận thông tin qua các đài truyền hình của vùng văn hoá Nam Bộ nằm trong lãnh thổ văn hoá Vịêt Nam Từ đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm về việc tổ chức chương trình từ phía những người làm truyền hình đối với công chúng của từng vùng văn hoá đặc thù cũng như từng bước cải thiện nâng cao cách thức tiếp nhận của công chúng vùng đó đối với chương trình của đài địa phương mình.

II GIỚI HẠN CỦA ĐÈ TÀI.

- Chúng tôi tập trung khảo sát, nghiên cún cách thông tin trên loại báo hình, cụ thế là các đài truyền hình miền Đông Nam Bộ bao gôm:

1 Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (HTV2, HTV7, HTV9)

2 Đài phát thanh - truyền hình Tây Ninh (TTV 11)

3 Đài phát thanh - truyền hỉnh Đông Nai (ĐNRTV1, ĐNRTV2)

4 Đài phát thanh - truyền hình Bình Dương (BTV1, BTV2)

5 Đài phát thanh - truyền hình Bình Thuận (BTV12)

6 Đài phát thanh - truyền hình Bình Phước (BPTV)

7 Đài phát thanh - truyền hình Bìa Rịa - Vũng Tàu (BRT)

- Chúng tôi khảo sát các chương trình truyền hình, cụ thể:

+ Chương trình Thời sự

+ Chương trình VH - XH

- Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiếu, chúng tôi sẽ có sự so sánh đối chiếu công tác tổ chức và quá trình tiếp nhận các chương trình đã nêu trên các đài truyền hình miền Đông Nam Bộ vớicác đài truyền hình vùng miền khác

để có cái nhìn khách quan cũng như nêu bật được vai trò văn hoá Ban địa và

Trang 8

tác động của nó trong công tác tổ chức và tiếp nhận chương trình truyền hình,

từ cả hai phía: người tổ chức chương trình và người tiếp nhận chương trình

- Do hạn chế về thời gian cũng như khả năng bao quát nên chúng tôi xin giới hạn những vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu và tìm hiểu tập trung là nhũng vấn đề liên quan đến các chương trình Thời sự, VH - XH trên các đài truyền hình miền Đông Nam Bộ trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm

2006, từ đó thấy được vai trò và tác động của văn hoá Bản địa Nam Bộ đôi với công tác tổ chức và tiếp nhận các chương trình này trên truyền hình Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ tham khảo thêm những chương trình Thời sự, VH - XH trong những năm trước để thấy được quá trình phát triển của công tác tổ chức

và tiếp nhận các chương trình này trên truyền hình qua góc độ lý luận và văn hoá Bản địa Nam Bộ

III MỤC TIÊU ĐÈ TÀI.

- Góp phần đem lại tiếng nói chung đối với việc phân tích đánh giá công tác tổ chức và tiép nhận các chương trình truyền hình (chương trình thời

sự, VH - XH) ở khu vực miền Đông Nam Bộ nhưng được xem xét dưới góc

độ mới là cái nhìn từ văn hoá Bản địa Nam Bộ

- Mục đích lớn nhất của chúng tôi là xem xét vai trò của văn hoá Bản địa Nam Bộ ảnh hưởng như thế nào đối với việc tổ chức và tiếp nhận các chương trình truyền hình ở từng địa phương Từ đó thấy được các tiểu vùng văn hoá ờ từng địa phương đã thực sự tác động gắn kết với công tác truyền hình hay chưa, và ngược lại các chương trình truyền hình đã tạo nên bộ mặt văn hoá vùng như thế nào ở khu vực miền Đông Nam Bộ

IV Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỤC TIỄN CỦA LUẬN VĂN.

- Công tác làm truyền hình ở từng địa phương trước hết là tiếng nói của Đảng, của tỉnh thành, là diễn đàn của toàn dân Đơn giản hon là đài địa

Trang 9

tiểu vùng văn hoá ấy Văn hoá Bản địa ở từng vùng cũng từ đó mà được bộc

lộ, thể hiện mình qua từng chương trình truyền hình đến với công chúng

- Đi tìm bản sắc đặc trưng của văn hoá vùng thông qua các tác phẩm của báo hình là một trong những mục tiêu quan trọng không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi văn hoá, công tác làm truyền hình mà còn mang những giá trị

xã hội to lớn

- v ề mặt thực tiễn, với tư cách là phóng viên của phòng biên tập, là ngưòi trực tiếp viết tin dựng bài cho các chuyên mục, việc thực hiện luận văn

về đề tài đã nói ở trên, cũng là một cơ hội để người viết luận văn nghiên cứu

lý luận, từ đó tổng kết và rút ra những bài học thực tiễn soi sáng cho công việc của bản thân mình và các đồng nghiệp

V TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐÈ TÀI.

- Từ trước đến nay có một số công trinh nghiên cứu về công tác tô chức

và tiếp nhận các chương trình trên truyền hình ở những góc độ khác nhau, chưa có một công trình nào nghiên cứu những vấn đề này thông qua cái nhìn văn hoá Bản địa

- Đây là công trình đầu tiên khảo sát tác động của văn hoá Bản địa Nam

Bộ đối với các chương trình Thời sự, VH - XH trên các đài truyền hình khu vực miền Đông Nam Bộ trong thời gian từ năm 2001 - 2006

VI PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐÈ TÀI.

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điếm chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyên địa phu'0'ng sở tại

- Trên cơ sở nghiên cứu phân tích, chúng minh, tổng họp, so sánh đối chiểu và khái quát dựa vào quan điếm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

để làm rõ sự tác động của văn hoá Bản địa Nam Bộ đối với công tác tổ chức,

6

Trang 10

công tác tiếp nhận thông qua một số chương trình truyền hình trong khu vực miền Đông Nam Bộ.

- Lập phiếu điều tra xã hội học đối với công chúng là đối tượng tiếp

nhận chương trình Thời sự, VH-XH của từng đài địa phương khu vực Đông

Nam Bộ để có sự so sánh

VII KÉT CÁU LUẬN VÃN.

Luận văn gồm có ba phần:

- Phần mỏ’ đầu.

- Phần nội dung: Gồm 3 chương.

+ Chương 1: Quan hệ giũa văn hoá Bản địa NB với các đài truyền hình ĐNB.

+ Chương 2: Văn hoá bản địa NB tác động đến truyền hình ĐNB.

- Phần kết luận.

- Sách tham khảo

- Phụ lục

Trang 11

CHƯƠNG 1

QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA BẢN ĐỊA NAM B ộ VỚI CÁC

ĐÀI TRUYỀN HÌNH ĐNB.

1.1 Văn hóa Bản địa Nam Bộ trong không gian văn hóa Việt Nam.

1.1.1 Không gian vãn hóa Việt Nam:

Giống như một điểm trong không gian, vị trí của một nền văn hóa trong

xã hội loài người phải được xác định bởi một hệ tọa độ Đó là hệ tọa độ ba chiều: Chủ thể văn hóa - Không gian văn hóa - Thời gian văn hóa

Thời gian văn hóa là một khái niệm mờ, nó được xác định từ khi một nền văn hóa hình thành cho đến khi tàn lụi Thời điểm khởi đầu của một nền văn hóa được qui định bởi thời điểm hình thành dân tộc và chịu sự chi phối mạnh mẽ của bối cảnh lịch sử - xã hội của một nền văn hóa

Trong khi đó, không gian văn hóa lại chịu sự chi phổi mạnh mẽ của bối cảnh địa lý khí hậu Không gian văn hóa bao quát tất thảy những vùng lãnh thổ mà ở đó dân tộc đã tồn tại qua các thời đại Vì có tính lịch sử cho nên không gian văn hóa liên quan đến ỉãnh thổ nhưng không đồng nhất với lãnh thô văn hóa Không gian văn hóa không thê có ranh giới rạch ròi như lãnh thổ văn hóa Và cũng như thời gian văn hóa, nó là một khái niệm 1TLỜ

Đê có được một sự hình dung đây đủ vê không gian văn hóa Việt Nam chúng ta phải nắm rõ nguồn gốc và quá trình hình thành dân tộc Việt Nam vì

cả thời gian văn hóa lẫn không gian văn hóa đều phụ thuộc vào việc xác định chủ thê văn hóa

8

Trang 12

Người Việt và tuyệt đại bộ phận các dân tộc Việt Nam đều xuất phát từ một nguồn gốc chung là nhóm loại hình Indonésien Chính điều này đã tạo nên tính thống nhất - thống nhất trong sự đa dạng - của con người và văn hóa Việt Nam, và rộng hơn là toàn vùng Nam Á Với 54 tộc người sống cùng nhau, người Kinh (Việt) chiếm 90%, 10% còn lại bao gồm 53 tộc người như Chàm, Môn - Khmer, Tày, Thái, Nùng, Chăm Như vậy, có thể nói rằng chủ the của văn hóa Việt Nam ra đời trong phạm vi của trung tâm hình thành loài người phía Đông và trong khu vực hình thành của đại chủng phương Nam.[32,54]

Trong phạm vi hẹp , không gian gốc của văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực CU' trú của người Nam - Á Có thể hình dung đó là một tam giác với cạnh đáy ở phía Bắc, nơi sông Dương Tử và đỉnh là vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam Xét ở phạm vi rộng hơn, không gian tồn tại của văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonesian lục địa Tam giác rộng hơn này, vươn ra ngoài tam giác thứ nhất với cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử ở phía Bắc, riêng đỉnh thì kéo tới vùng đồng bằng sông Mê lcông ở phía Nam

Như vậy, Việt Nam lưu giữ được cả những đặc trưng văn hóa của nhóm Nam - A và nhóm Nam Đảo Thấy được không gian văn hóa Việt Nam, xác định lãnh thổ văn hóa Việt Nam, ta mới có thể hiểu thế nào là khái niệm văn hóa vùng và vùng văn hóa Việt Nam Từ trong bối cảnh chung của không gian văn hóa Việt Nam, ta tìm được vùng văn hóa Nam Bộ, là vùng thứ 6 trong tương quan với 5 vùng khác: Tây Bắc, Việt Bắc, Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên, với những nét riêng nối bật của nó

Không gian văn hóa Việt Nam chính là bối cảnh địa lý - khí hậu riêng biệt của Việt Nam Có ba đặc điểm cơ bản mang tính thường trực nên ba đặc điểm này được xem như là những hằng số tự nhiên của văn hóa Việt Nam

Hằng số đầu tiên: đây là xứ nóng Do nóng lắm nên sinh ra mưa

Trang 13

vào loại cao nhất thế giới Riêng vùng Bạch Mã ( Thừa Thiên) đạt tới 3977mm mỗi năm.

Hằng số thứ hai, Việt Nam là vùng sông nước Ở Bắc Bộ và Nam Bộ

có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chàng chịt Việt Nam lại có bờ biển rất dài

và nằm trong khu vực gió mùa cho nên giao thông đường thủy Việt Nam rất phát triển Sông nước đã để lại dấu ấn rất quan trọng trong tinh thần văn hóa khu vực này Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các đô thị Việt Nam trong lịch sử đều là những cảng sông, cảng biển Cách đây trên một thế kỷ, trong sách Gia Định thành thong chí, Trịnh Hoài Đức đã ghi chép về quang cảnh giao thông trên sông nước nhộn nhịp của vùng Nam Bộ: “Ở Gia Định, chỗ

nào cũng có ghe thuyền, hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc để đi chợ, hoặc để

đi thăm người thân thích, hoặc chở gạo chở củi đi buôn bán rất thuận lợi Ghe thuyền chật sông, ngày đêm đi lại không ngớt”[l, 325] Ở Nam Bộ, sông và kênh rạch là đường, người ta đi lại trên sông, làm nhà nhìn ra sông, họp chọ trên sông

Hằng số tự nhiên thứ ba là giao điểm của các nền văn hóa văn minh Do

vị trí đặc biệt của mình Việt Nam là nơi hội tụ ở mức độ đầy đủ nhất mọi đặc trưng của ván hóa khu vực cho nên không phải vô cớ mà các nhà Đông Nam Á học đã nói một cách hình ảnh rằng Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ

1.1.2 Lãnh thô văn hóa Việt Nam

Lãnh thổ văn hóa Việt Warn được mở rộng từ Bẳc vào Nam qua từng thời kì trong lịch sử Thời kỉ đầu, lãnh thổ văn hóa Việt Nam bao gồm khu vực châu thổ sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ hiện nay) Do đặc điểm địa lí chiến lược, trong tiến trình lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam mở rộng lãnh thổ sang phía Đông thì gặp biên, phía Tây thì bị các dãy núi hiểm trở của dãy Trường Sơn ngăn cản, phía Bắc là lãnh thổ của người khổng lồ Hán tộc, nên chỉ có thể lần lượt chinh phục và khai phá về phương Nam

Trang 14

Tiến trình N am T iến củ a

ân tôc Vỉêt N am

Các triều đại phong kiến của Việt Nam liên tục mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, cho đến năm 1760, lãnh thổ văn hóa Việt Nam mở rộng đến mũi

Cà Mau Đen thời kì phương Tây đô hộ, thực dân Pháp chia Việt Nam thành

ba kì để trị: Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì Đen năm 1945, Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 Miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, miền Nam là Việt Nam Cộng Hoà Đen năm 1975, Việt Nam thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

Lãnh thổ văn hoá Việt Nam có hình chữ s chạy dài theo hướng Đông Nam của bán đảo Đông Dương, từ Hà Giang đến Cà Mau, diện tích khoảng

Trang 15

1.1.3 Vùng văn hóa Nam Bộ.

Phải nói rằng, sự thống nhất do cùng cội nguồn đã tạo ra bản sắc chung của văn hóa Việt Nam, còn tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng vùng văn hóa Việc phân vùng văn hóa trong lãnh thổ Việt Nam hiện tại rất có nhiều cách phân chia, nhưng để có cái nhìn tổng quát thì cách phân thành sáu vùng của Trần Quốc Vượng được xem là khách quan và họp lý hơn cả Sáu vùng ấy bao gồm:

• Vùng văn hóa Tây Bắc (Chủ thể là người Thái, Mường)

• Vùng văn hóa Việt Bắc (Chủ thể là người Tày, Nùng)

• Vùng văn hóa Bắc Bộ (Chủ thể là người Việt (Kinh))

• Vùng văn hóa Trung Bộ (Chủ thể là người Việt, Chăm)

• Vùng văn hóa Tây Nguyên (Chủ thể là người Môn-Khơme, Gia Rai)

• Vùng văn hóa Nam Bộ (Chủ thể là người Việt, Chăm, Hoa)

12

Trang 16

( ẩ u &'fã n,ưầ M c f a n f a )

BẢN ĐÒ PHÂN VÙNG VĂN HOÁ VIỆT NAM

(Theo GS Trần Quốc Vượng)

Trang 17

Tiến trình văn hóa Việt Nam có thể được chia thành ba lóp: lóp văn hóa Bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, ỉớp văn hóa giao lưu với phương Tây Ba lớp này phân chia thành 6 giai đoạn tương ứng: văn hóa tiền sử, văn hóa Văn Lang- Âu Lạc, văn hóa thời chống Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt, văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại

Lởp văn hóa Bản địa được hình thành chủ yếu nằm ở hai giai đoạn:

giai đoạn văn hóa tiền sử và giai đoạn văn hóa Văn Lang - Âu Lạc Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là sự hình thành trong cả khu vực Đông Nam Á cổ đại một nền văn hóa đặc sắc với nghề nông nghiệp lúa nước là chủ đạo Và không thể phủ nhận rằng, thành tựu lớn nhất ở giai đoạn văn hóa thời tiền sử chính là sự hình thành nghề nông nghiệp lúa nước

Giai đoạn thứ hai của lớp văn hóa Bản địa là giai đoạn văn hóa Văn Lang - Âu Lạc Giai đoạn này kế tục giai đoạn tiền sử cả về không gian văn hóa, thời gian văn hóa và thành tựu văn hóa v ề mặt không gian, bò' cõi nước Xích Quỉ theo truyền thuyết trải dài từ Bắc Trung Bộ đến hồ Động Đình, là khu vực tam giác không gian gốc của văn hóa Việt Nam Bờ cõi nước Văn Lang của các vua Hùng sau này cũng là một bộ phận của không gian gốc đó Thành tựu văn hóa chủ yếu của giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc sau nghề nông nghiệp lúa nước chính là nghề luyện kim đồng

Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và kltu vực còn lại được hình

thành qua hai giai đoạn: giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc và giai đoạn văn hóa Đại Việt Lớp văn hóa này có đặc trưng nổi bật là sự tồn tại song song của hai xu hướng trái ngược nhau : xu hướng Hán hóa về mặt văn hóa, xu hướng còn lại là xu hướng chống Hán hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng của Trung Hoa

Giai đoạn văn hóa thời chống Bắc thuộc khởi đầu từ trước công nguyên

và kéo dài cho đến khi Ngô Quyền dành được đất nước Ý thức đối kháng bất khuất và thường trực đối với nguy cơ xâm lăng từ phía Phong kiến phương

Trang 18

Bắc là một trong những đặc điểm chủ yếu của giai đoạn này Đặc điểm thứ hai là sự suy tàn của nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc Đặc điểm cuối cùng là giai đoạn văn hóa thời chống Bắc thuộc đã mở đầu cho quá trình giao lun - tiếp nhận văn hóa Trung Hoa và khu vực Nó đồng nghĩa với việc mở đầu cho quá trình văn hóa Việt Nam hội nhập vào văn hóa khu vực.

Giai đoạn văn hóa Đại Việt chỉ sau ba triều đại đã gầy dựng và khôi phục lại văn hóa Việt nam giúp giai đoạn này trở thành đỉnh cao thứ hai trong lịch sử văn hóa việt nam Trong giai đoạn đỉnh cao này, có hai cột mốc chính:

Lý - Trần và Lê.Văn hóa Phật giáo đầy lòng bác ái cùng với tinh thần tổng hợp bao dung truyền thống của văn hóa dân tộc ( lóp văn hóa Bản địa) đã làm nên linh hồn của thời đại Lý- Trần Và với tinh thần tổng hợp bao dung, nó đã

mở rông cửa cho việc tiếp thu cả Nho giáo và Đạo giáo “Tam giáo đồng quy” trên cơ sở văn hóa dân tộc đã khiến cho văn hóa Việt Nam thời Lý- Trần phát triển mạnh mẽvề mọi phương diện

Phải đến thời Lê, Nho giáo mới đạt đến độ thịnh vượng nhất và nắm trong tay toàn bộ guồng máy xã hội Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực tạo bộ mặt mới cho văn hóa Việt Nam chuyển sang một đỉnh cao kiểu khác: văn hóa Nho giáo và dung chữ Hán làm văn tự chính thống chủ yếu Riêng chữ Nôm, chữ của nguủi Nam- một trong những sản phẩm của cuộc giao lưu này được dung trong sáng tác văn chương

Lớp văn hóa th ứ ba là lớp giao lư u với văn Itoá ph ư ơ n g Tây Cho đến

nay, lớp này gồm hai giai đoạn: văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại Giai đoạn văn hóa Đại nam đưcrc chuẩn bị từ thời các chúa Nguyễn và kéo dài hết thời Pháp thuộc và chống Pháp thuộc.” Đại Nam” ỉà quốc hiệu chủ yếu của nước ta trong giai đoạn này Từ nhũng tiền đề mà nhà tây Sơn đã chuẩn bị, với sự hoàn tất của nhà Nguyễn, lần đầu tiên đất nước ta có sự thống nhất về lãnh thổ và tổ chức hành chánh từ Cao Lạng đến Minh Hải Sau thời kì Lê-

Trang 19

Mạc, Trịnh - Nguyễn hỗn độn, đến nhà Nguyễn, Nho giáo lại được phục hồi làm quốc giáo nhưng nó ngày một suy tàn.

Khởi đầu thời kỳ thâm nhập của văn hóa phương Tây, cùng với nó là sự xuất hiện của Kitô giáo cũng là giai đoạn khởi đầu cho thời kỳ văn hoá Việt nam hội nhập vào nền văn hóa nhân loại Sự giao lưu đó đã làm biến đổi nền

văn hóa Việt Nam ở mọi phương diện, khiến cho lịch sử Việt nam lật sang

trang mới

Giai đoạn văn hóa hiện đại được chuấn bị từ trong lòng văn hóa Đại Nam Đây ỉà giai đoạn văn hóa đang định hình Sự giao lưu với văn hóa phương Tây mở đầu bằng văn hóa Đại Nam đã thổi vào Việt nam luồng gió với những tư tưởng mới của K.Marx, V.I.Lênin Ý thức về vai trò con người

cá nhân đang được nâng cao bổ sung cho ý thức cộng đồng truyền thống

Lớp giao lưu văn hóa phương Tây đem đến một sản phẩm cho cuộc giao lưu mới đó là chư Quốc Ngữ Bên cạnh đó là vai trò của đô thị ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày một nhanh hơn Cùng với nó là sự lớn mạnh của công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa và nhu cầu về một cuộc sống văn minh tiện nghi

Như vậy, cho đến nay, văn hóa Việt nam đã trải qua nhiều biến động, nhưng do những hòan cảnh địa lý - khí hậu và lịch sử xã hội riêng, nên dù biến động đến đâu, văn hóa Việt Nam vẫn mang trong nó những net bản sắc không thế trộn lẫn vào đâu được

Vùng văn hóa Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía Nam và hai thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố cầ n Thơ

Khu vực này chia làm 2 vùng chính:

* Vùng Đông Nam Bộ có 5 tỉnh và 1 thành phố:

+ 5 tỉnh: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận

Trang 20

+ Thành phố Hồ Chí Minh.

* Vùng đồng bằng sông Cửu Long, còn gọi là Tây Nam Bộ, có 12 tỉnh

và 1 thành phố:

+ 12 tỉnh: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Ben Tre, Vĩnh

Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau

+ Thành phố c ầ n Thơ

Nhìn qua các thời kỳ lịch sử, sẽ thấy Nam Bộ được hình thành trong

quá trình mở cõi, “hành phương Nam” của người Việt từ miền Bắc Cho đến

triều vua Minh Mạng năm 1832 đã chia vùng này thành 6 tỉnh (do đó có tên

gọi Nam Kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh) Đó là các tỉnh: Phiên An, năm 1836 đổi

thành Gia Định (tỉnh ỉỵ Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ Biên Hòa), Định Tường

(tỉnh lỵ Mỹ Tho) ở miền Đông, Vĩnh Long (tỉnh lỵ Vĩnh Long), An Giang

(tỉnh lỵ Châu Đổc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ Hà Tiên) ở miền Tây

Theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 của chính quyền

Việt Nam Cộng hòa thi Nam phần (tức Nam Bộ) gồm 22 tỉnh (kể cả Đô thành

Sài Gòn)

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 vùng văn hóa Nam Bộ đưọ-c

chia thành 13 tỉnh thành trong tổng số 38 tỉnh thành của cả nước: Thành phố

Hồ Chí Minh, Sông Bé, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Đồng Tháp, An

Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Ben Tre, Cửu Long, Minh Hải •

Năm 1979, thành lập Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo, tương đương cấp

tỉnh Do đó thời kỳ 1979-1991 Nam Bộ có 13 tỉnh thành và 1 Đặc khu trong

tổng số 39 tỉnh thành và 1 Đặc khu của cả nước

Từ năm 1991, với việc tỉnh Cửu Long tách ra thành 2 tỉnh Vĩnh Long

và Trà Vinh và Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo trở thành tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Trang 21

Từ năm 1997, với việc tỉnh Sông Bé tách ra thành 2 tỉnh Bình Dương

và Bình Phước, tỉnh Hậu Giang tách ra thành 2 tỉnh c ầ n Thơ và Sóc Trăng, tỉnh Minh Hải tách ra thành 2 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau thì Nam Bộ có 18 tỉnh thành trong tổng số 61 tỉnh thành của cả nước

Từ năm 2004, tỉnh c ầ n Thơ tách ra thành thành phố c ầ n Thơ và tỉnh Hậu Giang nên Nam Bộ có 19 tỉnh thành trong tổng số 64 tỉnh thành của cả nước

Nhìn sâu hơn về lịch sử hình thành một vùng văn hóa, ta thấy Nam Bộ trước kia vốn là lãnh thổ của nước Chăm Pa và Chân Lạp

Thời chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, vùng đất này là xứ Gia Định (Gia Định thành), mới được khai khẩn từ thế kỷ 17

Vào thé kỷ 17, Nam Kỳ là vùng đất hoang sơ, được Chúa Nguyễn ở Đàng Trong khai phá Một số quan lại, tướng tá nhà Minh sau khi chống nhà Thanh thất bại, trốn sang Việt Nam được Chúa Nguyễn cho khai phá vùng này Một nhóm khoảng 5000 người Hoa do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cầm đầu vào khai khẩn vùng Mỹ Tho, Biên Hòa, một nhóm khác do Mạc Cửu cầm đầu tiến vào tận Hà Tiên khai khẩn

Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược đất Việt Nam

Năm 1862, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ nhượng

Năm 1867, Pháp đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp Từ đó, Nam Kỳ được hưởng quy che thuộc địa, với chính quyền thực dân, đứng đầu là một Thống đốc ngưòi Pháp

Hiệp ước Quý Mùi (25 tháng 8 năm 1883) nhập thêm tỉnh Bình Thuận vào Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) coi như trừ số tiền bồi thường chiến phí còn lại

18

Trang 22

mà triều đình Huế chưa trả hết, nhưng năm sau, Hiệp ước Giáp Thân (6 tháng

6 năm 1884) lại trả tỉnh Bình Thuận về cho Trung Kỳ

Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương

Mãi đến sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ủ y ban hành chính lâm thời Nam Bộ, hay Lâm ủy Nam Bộ, do chính quyền mới lập ra, tuyên bố sáp nhập Nam Kỳ lại thành một bộ phận của nước Việt Nam

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chưa đầy một tháng sau khi Việt Nam độc lập, Pháp đã nổ súng gây chiến ở Sài Gòn rồi mở rộng đánh chiếm Nam Bộ Pháp đã lập ra một chính phủ "Nam Kỳ quốc" hòng tách khu vực này ra khỏi Việt Nam

Không đánh bại được Việt Minh, Pháp phải dùng "giải pháp Bảo Đại", công nhận nền độc lập và sự thống nhất của Việt Nam

Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam

Nói đến nền văn hóa Nam Bộ là nói đến văn hóa của các tộc người ở đây Ngoại trừ các tộc người sống ở ven đồng bằng miền Đông thì các tộc

nguời Việt, Khơme, Chăm, Hoa đều không phải là cư dân Bản địa ở đây.[34,

271] Vì thế, văn hóa của họ là văn hóa của vùng đất mới Gần như là một quy luật, văn hóa của lưu dân ở vùng đất mới, dù là của tộc người nào cũng đều là

sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa trong tiềm thức, trong dòng máu và điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới Điều kiện phát triển của nó là cách xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và thời gian

Vùng văn hóa Nam Bộ có một đặc điếm thấy rõ là quá trình giao ỉưu văn hóa diễn ra với một tốc độ mau lẹ, năm trong lưu vực sông Đông Nai và

hệ thống sông Cửu Long

Trang 23

Vùng đất Nam Bộ có tuổi đời khoảng chừng hơn 300 năm, thế nhưng trong một khoảng thời gian rất ngắn ấy văn hóa Nam Bộ đã định hình rõ những đặc trưng vùng của mình.

Mặt khác, Nam Bộ là vùng văn hóa có nhiều tôn giáo tín ngưỡng cùng đan xen tồn tại Ngoài những tôn giáo lớn ở ngoài du nhập vào như Phật giáo, Công giáo thì tôn giáo tín ngưỡng địa phương phát triển rất phong phú ở Nam Bộ Ngoài ra, cách ứng xử với môi trường tự nhiên của vùng văn hóa Nam Bộ cũng có nét khác biệt so với các vùng văn hóa khác, Thái độ ứng xử với thiên nhhiên còn được thể hiện qua việc ăn và mặc Món ăn Nam Bộ là sản phẩm độc đáo của miền đất mới, là kết quả giao tiếp của nhiều dân tộc, với các làng văn hóa Đông Tây.[33, 304]

Văn hóa Bản địa Nam Bộ phản ánh tính cách, lối sống, cách ăn, cách ở của người dân Nam Bộ được qui định bởi môi trường tự nhiên và môi trường

xã hội Nó là tổng hòa những giá trị gốc, cốt lõi căn bản những giá trị hạt nhân từng địa phương Chính những điều kiện định cư lâu dài và sự phát triển của nông nghiệp đã làm hình thành rõ nét tính địa phương của văn hóa trong những khu vực hẹp vào cuối thời đại đá mới

Qua sử liệu, ta biết thành phần các lớp cư dân đi lập nghiệp ngoài vài

cự tộc, hầu hết là dân nghèo Trước vùng đất mới khó khăn đầy rẫy họ đã phải chung lưng đấu cật hết lòng với nhau để sống còn Họ cộng cảm với nhau trong tâm lý dấn thân vì chẳng ai còn đất cũ để quay về nữa Họ chung chân, chung tay cùng khai sơn phá thạch, họ lập chòm xóm để kề cận nhau để dễ bề cưu mang nhau trong cái truyền thống làng ngày xưa Chính trong hoàn cảnh

đó không thể không tạo nên những nét đặc thù của phong cách, tính khí người Nam Bộ Đe rồi từ nhân cách cụ thể đó sẽ xuất hiện những biểu hiện văn minh - văn hóa của những truyền thong đặc trưng vùng

Văn hóa Bản địa Nam Bộ không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành dần theo thời gian và được khăng định trong quá trình lịch sử xây dựng

Trang 24

củng cố phát triển của nhà nước, của dân tộc Việt Nam Hệ sinh thái tự nhiên

đã để lại dấu ấn đậm đà trong văn hóa Nam Bộ Nó qui định một cách tự nhiên cách sống, cách nghĩ cách làm của các cư dân Nam Bộ Vì là vùng đất cát địa của dân tộc, Nam Bộ chính là cái đại đồng địa lý tự nhiên của vùng với thiên nhiên của toàn quốc Đó ỉà cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất cho

cả nền văn hóa Việt Nam Cái tiểu dị địa- văn hóa của địa phương so với các vùng khác lại góp phần tạo nên những đường nét văn hóa đa dạng phong phú cho chính nó

Đồng bằng Nam Bộ có diện tích rộng lớn, thòi tiết điều hòa, nhịp hai mùa ổn định Dân Nam Bộ hiếu khách rộng bụng, ít lo xa Nhìn chung, kinh

tế đồng bằng Nam Bộ trù phú nông dân không bị gò bó quá vào cơ chế phong kiến lạc hậu Căn tính nông dân đã bám sâu gốc rễ chi phổi mọi hành động của nhân dân nơi đây, lấy bản vị tình cảm để đối đãi

Trên thực tế từ khi khai mở cho đến nay, Nam Bộ với vị trí điều kiện về sinh thái tự nhiên kinh tế xã hội đặc thù đã là nơi gặp gỡ giao lưu của nhiều lớp nhiều nền văn hóa khác nhau Tuy ảnh hưởng của nhũng lớp văn hóa cổ truyền có làm cho sắc diện của mỗi nền văn hóa gặp gỡ trên đất này đều có những biến dị to nhỏ Song nhìn chung nơi đây chưa có nền văn hóa nào vượt khỏi giới hạn cố hữu phong kiến, nông nghiệp cổ truyền mãi cho đến khi sự

mở rông giao tiép văn hóa với phương Tây Nam Bộ bắt đầu chính thức bước vào ngưỡng cửa của xã hội hiện đại với sự phát triển theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất mróc Cũng từ mốc thời gian này, văn hóa cổ truyền Việt Nam nói chung, đặc biệt là văn hóa vùng Nam Bộ nói riêng- vùng

có những biến động, đổi mới sớm và sâu sắc nhất- đã có những buớc tiến không ngùng

Rõ ràng từ trước tới nay, Nam Bộ vẫn được xem là vùng đô thị hóa và quốc tế mạnh nhất nước, là nơi nền văn minh kỹ thuật phương Tây hội nhập

Trang 25

kinh tế thị trường, là vùng đất năng động trên nhiều lĩnh vực quan trọng Đó

là những nhân tố mới mang tính động lực tải trong nó nhiều ý nghĩa về kinh

tế lẫn văn hóa đồng thời là một thách thức lớn cho sự phát triển muôn màu của vùng đất này

1.1.4 Tiêu vùng văn hóa Đông Nam Bộ:

Vùng văn hóa Nam Bộ có hai tiểu vùng: Đông Nam Bộ ( ỉưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn) và Tây Nam Bộ (lưu vực sông Cửu Long) Chúng

ta sẽ nghiên cứu sâu về tiểu vùng Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ là một trong hai phần của Nam Bộ Việt Nam Vùng Đông Nam Bộ có 5 tỉnh và một thành phố:

Trang 26

u U r * B rh

Tmhl TÍI^*I - K

i ;■ rè fjj«y

Quiflig Uflm Oui >9 f«gãỉ

Trang 27

Khu vực miền Đông Nam Bộ là địa bàn nằm trên nửa phần đất của Nam Bộ về phía đông, ỉà tiểu vùng địa lý sinh thái mang đặc trưng là vùng phù sa cổ Với vị trí chiến lược như vậy, cộng với đặc điểm cư dân miền Đông Nam Bộ là cộng đồng cư dân có nguồn gốc từ nhiều địa phương khác nhau trên cả nước tụ họp về nên văn hóa của tiểu vùng này rất đa dạng và phong phú với những nét đặc trưng rất riêng biệt Cư dân ở miền Đông Nam

Bộ có nhiều thành phần dân tộc khác nhau Người Việt (Kinh) chủ yếu là nông dân chiếm 80%, các bộ phận người sống tập trung ở khu vực miền Đông Nam Bộ bao gồm:

+ Người Kinh (chiếm đa số và rải đều ở các tỉnh Đông Nam Bộ)

+ Người Khơme (chiếm một số luợng rất ít, không đông đúc như khu vực miền Tây Nam Bộ)

+ Người Hoa (đa số cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh và rải rác ở các tỉnh còn lại)

+ Người Chăm (tập trung ở tỉnh tây Ninh ,Thành phố Hồ Chí Minh)

+ Người Stiêng (tập trung ở tỉnh Bình Phước, rải rác ở tỉnh Đồng Nai

và Tây Ninh)

+ Người Chơ-ro (tập trung ở Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu)

+ Người Mơ Nông và người Nùng ( cư trú chủ yểu ỏ' tỉnh Bình Dương, Bình Phước)

Đây là khu vực kinh tế phát triển nhất Việt Nam, đóng góp hơn 2/3 thu ngân sách hàng năm, có tỷ lệ đô thị hóa 50% Vì tỷ lệ cao như vậy nên đa số các tỉnh miền Đông Nam Bộ đều nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (trừ Lâm Đồng, Bình Thuận và Ninh Thuận )

24

Trang 28

Diện tích, dân số các tỉnh miền Đông Nam Bộ

Diện tích (km2)

Dân sổ (2004)

Mật độ(người/km2) :

Vốn thu hút nước ngoài của khu vực này dẫn dầu cả nước nổi bật ở các tỉnh: Dồng Nai, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, Gần đây,Vũng Tàu cũng thư hút khá nhiều dự án và vốn dầu tư nước ngoài Năm 2006, Vũng Tàu là tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài cao nhất cả nưóc với hơn 1.1 tỷ USD

Cùng với Thành phổ Hồ Chí Minh và Đồng Nai, Bình Dương hợp chung thành tam giác phát triển nhất trong nền kinh tế của cả nước Khu tam

Trang 29

này là nơi thực hiện các dự án lớn như: Đường cao tốc Dầu Giây-Long Thành-Thành phố Hồ Chí Minh, sân bay quốc tế Long Thành (Đồng Nai), đường cao tốc Biên Hoà-Vũng Tàu, thành phố mới Nhơn Trạch (Đồng Nai), cầu Đồng Nai mới, các trung tâm công nghiệp mới Trảng Bom, Long Thành, (Đồng Nai), đô thị hoá các huyện trung tâm tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu.

Những yếu tố nổi bật về địa lý- khí hậu, lịch sử - xã hội của vùng văn hóa Nam Bộ và tiểu vùng văn hóa Đông Nam Bộ chắc chắn đều có tác động đến mọi mặt trong đời sống ở khu vực này Riêng đổi với báo chí, văn hóa Bản địa Nam Bộ là chất liệu quí báu thể hiện qua các tác phẩm báo chí Đặc biệt với thể loại truyền hình - chiếc nôi tinh thần của cộng đồng cư dân nơi đây với những nét đặc thù riêng của nó

1.2 Truyền hình ĐNB trong hệ thống đài truyền hình quốc gia và khu vực.

Báo chí là khái niệm được dùng để chỉ các kênh truyền thông đại chúng chuyên phản ánh các sự kiện và vấn đề thời sự, xuất bản định kỳ đều đặn Do

đó, báo chí nói chung được hiểu bao gồm báo chí in ấn, báo phát thanh (bảo nói), báo chí truyền hình (báo hình) và các loại hình báo chí điện tử khác [1,43]

Trong các loại hình báo chí, báo hình hay còn gọi là truyền hình được hiểu như một kênh truyền thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng hình ảnh hoặc âm thanh để chuyển tải thông điệp tác động vào thị giác và thính giác của công chúng Chính vì vậy thông tin được truyền tải thông qua báo hình có những hiệu quả đặc biệt mà các loại báo hình khác không có được

26

Trang 30

Từ tivi (television) là một từ ghép, kết hợp từ tiéng Hy Lạp và tiếng Latinh "Tele", tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "xa"; trong khi từ "vision", từ tiếng Latin visio, có nghĩa là "nhìn" hay "thấy" Tiếng Anh viết tắt thành TV mà chúng ta đọc là tivi.

Ở Việt Nam, truyền hình ra đời khá muộn so với nhiều nước trên thế giới Ngày 7 tháng 9 năm 1970 được đánh giá là mốc ra đời của ngành truyền hình Việt Nam Tiềm năng của truyền hình rất lớn, tuy ra đời muộn hơn so với báo in và phát thanh nhưng truyền hình đã thực sự trở thành phương tiện truyền thong đại chúng thu hút đông đảo công chúng khán giả, trở thành món

ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống xã hội Ngày nay, chiếc ti vi màu

và phang đã thay thế cho chiếc tivi đen trắng ngày xưa, đã trở nên thân thiết với mỗi người, mỗi gia đình trong xã hội Truyền hình là một phương tiện giải trí không thể thay thế

Đài truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia của nước CHXHCN Việt Nam và là đài phủ sóng toàn quốc duy nhất tại Việt Nam Đài được thành ỉập vào ngày 7 tháng 9 năm 1970 từ 1 ban biên tập thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam Năm 1976, Đài tách khỏi Đài Tiếng Nói Việt Nam và chuyển trụ sở sang khu vực Giảng Võ hiện nay Đài chính thức được đặt tên

là Đài Truyền Hình Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1987 và bắt đầu từ đó Đài trở thành Đài Truyền hình Quốc gia Quản lý Đài Truyền hình Việt Nam

là một tổ chức thuộc chính phủ hoạt động bàng ngân sách nhà nước Đài trực thuộc quản lý trực tiếp của Chính phủ

Với chức năng là một tổ chức thông tin, truyền thông hàng đầu ở Việt Nam, Đài THVN luôn giữ vai trò tích cực trên mặt trận tư tưởng văn hoá quốc gia thông qua việc tuyên truyền thông tin tới mọi tầng lóp nhân dân trong cả nước và kiều bào tại nước ngoài, cung cấp các chương trình khoa học giáo dục và các chương trình giải trí cho các nhóm khán giả Bên cạnh đó, Đài còn

Trang 31

Nam cũng như giữa Việt Nam và thế giới Trong suốt thập kỷ qua, VTV đã phát triển nhiều dịch vụ đa dạng từ phát sóng truyền hình tới các lĩnh vực khác như sản xuất phim, Pay-TV, dịch vụ Internet, phát hành tạp chí Đài đã chứng minh được ảnh hưởng ngày càng tăng của mình tới đời sống tinh thần, văn hoá và giải trí của người Việt Nam.

Sơ đồ về hệ thống các đài truyền hình từ Trung ương cho đen địa phương sẽ giúp chủng ta hiểu rõ bảy đài truyền hình Đông Nam Bộ chúng ta nghiên cứu nằm ở đâu trong hệ thống này

28

Trang 32

ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM (VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5, VTV6, VTV8, VTV9, ITV)

ĐÀI TRUYỀN HÌNH KHU Vực

Đ ài truyền Đ ài truyền Đ ài truyền hình V iệt hlnh V iệt hình V iệ t

N a m tại T P N a m tại c ầ n N a m tại Đ à

ĐÀI TRUYÈN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG

Trang 33

s ơ ĐỒ HỆ THỐNG CÁC ĐÀI TRUYÈN HÌNH TỪ TRUNG ƯƠNG ĐÉN ĐỊA PHƯƠNG.

DIỆN BIỀN

LAI CHÁU

YẺM BÁI

PHÚ THỌ SƠM LA

MAGÍANG LÀO CAI

QUÁNG MÍNH HÁI ĐƯỜNG

Trang 34

Chương trình truyền hình của Đài Trung ương và đài địa phương luôn luôn đăng tải những sự kiện nổi bật và cần thiết trong đời sống nhân dân Trong nhiều năm qua, truyền hình Việt Nam đã đăng tải các sự kiện quan trọng diễn ra tại Việt Nam và trong khu vực bao gồm các kỳ Đại hội Đảng, Họp Quổc hội, Kỳ họp thượng đỉnh ASEAN, các kỳ họp Lãnh đạo APEC, các chuyến thăm chính thức của các nguyên thủ cũng như các giải thê thao quôc gia và quốc tế như SEAGames, ParaGames, các giải bóng đá quốc tế, các lễ hội lớn và các hoạt động văn hoá quốc gia.

Các đài truyền hình Trung ương cũng như địa phương là những kênh tin tức quốc tế quan trọng Ở Việt Nam, VTV nắm trong tay bản quyền cấp phép của Reuters và các hãng tin tức lớn quốc tế, VTV luôn là đài truyền hình đầu tiên đem tới các thông tin mới nhất, chính xác về những gì đang diễn

ra trên khắp thế giới Các sự kiện chính như cuộc chiến tại Iraq, đánh bom tại New York, Madrid, Iraq, London, vụ bắt cóc con tin tại Beslan cũng như các tin tức mới nhất về các phát minh khoa học đều được phát sóng kịp thời trên các kênh của VTV Các đài địa phương có nhiệm vụ truyền sóng lại từ VTV Sau thời lượng qui định đó, mỗi đài địa ở mỗi tỉnh thành sẽ phát chương trình của địa phương mình

Trong thời kỳ phát tri en mạnh mẽ như hiện nay, truyền hình tại Việt Nam phát triển về nội dung như vũ bảo nhưng vẫn đảm bảo tính Đảng, đi đúng định hướng Đã xuất hiện nhiều dạng thúc như truyền hình cáp, truyền hình số bên cạnh truyền hình truyền thống tạo điều kiện cho người xem đài có thế chọn lựa kênh truyền hình mình yêu thích, lựa chọn thông tin mà họ cần

Trang 35

1.3 Tính Bản địa trong chương trình truyền hình tù’ phía ngưòi tổ chức

và tiếp nhận.

Trên cái nền không gian địa văn hóa Nam Bộ, khu yực miền Đông Nam Bộ cũng đã có bóng dáng văn hóa riêng của mình thể hiện qua phần xác

và phần hồn của văn hóa Bản địa Có thể coi phần xác văn hóa Bản địa thiên

về vật chất, có tình hình thức bên ngoài Còn phần hồn của văn hóa Bản địa gắn với quan hệ với tinh thần thiên về cái bên trong Ở mỗi địa phưong, ở mỗi tỉnh thành trên khu vực Đông Nam Bộ này đều có cách nghĩ, cách cảm cách

cư xử và cách hành động đặc trưng của mình Nó không hòan toàn khác hoặc giống nhau nhưng lại có nhũng nét riêng không thể lẫn vào đâu được Chính

từ đó, văn hóa Bản địa Nam Bộ sẽ có ảnh hưởng to lớn đối với công tác làm truyền hình ở từng địa phương

Phải thấy ràng, truyền hình là một trong những phương tiện truyền thông rất quan trọng trong việc hình thành ý thức lịch sử- văn hóa của xã hội Trong thời đại ngày nay, với nhiều hình thức truyền tải thông tin đa dạng và phong phú theo cách của mình, truyền hình đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục và truyền thụ những giá trị văn hóa- lịch sử của dân tộc Chính vì thế, mỗi đài truyền hình địa phương không những gìn giữ, truyền tải nét văn hóa riêng của vùng đó mà còn chịu sự tác động một cách nhất định của văn hóa Bản địa của địa phương mình vào từng chương trình, từng tác phẩm truyền hình

Tính thực tiễn trong sáng tạo tác phẩm truyền hình là một đặc thù quan trọng và không thể chối bỏ Đây là điều kiện bắt buộc và quan trọng nhất của thông tin báo chí Tác phâm truyên hình có thu hút khán giả hay không là do tính thực tiễn Tính thực tiễn này thực ra là cái thân thuộc, dễ biết, dễ nghe, dễ tiếp thu, là cái tính Bản địa của văn hóa địa phương riêng mỗi vùng

Sự đa dạng và phong phú của văn hóa Bản địa Nam Bộ là nguồn mạch

vô tận cho việc đi tìm chất liệu bài viết hình ảnh Trong quá trình sáng tạo tác

Trang 36

phẩm truyền hình, yếu tố quyết định là ngôn ngữ thể hiện, là sự kiện nào xảy

ra được chọn lọc nhất để chọn lựa thể loại cho phù hợp với nội dung đó.Chính những lễ hội dân gian phong phú ở Nam Bộ, sự đa dạng của cộng đồng dân

cư hay những phong tục tập quán riêng của từng vùng là chiếc thảm nhung cho người làm truyền hình tha hồ vẫy vùng Trong cái mạch văn hóa ấy, tất nhiên tính Bản địa sẽ nổi trội ngay Bởi vì không có cái tính bản đại ấy thì làm

gì mà nhận ra được đài địa phương này hay đài địa phương khác Phần văn hóa dân tộc của cả nước đã được đài truyền hình Trung ương đảm nhận trọng trách Thể nên, văn hóa Bản địa không thể không tác động đến đội ngũ những người làm truyền hình ở từng địa phương khác nhau Từ ban lãnh đạo cho đến các phóng viên trong bộ máy hoạt động của truyên hình, từ Tông biên tập cho đến anh quay phim, tất cả ai đã làm truyền hình thì không thể phủ nhận việc tính Bản địa của văn hóa nơi mình ở đã tác động đến công việc của mình như thế nào

Vai trò của văn hóa Bản địa là không thê phủ nhận Nhưng nó tác động như thế nào, tác động cụ thể ra làm sao thì khó mà vẽ ra chính xác được Chỉ biết răng, nó đã ăn sâu vào máu thịt của mỗi con người Cách nghĩ cách làm của công tác tổ chức tác phẩm truyền hình bị ảnh hưởng rất nhiều từ tính văn hóa Bản địa ở mỗi tỉnh thành Lý do này giải thích cho việc vì sao chưong trình truyền hình ở các đài Đông Nam Bộ không thể đi theo một khuôn mẩu nhất định, không thể giống nhau hoàn toàn được Nó được liên tục sáng tạo và thổi vào đó những màu sắc khác nhau của mồi tiểu vùng văn hóa đặc trưng

Từng tiểu vùng văn hóa sẽ thúc đay bước chân ngưới phóng viên đi theo những sự kiện nóng hổi ngay chính trên địa phương mình Lẽ đơn giản cho công tác tổ chức bài vở tin tức trên truyền hình ở mồi đài sẽ đặc trưng cho địa phương cho thành phố đó Cụ thể nếu như đài Tây Ninh ít có chương trình

về cây mía, cây mì, cây cao su thì liệu truyền hình có sống được với người

Trang 37

mì trồng cao su thì hơi thở của địa phương nơi đây sẽ thúc giục những người

đi thu thập tin tức hay xây dựng bài vở trên truyền hình đến những nơi này Bởi vì đi lệch quĩ đạo ấy, công tác tổ chức chương trình truyền hình sẽ vô tỉnh

đi lệch chỉ đạo của các cấp lãnh đạo địa phương, đi lệch với đời sống thực của nhân dân nơi đây thi khó mà làm truyền hình và gánh trên vai trọng trách làm truyền thông

Phải thấy rằng, công tác tổ chức thu thập dàn dựng tin bài trên truyền hỉnh phần nhiều do cái nhìn Bản địa chi phối Đài địa phương thì phải đưa những tin tức những sự kiện nổi bật ngay ở địa phương mình cho bà con nắm

bắt Nếu đi xa tinh thần này thì ở ngay tại vùng miền ấy sẽ mất đi tính hấp dẫn

với người xem, đối tượng đặc biệt của người làm truyền hình

Công tác tổ chức tác phẩm truyền hình ở đài địa phương vừa phải bảo đảm tính hiện đại- đại chúng- dân tộc, vừa phải đáp ứng nhu cầu Bản địa của tình thành ấy Trong công tác xây dựng một chương trình truyền hình, vấn đề quan trọng nhất là phải có kịch bản và xây dựng đề cương từ những chất liệu cuộc sống, những sự kiện nổi bật xảy ra ngay tại địa phương mình Kịch bản chính là xương sống cho một tác phẩm, một chương trình truyền hình Mỗi một tác phấm chương trình đều phải có đặc trưng riêng của mình, phải có bản sắc riêng, không chương trình nào giống chương trình nào để tránh gây nhàm chán cho khán giả xem đài Cho nên, nét văn hóa riêng ở mỗi nơi đã là một mảng màu cho chương trình truyền hình Không thể chối cãi khác đi trong cái mạch văn hóa Bản địa ấy Đài truyền hình Bình Phước không thể thiếu trang Dân tộc, cũng như đài truyền hình Tây Ninh không thể bỏ qua chuyên mục Bạn Nhà nông hướng dẫn bà con cách trông mía, trông mì, nhũng cao sản đặc trưng của tỉnh nhà Đài truyền hình Bà Rịa Vũng Tàu luôn phải sát sao với một người bạn thiên nhiên, đó là biển Cách tổ chức chương trình truyền hình

cụ thể như tin, bài hay phóng sự đều bị chi phối một cách tự nhiên như thế Chung quy đó cũng là do tác động văn hóa Bản địa mà thôi Rất bình thường

34

Trang 38

khi phóng viên đài truyền hình Thành phổ Hồ Chí Minh khá rành rẽ về các chương trình VH - XH xây dựng tập trung chủ đề về người Hoa, trong khi đó, phóng viên đài Đồng Nai lại không thể quên những ngày hội dân gian đình đám của dân tộc Chơ- ro để xây dựng thành những phóng sự, ký sự đây lôi cuốn Đó là do cộng đồng cư dân ở mỗi địa phương quy định Với nền tảng là người Kinh, các chương trình truyền hình cũng bị điều tiết bởi thành phần đa sắc tộc ở mỗi tỉnh thành Điều đó mang dấu ấn vào kịch bản truyền hình- bản thiết kế cụ thể cho từng thể loại.

Sau tất cả mọi thứ, cuối cùng yếu tố văn hóa Bản địa mới thể hiện lên tin bài trên truyền hình.Tuy nhiên chớ nên đồng nhất cấp độ hay dở của tác phẩm với tố chất văn hóa trong mỗi con người làm nên tác phẩm, hoặc tách rời hẳn hai giá trị, cho dù chúng có những nét tương đồng Yếu tố văn hóa Bản địa ảnh hưởng đến tác phẩm truyền hình thể hiện qua tự thân chất lượng của tác phẩm truyền hình chứ không phải qua nhũng tiểu xảo kỹ thuật uốn éo văn chương Một phóng sự hay, một khuôn hình đẹp riêng biệt, tự nó chưa đủ tải yếu tổ văn hóa Bản địa của tác phẩm nhưng thông qua đó văn hóa Bản địa sẽ phát huy trong từng tin bài thực tế ở những khía cạnh khác nhau Yếu tố văn hóa cuối cùng thể hiện đậm nét nhất biểu hiện bàng tác động xã hội của từng tác phẩm truyền hình và cả đời sáng tạo của người phóng viên Việc các đài truyền hình Đông Nam Bộ luân phiên mỗi tháng phát sóng chương trình trang Miền Đông của nhau là một minh chứng cho sự giao lưu văn hóa tác phẩm truyền hình khu vực

Văn hóa Bản địa Nam Bộ tác động đến cách thức tiếp nhận chương trình truyền hình của bà con bản xứ và cách tiếp nhận đó tác động trở lại cách

tổ chức chương trình truyền hình là một mối quan hệ hai chiều đầy thú vị mang tính tương hỗ lẫn nhau Cách thức xem đài của mỗi vùng cũng khác nhau Nó tùy thuộc vào công việc, vào điêu kiện tự nhiên tại vùng đất đó

Trang 39

trình này, bản tin này ở địa phương này được đón nhận một cách nồng nhiệt nhưng ở địa phương khác bà con đón nhận nó một cách thờ ơ và bình thường

Do đó, truyền hình địa phương là xây dựng chương trình cho người dân địa phuơng ấy nắm bắt được cái gì đang xảy ra tại địa phương mình Giúp cho họ

có thông một cách đầy đủ chắc chắn Từ đó sẽ tác động tới nhận thức suy nghĩvà hành động của họ Bà con xem đài do nếp sống nếp nghĩ sẽ đón chương trình truyền hình theo cách riêng của họ Họ xem bản tin, thưởng thức một chương trình ca nhạc nào đó đều có cái gu riêng của mình Có thể đối với vùng này hoàn toàn xa lạ nhưng với vùng kia nó gắn bó đến lạ lùng Bà con Nam Bộ, những người chân chất mộc mạc, thông thoáng trong cách nghĩ, thật tình trong cách làm Với tính cách trời cho và do nền văn minh lúa nước qui định, họ luôn monh muốn những chương trình đơn giản dễ nghe, dễ hiểu, có tính ứng dụng cao trong công việc hàng ngày Họ thích những bài ca vọng cổ mùi mẫn, những hình ảnh gần gũi trong tin bài Do đó, tin tức phải dễ hiểu, dễ nắm bắt Tưởng chừng như cái cốt cách Nam Bộ ấy sẽ giúp cho người làm truyền hình giản đơn hơn Nhưng không Càng làm càng thấy phải cải tiến ,phải nâng cao trình độ nhận thức cho bà con nhưng không được bỏ đi những yếu tố Bản địa trong truyền hình Cái đó là cái khó cho chúng tôi , đội ngũ nhũng người làm báo Phải nắm bắt được tâm ỉý của những người xem truyền hình Quá trình truyền thông có thành công hay không, chương trình truyền hình có hấp dẫn người xem hay không, chuyên mục ấy có tuổi thọ trên sóng thế nào, tất cả là do con mắt nhạy bén của ngưòi làm báo địa phương Từng mùa, từng lễ hội ở từng vùng đất khác nhau Nhịp sổng ở từng vùng đất cũng

có chu trình riêng Cho nên truyền hình phải biết ngay được cái riêng ấy là ở chỗ nào để truyền tải một cách tốt nhất đến công chúng Nhưng quan trọng hơn là cái riêng ấy đã thấm sâu vào máu họ, tác động đến họ, hình thành trong

họ cái rung cảm khác nhau, cái cách thức xem đài cũng khác nhau Người Kinh cũng như người dân tộc sống chung trên một mảnh đất có một tinh thần thoả thuận đoàn kết mạnh mẽ đến bất ngờ Yếu tổ văn hoá Bản địa đã đẩy họ

Trang 40

gần nhau hơn Lễ tết là của chung mọi người, không phân biệt là của riêng ai Tất cả mọi người đều háo hức chào đón và chia sẻ với nhau những lịch trình, những mốc thời gian đáng nhớ Làm truyền hình địa phương thì phải thấy ngay điêu đó đê có thê đi đúng mạch yêu cầu của bà con Những người dân ỏ' mỗi vùng đều có cách thức sản xuất riêng, cách nuôi sống bản thân riêng nên cái luồng thông tin mà họ quan tâm, họ khao khát cũng không thể giống nhau Văn hóa Bản địa đã không nằm yên trong không gian sâu dân tộc Văn hóa Bản địa luôn chuyển mình dữ dội tác động đến cách thức xem xét đón nhận chương trình truyền hình Nó vô hình trung qui định phong cách làm truyền hình cho mồi địa phương, không đài nào giống đài nào Nó đòi hỏi những người làm truyền hình phải chuyển thông tin một cách thông minh nhất, hiệu

Công chúng, người tiếp nhận thông tin trên truyền hình là một thành tố rất quan trọng Nó quyết định chu trình truyền tin có thành công hay không Làm báo, dồn hét công sức vào tác phẩm chỉ mong được khán giả đón nhận, nếu khán giả quay lưng thì tác phẩm ấy không sống được và làm báo như vậy

là đã thất bại Làm truyền hình còn khó hơn nữa, bởi vì trên truyền hình vừa tải đến công chúng hình ảnh vừa tải đến công chúng âm thanh, đòi hỏi chương

trình truyền hình phải hoàn thiện về cả âm và sắc Văn hoá ở mỗi vùng sẽ tác

động đến cách chọn góc hình của phóng viên ỏ' từng địa phương, cách chọn góc độ phản ánh của vấn đề, cách đưa ra vấn đề cũng như cách giải quyết và truyền tải vấn đề đó trên truyền hình địa phương Giọng nói âm sắc ở tung vùng khác nhau Do đó cách thức thẩm thấu lời đọc của bà con cũng khác nhau hoàn toàn Đó là do văn hoá Bản địa tác động mãnh mẽ đến cách thức tiếp nhận tác phẩm truyền hình của bạn xem đài

Ngày đăng: 05/04/2020, 13:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w