Trên cơ sở phương pháp dạy Luyện từ và câu chung đã được học tại các trường sư phạm và chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn, đề xuất được biện pháp cụ thể có tính khả thi và phù hợp với điều k[r]
Trang 1DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 4 VÀ LỚP 5
ĐẠT HIỆU QUẢ
(Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ)
1 PHẨN MỞ ĐẦU:
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1.1.1 Lí do khách quan:
Môn Tiếng Việt của cấp Tiểu học là môn học công cụ, góp phần học tốt các môn học khác và hình thành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết nhằm hình thành nhân cách học sinh Tiểu học có cơ sở ban đầu rất quan trọng và cần thiết; trong đó phân môn Luyện từ và câu có vị trí xứng đáng và cơ bản của môn Tiếng Việt
Dạy kĩ năng nói (giao tiếp) cho học sinh tiểu học là một yêu cầu của đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học hiện nay ở trường Tiểu học Phân môn Luyện từ và câu là phân môn chủ đạo trong dạy kĩ năng nói
Có một vốn từ phong phú, đa dạng, việc giao tiếp một cách linh hoạt, trôi chảy,
có sức thuyết phục là yêu cầu rất quan trọng trong một đời người Nó quyết định sự thành công trong cuộc đời của mỗi người, giúp cho họ có tư duy mềm dẻo, linh hoạt
và sáng tạo Muốn có một vốn từ dồi dào không cách gì tích cực hơn là mở rộng và hệ
thống hóa vốn từ cho học sinh.
Nghĩa là, lí do mà tôi chọn đề tài này là do tầm quan trọng của phân môn luyện
từ và câu, tầm quan trọng của vốn từ đối với giao tiếp
1.1.2 Lí do chủ quan:
Luyện từ và câu là phân môn khó của môn Tiếng Việt Giáo viên tiểu học thường tránh khi thao giảng tại trường hoặc ngay khi dự thi phân môn này Vì thế, khó
mà không được tháo gỡ, mổ xẻ và hướng dẫn Thậm chí, người quản lý chuyên môn
có khi cũng lúng túng, né tránh, không có hướng tháo gỡ cụ thể về vấn đề này
Giáo viên (khi dạy Luyện từ và câu): ngại dạy, lúng túng, cứng nhắc, đơn điệu, qua loa, kém hiệu quả, dạy nhồi nhét ít sáng tạo…
Học sinh (khi học Luyện từ và câu): tẻ nhạt, nhàm chán, bắt chước, nói như vẹt, lười suy luận, học kém hiệu quả, đơn điệu, chán học Luyện từ và câu
Tổ chuyên môn: lúng túng trong chỉ đạo chuyên môn, không chỉ đạo cụ thể, né tránh nội dung khó, chỉ đạo chung chung thiếu sâu sắc, hời hợt, chạy quanh chuyên môn, nói lại những những kiến thức và phương pháp luyện từ và câu chung chung đã được học tại trường sư phạm, không dám sáng tạo vì sợ sai
Kỹ năng nói (giao tiếp) của học sinh tiểu học hiện nay còn rất hạn chế Học sinh nhút nhát, nói và đọc theo khuôn mẫu cứng nhắc là một nhược điểm của các em, là một lỗi rất khó sửa
Thói quen nói của học sinh tiểu học là cơ sở ban đầu rất quan trọng nó theo và khắc sâu vào tính cách học sinh trong suốt cuộc đời
Việc dạy Luyện từ và câu (để dạy kỹ năng nói) cho học sinh tiểu học là yêu cầu hết sức cấp bách hiện nay; góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Tiếng Việt
Vì vậy, để phân môn Luyện từ và câu của Tiểu học có hiệu quả thiết thực là một vấn đề quan tâm của người quản lý chuyên môn, giúp cho giáo viên có định hướng cụ thể và chủ động, tự tin trong dạy Luyện từ và câu để dạy có hiệu quả, tôi chọn đề tài:
Trang 2Dạy Luyện từ và câu lớp 4 và lớp 5 có hiệu quả (dạng bài Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ).
1 2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
1.2.1 MỤC TIÊU:
Trên cơ sở phương pháp dạy Luyện từ và câu chung đã được học tại các trường
sư phạm và chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn, đề xuất được biện pháp cụ thể có tính khả thi và phù hợp với điều kiện của trường, lớp, giáo viên và học sinh hiện nay, nhằm tháo gỡ khó khăn trong việc dạy Luyện từ và câu (phần Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ) của giáo viên tiểu học nói chung và lớp 4, lớp 5 nói riêng, giúp giáo viên tiểu học
tự tin chủ động dạy Luyện từ và câu nhẹ nhàng, tự nhiên và đạt hiệu cao
1.2.2 NHIỆM VỤ:
Nghiên cứu về loại bài “Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ” trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4; 5 Nghiên cứu nội dung, phương pháp dạy học, thực trạng dạy học và cải tiến phương pháp dạy học phân môn nói chung và loại bài “Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ” nói riêng
Từ đó xóa định kiến phân môn Luyện từ và câu là môn khó, xây dựng thái độ và tình cảm khoa học cho giáo viên trong nghiên cứu và thực hiện công tác chuyên môn Giúp người quản lý chuyên môn (Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn) có cơ sở để chỉ đạo tốt việc dạy Luyện từ và câu trong nhà trường hiện nay
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp dạy học loại bài “Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ” trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4; 5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Cán bộ quản lí (Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn), giáo viên và học sinh lớp 4; 5 trường Tiểu học Nguyễn Huệ, huyện Buôn Đôn
trong các năm 2008 - 2011
1.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này đặt giới hạn phạm vi nghiên cứu là:
Đối tượng được khảo sát là Giáo viên lớp 4; 5 Học sinh được khảo sát là học sinh lớp 4; 5 của 3 năm học 2008-2009; 2009-2010 và 2010-2011 trường Tiểu học Nguyễn Huệ, huyện Buôn Đôn
Tất nhiên, chúng tôi giới hạn khảo sát kiến thức và kĩ năng “Luyện từ và câu”(tức từ ngữ và ngữ pháp câu) của học sinh trên Đồng thời, giới hạn khảo sát kiến thức, phương pháp và kĩ năng dạy “Luyện từ và câu” của giáo viên trên
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Chúng tôi điều tra thông qua phiếu điều tra khảo sát: 270 học sinh lớp 4, lớp 5 của 13 lớp khác nhau (3 năm học: 2008-2009; 2009-2010; 2010-2011); của 5 giáo viên; hiệu phó và năm tổ trưởng tổ chuyên môn trường Tiểu học Nguyễn Huệ, Buôn Đôn
Trò chuyện, phỏng vấn ghi phiếu cá nhân
Tổng hợp, phân tích, so sánh đối chiếu dữ liệu
Đề xuất một số thủ pháp dạy học và dạy thực nghiệm trên lớp 4 và lớp 5 tại trường Tiểu học Nguyễn Huệ, huyện Buôn Đôn
Trang 3Có thể phát ngôn phương pháp nghiên cứu của đề tài này là: Phương pháp điều tra, phỏng vấn;
Phương pháp phân tích, tổng hợp;
Phương pháp thực nghiệm
2 PHẦN NỘI DUNG:
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
Con người, muốn tư duy, phải có ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cụ, là hiện thực của tư duy Bởi lẻ đó, tư duy và ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy và nếu trau dồi ngôn ngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư duy phát triển tốt Để hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển tư duy, nhà trường chúng ta cần phải tổ chức tốt việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh Việc rèn luyện này được thể hiện ở phân môn Luyện từ và câu
Vì thế, phân môn Luyện từ và câu có vị trí quan trọng của môn Tiếng Việt, luyện từ và câu tốt sẽ là cơ sở học tốt môn Tiếng Việt Học môn Tiếng Việt tốt là môn học công cụ để học tốt môn khác, để đào tạo học sinh linh hoạt, chủ động tích cực, đào tạo công dân tương lai cho đất nước, gánh vác sứ mệnh lịch sử giao phó sau này
Cấp Tiểu học là cấp cơ sở của mọi cấp học, chất lượng tiểu học góp phần quyết định nhân cách của con người năng động, sáng tạo trong tương lai Mỗi môn học, phân môn đều tạo những nét tính cách riêng để học sinh trở thành con người toàn diện
Như trên đã nói, Luyện từ và câu là phân môn khó của môn Tiếng Việt Giáo viên tiểu học thường ngại dạy phân môn này; biết khó mà không tháo gỡ, đầu tư Vì thế, cách dạy còn lúng túng; có người, có lúc hiệu quả dạy học đạt khá thấp
Trong quá trình giảng dạy, có giáo viên nóng vội, không bình tĩnh, muốn đạt chất lượng trong thời ngày 1 ngày 2 Đặc biệt không luôn xem xét lại phương pháp giảng dạy của mình để điều chỉnh phương pháp sao cho phù hợp với việc nhận thức của học sinh, gây được hứng thú học tập cho các em
Nghĩa là, thực trạng đang đặt ra vấn đề phải nghiên cứu cải thiện kiến thức Luyện từ và câu - Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ cho học sinh thân yêu
Thực tiễn dạy học luôn nhắc nhở chúng ta rằng: Lưu ý nội dung giảm tải để điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm học sinh lớp mình, đề ra hướng giải quyết cho việc cân chỉnh thống nhất giảm tải Không ngừng học hỏi trao đổi với đồng nghiệp để nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng Trong giảng dạy, giáo viên không được áp đặt học sinh mà coi nhiệm vụ học của học sinh là quan trọng, là nhân tố chủ yếu cho kết quả giáo dục
2.2 THỰC TRẠNG:
2.2.1.Thuận lợi, khó khăn:
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi gặp nhiều thuận lợi: Được Hiệu trưởng, các tổ chức, các Đoàn thể trong nhà trường ủng hộ, tạo điều kiện, giúp đỡ; đội ngũ giáo viên lớp 4; 5 có tay nghề khá cao; học sinh chăm ngoan; toàn thể mọi người nhiệt tình cộng tác
Trang 4Khó khăn là: Kinh phí không có, nên việc triển khai thực nghiệm khá vất vả, mua sắm các vật liệu để làm đồ dùng dạy học có hạn chế, in ấn các biểu mẫu, các bài tập… cũng có khó khăn
2.2.2 Thành công, hạn chế:
Thành công:
Thử nghiệm đề tài trên nhiều lớp đều thành công ngay từ những tiết đầu triển khai dạy thử Nhiều đối tượng học sinh (khá, giỏi, trung bình) đều tiến bộ rõ Nhiều giáo viên áp dụng được sáng kiến này Càng về sau (năm 2010; 2011) hiệu quả dạy học theo hướng mà đề tài này gợi ý càng phát huy tác dụng Nghĩa là, khi nghiên cứu thực nghiệm xong đề tài thì thành công là cơ bản
Tuy nhiên, áp dụng đề tài đại trà cho tất cả các lớp, chúng tôi thấy giáo viên vất
vả hơn, chuẩn bị công phu hơn, tốn kém vật liệu (in ấn, làm đồ dùng dạy học …) -Đây là hạn chế - Nhưng với lòng tận tụy thì sẽ khắc phục được
2.2.3 Mặt mạnh, mặt yếu:
Mặt mạnh là: Đề tài này tích hợp với nhiều phân môn, nhiều môn học khác Vì thế, ứng dụng nó vào việc dạy học sẽ có lợi cho nhiều môn Khi đã mở rộng vốn từ, thì vốn từ ấy không chỉ để hiểu nghĩa của từ (kiến thức từ ngữ), không chỉ để đặt câu thông thạo (kiến thức ngữ pháp)… mà nó còn dùng để làm văn (phân môn tập làm văn); nó để học tốt môn âm nhạc, mĩ thuật, lịch sử, địa lí…v.v
Mặt yếu: Từ ngữ mở rộng cho học sinh phải nằm trong “vốn” mà chương trình quy định Vì thế, người áp dụng sáng kiến này vào dạy học không được tự do mở rộng quá nhiều từ Phòng học, bàn ghế, thiết bị của phòng học đã hạn chế áp dụng phương pháp sử dụng trò chơi trong học tập để mở rộng vốn từ cho các em
2.2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Nguyên nhân thành công là nhờ tập thể quyết tâm tích cực hóa dạy học; từ lãnh đạo trường đến các cấp trong trường, giáo viên, học sinh tích cực nghiên cứu, thực nghiệm, đầu tư, làm việc thực sự có cơ sở khoa học (Chẳng hạn: Làm sai là làm lại, không áp đặt)
Yếu tố tác động trực tiếp là đối tượng học sinh Họ vừa là đối tượng nghiên cứu, vừa là người được thừa hưởng thành quả (nếu thành công); có thể họ là vật hi sinh (nếu thí nghiệm sai!) Khi triển khai đề tài này, người viết rất coi trọng “nhân vật chính” học sinh Học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt (xem bảng thống kê trang 6) đã tác động, thúc đẩy đề tài này hoàn thành nhiệm vụ
2.3 Giải pháp, biện pháp
2.3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Người nghiên cứu đã đưa ra nhiều giải biện pháp (xem các trang sau) đồng bộ,
đa dạng Nhiều giải biện pháp cùng nhắm một mục tiêu là cải tiến, sáng tạo phương pháp dạy học luyện từ và câu (lớp 4;5) đạt hiệu quả cao nhất
2.3.2 Nội dung, cách thức, kết quả thực hiện giảo pháp, biện pháp
(Do công trình này tiến hành trong 3 năm, ứng dụng trên nhiều lớp, nên mục này chúng tôi trình bày (viết) theo phương thức mô tả:
Đặc điểm nhà trường, thực trạng dạy và học môn này, chúng tôi (với các cộng sự) đã đánh giá tình hình như thế nào; từ tình hình đó, chúng tôi đề ra các giải pháp; thực nghiệm các giải pháp, biện pháp vào nhiều lớp, nhiều năm;Rút ra kết luận khoa học.)
Trang 5a Đặc điểm của nhà trường:
Số lượng:
Học sinh:
Năm học 2010-2011, nhà trường Tiểu học Nguyễn Huệ, huyện Buôn Đôn có 22 lớp với 588 học sinh, trong đó: số học sinh lớp 4 và lớp 5 có 259 em, cụ thể như sau:
Khối
lớp
Số
lớp
tộc
M.côi K.tật Nghèo
Giáo viên:
Tổng số giáo viên tiểu học của trường Tiểu học Nguyễn Huệ năm học
2010-2011 có 28 người, trong đó giáo viên tiểu học dạy lớp 4 và lớp 5 có 11 người
b Những khó khăn khi dạy và học phân môn luyện từ và câu :
Giáo viên (khi dạy Luyện từ và câu): ngại dạy, lúng túng, cứng nhắc, đơn điệu, qua loa, kém hiệu quả, dạy nhồi nhét ít sáng tạo…
Học sinh (khi học Luyện từ và câu): tẻ nhạt, nhàm chán, bắt chước, nói như vẹt, lười suy luận, học kém hiệu quả, đơn điệu, chán học Luyện từ và câu
Tổ chuyên môn: lúng túng trong chỉ đạo chuyên môn, không chỉ đạo cụ thể, né tránh nội dung khó, chỉ đạo chung chung thiếu sâu sắc, hời hợt, chạy quanh chuyên môn, nói lại những những kiến thức và phương pháp luyện từ và câu chung chung đã được học tại trường sư phạm, không dám sáng tạo vì sợ sai
2.3.3 Kết quả khảo sát học sinh về phân môn luyện từ và câu:
Dạng bài khảo sát: bài khảo sát có 3 câu, như sau:
- Tìm từ theo chủ điểm;
- Đặt câu với từ vừa tìm được;
- Xếp từ cho sẵn theo nhóm
Khảo sát 90 học sinh của 9 lớp khối 4 và khối 5 (mỗi lớp chọn 10 em ngẫu nhiên)
*Trước khi áp dụng đề tài:
Thời
điểm
Lớp Số
lớp TSHS Giỏi khá T bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
2008-2009
4 4 40 1 3% 10 25% 20 50% 9 23%
5 5 50 2 4% 11 22% 22 44% 15 30%
*Sau khi áp dụng đề tài:
Thời
điểm
Lớp Số
lớp TSHS Giỏi khá T bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
Trang 62009-2010 4 4 40 3 8% 13 33% 20 50% 4 10%
5 5 50 5 10% 19 38% 22 44% 4 8%
Thời
điểm
Lớp Số
lớp
TSHS Giỏi khá T bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
2010-2011 4 4 40 6 15% 15 38% 18 45% 1 3%
5 5 50 8 16% 19 38% 22 44% 1 2%
Nguyên nhân những khó khăn của giáo viên và học sinh hiện nay trong tỉnh nói chung và ở trường nói riêng:
Dạy học theo phương pháp cũ, học sinh chưa chủ động, giáo viên chưa là chủ đạo, dạy theo lối đọc chép, nhìn chép thiếu sáng tạo
Giáo viên ngại và chưa say mê hứng thú tìm tòi trong chuyên môn mà chủ yếu
là trường sư phạm dạy gì thì dùng đó
Cán bộ quản lý chưa xác định rõ hoạt động chuyên môn là công tác trọng tâm của nhà trường, từ đó quản lý theo kiểu hành chính chuyên môn “chạy quanh chuyên môn”, quản lý kiểu lặp đi lặp lại không sáng tạo, tìm tòi
Trình độ nhiều tổ trưởng chuyên môn và có nơi có cả hiệu phó chưa hơn hẳn chuyên môn của giáo viên nên quản lý chưa có sức thuyết phục, chưa tâm phục khẩu phục, hoặc có tình trạng nói và chỉ đạo hời hợt loanh quanh, chung chung không trực tiếp tháo gỡ khó khăn cụ thể của giáo viên
Sách hướng dẫn giảng dạy, sách giáo viên cũng chỉ là những nội dung và phương pháp chung chung khó áp dụng tại một trường tiểu học có địa điểm cụ thể Do
đó chỉ dừng lại ở lý thuyết sách vở
Do thói quen cá nhân của giáo viên, thiếu kĩ năng sống ngay từ khi đào tạo và quá trình trưởng thành là giao tiếp hạn chế, cũng là nguyên nhân dẫn tới việc dạy luyện từ và câu bị hạn chế
Việc tổ chức chuyên đề của tổ chuyên môn, của trường Tiểu học thường không được chọn lọc, không xuất phát từ đòi hỏi của thực tế phải giải quyết vấn đề cụ thể của trường mà sa vào làm đối phó những đề tài cũ kĩ, chung chung, hoặc đề tài mới nhưng không biết cách giải quyết cụ thể Do vậy, sau chuyên đề mọi vấn đề y nguyên hoặc bị quên lãng ngay, không ai ngó tới, nhớ tới hoặc tiếp tục suy nghĩ, nghiên cứu ứng dụng tiếp, trao đổi tiếp…
Chậm đổi mới phương pháp dạy học, hoặc chưa theo kịp đổi mới phương pháp dạy học cũng là một nguyên nhân cản trở dạy luyện từ và câu ở tiểu học có kết quả Sự
tổ chức hình thức gò bó, đơn điệu của nhóm; sự sa đà giảng giải của giáo viên dẫn tới học sinh bị nhàm chán, chán học luyện từ và câu, giáo viên chưa dám đột phá tạo môi trường cho học sinh giao tiếp
Cộng với sự chây lười thụ động cố hữu của học sinh đã tạo nên một rào cản lớn trong việc dạy luyện từ và câu ở tiểu học, dẫn tới kết quả hạn chế
Những việc đã làm để giáo viên trong trường dạy luyện từ và câu có kết quả:
Trang 7Mở chuyên đề Luyện từ và câu lớp 2, lớp 4 tại trường và đăng kí dạy chuyên đề cấp huyện
Khảo sát chất lượng học sinh, khảo sát giáo viên, hiệu phó, tổ chuyên môn
Dự giờ thăm lớp thường xuyên
Tổ chức dạy mẫu toàn trường, thử nghiệm
Tổ chức thảo luận, trao đổi thống nhất thực hiện
Tổ chức hoạt động trong học sinh: sinh hoạt, giao lưu “Em yêu Tiếng Việt”, hoạt động ngoài giờ lên lớp: thi kể chuyện, đôi bạn học tập, sổ tay văn học, sổ tay luyện từ và câu (sổ của giáo viên và sổ của học sinh)
Thường xuyên nhắc nhở các em đọc các bài văn mẫu, báo thiếu nhi, báo Thiếu niên – Tiền phong, đọc truyện thiếu nhi tại thư viện của trường để các em mở rộng vốn từ
2.4 ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP ĐỂ GIÁO VIÊN DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU CÓ HIỆU QUẢ :
2.4.1 Nhà trường tổ chức chuyên đề Luyện từ và câu cho giáo viên toàn trường
dự, phó hiệu trưởng là người phụ trách và trình bày, tổ chức thực hiện đề tài Luyện từ
và câu Trong đề tài xác định rõ đối tượng nghiên cứu và những người tham gia đề tài, phải được ghi rõ thời gian thực hiện trong kế hoạch hoạt động chuyên môn của trường
Sau khi báo cáo kế hoạch thực hiện đề tài sẽ tiến hành thu thập thông tin của đề tài (qua biểu mẫu điều tra và tổng hợp) rồi xử lý thông tin
Xác định nội dung dạy học Luyện từ và câu ở lớp 4;5 và hiểu rõ vị trí của phân môn trong Tiếng Việt nói chung về từ vựng, về ngữ nghĩa và ngữ pháp văn bản, về
quan điểm dạy giao tiếp cho học sinh, quan điểm này thể hiện trên cả hai phương
diện nội dung và PPDH, thể hiện trong nhiều phân môn: tập đọc, kể chuyện, chính tả, tập làm văn…và Luyện từ và câu
Quan điểm tích hợp, có tích hợp chiều ngang, chiều dọc
Quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
Dạy Luyện từ và câu là phải đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới không có nghĩa là bỏ hết cái cũ Đổi mới ở đây là vận dụng, phát huy yếu tố tích cực của tất cả các PPDH truyền thống (cũ) và loại bỏ các yếu tố tiêu cực theo hướng tích cực hoá vai trò của học sinh Dạy học (có chữ “học”) là dạy cách học, cách tự tìm ra kiến thức, dạy một biết nhiều!
Dạy học lấy người học làm trung tâm; trong đó thầy cô đóng vai trò người tổ chức, mỗi HS đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển
2.4.2.Hoạt động của học sinh trong giờ học luyện từ và câu:
Có hai hoạt động :
-Hoạt động giao tiếp (môn nào cũng có, nhưng đây là hoạt động đặc thù của môn Tiếng Việt, trong đó có phân môn Luyện từ và câu)
-Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết (như các môn học khác) Hai hoạt động trên được tổ chức theo nhiều hình thức, có các hình thức tổ chức lớp học sau:
+ Làm việc độc lập (cá nhân): từng cá nhân làm việc độc lập để thực hiện một nhiệm vụ học tập nào đó
Trang 8+ Làm việc theo nhóm: tổ chức nhiều nhóm để trao đổi bàn bạc về một nội dung bài học
+ Học cặp đôi: hai cá nhân ngồi gần nhau cùng trao đổi thảo luận về một nội dung, về một câu hỏi được giáo viên nêu ra
+ Làm việc theo lớp: tổ chức học chung toàn lớp
Chia nhóm như thế nào, cử học sinh nào làm nhóm trưởng, hai bàn ngồi quay
mặt lại với nhau v.v Đó là biện pháp, là thủ thuật của từng giáo viên Sự phối hợp các hình thức tổ chức lớp học khác nhau tạo nên sự mềm dẻo, linh hoạt và sinh động cho quá trình dạy học Quan trọng hơn, nó tạo điều kiện cho giáo viên cá thể hóa việc dạy học, tạo cơ hội cho mọi học sinh đều được tham gia vào hoạt động học tập, tạo cho học sinh cách làm việc tập thể theo nhóm, cách phối hợp với bạn bè trong công việc, cách chủ động tự tin trình bày ý kiến cá nhân
Biện pháp, thủ pháp này nhằm để thực hiện PPDH Chúng ta thực hiện đúng
PPDH để đạt hiệu quả học tập cao nhất; còn dùng hình thức nào, biện pháp gì, cho học sinh hoạt động như thế nào là tuỳ thuộc vào học sinh, cơ sở vật chất, nội dung bài học Đổi mới PPDH còn là vận dụng mọi biện pháp, phương tiện để đạt hiệu quả cao nhất
2.4.3.Hoạt động của GV trong giờ học luyện từ và câu:
a Giao việc cho HS
-Cho HS trình bày yêu cầu của câu hỏi
-Cho HS làm mẫu một phần
-Tóm tắt nhiệm vụ, dặn dò HS
b.Kiểm tra HS: Trong quá trình học sinh làm bài tập, giáo viên cần tới từng bàn
để kiểm tra công việc của các em
- Xem HS có làm việc không
- Xem HS có hiểu nhiệm vụ phải làm không
- Trả lời thắc mắc của HS
c Tổ chức cho HS báo cáo kết quả làm việc
- Các hình thức báo cáo:
+Báo cáo trực tiếp với GV
+Báo cáo trong nhóm
+ Báo cáo trước lớp
-Các biện pháp báo cáo:
+Bằng miệng, bằng bảng con, bằng bảng lớp, bằng phiếu học tập
+Thi đua giữa các nhóm, trình bày cá nhân
*Lưu ý: Để rèn kĩ năng nói (kĩ năng giao tiếp), khi học sinh báo cáo yêu cầu
học sinh trả lời theo ý hiểu của mình, không được trả lời nguyên văn đọc từ sách giáo khoa Nếu học sinh không trả lời được thì mời học sinh khác trả lời được giúp bạn và sau đó nhắc lại nội dung trả lời của bạn
d Tổ chức đánh giá:
- Các hình thức :
+Tự đánh giá
+ Đánh giá trong nhóm
+ Đánh giá trước lớp
- Các biện pháp đánh giá:
Trang 9+ Khen, chê (định tính)
+ Cho điểm (định lượng)
*Hình thức dạy LTVC mới:
Kinh nghiệm cho biết: Trong phần lớn các trường hợp, nhất là trong trường hợp câu hỏi, bài tập đề ra đã rất cụ thể thì cho HS làm việc độc lập
Ví dụ: Khi dạy bài: Mở rộng vốn từ: Dũng cảm (Tuần 25 –lớp 4), bài tập 3: yêu
cầu học sinh tìm từ (ở cột A) phù hợp với lời giải nghĩa (Cột B).
Bài tập này để kiểm tra kiến thức nên coi trọng hoạt động cá nhân của học sinh.
Trường hợp câu hỏi, bài tập còn trừu tượng hoặc khái quát như: mở rộng vốn từ…
Ví dụ: khi dạy bài: Mở rộng vốn từ: Nhân dân (Tiết 3 –lớp 5), bài tập 3: yêu
cầu học sinh tìm một số từ có tiếng “đồng” (theo nghĩa là cùng)
Trường hợp nếu làm việc chung cả lớp, sẽ có ít HS được hoạt động; nên cho làm việc theo nhóm là tốt nhất, hoặc hình thức vừa dạy vừa tổ chức sân chơi Hình thức làm việc cả lớp áp dụng khi giới thiệu bài, củng cố bài, hoặc các câu hỏi không cần suy nghĩ lâu, hoặc lúc HS trình bày kết quả làm việc
*Vận dụng phương pháp sử dụng trò chơi trong học tập để mở rộng vốn từ cho các em:
Trò chơi học tập là một loại trò chơi đặc biệt Trò chơi học tập không chỉ nhằm giải trí mà còn góp phần củng cố tri thức, kĩ năng đã học Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độ tập trung của học sinh Những kiến thức khô khan và cứng nhắc sẽ trở nên sinh động, hấp dẫn nếu được tổ chức trò chơi
Nội dung của trò chơi học tập phải gắn liền với các tri thức và kĩ năng của môn học Nói cách khác, khi sáng tạo ra các trò chơi học tập, giáo viên dựa vào các kiến thức, kĩ năng của phân môn Luyện từ và câu cần củng cố, rèn luyện cho học sinh để xây dựng thành nội dung các trò chơi Trò chơi học tập cần có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện Ngoài ra, trò chơi nên diễn ra trong thời gian ngắn, phù hợp với trình độ của học sinh, không quá khó Trò chơi học tập phần lớn được xem là một thủ thuật, biện pháp củng cố kiến thức mà HS vừa học trong tiết học Tuy nhiên, trò chơi học tập có thể tổ chức ở tất cả các khâu trong tiến trình tiết học hoặc sau một số bài học, khi học sinh đã có kiến thức tổng hợp Trò chơi học tập là một phương tiện có ý nghĩa trong việc góp phần đổi mới phương pháp dạy học luyện từ và câu nhằm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS Có rất nhiều loại hình trò chơi có thể áp dụng khi dạy nhiều bài Luyện từ và câu (Mở rộng vốn từ) lớp 4;5
Một số trò chơi như: Tìm bạn (tìm nhanh từ cùng chủ đề), Tìm nhanh từ cùng nghĩa, trái nghĩa, Thi phân loại từ nhanh, Tiếp sức tìm từ, Tìm bạn đồng hành, Tìm tiếng trung tâm, Đoán ô chữ, Câu cá, Hái quả, Ai nhanh ai đúng,…
Ví dụ: *Trò chơi1: Tìm bạn
Để tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học giáo viên tổ chức trò chơi tìm từ
gần nghĩa khi dạy bài Luyện tập về từ đồng nghĩa lớp 5 (tiết 6): giáo viên cho học
sinh thảo luận nhóm 6, mỗi nhóm 1 từ tìm từ đồng nghĩa với từ đó:
+chết:
+ăn:
+uống:
Trang 10+chăm chỉ:
+dũng cảm:
Thời gian 2 phút, nhóm nào tìm được nhiều từ đồng nghĩa nhóm đó được tuyên dương
*Trò chơi2: Tiếp sức tìm từ
Khi dạy bài Luyện tập từ đồng nghĩa (tuần 3 – lớp 5), cho học sinh chơi trò chơi Tiếp sức tìm từ để mở rộng vốn từ cho các em
Giáo viên gắn một số từ lên bảng phụ gồm các từ “ chăm chỉ, siêng năng, cần
cù, cần mẫn, chết , hy sinh, qua đời, chăm chỉ, cần cù, ăn, xơi, biếu, tặng, mất, cho, dũng cảm, can trường, gan dạ, can đảm”, giáo viên gắn lẫn lộn trên bảng lớp chia
làm 3 phần giống nhau
+Bước 1: Chia lớp làm 3 tổ, để các tổ thảo luận trong vòng 2 phút
+Bước 2: Cho mỗi tổ cử một học sinh đại diện lên chọn một từ gần nghĩa sắp xếp vào bảng của mình, gắn xong về chỗ bạn khác trong tổ lên tìm từ để gắn đúng nhóm từ (trong thời gian 2 phút) nhóm nào hoàn tất sớm sẽ được tuyên dương (3 tổ cùng làm việc một lúc)
+chết:
+ăn:
+cho:
+chăm chỉ:
+dũng cảm:
Cả lớp cùng giáo viên quan sát theo dõi, tổ nào làm nhiều nhanh chính xác, giáo viên cho cả lớp nhận xét, giáo viên sửa sai và tuyên dương
*Trò chơi 3: Đoán ô chữ
Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Truyền thống (tuần 26 – lớp 5), cho học sinh chơi trò chơi Đoán ô chữ để mở rộng vốn từ cho các em
CHỦ ĐIỂM Truyền thống
Ô chữ: KẾ THỪA
1 MỤC ĐÍCH:
- Tìm nhanh được các thành ngữ, tục ngữ nói về truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam;
- Củng cố và mở rộng vốn từ ngữ về truyền thống;
- Rèn trí thông minh, khả năng phân tích, khái quát nhanh các nghĩa của từ
2 CHUẨN BỊ:
Phần mềm PowerPoint để trình chiếu ô chữ
Hoặc: Kẻ trên giấy rôki loại to để hoạt động cả lớp và in phiếu học tập tới từng HS ( Phần chuẩn bị để thực hiện giải các ô chữ giống nhau)
Dựa vào từ hàng dọc trong ô chữ hãy tìm các từ hàng ngang, mỗi hàng ngang là một thành ngữ hoặc tục ngữ nói về truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Giáo viên thiết kế trò chơi trên giáo án điện tử