13 Xuân Diệu được coi là “ nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới” (Hoài Thanh) do chỗ ông hiện diện như một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất, mang đến một quan niệm hiện đại về nhân[r]
Trang 1SỞ GD&ĐT QUẢNG TRỊ ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC NĂM 2012 TRƯỜNG THPT THỊ XÃ QUẢNG TRỊ Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút không kể thời gian phát
đề
I.PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm).
-Câu I (2,0 điểm)
Anh/chị hãy cho biết những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn
từ sau 1975 đến cuối thế kỉ XX Nêu ngắn gọn các biểu hiện của sự đổi mới văn học giai đoạn này ở truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu.
-Câu II (3,0 điểm)
Nhà văn Huygô từng nói: " Trên đời này chỉ có một thứ mà ta phải cúi đầu thán phục, đó là tài năng và chỉ có một thứ mà ta phải quỳ gối tôn trọng, đó là lòng tốt." Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về
ý kiến trên
II PHẦN RIÊNG (5,0 điểm).
Thí sinh chỉ được làm một câu, (câu III.a hoặc câu III.b)
-Câu III.a: Theo chương trình chuẩn (5.0 điểm).
Cách cảm nhận thời gian và quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng ?
-Câu III.b: Theo chương trình nâng cao (5.0 điểm).
Cảm nhận của anh/chị về số phận và vẻ đẹp tâm hồn của người lao động Việt Nam trong hai tác phẩm: Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài và Vợ nhặt - Kim Lân
- Hết -Ghi chú: Giám thị không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh: ……… Số báo danh: ……
Trang 2Câu Ý Nội dung Điểm
I Anh/chị hãy cho biết những đặc điểm cơ bản của văn học Việt
Nam giai đoạn từ sau 1975 đến cuối thế kỉ XX Nêu ngắn gọn
các biểu hiện của sự đổi mới văn học giai đoạn này ở truyện
ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu
2
1 những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn từ sau
- Văn học đổi mới vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá,
mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc
-Văn học phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề; phong phú
và mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật
- Đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận,
cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống, đã khám phá
con người trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể
hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kẻ cả đời
sống tâm linh
- Nhìn tổng thể cái mới của văn học giai đoạn này là tính chất
hướng nội, quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong
những hoàn cảnh phức tạp, đời thường
0,25 0,25 0,25
0,25
2 Nêu ngắn gọn các biểu hiện của sự đổi mới văn học giai đoạn
này ở truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh
Châu
1,0
-Đề tài về số phận con người cá nhân thời hậu chiến, cuộc sống
của gia đình người đàn bà hàng chài
-Tiếp cận con người theo hướng đời tư, đời thường, bi kịch cá
nhân cúa người lao động nghèo khổ với vẻ đẹp khuất lấp
-số phận gia đình người đàn bà hàng chài được đặt trong những
hoàn cảnh phức tạp, đời thường với những nghịch lí
-Qua nhân vật Phùng và Đẩu T/g thể hiện một cách nhìn nhận
hiện thực đa diện, nhiều chiều
0,25 0,25 0,25 0,25
II Trình bày suy nghĩ của bản thân về vấn đề: “ Trên đời này chỉ
có một thứ mà ta phải cúi đầu thán phục, đó là tài năng và chỉ
có một thứ mà ta phải quỳ gối tôn trọng, đó là lòng tốt.”
(Huygô)
3
1 Giải thích ý nghĩa câu nói của Huygô:(1,0 điểm)
- “Tài năng “: Khả năng đặc biệt sự khéo léo hơn người, trí
sáng tạo vượt bậc “ Lòng tốt “ là tấm lòng vị tha, khoan dung
và nhân hậu
- Đây là hai lĩnh vực đặc biệt quý giá ở con người, thuộc hai
lĩnh vực trí tuệ và tâm hồn con người
- “Quỳ gối tôn trọng”, “Cúi đầu thán phục” bộc lộ quan niệm
về cách đánh giá con người: Đề cao, coi trọng, tôn vinh những
gì đẹp đẽ về trí tuệ và phẩm chất của con người
0,25
0,25 0,5
Trang 32 Bàn luận vấn đề (1,5 điểm)
- Vì sao phải cúi đầu thán phục tài năng? Vì tài năng là biểu
hiện cao nhất của khả năng trí tuệ ở con người, là điều kiện tốt
nhất để con người khẳng định giá trị bản thân và đóng góp cho
cuộc sống chung của cộng đồng Đối diện với tài năng, ta
không chỉ được thán phục,chiêm ngưỡng mà còn được mở rộng
tầm hiểu biết, nâng cao nhận thức để tự hoàn thiện bản thân
- Vì sao phải quỳ gối tôn trọng lòng tốt? Vì lòng tốt xét đến
cùng là sự hy sinh dâng hiến cho đời, cho người Những nỗ lực
vì người khác bao giờ cũng đáng tôn trọng Những nỗ lực vì
người khác, xuất phát từ lòng tốt đáng được tôn vinh
0,75
0,75
3 Bài học nhận thức và hành động.(0,5 điểm)
- Câu nói của Huygô gợi cho bản thân con đường để mình
vươn tới Phải phấn đấu để trở thành con người vừa có đức vừa
có tài
0,5
III.a
1 a.Yêu cầu về kỹ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận văn
học với kỹ năng chính là phân tích tác phẩm trong sự đối sánh
để thấy được những nét chung của 2 tác phẩm, đồng thời cũng
nêu được vẻ đẹp độc đáo của từng tác phẩm
Bố cục bài làm rõ ràng, chặt chẽ; văn viết trôi chảy, có cảm
xúc, không mắc lỗi diễn đạt
b.Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh nắm vững và biết phân tích 2 tác phẩm đã cho ở đề
bài trong sự đối sánh để đáp ứng những nội dung cơ bản sau:
2 *Điểm chung ở 2 tác phẩm:
-Cả 2 tác phẩm đều là những sáng tác thuộc giai đoạn văn học
cách mạng 1945-1975
-Nhân vật chính trong tác phẩm đều là những người lao động
có cuộc sống bất hạnh, khổ đau nhưng ở họ đều có những vẻ
đẹp trong tâm hồn đó là:
-Tình cảm yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong tình cảnh khốn
cùng, thương người như thể thương thân -Khát vọng sống
mãnh liệt, ý thức phản kháng vượt qua hoàn cảnh
-Cho dù có bị cuộc sống vùi dập, bị đẩy vào tình thế bi đát
nhưng ở họ vẫn luôn có niềm tin vào cuộc đời, vẫn luôn hướng
tới một tương lai tươi sáng với sự vận động đi theo Đảng
=>Nhà văn đã mở cho nhân vật một lối thoảt tích cực
0,25 0,5
0,5
1,0
3 *Nét riêng:
-Vợ chồng APhủ của nhà văn Tô Hoài:
+Miêu tả số phận: Tác phẩm là bức tranh chân thực về số phận
đau khổ của những người nông dân lao động miền núi dưới
ách áp bức nặng nề của phong kiến, thực dân con người có thể
bị xem như một thứ hàng hoá để mua bán, trao đổi
0,5
Trang 4+Phát hiện, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lao động:
Tác phẩm chính là bài ca về khát vọng sống tiềm tàng mãnh
liệt, khát vọng tự do hướng tới cuộc đời mới và quá trình đấu
tranh từ tự phát đến tự giác của những người dân lao động
miền núi vùng Tây Bắc qua hình tượng nhân vật Mị & A Phủ
-Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân:
+Miêu tả số phận:
-Tác phẩm đã khắc họa một cách chân thực, cảm động về thân
phận bi thảm, rẻ rúng của con người trong nạn đói khủng khiếp
năm Ất Dậu 1945 Trong nạn đói, con người có thể nhặt được
giữa đường, giữa chợ…Sự sống bị đẩy đến bờ vực chết chóc,
cõi âm tràn vào cõi dương
+Phát hiện, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lao động:
-Dù phải đối mặt với cái chết đang cận kề, người lao động vẫn
cưu mang, đùm bọc, che chở và giúp đỡ nhau để vượt qua
hoàn cảnh khốn cùng, họ vẫn luôn khao khát hạnh phúc gia
đình, hướng tới tương lai tươi sáng với niềm tin mãnh liệt qua
hình tượng nhân vật Tràng, người vợ nhặt , bà cụ Tứ
-Xu thế vận động đi theo C/M của người dân lao động khi bị
đẩy vào hoàn cảnh khốn cùng
Qua phân tích những đặc sắc riêng ở từng tác phẩm, học sinh
cần thấy vai trò và khả năng sáng tạo của nhà văn, đồng thời
cũng cần thấy được khuynh hướng chung trong cảm nhận và
miêu tả, khám phá đời sống của văn học cách mạng Việt Nam
sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Lưu ý: Thí sinh có thể trình bày theo bố cục phân tích 2 tác
phẩm đã cho sau đó chỉ ra nét chung, nét riêng về số phận và
vẻ đẹp tâm hồn của người lao động Việt Nam trong hai tác
phẩm
1,0
1,0
0,25
III.b Cách cảm nhận thời gian và quan niệm nhân sinh mới mẻ của
Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng ?
1
2
3
4
a.Yêu cầu về kỹ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận văn học với kỹ năng chính là
phân tích tác phẩm thơ Bố cục bài làm rõ ràng, chặt chẽ; văn
viết trôi chảy, có cảm xúc, không mắc lỗi diễn đạt
b.Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh nắm vững và biếtcảm nhận thời gian và quan niệm
nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng, đáp
ứng những nội dung cơ bản sau:
-Vội vàng là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến
cuồng nhiệt Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan
niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống
-Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa trên "đồng nội
xanh rì", của lá "cành tơ phơ phất" "Tuần tháng mật" của ong
0,25
0,5
Trang 56
7
bướm "Khúc tình si" của yến anh "Và này đây ánh sáng chớp
hàng mi" Chữ "này đây" được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống
ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng
yêu Vì lẽ đó nên phải vội vàng "tắt nắng đi" và "buộc gió lại"
Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn
-Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu Bình minh là khoảnh khắc tươi
đẹp nhất của một ngày, đó là lúc "thần vui hằng gõ cửa"
Tháng giêng là tháng khởi đầu của mùa xuân, "ngon như cặp
môi gần" Một chữ "ngon" chuyển đổi cảm giác thần tình, một
cách so sánh vừa mới lạ vừa táo bạo Chiếc môi ấy chắc là của
giai nhân, của trinh nữ Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho
thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu sống đến
cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu
-Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông
trên dưới 20 tuổi - cái tuổi thanh niên bừng sáng Nhưng thi sĩ
đã "vội vàng một nửa", một cách nói rất thơ - chẳng cần đến
tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên Dấu
chấm giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ không hề có Như một
tuyên ngôn "vội vàng":
"Tháng giêng ngon như cặp môi gần
Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân".
Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống quá yêu, vì tuổi
trẻ quá thơ mộng Đang tuổi hoa niên mà đã "vội vàng một
nửa" cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ
Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói Thời gian là vàng
ngọc Bóng ngả lưng ta Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng
câu (tuấn mã) vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu Thời
gian một đi không trở lại Xuân Diệu cũng có một cách nói rất
riêng: tương phản đối lập để chỉ ra cái "lượng trời" cho một
đời người chỉ có một thời xuân xanh mà tuổi trẻ một đi qua
không bao giờ trở lại:
"Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật
0,25
0,25
0,5
Trang 6Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại ".
Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra Một hệ
thống tương phản đối lập: tới - qua, non - già, rộng - chật, tuần hoàn - bất phục hoàn, vô hạn - hữu hạn - để khẳng định một
chân lí - triết lí: tuổi xuân một đi không trở lại, phải quý tuổi
xuân
-Cách nhìn nhận của thi nhân về thời gian cũng rất tinh tế độc đáo, nhạy cảm Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và đã hé
lộ mầm tương lai, cái đang có lại đang mất dần đi
Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình
như mang theo nỗi buồn "chia phôi", hoặc "tiễn biệt", nên phải
"hờn" vì xa cách, phải "sợ" vì "độ phai tàn sắp sửa" Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời Nói cảnh vật thiên nhiên mà
là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương "vội
vàng" của tạo vật Với Xuân Diệu hầu như cuộc sống nơi
"vườn trần" đều ít nhiều mang "bi kịch" về thời gian:
"Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt".
Cũng là "gió", là "chim" nhưng gió khẽ "thì thào" vì "hờn",
còn "chim" thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì "sợ"! Câu hỏi tu
từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lí giữa mùa xuân
- tuổi trẻ và thời gian:
"Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?"
-Thi sĩ bỗng thốt lên lời than Tiếc nuối, lo lắng và chợt tỉnh vì
"mùa chưa ngả chiều hôm", nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa
già Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn
khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
"Chẳng bao giờ / ôi / chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi / mùa chưa ngả chiều hôm"
0,5
0,5
Trang 7Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm "Thơ tiếc cảnh":
- "Xuân xanh chưa dễ hai phen lại
Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên"
(Bài số 3)
- "Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm"
(Bài số 7)
Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ
tình trong "Vội vàng" về màu thơi gian, về sắc thời gian, về
tuổi trẻ Thật yêu đời, thật ham sống
9
10
Sống vội vàng chỉ là một cách nói Trong cốt lõi, đây là một
quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao
độ giá trị của cái Tôi cá nhân trong thời hiện đại Quan niệm
sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy
nghĩ mang màu sắc “ biện luận” rất riêng của tác giả
-Từ phát hiện mới: cuộc đời như một thiên đường trên mặt
đất.
Bước vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên
bố lạ lùng của thi sĩ:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi!
Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị, ngông cuồng bề ngoài,
0,25
0,5
Trang 812
thực chất bên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp : chặn
đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời
-Nỗi niềm ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị
đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân:? Niềm ám ảnh
đó khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu của âu lo, bàng hoàng, thảng thốt
Đấy là lý do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi : từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa, tăng cấp :
“nghĩa là (3lần/3dòng thơ), để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ, mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha đến
ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân, tuổi xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất
của đời người rồi cất lên tiếng than đầy khổ não :
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất!
Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:
Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng ngắt tiếng reo thi
Dường như tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời
gian, bởi thời gian trôi đe doạ sẽ mang theo tất cả, thời gian
trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật
-Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ra một giải pháp táo bạo Con người không thể chặn đứng được bước đi của thời gian, con người chỉ có thể
phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi
là vội vàng Con người hiện đại không sống bằng số lượng thời gian mà phải sống bằng chất lượng cuộc sống– sống tậnhưởng phần đời có giá trị và ý nghĩa nhất bằng một tốc độ thật lớn và một cường độ thật lớn=>P/tích, chứng minh
0,5
0,5
13 Xuân Diệu được coi là “ nhà thơ mới nhất trong phong trào
Thơ Mới” (Hoài Thanh) do chỗ ông hiện diện như một cái Tôi
tự ý thức sâu sắc nhất, mang đến một quan niệm hiện đại về
nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ, giao cảm, và một quan niệm hiện đại về thẩm mĩ : lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp thay vì lấy thiên nhiên như trong văn học trung
đại Bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinh mới : sống tự giác và tích cực, sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bản ngã, tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận
hưởng cuộc đời
0,5
Lưu ý
chung
Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng
phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức.