Tìm hiểu vai trò của an sinh xã hội đối với lao động trẻ em. An sinh xã hội là vấn đề thường được đề cập trong hệ thống chính sách xã hội của các quốc gia trên Thế giới. Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi mà chính sách con người trở thành vấn đề có tính chiến lược, chủ nghĩa nhân đạo trở thành mục tiêu xã hội thì an sinh xã hội càng được chú trọng hơn nữa. Đất nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển. Bên cạnh những thành tựu về kinh tế xã hội, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều những khó khăn và thách thức nẩy sinh từ mặt trái của quá trình phát triển kinh tế xã hội như phân tầng xã hội, quá trình đô thị hóa không đồng bộ, môi trường bị xuống cấp, thất nghiệp, người già neo đơn, tệ nạn ma túy, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Riêng đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, một trong những đối tượng này phải kể đến đó là trẻ em lao động sớm, bao gồm cả trẻ bị bóc lột sức lao động và trẻ em đường phố. Một trong những vấn đề đang tồn tại và đòi hỏi An sinh xã hội phải tập trung giải quyết, phát huy vai trò của mình vào để giải quyết triệt để vấn đề này. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh kéo theo tình trạng lao động ở trẻ em gặp nhiều bất cập và những hậu quả đi cùng là vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Để đảm bảo được quyền lợi cho trẻ em chúng ta cần phải bắt tay vào giải quyết vấn đề của lao động trẻ em. Xuất phát từ thực tiễn như vậy nên nhóm 3 chúng em đã chọn đề tài “Vai trò của an sinh xã hội đối với lao động trẻ em” để nêu lên được thực trạng nguyên nhân của trẻ em lao động, để từ đó kiến nghị các biện pháp giải quyết phù hợp, tạo điều kiện cho các em có cuộc sống tốt đẹp hơn. CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1. Một số khái niệm có liên quan 1.1.1. Khái niệm an sinh xã hội Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): An sinh xã hội là sự bảo về các thành viên của xã hội thông qua các biện pháp để từ đó các thành viên có thể đương đầu được với những khó khăn. An sinh xã hội gồm các phần đó là: chăm sóc y tế; bù đắp một phần thu nhập do rủi ro (BHXH) và Chăm sóc trẻ em. Theo UNDP: Trong khuôn khổ xây dựng hệ thống An sinh xã hội ở Việt Nam, UNDP chia An sinh xã hội gồm 2 phần gồm Bảo hiểm xã hội và Trợ giúp xã hội. Ngoài ra, UNDP còn nêu việc hỗ trợ cho từng nhóm người yếu thế như người già neo đơn, tàn tật nặng, … Theo Ngân hàng thế giới (WB) Ngân hàng thế giới quan niệm về An sinh xã hội chủ yếu là trợ cấp người nghèo. Có 4 vấn đề họ quan tâm đó là: Chính sách trợ cấp; Tạo điều kiện người nghèo tham gia vào thị trường lao động, thị trường nông sản; Bảo vệ trẻ em; Các giải pháp trợ giúp đột xuất. Theo Hiệp hội An sinh xã hội thế giới An sinh xã hội là hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội. Hiệp hội này quan tâm đến những vấn đề như Bảo hiểm y tế; Hệ thống lương hưu và chăm sóc tuổi già; Phòng chống Tai nạn lao động Bệnh nghề nghiệp; Trợ giúp xã hội. Theo các chuyên gia Việt Nam: An sinh xã hội chính là an ninh xã hội. Hệ thống chính sách an sinh xã hội dựa vào các nguyên tắc: Phòng ngừa rủi ro; giảm thiểu rủi ro; trợ giúp người rủi ro và bảo vệ người rủi ro. Như vậy, An sinh xã hội là một hệ thống cơ chế, chính sách, chương trình, giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp tất cả thành viên xã hội đối phó với các rủi ro, nguy cơ về kinh tế xã hội làm suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập bởi nguyên nhân khách quan và chủ quan, góp phần thực hiện công bằng xã hội và phát triển bền vững. 1.1.2. Khái niệm về lao động trẻ em Lao động trẻ em đề cập đến vấn đề sử dụng trẻ em trong bất kỳ công việc gì mà tước đi thời thơ ấu của trẻ, cản trở việc đi học thường xuyên, và gây tác hại về tinh thần, thể chất, xã hội hay đạo đức, nguy hiểm và độc hại. Nhiều tổ chức quốc tế coi lao động trẻ em là bóc lột. Pháp luật tại nhiều nước trên thế giới cấm lao động trẻ em. Lao động trẻ em đã tồn tại trong lịch sử ở nhiều mức độ khác nhau. Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, rất nhiều trẻ em độ tuổi 514 từ các gia đình nghèo đã phải làm việc ở châu Âu, Hoa Kỳ và các thuộc địa khác nhau của các cường quốc châu Âu. Những trẻ em làm việc trong ngành nông nghiệp, lắp ráp tại nhà, nhà máy, khai thác mỏ và trong các dịch vụ như trẻ em bán báo. Một số trẻ phải làm đêm, lâu đến 12 tiếng ngày. Nhờ thu nhập của hộ gia đình ngày càng tăng, trường học thuận tiện và thông qua luật lao động trẻ em, tỷ lệ lao động trẻ em đã giảm đáng kể. 1.1.3. Một số khái niệm có liên quan Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội (viết tắt BHXH) là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC - -
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: AN SINH XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: Tìm hiểu vai trò của an sinh xã hội đối với lao
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
An sinh xã hội là vấn đề thường được đề cập trong hệ thống chính sách
xã hội của các quốc gia trên Thế giới Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi màchính sách con người trở thành vấn đề có tính chiến lược, chủ nghĩa nhân đạotrở thành mục tiêu xã hội thì an sinh xã hội càng được chú trọng hơn nữa Đấtnước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển Bên cạnh những thành tựu
về kinh tế - xã hội, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều những khó khăn vàthách thức nẩy sinh từ mặt trái của quá trình phát triển kinh tế xã hội như phântầng xã hội, quá trình đô thị hóa không đồng bộ, môi trường bị xuống cấp, thấtnghiệp, người già neo đơn, tệ nạn ma túy, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Riêngđối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, một trong những đối tượng này phải kểđến đó là trẻ em lao động sớm, bao gồm cả trẻ bị bóc lột sức lao động và trẻ emđường phố
Một trong những vấn đề đang tồn tại và đòi hỏi An sinh xã hội phải tậptrung giải quyết, phát huy vai trò của mình vào để giải quyết triệt để vấn đề này.Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh kéo theo tình trạng lao động ở trẻ em gặpnhiều bất cập và những hậu quả đi cùng là vấn đề cần được quan tâm giải quyết
Để đảm bảo được quyền lợi cho trẻ em chúng ta cần phải bắt tay vàogiải quyết vấn đề của lao động trẻ em Xuất phát từ thực tiễn như vậy nên nhóm
3 chúng em đã chọn đề tài “Vai trò của an sinh xã hội đối với lao động trẻ em” để nêu lên được thực trạng nguyên nhân của trẻ em lao động, để từ đó kiến
nghị các biện pháp giải quyết phù hợp, tạo điều kiện cho các em có cuộc sốngtốt đẹp hơn
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO):
An sinh xã hội là sự bảo về các thành viên của xã hội thông qua các biệnpháp để từ đó các thành viên có thể đương đầu được với những khó khăn
An sinh xã hội gồm các phần đó là: chăm sóc y tế; bù đắp một phần thunhập do rủi ro (BHXH) và Chăm sóc trẻ em
Theo Ngân hàng thế giới (WB)
Ngân hàng thế giới quan niệm về An sinh xã hội chủ yếu là trợ cấp ngườinghèo Có 4 vấn đề họ quan tâm đó là: Chính sách trợ cấp; Tạo điều kiện ngườinghèo tham gia vào thị trường lao động, thị trường nông sản; Bảo vệ trẻ em;Các giải pháp trợ giúp đột xuất
Theo Hiệp hội An sinh xã hội thế giới
An sinh xã hội là hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm antoàn cho tất cả các thành viên xã hội Hiệp hội này quan tâm đến những vấn đềnhư Bảo hiểm y tế; Hệ thống lương hưu và chăm sóc tuổi già; Phòng chống Tainạn lao động- Bệnh nghề nghiệp; Trợ giúp xã hội
Trang 5 Theo các chuyên gia Việt Nam:
An sinh xã hội chính là an ninh xã hội Hệ thống chính sách an sinh xãhội dựa vào các nguyên tắc: Phòng ngừa rủi ro; giảm thiểu rủi ro; trợ giúp ngườirủi ro và bảo vệ người rủi ro
Như vậy, An sinh xã hội là một hệ thống cơ chế, chính sách, chương
trình, giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp tất cả thành viên xã hội đối phó với các rủi ro, nguy cơ về kinh tế - xã hội làm suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập bởi nguyên nhân khách quan và chủ quan, góp phần thực hiện công bằng xã hội và phát triển bền vững.
1.1.2 Khái niệm về lao động trẻ em
Lao động trẻ em đề cập đến vấn đề sử dụng trẻ em trong bất kỳ công việc
gì mà tước đi thời thơ ấu của trẻ, cản trở việc đi học thường xuyên, và gây táchại về tinh thần, thể chất, xã hội hay đạo đức, nguy hiểm và độc hại Nhiều tổchức quốc tế coi lao động trẻ em là bóc lột Pháp luật tại nhiều nước trên thếgiới cấm lao động trẻ em
Lao động trẻ em đã tồn tại trong lịch sử ở nhiều mức độ khác nhau.Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, rất nhiều trẻ em độ tuổi 5-14 từ các gia đìnhnghèo đã phải làm việc ở châu Âu, Hoa Kỳ và các thuộc địa khác nhau của cáccường quốc châu Âu Những trẻ em làm việc trong ngành nông nghiệp, lắp ráptại nhà, nhà máy, khai thác mỏ và trong các dịch vụ như trẻ em bán báo Một sốtrẻ phải làm đêm, lâu đến 12 tiếng/ ngày Nhờ thu nhập của hộ gia đình ngàycàng tăng, trường học thuận tiện và thông qua luật lao động trẻ em, tỷ lệ laođộng trẻ em đã giảm đáng kể
1.1.3 Một số khái niệm có liên quan
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội (viết tắt BHXH) là sự đảm bảo thay thế được bù đắpmột phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổigià, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham
Trang 6gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toànđời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an
toàn xã hội Bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi nước.
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏecộng đồng Bảo hiểm y tế giúp giảm thiểu những chi phí chăm sóc sức khỏe, chiphí liên quan đến việc điều trị, phục hồi sức khỏe…trong các trường hợp bị mắcbệnh hoặc bị tai nạn…
Bảo hiểm y tế của nhà nước cơ cấu và tổ chức nhằm phục vụ, bảo vệnhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân BHYT do nhà nước cung cấp khôngnhằm mục đích lợi nhuận mà nó là một chính sách xã hội Vì thế, người dân sẽ
có trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia bảo hiểm theo quy định của của luậtbảo hiểm mà nhà nước ban hành
Trợ cấp xã hội
Trợ cấp xã hội là khoản tiền hoặc tài sản khác do Nhà nước hoặc các tổchức phi chính phủ cấp cho các thành viên của xã hội trong trường hợp nhữngthành viên này gặp rủi ro, hiểm nghèo, nghèo đói, bất nạnh nhằm giúp họ khắcphục khó khăn, ổn định cuộc sống
1.2 Vai trò và chức năng của an sinh xã hội
1.2.1 Vai trò của An sinh xã hội
An sinh xã hội là một biện pháp của chính sách xã hội và là một trongnhững chỉ báo quan trọng về định hướng XHCN ở nước ta trong điều kiện pháttriển nền kinh tế thị trường mà đối tượng của nó là những người gặp rủi ro, bấttrắc trong cuộc sống An sinh xã hội vừa mang ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa cógiá trị về mặt xã hội, đặc biệt nó thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và tinh thầnnhân đạo sâu sắc An sinh xã hội có các vai trò cụ thể sau:
Trang 7- An sinh xã hội lấy con người làm trung tâm, coi quyền con người, bảo vệcon người trước các biến cố rủi ro xảy ra Con người vừa là động lực của sựphát triển xã hội, vừa là mục tiêu của việc xây dựng xã hội.
- An sinh xã hội vừa tạo điều kiện cơ bản và thuận lợi giúp cho các đối tượngđặc biệt có cơ hội để phát huy hết thế mạnh của cá nhân đồng thời thể hiệnthái độ, trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo ra cơ hội giúp họ hoà nhậpvào cộng đồng
- An sinh xã hội góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội Mục tiêu cơbản của an sinh xã hội là tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân
cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi
ro tham gia An sinh xã hội phải thực sự là công cụ phát triển tiến bộ xã hội.Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, ansinh xã hội còn phải đa dạng hoá các hình thức hoạt động khác nhau đối vớicác đối tượng khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
- An sinh xã hội thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡnhau của cộng đồng Trên cơ sở sự liên kết, hợp tác của cộng đồng những rủi
ro hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố phát huy sức mạnh của cộng đồng,phát huy giá trị truyền thống của dân tộc ta
- An sinh xã hội góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư,giữa những người lao động làm công ăn lương, giữa những người có côngvới nước, giữa những người gặp khó khăn, biến cố rủi ro, giữa những ngườinghèo, người già cô đơn không nơi nương tựa, …
1.2.2 Chức năng của An sinh xã hội
Chức năng phòng ngừa rủi ro
ASXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế - xãhội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy địnhchặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ravới người lao động, hệ thống ASXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người laođộng nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất Tất cả những yếu tố đó góp phần
Trang 8quan trọng làm ổn định nền kinh tế - xã hội Từ giác độ phòng ngừa, hệ thốngASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Quỹ ASXH, trong đó có quỹ BHXH là nguồn tài chính tập trung khálớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phầnnhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăngtrưởng quỹ Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng như đầu
tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ ASXH đều góp phần ổn định xã hội vàthúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Chức năng giảm thiểu rủi ro
Với các cơ chế san sẽ rủi ro (cả theo chiều dọc và theo chiều ngang), hệthống ASXH, nhất là trụ cột BHXH, tạo điều kiện cho mọi người dân, mọidoanh nghiệp khi tham gia vào hệ thống có được nguồn tài chính để trang trảicho các hoạt động đời sống gia đình; doanh nghiệp không phải bỏ một khoảnkinh phí lớn để trang trải những rủi ro đối với người lao động (ví dụ: như thấtnghiệp, tai nạn lao động), có thể ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh Nhà nước,nhờ có các quỹ ASXH, nhất là quỹ BHXH, không phải chi một khoản tiền lớncho các trợ cấp xã hội, qua đó có thể sử dụng ngân sách cho các mục tiêu pháttriển
Chức năng khắc phục rủi ro
ASXH góp phần ổn định đời sống của người lao động Hệ thống các trợ
cấp trong ASXH sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi ngườilao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết Nhờ có sựthay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanhchóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộcsống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường
1.3 Nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội
Nguyên tắc bao phủ: Chính sách an sinh xã hội phải đảm bảo tính bao
phủ, nó không được loại trừ bất kì đối tượng xã hội nào nằm trong diện cầnđược giúp đỡ Việc xây dựng và vận hành hệ thống chính sách về an sinh xã hội
Trang 9đảm bảo có sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân từ việc xây dựngchế độ, tạo nguồn, thực hiện cũng như quản lý việc thực hiện các chính sách,chế độ đó.
Nguyên tắc bảo trợ: Hoạt động đảm bảo các chế độ phải dựa trên hệ
thống các quy tắc, tiêu chuẩn, định tính, định lượng rõ ràng, minh bạch và bảotrợ người lao động về mọi mặt Về mặt nguyên tắc, các đối tượng thuộc cùng hệphải được đối xử ngang nhau Trong một số trường hợp, tính bảo trợ biểu hiện ởviệc tính toán mức độ đóng góp, cống hiến cho xã hội mà giải quyết các chế độđảm bảo vật chất hoặc tinh thần cụ thể nhằm tránh gây nên sự thiệt thòi, thiếucân bằng giữa các đối tượng chính sách
Nguyên tắc khuyến khích: Việc xây dựng và vận hành hệ thống chính sách
xã hội phải trên tinh thần đề cao cộng đồng về trách nhiệm, khuyến khích ngườidân trên mọi phương diện của cuộc sống Sự khuyến khích cộng đồng này đượcbiểu hiện ở cả sự đóng góp và hưởng thụ Một chính sách xã hội tốt khi nó huyđộng được sức mạnh cộng đồng trong việc tham gia tạo lâp các điều kiện vậtchẩt căn bản để thực hiện
Nguyên tắc ổn định: Việc xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm
giúp ổn định phải dựa trên cơ sở các định mức nhất định Nguyên tắc ổn địnhvừa mang tính nhân văn, vừa mang tính hiện thực
Nguyên tắc bền vững: Việc thống nhất các chính sách quản lý theo nguyên
tắc bền vững sẽ giúp cho người dân sẽ có tâm lý ổn định, giúp họ có được mộtcuộc sống bền vững về mặt vật chất và tinh thần Đây là trách nhiệm vô cùnglớn lao của Nhà nước nên đã và đang được Nhà nước ta áp dụng rất hiệu quả vàtriệt để
Trang 10CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
LAO ĐỘNG TRẺ EM
2.1 Thực trạng an sinh xã hội đối với lao động trẻ em trên thế giới
Ngày nay trên thế giới tình trạng lao động trẻ em vẫn là một hiện tượng phổ biến, trong đó có nhiều trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện làm
việc độc hại, nguy hiểm và bị khai thác triệt để Theo ILO, số lượng trẻ em phảilao động trên thế giới đã giảm xuống 1/3 kể từ năm 2000, từ 246 triệu em xuốngcòn 168 triệu em (tương ứng 11% tổng số trẻ em) Theo đánh giá mới được đưa
ra, hơn một nửa số lao động trẻ em trên thế giới đang tham gia vào các hoạtđộng nguy hiểm, gây hại cho sức khỏe, an toàn và quá trình phát triển đạo đức,tinh thần của các em Trong số đó, 85 triệu em phải thực hiện các công việcnguy hiểm, giảm so với con số 171 triệu em vào năm 2000
Số lượng lao động trẻ em ở độ tuổi từ 5 – 17 lớn nhất được ghi nhậntrong khu vực châu Á – Thái Bình Dương (78 triệu em) Tuy nhiên, châu Phi –Sahara lại là khu vực có tỷ lệ lao động trẻ em tính trên tổng dân số cao nhất (59triệu em – chiếm 21% tổng số trẻ em tuổi từ 5 – 17) Trung Đông và Bắc Phi có9,2 triệu lao động trẻ em và số lượng các lao động trẻ em ở châu Mỹ Latinh vàCaribe là 12 triệu em
Trang 11Kể từ năm 2000, lao động trẻ em đã giảm 40% ở nhóm các trẻ em gái, sovới tỷ lệ 25% đối với trẻ em trai Theo nhóm tuổi, trong số 168 triệu lao độngtrẻ em, 44% thuộc độ tuổi từ 5 – 11, 28% thuộc độ tuổi từ 12 – 14 và 28% thuộc
độ tuổi từ 15 – 17 Ngành nông nghiệp sử dụng nhiều lao động trẻ em nhất khi
có 98 triệu lao động trẻ em, tương ứng 59% Ngành dịch vụ có 54 triệu lao độngtrẻ em và ngành công nghiệp – 12 triệu lao động trẻ em, hầu hết trong khu vựckinh tế phi chính thức
Trẻ em phải tham gia vào những hình thức công việc nguy hiểm nhấtthường sẽ bị tổn thương về mặt tinh thần và thể chất trong giai đoạn phát triểnnon trẻ nhưng quan trọng này, và thường để lại những hậu quả lâu dài Trẻ phảilàm những công việc này càng lâu, càng khó để đi học vì bị trễ học nhiều nămhoặc không còn thời gian để đi học Trẻ em lao động dẫn đến khả năng trẻ emlớn lên không được giáo dục và thiếu những kỹ năng cần thiết để hòan thànhnhững công việc có lương cao
Hiện nay, khoảng 140 triệu trẻ em trong độ tuổi 6-11 không đi học, 23%trẻ em trong độ tuổi cấp 1 ở các quốc gia đang phát triển không đến trường Mộtnghiên cứu của ILO cho thấy khoảng 45% trẻ em ở Ghana, India, Indonesia vàSenegal trong độ tuổi 5-11 đang được tuyển dụng và 33% số trẻ em này không
đi học vì lý do tài chính Những trẻ em này sẽ bị chai sạn về tâm hồn và dễ dàngtrở thành tội phạm khi trưởng thành Do những lí do trên, việc xóa bỏ lao độngtrẻ em là một vấn đề bức xúc của xã hội ở cả những nước đang phát triển vàphát triển
Có thể thấy rằng, trẻ em lao động ở nhiều loại hình và lĩnh vực công việc
và những mối nguy hại đe doạ lao động trẻ em thay đổi tuỳ thuộc vào loại hình lao động và điều kiện lao động và để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự
phát triển bình thường của trẻ Theo thống kê của tổ chức ILO, lao động trẻ emvẫn tập trung chủ yếu trong ngành nông nghiệp (chiếm 70,9%) Gần một phầnnăm lao động trẻ em làm việc trong ngành dịch vụ (chiếm 17,1%) trong khi11,9% lao động trẻ em làm việc trong ngành công nghiệp
Hiện nay mới chỉ có 35% trẻ em trên toàn thế giới được tiếp cận thực tếvới an sinh xã hội, dù vậy vẫn còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các khu vực
Trang 12Gần 2/3 số trẻ em toàn cầu – tương đương 1,3 tỉ trẻ em - vẫn chưa được tiếp cận
an sinh xã hội, trong số đó hầu hết là trẻ em sinh sống tại Châu Phi và Châu Á.Tính trung bình, mức chi cho các chương trình an sinh xã hội cho trẻ em và hộgia đình có trẻ trong độ tuổi 0-14 tuổi chiếm 1.1% GDP của các nước đang pháttriển, cho thấy đầu tư cho cho trẻ em thiếu hụt đáng kể Trong một vài thập kỷgần đây, các chương trình trợ cấp bằng tiền cho trẻ em đã được mở rộng tại cácquốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình Tuy nhiên, tỉ lệ bao phủ và mứctrợ cấp vẫn chưa thỏa đáng Một số quốc gia đã thực hiện cắt giảm các chươngtrình an sinh xã hội cho trẻ trong bối cảnh thắt chặt tài khóa
2.2 Vai trò của an sinh xã hội đối với lao động trẻ em tại Việt Nam
2.2.1 Thực trạng an sinh xã hội hiện nay tại Việt Nam đối với đối tượng là
lao động trẻ em
Việt Nam được đánh giá là nước thể hiện cam kết mạnh mẽ trong lĩnhvực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thông qua việc tích cực tham gia Côngước quốc tế về quyền trẻ em Nhiều chủ trương, đường lối, hệ thống chính sáchpháp luật cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được ban hành Tuy nhiên, hiệnvẫn còn một bộ phận lao động trẻ em và người chưa thành niên, đang đặt ranhiều vấn đề thách thức về chất lượng lao động, cả về bài toán bảo đảm an sinh
xã hội (ASXH) cho nhóm trẻ em này
Số liệu thống kê ghi nhận: theo kết quả Điều tra Quốc gia về Lao động trẻ
em lần thứ hai của Việt Nam thực hiện vào năm 2018, được công bố ngày18/12, có 1.754.066 trẻ em tham gia các hoạt động kinh tế, trong đó có1.031.944 trẻ là lao động trẻ em Điều tra do Bộ LĐ-TB&XH phối hợp vớiTổng cục Thống kê (Bộ KH&ĐT) thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chứcLao động Quốc tế (ILO) đã xác định có khoảng 5,3% trẻ em và người chưathành niên trong độ tuổi từ 5 đến 17 là lao động trẻ em Con số này tươngđương với hơn 1 triệu trẻ em; trong đó, có hơn một nửa em phải làm việc trongnhững điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Các em phải làm các công việctrái pháp luật so với độ tuổi của các em, hay quá số giờ các em được phép làmhoặc do tính chất công việc các em phải thực hiện Lao động trẻ em bao gồmcác công việc gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của trẻ, cản trở việc học hành
Trang 13và có tác động tiêu cực đến sự phát triển của trẻ Ðáng chú ý, có tới 85% trẻ emtrong số này sinh sống ở khu vực nông thôn và 15% sống ở khu vực thành thị.Lao động trẻ em tập trung chủ yếu ở ba nhóm ngành nghề: nông nghiệp, dịch
vụ, công nghiệp - xây dựng Trong đó, nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất, gần1,18 triệu em (chiếm 67%)
Thực tế này sẽ ảnh hưởng và có tác hại nghiêm trọng đến an sinh của trẻ
em Trẻ em lao động sớm bị tước đi nhiều quyền cơ bản của trẻ em trong giáodục, chăm sóc, sức khỏe và bảo vệ Các em không có điều kiện để đi học (55%trẻ em thuộc nhóm lao động sớm không đi học, trong đó có 5% chưa từng đihọc), tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí nhằm phát triển đầy đủ về thểchất, tâm lý, tinh thần, trí tuệ và hòa nhập xã hội
Bên cạnh đó, điều kiện làm việc nặng nhọc, độc hại gây tổn hại không nhỏ đến sức khỏe của các em; việc phải tham gia lao động sớm cũng đẩy các emtới môi trường có nhiều cạm bẫy, tệ nạn xã hội; gia tăng nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại, buôn bán…
Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thị Hà cho biết: So sánh trong khuvực, tỉ lệ lao động trẻ em tại Việt Nam thấp hơn khoảng 2% so với tỉ lệ trungbình của khu vực Châu Á và Thái Bình Dương "So sánh với kết quả Điều traQuốc gia về Lao động trẻ em lần thứ nhất được thực hiện vào năm 2012, số liệugần đây cho thấy tỉ lệ trẻ em tham gia làm việc đã giảm đi đáng kể, từ 15,5%nằm 2012 xuống còn 9,1% năm 2018"
Theo kết quả điều tra, có 58,8% trẻ tham gia làm việc tại Việt Nam là laođộng trẻ em Các em phải làm các công việc trái pháp luật so với độ tuổi của các
em, hay quá số giờ các em được phép làm hoặc do tính chất công việc các emphải thực hiện Lao động trẻ em bao gồm các công việc gây tổn hại đến thể chất,tinh thần của trẻ, cản trở việc học hành và có tác động tiêu cực đến sự phát triểncủa trẻ Đồng nhất với xu hướng chung của toàn cầu, 84% lao động trẻ em tạiViệt Nam tập trung ờ vùng nông thôn và hơn một nửa số đó làm việc trong khuvực nông, lâm, ngư nghiệp Những khu vực khác có nhiều lao động trẻ em baogồm dịch vụ, công nghiệp và xây dựng Khoảng 40,5% lao động trẻ em là cáclao động trong hộ gia đình không được trả lương
Trang 14(Kết quả Điều tra Quốc gia về Lao động trẻ em lần thứ hai của Việt Nam.)
Những kết quảcủa Điều tra Quốc gia vềLao động trẻ em 2018được công bố cho thấy
sự cần thiết của cácchính sách và những canthiệp trong những năm tới nhằm giảm thiểu và đi đến xóa bỏ lao động trẻ em đểđảm bảo một tương lai tươi sáng cho trẻ em Việt Nam và cho tương lai pháttriển bền vững và hội nhập của đất nước
Phản ánh từ thực tế cho thấy, dù các văn bản quy phạm pháp luật đã đềcập đến vấn đề về lao động trẻ em nhưng tác động thực tế của hệ thống các quyđịnh hiện hành vẫn chưa đủ sức bảo vệ hoàn toàn trẻ trước các nguy cơ buộcphải lao động sớm Cụ thể, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004mới dừng lại ở quy định trách nhiệm cho các chủ thể, chủ yếu là gia đình, màchưa có các chế tài xử lý đối với những trường hợp không thực hiện đúng hoặcđầy đủ trách nhiệm được giao Nghĩa là các quy định đó mang tính "khuyếnkhích" nhiều hơn tính "bắt buộc"
Trước nguy cơ nhiều trẻ bị ngược đãi, bị hắt hủi, bị buộc lao động sớmhiện nay, Quốc hội đã thông qua Luật Trẻ em (ngày 5-4-2016, có hiệu lực từngày 1-6-2017) quy định trẻ em cần được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục một cáchtốt nhất đồng thời nêu ra 15 hành vi bị nghiêm cấm áp dụng với trẻ em như tướcđoạt quyền sống của trẻ, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ, ép trẻ tảo hôn, xâm hại trẻ
Trang 15Tuy nhiên, quy định của luật chưa đề cập rõ ràng việc nghiêm cấm épbuộc trẻ em tham gia làm các công việc nặng nhọc, độc hại Ðiều 26 của luậtnày chỉ quy định trẻ em có quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động.Như vậy, luật mới này cũng chưa tạo ra được bước đột phá trong việc xử lý, răn
đe những trường hợp ép buộc, lạm dụng lao động trẻ em vì lợi ích kinh tế Bêncạnh đó, các chế tài xử lý các trường hợp vi phạm được quy định trong các vănbản pháp lý khác cũng chưa có sự điều chỉnh tương thích, kể cả Bộ luật Laođộng (2012)
Bên cạnh đó, dù được coi là một trong những nhóm có hoàn cảnh đặc biệt,nhưng trẻ em bị buộc lao động sớm chưa được đưa vào danh sách các nhóm đốitượng được trợ giúp từ các dịch vụ ASXH Nghĩa là những đứa trẻ phải sớmmưu sinh này đã bị "lọt" qua hệ thống chính sách cung cấp dịch vụ ASXH Do
đó, chúng không được tiếp cận giáo dục, không được chăm sóc sức khỏe, dinhdưỡng
Vì vậy, để được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ ASXH, nhiều trẻ laođộng sớm, lao động nặng nhọc, độc hại buộc phải "khoác lên mình" một "danhxưng khác" của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Tuy nhiên, con số được tiếpcận các dịch vụ ASXH là chưa cao Thực tế này là một sự bất bình đẳng mà trẻ
em lao động sớm đang phải gánh chịu
Trong thời gian qua, công tác phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ emluôn được Đảng, Quốc hội, Chính phủ quan tâm đầu tư Việt Nam đã tham gia,phê chuẩn các điều ước quốc tế nhằm bảo đảm thực hiện quyền trẻ em ViệtNam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ướccủa Liên hợp quốc về quyền trẻ em Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước số
182 của ILO về việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hìnhthức lao động trẻ em tồi tệ nhất, Công ước số 138 của ILO về tuổi tối thiểu làmviệc Chính phủ Việt Nam đã cam kết giải quyết vấn đề lao động trẻ em, Thủtướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phòng ngừa và giảm thiểu lao độngtrẻ em giai đoạn 2016-2020
Ngoài ra, còn có các bộ luật, luật liên quan như Luật Giáo dục nghềnghiệp năm 2014 tăng cường đào tạo nghề cho học sinh đã rời trường cũng như
Trang 16giới trẻ đã có việc làm; Bộ Luật Hình sự sửa đổi năm 2015 quy định người nào
sử dụng người dưới 16 tuổi làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặctiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định thì bị phạttiền hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù; Luật An toàn, vệ sinh laođộng năm 2015 và các thông tư quy định danh mục các công việc và nơi làmviệc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên; danh mục công việc nhẹđược sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc Đặc biệt Luật Trẻ em năm 2016 quyđịnh cụ thể các hành vi nghiêm cấm bóc lột trẻ bao gồm bắt trẻ em lao động tráiquy định của pháp luật về lao động, quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành,đoàn thể, gia đình, cộng đồng, trách nhiệm của các tổ chức xã hội, tổ chức kinh
tế trong việc phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em
Mặc dù đã có những nỗ lực đáng kể, Việt Nam cũng như các nước đangphát triển khác vẫn còn hiện tượng lao động trẻ em trong khu vực không cóquan hệ lao động (khu vực kinh tế phi chính thức) Theo thống kê của Bộ Laođộng, Thương binh và Xã hội năm 2019, hiện nay tổng số trẻ em toàn quốc là26,37 triệu, trong đó có tới 1,442 triệu trẻ em bị bóc lột (bao gồm sử dụng laođộng trẻ em trái quy định của pháp luật) Việc kiểm soát và xử lý các vi phạmliên quan đến lao động trẻ em, đặc biệt trong khu vực kinh tế phi chính thức cònnhiều bất cập, trong đó năng lực phát hiện và can thiệp của cơ quan chức năng,đặc biệt là chính quyền địa phương và thanh tra lao động còn hạn chế
Việt Nam cũng gặp khó khăn như nhận thức của gia đình và chính trẻ em,của người sử dụng lao động và người môi giới lao động còn hạn chế, thiếu hiểubiết về pháp luật, chính sách liên quan đến lao động trẻ em Nhận thức của cha,
mẹ, gia đình, trẻ em, người sử dụng lao động và người môi giới lao động về vấn
đề lao động trẻ em còn hạn chế Nguồn lực đầu tư, bố trí kinh phí để triển khaichương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em còn hạn chế từ Trungương tới địa phương Một số địa phương không phân bổ hoặc phân bổ kinh phírất hạn hẹp để triển khai thực hiện chương trình Hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ emchưa đầy đủ và thiếu đồng bộ do vậy việc triển khai, thực hiện chương trình còngặp nhiều khó khăn…