1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm để giờ dạy luyện từ và câu lớp 5 đạt hiệu quả cao

35 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để giúp học sinh học môn này có hiệu quả thì giáo viên cần nắmvững nội dung bài dạy, và phải có những phương pháp thích hợp với từng bài.Ngoài ra, trong mỗi tiết dạy giáo viên

Trang 1

Tuy nhiên, để giúp học sinh học môn này có hiệu quả thì giáo viên cần nắmvững nội dung bài dạy, và phải có những phương pháp thích hợp với từng bài.Ngoài ra, trong mỗi tiết dạy giáo viên còn phải biết cách tổ chức các hoạt động họctập cho học sinh để các em được trao đổi, thảo luận, phát biểu ý kiến, tự rút ra kiến

Trang 2

thức mới, có như vậy các em mới hiểu bài sâu hơn và vận dụng được vốn từ đã họctrong giao tiếp Nhưng tổ chức giờ học như thế nào để các hoạt động dạy-học trênlớp được “nhẹ nhàng, tự nhiên, đạt hiệu quả cao nhất” theo hướng đổi mới phươngpháp dạy học hiện nay Chính vì thế mà tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Một vài kinhnghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu “kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5 đạt hiệu quảcao”

2 Mục đích nghiên cứu.

Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học phânmôn Luyện từ và câu ở lớp 5 đối với các bài dạy Lí thuyết về từ : từ đồng nghĩa, từtrái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Đề tài nghiên cứu các biện pháp để giờ dạy Luyện từ và câu

“kiểu bài lí thuyết về từ” đạt hiệu quả cao

- Phạm vi nghiên cứu: Thời gian từ đầu năm học 2013 – 2014 đến nay; tạikhối lớp 5 trường Tiểu học Tân Hiệp

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ KHOA HỌC:

1 Cơ sở lý luận:

a) Một số khái niệm về “Từ” và “Từ” của tiếng Việt

Từ là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo chặt chẽ, có thể dùng trực tiếp để tạo câu( Trích Dạy học Từ ngữ ở Tiểu học của tác giả Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh)

Trong định nghĩa trên, ta lưu ý hai điểm sau:

+ Khi nói “ từ” là đơn vị ngôn ngữ thì ta đã công nhận rằng từ có hình thức

âm thanh và nội dung ngữ nghĩa

+ Từ có cấu tạo chặt chẽ tức là không thể chia cắt mà không ảnh hưởng đếnnghĩa

“Từ” là một thực thể tồn tại hiển nhiên Bằng trực cảm, người bản ngữ nào

Trang 3

cũng có thể ý thức được sự tồn tại của từ Trong một chuỗi lời nói, cụ thể là trongmột câu văn, câu thơ, ta có thể nhận diện” được từ Ví dụ trong mấy câu thơ dướiđây trích trong bài “Thư trung thu” của Bác Hồ:

“ Ai yêu các nhi đồng

Bằng Bác Hồ Chí Minh

Tính các cháu ngoan ngoãn

Mặt các cháu xinh xinh

Mong các cháu cố gắng…”

Ta có thể nhận diện các từ trong từng câu thơ như sau:

Câu 1: Ai yêu các nhi đồng (4 từ)

Câu 2: Bằng Bác Hồ Chí Minh ( 3 từ)

Câu 3: Tính các cháu ngoan ngoãn ( 4 từ)

Câu 4: Mặt các cháu xinh xinh ( 4 từ)

Câu 5: Mong các cháu cố gắng ( 4 từ)

Mọi người đều thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của từ, nhưng từ đó xây dựngmột định nghĩa về từ sao cho thích hợp, thỏa đáng thì ngay cả nhà chuyên môncũng cảm thấy nan giải Dưới đây là một định nghĩa về “ từ” của Tiếng Việt:

“ Từ của Tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mangnhững đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cảứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạocâu” ( Trích Đỗ Hữu Châu, Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt ( in lần thứ 2), NXBĐại học Quốc gia Hà Nội, H.1996, tr 16)

Khái niệm từ được đề cập đến, được nhắc đến trong sách giáo khoa tiếngViệt Tiểu học:

“ Tiếng cấu tạo nên từ Từ chỉ gồm một tiếng gọi là từ đơn Từ gồm hai haynhiều tiếng gọi là từ phức

Từ nào cũng có nghĩa và được dùng để tạo nên câu ( Sách giáo khoa Tiếng

Trang 4

Việt 4 tập 1 trang 27)”

Định nghĩa về: Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa ởTiểu học

Theo Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 định nghĩa:

“Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau”.Theo định nghĩa trên thì từ đồng nghĩa là từ có nghĩa giống nhau tức là từ đồngnghĩa ở mức độ cao (ví dụ: xây dựng, kiến thiết / siêng năng, chăm chỉ, cần cù /trai, nam / gái, nữ / xe lửa, tàu hỏa, xe hỏa ,….) Còn từ có nghĩa gần giống nhautức là các từ đồng nghĩa ở mức độ thấp ( ví dụ: vàng xuộm, vàng hoe, vàng lịm /

ăn, xơi, biếu, tặng, cho / mang, khiêng, vác, cắp, …)

“Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau”

“ Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa”

“ Từ nhiều nghĩa là những từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩachuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau.”

b) Dạy các nội dung lí thuyết về từ

Đơn vị ngôn ngữ tự nhiên, hoàn chỉnh có được trong giao tiếp ngôn từ làngôn bản ví dụ: một em bé xin bố mẹ cho tiền đi mua sách truyện Em dùng lờitrình bày vấn đề, nói lí do, mong ước, đưa ra những lí lẽ để thuyết phục bố, mẹ, …toàn bộ lời em nói có một nội dung trọn vẹn, bố mẹ nghe một cách tự nhiên ( khôngphải dung lí luận, khoa học để phân tích, lí giải, …), tạo nên một ngôn bản ( ngônbản nói) Một người con đi làm ăn xa nhà, viết thư về thăm gia đình, kể chuyện vềcông việc, cuộc sống của bản thân …bức thư viết ra đó cũng là ngôn bản ( ngônbản viết) hay còn gọi là văn bản

Lấy những ngôn bản, văn bản cụ thể làm đối tượng nghiên cứu, các nhà ngônngữ học bằng con đường khái quát hóa, trừu tượng hóa tách dần ra được một loạtđơn vị được xếp thành một hệ thống từ cao đến thấp bao gồm câu, ngữ, từ, tiếng(hình vị), âm và nghĩa Sau đó người ta lại khảo sát, miêu tả, phân loại… từng loại

Trang 5

đơn vị một, đi đến những tri thức cấu tạo nên ngôn ngữ nói chung Những tri thứcnày là tri thức lí thuyết.

Tri thức lí thuyết có tính chất trừu tượng, tức là không cụ thể, không hiểnhiện, không cảm nhận được, mà được suy nghĩ, nhận ra, tách ra từ những biểu hiện

cụ thể tương ứng Ta có một số từ cụ thể như học sinh ( chỉ người đi học), thầy giáo( chỉ người làm nghề dạy học), bác sĩ ( chỉ người thầy thuốc tốt nghiệp đại học ykhoa ) … Sở dĩ gọi là từ cụ thể vì ta có thể thấy rõ từng từ một có hình thức âm –chữ như thế nào, có nghĩa gì …

Tri thức lí thuyết là trừu tượng hóa, khái quát, cho nên khó học, khó dạy Đốivới các em học sinh ở Tiểu học, khi trình độ tư duy trừu tượng chưa phải đã pháttriển, dạy lí thuyết lại càng khó

Như đã phân tích ở trên, muốn có được tri thức lí thuyết phải dựa trên việcxem xét những yếu tố cụ thể Do đó, dạy lí thuyết về từ chúng ta cần hướng dẫn các

em xem xét kĩ các ví dụ cụ thể, giúp các em dần dần từ cái cụ thể của nhiều yếu tốriêng lẻ rút ra được cái trừu tượng, khái quát

Dạy lí thuyết về từ ở Tiểu học cũng như ở các cấp học khác, sẽ có tác dụngsoi sang, hỗ trợ đối với việc dạy thực hành từ ngữ Mặt khác, dạy lí thuyết về từ làmột hình thức giáo dục để phát triển tư duy, trí tuệ cho các em mà người giáo viêndạy Tiếng Việt Tiểu học cần lưu ý đúng mức để vận dụng một cách có ý thức, cóphương pháp, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo, giáo dục nói chung

c) Các cơ sở pháp lí để thực hiện dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học:

- Quyết định Số: 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 Quyết định

ban hành chương trình giáo dục phổ thông

- Chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học dành cho lớp 5

- Công văn số 896/BGDĐT-GDTH ngày 13 – 2 – 2006 về hướng dẫn điềuchỉnh dạy và học theo vùng miền cho học sinh Tiểu học;

Trang 6

- Công văn số 9832/BGDĐT-GDTH ngày 01 – 9 – 2006 về hướng dẫn thựchiện chương trình các lớp 1, 2, 3, 4, 5;

- Công văn số 5842/BGDĐT-GDTH ngày 01 – 9 – 2011 về hướng dẫn điềuchỉnh nội dung dạy học GDPT

- Công văn số 1431/SGDĐT-GDTH ngày 15 – 9 – 2011 về hướng dẫn điềuchỉnh nội dung dạy học cấp Tiểu học

- Tài liệu bồi dưỡng chương trình và sách giáo khoa lớp 5, năm 2006 của SởGiáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương

- Sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5

2 Cơ sở thực tiễn:

Trong thực tế, qua giảng dạy tôi nhận thấy, học sinh ít có hứng thú học phânmôn Luyện từ và câu Hầu hết các em được hỏi ý kiến cho rằng: Luyện từ và câu làmột môn học khô khan và khó, nhất là các bài tập viết đoạn văn ngắn với các từtheo chủ đề; bài tập về giải nghĩa từ, phân biệt nghĩa của từ đồng âm, từ nhiềunghĩa

Mặc dù đã được học xong từng bài Lí thuyết về từ : Từ đồng âm, từ nhiềunghĩa nhưng học sinh vẫn lúng túng, nhầm lẫn khi làm các bài tập phân biệt các từđồng âm, từ nhiều nghĩa trong câu văn ( Bài tập 1, sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập

Trang 7

- Các chú công nhân đang chữa đường dây điện thoại.

- Ngoài đường, mọi người đã đi lại nhộn nhịp.

c Vạt

- Những vạt nương màu mật

Lúa chín ngập lòng thung

Nguyễn Đình Ảnh

- Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre.

- Những người Giáy, người Dao

Đi tìm măng hái nấm

Vạt áo chàm thấp thoáng

Nhuộm xanh cả ráng chiều

Nguyễn Đình Ảnh

Ngoài ra, với dạng bài tập sau học sinh cũng lúng túng và làm bài sai nhiều:

Bài 4 ( sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 trang 74) : Chọn một trong hai từ

dưới đây và đặt câu để phân biệt nghĩa của các từ ấy:

a Đi

- Nghĩa 1: Tự di chuyển bằng chân

- Nghĩa 2: mang (xỏ) vào chân hoặc tay để che, giữ

b Đứng

- Nghĩa 1: ở tư thế thân thẳng, đặt trên mặt đất

- Nghĩa 2 : ngừng chuyển động

Bài 3 ( sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 trang 82) : Dưới đây là một số tính

từ và những nghĩa phổ biến của chúng :

a Cao

- Có chiều cao lớn hơn mức bình thường

- Có số lượng hoặc chất lượng hơn hắn mức bình thường

b Nặng

Trang 8

- Có trọng lượng lớn hơn mức bình thường.

- Ở mức độ cao hơn, trầm trọng hơn mức bình thường

c Ngọt

- Có vị ngọt như đường, mật

- ( Lời nói) dịu dàng, dễ nghe

- ( Âm thanh) nghe êm tai

Em hãy đặt câu để phân biệt nghĩa của một trong những từ nói trên

Khi làm dạng bài tập 4 thì học sinh rất lúng túng, các em không hiểu đúng

yêu cầu ( dùng từ đi, đứng trong câu mà dùng nhầm các từ ở nghĩa của từ đó) nên làm sai nhiều ( chẳng hạn học sinh đặt câu như: Em mang dép vào chân.; Chiếc xe

du lịch đang đi bỗng ngừng lại.) mặc dù giáo viên đã hướng dẫn kĩ Còn với bài tập 3 thì các em mắc lỗi sai là đặt hai câu với mỗi từ ( cao, nặng, ngọt) có cùng một nghĩa Ví dụ: Bé An mới 4 tuổi mà đã cao gần bằng em.

Bạn Nga cao hơn Lan một cái đầu

- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, phòng học, bàn ghế đầy

đủ đáp ứng tốt cho công tác giảng dạy

- Trong phòng học có hệ thống đèn chiếu sáng và quạt đầy đủ để sử dụng

- Là lớp học 2 buổi / ngày, sĩ số học sinh trong lớp vừa phải, không đônglắm

- Một số học sinh có ý thức và chấp hành tốt nội quy của trường lớp, luônhăng hái tham gia các hoạt động học tập khi được phân công

2 Khó khăn:

Trang 9

- Các em ít thời gian học bài, do phải phụ giúp gia đình làm việc.

- Ít được sự quan tâm của phụ huynh học sinh mà giao phó cho nhà trường

- Các em không thích học môn Luyện từ và câu vì vốn từ chưa phong phú.Trước tình hình lớp như trên, khi dạy các tiết Luyện từ và câu tôi đã gặpkhông ít khó khăn, đặc biệt là các tiết dạy lí thuyết về từ

III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1 Nghiên cứu để nắm vững nội dung chương trình phân môn Luyện từ

Về cấu tạo một bài dạy lý thuyết về từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5gốm có 3 phần :

I Nhận xét : nêu các đoạn văn, đoạn thơ, câu hỏi có chứa các từ cần dạy

để các em so sánh nhận biết và đi đến những khái niệm cần học

II Phần ghi nhớ: ghi khái niệm về từ đã dạy và các ví dụ minh họa

Trang 10

III Phần Luyện tập: Ghi các bài tập để học sinh luyện tập, vận dụng kiếnthức đã học.

Ở mỗi bài dạy được xây dựng trên một cơ sở khoa học nhất định, trong đóđặc biệt chú ý yêu cầu sát hợp đối tượng là học sinh tiểu học Cụ thể như đã phântích ở trên kiểu bài dạy lý thuyết về từ có cấu trúc ba phần: Nhận xét, ghi nhớ vàLuyện tập Kiểu bài này hướng dẫn học sinh làm quen với một số khái niệm ( thuậtngữ) lí thuyết về từ như : từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm và từ nhiềunghĩa Không phải bằng cách dẫn ra các khái niệm khô khan mang tính trừu tượngkhó hiểu ngay từ đầu bài học mà dẫn dắt học sinh đi từ phân tích các hiện tượngngôn ngữ sinh động ( được thể hiện trong ngữ liệu là các đoạn văn, đoạn thơ, câuvăn cụ thể đến các khái niệm có tính chất lí thuyết được trình bày ở phần ghi nhớ.Quy trình dạy khái niệm khoa học theo hướng “ từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng” này giúp học sinh sinh bớt được phần nào cảm giác khô khan, nặng nềkhi học các bài lí thuyết về từ nói ở trên

Tóm lại: Việc nghiên cứu và nắm vững nội dung chương trình phân môn

Luyện từ và câu lớp 5 sẽ giúp giáo viên thuận lợi và chủ động trong việc thiết kếbài giảng, dự kiến các hoạt động, đặt các câu hỏi để dẫn dắt học sinh tìm ra kháiniệm cũng như luyện tập làm các bài tập trong từng tiết học đạt kết quả tốt hơn

2 Một vài kinh nghiệm áp dụng để dạy học sinh trong các tiết Luyện từ

và câu “kiểu bài lí thuyết về từ”.

2.1 Tạo hứng thú trong giờ học cho học sinh.

Như chúng ta đã biết, trong cuộc sống làm việc gì cũng vậy, phải có lòng đam

mê, hứng thú thì mới đạt kết quả cao trong công việc Đối với sự phát triển nhâncách và hình thành tri thực ở học sinh, hứng thú học tập có ý nghĩa rất qua trọng.Nhà giáo dục học nổi tiếng của nước Nga K.Đ.U-sin-xki đã nói : “Việc học tậpkhông hứng thú và chỉ do sức mạnh cưỡng bức sẽ giết chết ham muốn nắm tri thứccủa học sinh” Trong thực tế, học sinh lớp tôi có nhiều em say mê, chăm chỉ học

Trang 11

tập nhưng cũng còn một số em chưa có thái độ học tập đúng đắn, còn lơ là và chánhọc nhất là đối với phân môn Luyện từ và câu Chính vì vậy, theo kinh nghiệm củabản thân, khi tổ chức các giờ dạy Luyện từ và câu trên lớp ( tùy thuộc vào mục tiêucủa bài dạy) mà tôi luôn chú ý tạo nhu cầu giao tiếp cho từng học sinh, tạo hứngthú tìm tòi và mở rộng vốn từ, khuyến khích động viên các em mạnh dạn trình bày

ý kiến trước lớp Có nhiều cách tạo hứng thú học tập cho học sinh như :

Mở đầu các câu hỏi bằng từ “ Cô đố em nào biết ” hay “ Bạn nào mạnh dạntrả lời câu hỏi cho cô nào ?”

Chia nhóm bằng cách tự nhiên, không dùng lệnh cứng nhắc mà giáo viên hỏi :

“Gió thổi, gió thổi”, học sinh đáp: “Thổi gì ? Thổi gì ?”, Giáo viên hô : “ Thổi 4(hoặc 5, 6 ) bạn về một nhóm”; hay “ Đoàn kết, đoàn kết”, học sinh đáp “ Kết mấy,kết mấy ?”, Giáo viên hô : “ Kết 4 bạn ((hoặc 5, 6 ) bạn về một nhóm”

Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế bài giảng trình chiếu trên phần mềmpwerpoint Trong bài dạy chú ý sưu tầm thêm tranh, ảnh minh họa hoặc thiết kế cácphiếu bài tập, các câu hỏi dạng trắc nghiệm để học sinh cả lớp cùng làm hay tổchức cho HS thi giải ô chữ, rung chuông vàng

Tổ chức giờ học theo hình thức như trên, tất cả học sinh đều được hoạt động,được nhận xét, góp ý và khen ngợi hoặc sửa sai các em rất thích thú và luôn hănghái phát biểu ý kiến sôi nổi, giờ học sinh động nhẹ nhàng, mỗi em đều bộc lộ đượcsuy nghĩ về vốn sống, vốn từ ngữ của mình

2.2 Tổ chức các hoạt động trong tiết học

Muốn giờ học có kết quả tốt thì việc tổ chức các hoạt động của giáo viên vàhọc sinh trong tiết học là một yêu cầu quan trọng Giáo viên phải dự tính tất cả cáckhâu, các phần của từng tiết dạy như : cách giới thiệu bài mới, cách trình bày bảng,cách hướng dẫn học sinh học bài mới ( trọng tâm), sao cho nó diễn ra một cách nhẹnhàng, tự nhiên Chính vì vậy, qua giảng dạy thực tế, tôi đã rút ra một số kinhnghiệm từ các tiết dạy Luyện từ và câu có hiệu quả cao như sau:

Trang 12

a Cách giới thiệu vào bài mới:

Nhiều giáo viên cho rằng : việc giới thiệu vào bài mới chỉ là việc làm có tínhchất hình thức, màu mè và chỉ chuẩn bị khi có tiết thao giảng, giảng mẫu hoặc dựthi giáo viên dạy giỏi Ngược lại, với tôi bước này rất qua trọng vì vốn dĩ các bàihọc có tính khô khan, bắt buộc Nếu học sinh có tâm lí “ ngán, sợ” các em khó tiếpthu bài hơn là khi tạo được một tâm lí tốt trong giờ học cuốn hút các em chú ý vàotiết học ngay từ những phút đầu tiên tạo tâm thế thoải mái, và hứng thú học tập củacác em được duy trì qua từng hoạt động của giờ học Trong các giờ học Luyện từ

và câu kiểu bài Lí thuyết về từ tôi dùng cách mở bài đơn giản: dùng các đồ dùngtrực quan như tranh, ảnh, vật thật, để giới thiệu vào bài mới

Ví dụ 1: Bài “ Từ đồng nghĩa” tôi dùng một quả cam và hỏi : “ Trên tay côcầm gì ?” Học sinh trả lời “ Thưa cô, tay cô cầm quả cam”, tôi tiếp lời học sinh “ngoài gọi bằng quả cam còn có cách gọi khác là gì ?, học sinh trả lời ngay : “ Thưa

cô, gọi bằng trái cam” Vậy từ quả (cam) – trái (cam) thuộc loại từ gì ? cô cùng

các em tìm hiểu qua bài “ Từ đồng nghĩa”

Ví dụ 2: Bài “Từ trái nghĩa” tôi cho học sinh quan sát hai sợi dây dù một sợidài 1m, còn sợi kia chỉ dài 10cm, tôi chỉ vào từng sợi dây và hỏi : “ So sánh hai sợidây dù em thấy thế nào?, học sinh trả lời “ Một sợi dài, một sợi ngắn” Tôi nêu và

viết bảng, vậy từ dài – ngắn thuộc từ loại gì ? Chúng ta cùng học bài “ Từ trái

nghĩa”

Ví dụ 3: Với bài “ Từ đồng âm” tôi cho học sinh quan sát ảnh minh họa rồitìm từ điền vào chỗ chấm trong câu cho sẵn sau :

Trang 13

Con cua đang trên mặt đất (bò)

Con đang kéo xe (bò)

Sau khi học sinh điền từ xong tôi hỏi: Từ “bò” ở hai câu trên có cách phát

âm như thế nào ?, học sinh trả lời “ Phát âm giống nhau”, nghĩa của hai từ “bò” có

giống nhau không ? học sinh trả lời “ nghĩa khác nhau” Vậy các từ phát âm giốngnhau, nghĩa khác nhau là từ gì ? chúng ta cùng tìm hiểu bài “ Từ đồng âm”

Như vậy, nếu thực hiện tốt phần giới thiệu vào bài mới thì sẽ luôn đặt học

sinh vào tình huống có vấn đề một cách nhẹ nhàng khiến các em chú ý vào giờ họcngay từ những phút đầu tiên Tuy nhiên, để luôn tạo tình huống mới, thu hút sự chú

ý của học sinh thì giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ bài dạy và thay đổi cách giớithiệu cho phù hợp với từng bài để tránh sự nhàm chán do học sinh đoán trước được

ý đồ của giáo viên

b Cách trình bày bảng.

Trình bày bảng lớp cũng là khâu quan trọng để hoàn thành tốt tiết dạy Bảnglớp phải được trình bày cô đọng, thoáng và dễ nhìn cho họ sinh cả lớp Thông

Trang 14

thường, khi dạy bài Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ, tôi chia bảng làm baphần:

Phần 1: ( Sát bàn giáo viên): treo đồ dùng trực quan + ghi ( hoặc treo các ví

dụ được viết sẵn) cần phân tích ( câu văn, đoạn văn, )

Phần 2: (Giữa bảng): Ghi ( hoặc treo) nội dung ghi nhớ

Phần 3: Luyện tập dành cho học sinh làm bài tập

Phần 1 và phần là bảng “tĩnh” tôi luôn để lại trong toàn bộ tiết học ( riêng đồdùng trực quan tôi lấy xuống khi đã khai thác xong) nhằm khắc sâu nội dung bàihọc và giúp học sinh vận dụng khi làm bài tập phần luyện tập

Phần 3 là bảng “động” ghi ví dụ học sinh nêu thêm hoặc các bài tập để họcsinh làm, phần này ta luôn xóa được

Tóm lại, với cách trình bày bảng như trên, học sinh có được cái nhìn bao

quát về toàn bộ kiến thức trong từng tiết dạy, điều đó giúp các em khắc sâu kiếnthức và thuận tiện cho việc làm bài luyện tập

c Lựa chọn và sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho từng bài dạy, kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế bài giảng trên phần mềm Powerpoint.

Việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong một tiết học

có tầm qua trọng đặc biệt, nó ảnh hưởng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệuquả của giờ học Với mỗi bài dạy, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ nội dung, ý đồsách giáo khoa, xác định rõ việc chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tối

ưu nhất ở từng vấn đề, từng hoạt động của từng bài dạy để có thể sử dụng linh hoạt,mềm dẻo, phù hợp và tiết kiệm thời gian, công sức chuẩn bị mà học sinh tiếp thukiến thức tốt nhất Không nhất thiết phải cầu kì ở các khâu làm cho tiết học nặng nềcho cả giáo viên và học sinh mà cần làm cho các em chủ động trong việc tiếp thukiến thức

Trang 15

Tùy từng nội dung bài dạy mà giáo viên lựa chọn, vận dụng các phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học mới có tính tích cực hóa hoạt động học tập của họcsinh như: thảo luận nhóm, sắm vai, trò chơi, giải ô chữ,

Thiết kế bài giảng trên phần mềm powerpoint cũng góp phần giúp cho giờhọc Luyện từ và câu sôi nổi hơn, vì trong các slide trình chiếu, ngoài các kiến thứccần cung cấp giáo viên có thể sư tầm tranh, ảnh minh họa cho tiết dạy hoặc thiết kếcác bài tập dạng trắc nghiệm, thi giải ô chữ, thi rung chuông vàng,

Ví dụ 1: Dạy bài “Từ đồng nghĩa” thực hiện như sau:

Phần nhận xét, tôi xây dựng phiếu học tập cho nhóm thảo luận ( 4 học sinh):Bài 1: Đọc các đoạn văn và thực hiện hoàn thành các bài tập:

a) Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta

cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà

trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều

- Gạch một gạch dưới các từ in đậm trong từng đoạn văn

- Nghĩa của các từ : xây dựng, kiến thiết như thế nào ? Đánh dấu X vào ô

Trang 16

Khác nhau

Sau khi các nhóm hoàn thành phiếu và báo cáo kết quả, tôi giới thiệu những

từ có nghĩa giống nhau như vậy gọi là các từ đồng nghĩa.

Bài 2: Tôi cho học sinh trao đổi nhóm đôi thay thế vị trí các từ đồng nghĩatrong từng đoạn văn cho nhau và nêu nhận xét :

Xây dựng và kiến thiết có thể thay thế cho nhau được vì nghĩa của các từ ấy

giống nhau hoàn toàn

Vàng xuộm, vàng hoe , vàng lịm không thể thay thế cho nhau được vì nghĩa

của chúng không giống nhau hoàn toàn

Sau khi học sinh trả lời xong, tôi hướng dẫn các em rút ra kết luận chung:

Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn, có thể thay thế cho nhau trong lời nói Và gợi ý cho học sinh nêu các ví dụ về từ đồng nghĩa hoàn toàn để các em hiểu

bài kĩ hơn như: bát – chén; xe lửa – tàu hỏa; máy bay – tàu bay; quả - trái, lợn –heo,

Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn Khi dùng những từ này ta phải cân nhắc để lựa chọn cho đúng Và gợi ý để học sinh nêu thêm các ví dụ

ngoài sách giáo khoa để các em hiểu bài kĩ hơn như: chết, hi sinh, từ trần, bỏ mạng( biểu thị thái độ, tình cảm khác nhau đối với người được nói đến) hay cho, tặng,biếu ( biểu thị thái độ khác nhau đối với từng người được nhận quà)

Đến phần luyện tập ở bài tập 2 tôi tổ chức cho các em làm phiếu bài tập nhưsau:

Gạch bỏ từ không thuộc nhóm từ đồng nghĩa :

a xinh, xinh đẹp, mĩ lệ, đẹp, xinh tươi, tốt đẹp, đẹp tươi ( từ gạch bỏ: tốt

đẹp)

b to lớn, to tướng, khổng lồ, rộng rãi, vĩ đại, to, lớn (từ gạch bỏ: rộng rãi)

c học tập, học hành, học, học hỏi, sáng tạo (từ gạch bỏ: sáng tạo)

Trang 17

Cuối tiết học, để củng cố lại kiến thức cho các em, tôi tổ chức trò chơi “ Tìm

nhanh, tìm đúng” giáo viên viết sẵn một số từ vào băng giấy nhỏ , phía sau băng

giấy có dán băng keo, ví dụ: chết, hy sinh, trai, gái, nam, nữ, bát, chén, chăm chỉ,

siêng năng, biếu, tặng, cho, vở, tập Mỗi tổ cử 2 bạn chia thành 2 đội, tham gia chơi

tiếp sức, lần lượt mỗi bạn lên chọn các từ xếp thành nhóm từ đồng nghĩa, hết thờigian quy định đội nào xếp được nhiều từ và đúng là thắng cuộc Cuối cùng, tôinhận xét trò chơi và tuyên dương đội thắng cuộc

Một số hình ảnh học sinh tham gia hoạt động trong giờ học:

Chuẩn bị trò chơi

Học sinh chia đội chơi

Ngày đăng: 16/08/2014, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w