Tìm hiểu về vai trò của An sinh xã hội đối với người khuyết tật. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.1. Cơ sở lý luận về An sinh xã hội ở Việt Nam 1.1.1. Khái niệm an sinh xã hội An sinh xã hội (ASXH) là hệ thống cơ chế , chính sách, chương trình, giải pháp của Nhà nước, cộng đồng nhằm trợ giúp tất cả các thành viên xã hội đối phó với các rủi ro, nguy cơ về kinh tế, làm giảm hoặc mất nguồn thu nhập bởi nguyên nhân khách quan và chủ quan, góp phần phát triển xã hội công bằng và bền vững. 1.1.2. Vai trò của an sinh xã hội Vai trò của an sinh xã hội được thể hiện qua các khía cạnh các nhau, trong đó có những vai trò cơ bản sau: An sinh xã hội giúp khơi dậy tinh thần đoàn kết và tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng. An sinh xã hội nhằm ổn định đời sống cho nhân dân, đòi hỏi trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội và toàn thể cộng đồng xã hội. Huy động mọi nguồn lực trong xã hội là điều kiện để thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thể hiện rất rõ điều này: “Đẩy mạnh công tác xã hội hóa các dịch vụ bảo hiểm xã hội, chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ xã hội sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng”, “đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói, giảm nghèo”; “huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công ”. An sinh xã hội không chỉ gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế mà còn gắn liền với các lĩnh vực văn hóa, môi trường, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân: “Tăng trưởng kinh tế đi liền với từng bước phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường… ” (3). Như vậy, đảm bảo an sinh xã hội được Đảng ta xác định là một định hướng chiến lược để phát triển bền vững đất nước. Đảm bảo công bằng xã hội Góp phần ổn định và là động lực cho phát triển kinh tế xã hội. Là “chất xúc tác” để các quốc gia, các dân tộc xích lại gần nhau hơn. An sinh xã hội công bằng chính là “tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội” cho người dân. Điều đó có nghĩa là mọi người dân, không phân biệt giàu hay nghèo, thành thị hay nông thôn, đồng bằng hay miền núi… đều được tạo cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các chính sách, các dịch vụ an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, đảm bảo quyền con người, vì con người. Để làm được điều đó, Đảng chủ trương giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ của người dân trong từng lĩnh vực, từng chính sách phát triển. Đại hội Đảng lần thứ X xác định: “Thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế, xã hội”. Quan điểm này tiếp tục được Đảng ta khẳng định tại Đại hội XI: “Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân”; “thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách”. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, xã hội có sự phân hóa giàu nghèo thì đảm bảo an sinh xã hội công bằng càng có ý nghĩa to lớn, là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân. 1.1.3. Chức năng của an sinh xã hội An sinh xã hội có những chức năng chủ yếu sau: Chức năng phòng ngừa: ASXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế xã hội. Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ. Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống ASXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất. Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế xã hội. Từ giác độ phòng ngừa, hệ thống ASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Quỹ ASXH, trong đó có quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH) là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ. Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ ASXH đều góp phần ổn định xã hội và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Chức năng giảm thiểu rủi ro: Với các cơ chế san sẽ rủi ro (cả theo chiều dọc và theo chiều ngang), hệ thống ASXH, nhất là trụ cột BHXH, tạo điều kiện cho mọi người dân, mọi doanh nghiệp khi tham gia vào hệ thống có được nguồn tài chính để trang trải cho các hoạt động đời sống gia đình; doanh nghiệp không phải bỏ một khoản kinh phí lớn để trang trải những rủi ro đối với người lao động (ví dụ: như thất nghiệp, tai nạn lao động), có thể ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh. Nhà nước, nhờ có các quỹ ASXH, nhất là quỹ BHXH, không phải chi một khoản tiền lớn cho các trợ cấp xã hội, qua đó có thể sử dụng ngân sách cho các mục tiêu phát triển. Chức năng khắc phục rủi ro: ASXH góp phần ổn định đời sống của người lao động. Hệ thống các trợ cấp trong ASXH sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết. Nhờ có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường. Ngoài ra, hệ thống ASXH, trong đó có BHXH, thông qua các hoạt động của mình, góp phần làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất, gắn bó với nơi mình làm việc. Người sử dụng lao động tham gia đóng góp quỹ BHXH và các quỹ xã hội khác cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động và xã hội. Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa quản lý hoạt động của quỹ BHXH và các quỹ ASXH khác, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước người sử dụng lao động người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế xã hội. ASXH, thông qua các cơ chế của mình, góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội. 1.2. Khái niệm người khuyết tật tại Việt Nam Theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật người khuyết tật năm 2010, có hiệu lực từ ngày 112011, người khuyết tật được định nghĩa như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.” 1.3. Các dạng tật và mức độ khuyết tật: Các dạng khuyết tật: Khuyết tật vận động Khuyết tật nghe, nói Khuyết tật nhìn Khuyết tật thần kinh tâm thần Khuyết tật trí tuệ Khuyết tật khác Mức độ khuyết tật: Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Nhóm 11 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Lê Thị Hiền - Giảng
viên giảng dạy lớp học phần “An Sinh Xã Hội” Trong quá trình học tập phần “An
Sinh Xã Hội”, nhờ có sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô, nhóm của chúng em đã
có được kiến thức cơ bản, trọng điểm về văn hóa doanh, nền tảng để nhóm em hoànthiện bài thảo luận này
Do thời gian thực hiện nghiên cứu, hoàn thiện bài thảo luận không nhiều vàgiới hạn về trình độ, nên bài thảo luận này khó tránh khỏi những thiếu sót Nhómchúng em rất mong nhận được đánh giá và góp ý từ cô và các bạn để bài thảo luận củanhóm được hoàn thiện hơn
Nhóm 11 xin chân thành cảm ơn!
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay Việt Nam được xem là nước có tỷ lệ người khuyết tật cao khi chiếmtới 7,8% dân số, phần lớn người khuyết tật Việt Nam khó tiếp cận các chính sách ansinh xã hội Bảo đảm an sinh xã hội cho người khuyết tật nói chung và người khuyếttật trong độ tuổi lao động đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi cần những cáchtiếp cận và giải quyết mới trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội
Thực tế cho thấy hoàn cảnh của người khuyết tật và những hộ gia đình cóngười thành viên khuyết tật còn đang gặp rất nhiều khó khăn như: vấn đề về kinh tế,tâm lý xã hội và tham gia xã hội đối với người khuyết tật Ngoài ra, người khuyết tậtcũng gặp những rào cản, khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ xã hội và hòa nhập cộngđồng:Khó khăn trong tiếp cận các phương tiện giao thông và công trình công cộng;tiếp cận dịch vụ giáo dục, dịch vụ dạy nghề và việc làm, các dịch vụ y tế, tiếp cậnthông tin và trong xây dựng tình yêu, hôn nhân, gia đình…
Vì vậy để bảo đảm an sinh xã hội cho người khuyết tật, Nhà nước đã có nhiềuchính sách để bảo đảm giúp cho người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng như: Hỗ trợviệc làm, giúp người khuyết tật tham gia vào thị trường lao động, hỗ trợ sinh kế,BHXH, BHYT… Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách an sinh xã còn hạn chế nhấtđịnh
Với tình hình an sinh xã hội đối với người khuyết tật như vậy, nhóm 11 đã thựchiện đề tài “ Tìm hiểu về vai trò của An sinh xã hội đối với người khuyết tật” để hiểuhơn về vai trò của an sinh xã hội đối với người khuyết tật, thực trạng người khuyết tật,các chính sách an sinh xã hội đối với người khuyết tật ở Việt Nam, để từ đó đưa ra cácgiải pháp nhằm hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và giúp đời sống của ngườikhuyết tật ngày được cải thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ NGƯỜI KHUYẾT
TẬT 1.1 Cơ sở lý luận về An sinh xã hội ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội
An sinh xã hội (ASXH) là hệ thống cơ chế , chính sách, chương trình, giải phápcủa Nhà nước, cộng đồng nhằm trợ giúp tất cả các thành viên xã hội đối phó với cácrủi ro, nguy cơ về kinh tế, làm giảm hoặc mất nguồn thu nhập bởi nguyên nhân kháchquan và chủ quan, góp phần phát triển xã hội công bằng và bền vững
1.1.2 Vai trò của an sinh xã hội
Vai trò của an sinh xã hội được thể hiện qua các khía cạnh các nhau, trong đó
có những vai trò cơ bản sau:
- An sinh xã hội giúp khơi dậy tinh thần đoàn kết và tương trợ lẫn nhau giữacác thành viên trong cộng đồng
An sinh xã hội nhằm ổn định đời sống cho nhân dân, đòi hỏi trách nhiệm củacác cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội và toàn thể cộng đồng xãhội Huy động mọi nguồn lực trong xã hội là điều kiện để thực hiện có hiệu quả cácchính sách an sinh xã hội Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đãthể hiện rất rõ điều này: “Đẩy mạnh công tác xã hội hóa các dịch vụ bảo hiểm xã hội,chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ xã hội sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựavào cộng đồng”, “đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói, giảm nghèo”;
“huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vậtchất và tinh thần của những người và gia đình có công ”
An sinh xã hội không chỉ gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế mà còn gắnliền với các lĩnh vực văn hóa, môi trường, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần củanhân dân: “Tăng trưởng kinh tế đi liền với từng bước phát triển văn hóa, từng bước cảithiện đời sống tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệmôi trường… ” (3) Như vậy, đảm bảo an sinh xã hội được Đảng ta xác định là mộtđịnh hướng chiến lược để phát triển bền vững đất nước
- Đảm bảo công bằng xã hội
- Góp phần ổn định và là động lực cho phát triển kinh tế xã hội
- Là “chất xúc tác” để các quốc gia, các dân tộc xích lại gần nhau hơn
An sinh xã hội công bằng chính là “tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lựcphát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội” cho người dân Điều
đó có nghĩa là mọi người dân, không phân biệt giàu hay nghèo, thành thị hay nông
Trang 4thôn, đồng bằng hay miền núi… đều được tạo cơ hội như nhau trong việc tiếp cận cácchính sách, các dịch vụ an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, đảm bảo quyền con người, vìcon người Để làm được điều đó, Đảng chủ trương giải quyết tốt mối quan hệ giữaquyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ của người dân trong từng lĩnhvực, từng chính sách phát triển Đại hội Đảng lần thứ X xác định: “Thực hiện tốt cácchính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiếnvới hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế, xã hội” Quan điểmnày tiếp tục được Đảng ta khẳng định tại Đại hội XI: “Bảo đảm công bằng, bình đẳng
về quyền lợi và nghĩa vụ công dân”; “thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trongtừng bước và từng chính sách” Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường hiệnnay, xã hội có sự phân hóa giàu nghèo thì đảm bảo an sinh xã hội công bằng càng có ýnghĩa to lớn, là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân
1.1.3 Chức năng của an sinh xã hội
An sinh xã hội có những chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng phòng ngừa: ASXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn
bộ nền kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề racác quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi roxảy ra với người lao động, hệ thống ASXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho ngườilao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất Tất cả những yếu tố đó góp phần quantrọng làm ổn định nền kinh tế - xã hội Từ giác độ phòng ngừa, hệ thống ASXH gópphần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Quỹ ASXH, trong đó có quỹbảo hiểm xã hội (BHXH) là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trảcác chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy xét trên cả phươngdiện chi trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ ASXHđều góp phần ổn định xã hội và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
- Chức năng giảm thiểu rủi ro: Với các cơ chế san sẽ rủi ro (cả theo chiều dọc
và theo chiều ngang), hệ thống ASXH, nhất là trụ cột BHXH, tạo điều kiện cho mọingười dân, mọi doanh nghiệp khi tham gia vào hệ thống có được nguồn tài chính đểtrang trải cho các hoạt động đời sống gia đình; doanh nghiệp không phải bỏ mộtkhoản kinh phí lớn để trang trải những rủi ro đối với người lao động (ví dụ: như thấtnghiệp, tai nạn lao động), có thể ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh Nhà nước, nhờ
có các quỹ ASXH, nhất là quỹ BHXH, không phải chi một khoản tiền lớn cho các trợcấp xã hội, qua đó có thể sử dụng ngân sách cho các mục tiêu phát triển
Trang 5- Chức năng khắc phục rủi ro: ASXH góp phần ổn định đời sống của người laođộng Hệ thống các trợ cấp trong ASXH sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phầnthu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặcchết Nhờ có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phụcnhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộcsống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường.
Ngoài ra, hệ thống ASXH, trong đó có BHXH, thông qua các hoạt động củamình, góp phần làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sửdụng lao động và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đềutham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệmhơn trong công việc, trong lao động sản xuất, gắn bó với nơi mình làm việc Người sửdụng lao động tham gia đóng góp quỹ BHXH và các quỹ xã hội khác cũng thấy rõtrách nhiệm của mình đối với người lao động và xã hội Nhà nước vừa tham gia đónggóp, vừa quản lý hoạt động của quỹ BHXH và các quỹ ASXH khác, đảm bảo sự côngbằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệgắn bó giữa Nhà nước - người sử dụng lao động - người lao động, góp phần ổn địnhnền kinh tế - xã hội ASXH, thông qua các cơ chế của mình, góp phần làm giảm bớtkhoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội
1.2 Khái niệm người khuyết tật tại Việt Nam
Theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật người khuyết tật năm 2010, có hiệu lực
từ ngày 1/1/2011, người khuyết tật được định nghĩa như sau: “Người khuyết tật làngười bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năngbiểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”
Trang 6- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiệnmột số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tạiđiểm a và điểm b khoản này
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM 2.1 Tỷ lệ người khuyết tật tại Việt Nam
Theo kết quả Điều tra quốc gia về người khuyết tật NKT tại Việt Nam do Tổngcục Thống kê và UNICEF công bố ngày 11/1/2019, Việt Nam hiện có khoảng hơn 6,2triệu người (hơn 7% dân số từ 2 tuổi trở lên) là người khuyết tật Bên cạnh đó, có gần
12 triệu người (khoảng 13% dân số), sống chung trong hộ gia đình có NKT Tỷ lệ này
dự kiến tăng lên cùng xu hướng già hóa dân số
Tỷ lệ người bị khuyết tật ở Việt Nam từ 5 tuổi trở lên là 3,7%; tỷ lệ khuyết tậtcủa nữ giới cao hơn nam giới (nữ là 4,4%; nam là 3,1%), khu vực nông thôn cao hơnkhu vực thành thị (nông thôn chiếm 3,9%; thành thị chiếm 3,3%) Tỷ lệ khuyết tậtchịu ảnh hưởng mạnh bởi cơ cấu tuổi, nhóm tuổi từ 60 tuổi trở lên có tỷ lệ khuyết tậtcao nhất (20,7%), cao hơn nhiều so tỷ lệ khuyết tật của cả nước (3,7%)
Tỷ lệ người khuyết tật tại Việt Nam dự kiến tăng lên cùng xu hướng già hóadân số vì vậy Đảng, Nhà nước và nhân dân cần phải quan tâm hơn đến công tác NKT,cần ban hành, triển khai nhiều chủ trương, chính sách chăm lo, bảo đảm quyền và pháthuy vai trò của NKT, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển bền vững, giúpNKT ngày càng tự tin, thuận lợi hơn hòa nhập vào đời sống xã hội
2.2 Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật
Có rất nhiều yếu tố có thể tác động và ảnh hưởng đến con người làm họ bị dịdạng, khuyết tật mà vô tình chúng ta không hề để ý đến
Thứ nhất, do yếu tố di truyền Yếu tố di truyền là một trong những nguyên
nhân phổ biến gây ra dị tật bẩm sinh ở trẻ Để tìm ra những yếu tố dẫn đến nguy cơnày, các cặp đôi sẽ trải qua tư vấn di truyền Sau đó, chuyên gia sẽ giải thích thông tin
về những bệnh có thể di truyền cho con cái của họ trong tương lai Các xét nghiệmnày được khuyến khích cho tất cả các cặp vợ chồng, đặc biệt là trong giai đoạn trướchôn nhân Việc xét nghiệm kiểm tra gen không chỉ là cho chúng ta biết có những gennào mà còn kiểm tra tình trạng xem có gen nào có thể gây ra các bệnh di truyền
Thứ hai, yếu tố có thể gây dị tật cho thai nhi đó là khi người mẹ mắc một số
bệnh truyền nhiễm trong quá trình mang thai Nhiều sản phụ nhiễm Rubella và hậuquả là có nhiều trẻ ra đời với các dị tật bẩm sinh như điếc, chậm phát triển tâm thần,
mù, tim…, một số nhiễm trùng do một số virus, vi khuẩn khác như Toxoplasma,Cytomegalovirus, xoắn khuẩn giang mai, virus gây bệnh thủy đậu… cũng có thể gây
ra những tổn thương và dị tật nghiêm trọng cho thai nhi
Trang 8Thứ ba, đó là việc sử dụng tùy ý các loại thuốc Theo như những nghiên cứu
khoa học gần đây cho thấy một số loại thuốc có thể gây ra khuyết tật ở trẻ sơ sinh khiphụ nữ mang thai uống Ví dụ như các loại kháng sinh: sulfonamid và nitrofurantoins.Trong nghiên cứu, kháng sinh sulfonamide và nitrofurantoins có liên quan đến cácloại dị tật Hai loại kháng sinh này có nguy cơ gây dị tật bẩm sinh cao nhất so với cácloại kháng sinh khác chỉ có một loại nguy cơ dị tật bẩm sinh
Thứ tư, chính là ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và thiên tai Những
môi trường sống với các điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, nơi ở chật chội, yếu kém,mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khỏe gây nên đói nghèo, suy dinh dưỡng, dẫn đến hậuquả bệnh tật mà không tìm cách chữa trị ảnh hưởng đến cơ thể Tiếp xúc với khôngkhí ô nhiễm cũng được đề cập trong một số nghiên cứu Khi phụ nữ mang thai tiếpxúc với không khí ô nhiễm cao, quá trình hình thành nhau thai có thể bị gián đoạnkhiến thai nhi bị thiếu chất dinh dưỡng Tác động là trẻ có nguy cơ bị sinh non với thểchất không bình thường và kém phát triển hơn so với cùng trang lứa
Thứ năm, do trong quá trình mang thai người mẹ bị suy dinh dưỡng, bệnh
nặng ảnh hưởng đến thai nhi, mẹ bị trầm cảm hoặc tâm bệnh….; do người mẹ bị ảnhhưởng bởi việc thiếu oxi, tổn thương khi sinh non Trong thời kì chu sinh thai nhi bịthiếu oxy não, viêm não, màng não cũng gây nên sự khuyết tật ở trẻ
Thứ sáu, Đó có thể do việc kết hôn cùng huyết thống Những người dân tộc
thiểu số thuộc vùng sâu vùng xa thường không có kiến thức và kết hôn trong cùng mộtdòng họ Chính vì suy nghĩ này làm cho con sinh ra khả năng mắc và gặp phải tìnhtrạng khuyết tật là rất lớn
Cuối cùng, yếu tố dẫn đến khuyết tật là gì nếu một người đang bình thường mà
lại thành người bị khuyết tật? Đó có thể là do họ gặp phải các vụ tai nạn, rủi ro nhưchấn thương sọ não, viêm não, màng não, các chấn thương hoặc tai nạn khác
2.3 Những khó khăn người khuyết tật gặp phải:
2.3.1 Về y tế
- Khó khăn trong việc mua BHYT chi trả chi phí chữa bệnh: Theo quy định
của Nhà nước,việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế phải khám theo đúng tuyến Trong khi
đó, tại nhiều địa phương trạm y tế xã chưa có đủ trang thiết bị và nhân lực đảm bảochất lượng cho công việc này, thủ tục sử dụng dịch vụ bảo hiểm y tế còn phức tạp,thời gian chờ đợi lâu, mất thời gian Rất ít trạm y tế xã thực hiện việc lập hồ sơ quản
lý đối tượng, theo dõi tình hình sức khỏe của người khuyết tật theo quy định của LuậtNgười khuyết tật gần 50% người khuyết tật (hơn 3 triệu người) phải tự mua BHYT vàphải đồng chi trả phí dịch vụ khám chữa bệnh Đặc biệt, các dịch vụ về dụng cụ trợ giúp
Trang 9cơ bản, thiết yếu trong vận động, phục hồi chức năng rất cần đối với người khuyết tậtnhưng lại chưa được BHYT chi trả Trong khi đó, phần lớn NKT đều thuộc diện hoàncảnh khó khăn.
- Khó khăn trong tiếp cận các dụng cụ trợ giúp: Theo quy định tại Điều 23
Luật BHYT sửa đổi năm 2014, các thủ thuật như: mổ, chỉnh hình xoa bóp… đượcBHYT thanh toán Nhưng chỉnh hình không thể dùng tay không mà phải có nẹp, áo giáp
cố định cột sống, khuôn giầy cố định cổ chân, gậy 1 chân, 2 chân Dù gắn liền với danhmục kỹ thuật: trợ giúp vận động, nhận thức, giác quan khác như nhìn, nghe, nói… nhưngnhững thiết bị quan trọng, phục vụ can thiệp đó vẫn không được BHYT chi trả
- Khó khăn trong quá trình khám chữa bệnh: cơ sở vật chất để đảm bảo tiếp
cận cho người khuyết tật tại nhiều cơ sở y tế chưa đủ điều kiện (theo bộ tiêu chuẩn quychuẩn về tiếp cận công cộng cho người khuyết tật) mà Bộ Xây dựng đã ban hành
Ví dụ, đến trạm y tế hay bệnh viện không có đường dành riêng cho xe lăn thìnhững người khuyết tật vận động phải dùng xe lăn đi vào sẽ gặp nhiều khó khăn nếukhông có người hỗ trợ Hay, các bạn khiếm thính đã không nghe được thì không nóiđược, khi đi khám, họ sẽ rất khó để trình bày, trao đổi với bác sĩ về tình trạng bệnh củamình Rất nhiều trường hợp người khuyết tật tự thích nghi và phải coi mình như ngườibình thường Chẳng hạn người khuyết tật nữ vận động mang thai có nhiều đặc điểm khácvới người khỏe mạnh, nhưng hiện không có cơ sở khám thai dành riêng đối tượng này.Khi đi khám, họ không chủ động di chuyển được tới vị trí bàn siêu âm mà phải có ngườinhấc lên
2.3.2 Về giáo dục
- Cơ sở vật chất, tài liệu học tập: các trường chuyên biệt cho học sinh bậc tiểu
học đã khá nhiều, tuy nhiên từ bậc trung học cơ sở thì rất ít chủ yếu người khuyết tậthọc hòa nhập ở các trường phổ thông, như vậy cơ hội học tập ở bậc học cao hơn như
đại học cho họ rất khó, đặc biệt là với những người khuyết tật dạng nặng; tài liệu học
tập ở các trường hầu hết chưa phù hợp, như không có dịch vụ hỗ trợ nghe, nguồn tàiliệu dành cho người khiếm thính cũng hạn chế họ khó theo kịp bài học cũng như tiếpcận với kiến thức mới Mặt khác, do định kiến từ xã hội cũng như rào cản về môitrường làm việc những sinh viên khuyết tật rất khó tìm được công việc làm thêm nên
họ ít có điều kiện trải nghiệm thực tế để trau dồi thêm kiến thức, hình thành các kỹnăng cần thiết
- Chi phí : Bên cạnh các chi phí học tập như những sinh viên bình thường khác
họ còn mất thêm nhiều chi phí phát sinh do phải sử dụng các dụng cụ hỗ trợ phù hợp
Trang 10với từng dạng tật từ việc đi lại đến tài liệu học tập, hay chi phí cho người hỗ trợ cánhân với những sinh viên khuyết tật đặc biệt nặng
- Thủ tục chứng nhận thiếu sự đồng bộ: yêu cầu cần có thêm giấy chứng
nhận mức độ khuyết tật của địa phương khi đội ngũ làm công tác này không cóchuyên môn nên không đánh giá đúng mức độ khuyết tật Điều này khiến cả học sinhkhuyết tật và giáo viên khó khăn, vì sẽ không có giải pháp hỗ trợ học tập phù hợp vớimức độ khuyết tật của học sinh; mặt khác, học sinh không có giấy chứng nhận khuyếttật thì giáo viên cũng không được chế độ hỗ trợ theo quy định
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành còn
ít, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế tại địa phương Giáo viên tại các trường chuyên biệt
có biến động trong những năm gần đây do nghỉ việc hoặc chuyển công tác khác
2.3.3 Khó khăn trong tiếp cận các công trình công cộng:
Bộ xây dựng đã ban hành bộ Quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia năm
2013 về xây dựng các công trình đảm bảo người khuyết tật sử dụng như Quy chuẩnxây dựng công trình để đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng; Tiêu chuẩn vềNhà và công trình, đường và hè phố, nhà ở đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng.Tuy nhiên thực trạng diễn ra là các quy chuẩn , tiêu chuẩn đó đều chỉ nằm trên vănbản giấy tờ mà chưa đi vào thực tiễn cuộc sông Theo kết quả khảo sát, đa số nhữngcông trình phúc lợi xã hội như trường học, bệnh viện, bưu điện, bảo tàng có rất ítnhững hạng mục hỗ trợ lối đi, biển chỉ dẫn dành cho NKT, hoặc nếu có thì không đạtchuẩn, chưa tạo thuận lợi cho người sử dụng Nhiều tòa nhà, trung tâm mua sắmkhông có nhà vệ sinh dành cho NKT, nhà vệ sinh thông thường lại không có tay vịn,hoặc diện tích không đủ rộng nên những người đi xe lăn không thể vào được Ở nhiềucông trình, rõ ràng có thiết kế tiếp cận nhưng người khuyết tật tìm được lối đi chomình rất khó, vì nó ở những nơi khuất, khó nhận thấy, không có biển báo hiệu
2.3.4 Khó khăn trong việc làm:
- Khi đi xin việc: Vấn đề việc làm của người khuyến tật ở Việt Nam còn gặp
nhiều trở ngại, khó khăn do nhiều lý do khác nhau như phân biệt, kỳ thị hay mặc dùnhà nước đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhưng người khuyết tậtlại không có nhiều cơ hội để tìm kiếm việc làm Tại Việt Nam các trung tâm tư vấn,giới thiệu việc làm cho người khuyết tật còn hạn hẹp chưa phổ biến Điều này dẫn tới
chưa thể tiếp cận tới vấn đề việc làm cho người khuyết tật Nhà nước đã đề ra nhiều
chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp sử dụng người khuyết tật tuy nhiên các doanhnghiệp vẫn phải có nhiều trách nhiệm khắt khe khi sử dụng lao động khuyết tật Do đócác doanh nghiệp vẫn có sự e ngại trong quá trình tuyển dụng và sử dụng
Trang 11- Đào tạo nghề: Ở Việt Nam, công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho
người khuyết tật (NKT) được đặc biệt quan tâm Trong Luật Dạy nghề năm 2006, toàn
bộ Chương VII được dành cho vấn đề dạy nghề cho NKT, trong đó chỉ rõ mục tiêu làgiúp NKT có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tựtạo việc làm hoặc tìm được việc làm Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ tài chính vàcác ưu đãi khác đối với các cơ sở dạy nghề cho NKT, nhằm thúc đẩy công tác dạynghề cho các đối tượng này Theo quy định hiện hành, các cơ sở dạy nghề dành riêngcho NKT được ưu tiên cấp địa điểm thuận lợi, được hỗ trợ vốn, cấp kinh phí đào tạo,miễn giảm thuế, được vay vốn với lãi suất ưu đãi Đối với các cơ sở dạy nghề khác,khi nhận NKT vào học nghề, nâng cao trình độ tay nghề thì sẽ được ưu tiên đầu tư,bảo đảm định mức kinh phí đào tạo Nhờ đó, số cơ sở dạy nghề ở nước ta đã tăng cả
về số lượng, quy mô và chất lượng đào tạo Tuy nhiên việc dạy nghề vấp phải nhiềurào cản lớn từ sự kỳ thị, phân biệt của xã hội hoặc từ những rào cản từ bản thân ngườikhuyết tật và gia đình của họ như: Gia đình NKT không muốn cho con đi học; NKTthường có trình độ học vấn thấp, thậm chí không biết chữ nên tự ti, mặc cảm và rấtngại tham gia học nghề; xã hội nhìn NKT với con mắt thiếu tin tưởng và cho rằng họhọc nghề không để làm gì… Đó là chưa kể giáo trình, cách truyền đạt
2.3.5 Khó khăn trong việc hòa nhập
Ngày nay xã hội càng phát triển hơn nên việc người khuyết tật bị kỳ thị, xemthường đã phần nào giảm đi Tuy nhiên nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyếttật còn hạn chế, khiến không ít người phải chịu sự phân biệt đối xử đâu đó vẫn cònnhững trường hợp đáng trách khi họ có hành vi kỳ thị, miệt thị, với những ngườikhuyết tật Điêu này khiến cho họ luôn cảm thấy tự ti, mặc cảm và khó có cơ hội tiếpcận, hòa nhập với môi trường, phát triển bản thân Hiện nay Nhà nước đang thiếunhững chế tài nghiêm ngặt để xử lý các đối tượng có hành vi kỳ thị đối với ngườikhuyết tật Bên cạnh đó là thiếu những chương trình giáo dục, tuyên truyền hoặc giaolưu với nhưng người khuyết tật để mọi người xung quanh có thể thấu hiểu và nhìnnhận tích cực hơn
Trang 12CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ CÁC CHÍNH SÁCH ASXH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 3.1 Vai trò của An sinh xã hội đối với người khuyết tật:
- Thứ nhất, ASXH tạo cơ hội bình đẳng nhằm đáp ứng tốt hơn quyền lợi chính
đáng, hợp pháp, động viên để NKT phát huy năng lực, vươn lên hòa nhập, đóng gópcho xã hội,…
Những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn quan tâm đến công tácNKT, đã ban hành, triển khai nhiều chủ trương, chính sách chăm lo, bảo đảm quyền
và phát huy vai trò của NKT, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển bền vững,giúp NKT ngày càng tự tin, thuận lợi hơn hòa nhập vào đời sống xã hội
- Thứ hai, ASXH có vai trò quan trọng trong việc phát triển vốn sinh kế, hoạt
động sinh kế và kết quả sinh kế của NKT
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống chính sách đối với NKT, cần phát triển hệthống ASXH phi chính thức Hệ thống ASXH phi chính thức có tính linh hoạt cao, dễtiếp cận, có thể bù đắp những thiếu hụt, khoảng trống mà hệ thống ASXH chính thứcchưa thực hiện được đối với những đối tượng NKT có nhu cầu nhưng chưa nằm trongdiện được hỗ trợ của Nhà nước
- Thứ ba, ASXH có vai trò hỗ trợ NKT tiếp cận giáo dục, các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe, BHYT, BHXH và các hoạt động hỗ trợ tạo việc làm, đẩy mạnh và đổimới công tác đào tạo nghề phù hợp điều kiện, sức khoẻ và nhu cầu của lao độngkhuyết tật
Việc bảo đảm ASXH cho lao động khuyết tật không chỉ tập trung vào đáp ứngnhu cầu thực tiễn của NKT như: Ăn, ở, mặc, đi lại, y tế và chăm sóc sức khỏe, mà cònhướng vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm việc làm, thu nhập cho laođộng khuyết tật, bảo đảm quyền và hướng tới hòa nhập Do đó, cần đổi mới quanđiểm tiếp cận đối với NKT, mở rộng chính sách hỗ trợ đến tất cả các nhóm NKT, dựatrên các nguyên tắc cơ bản về giáo dục, hỗ trợ, khuyến khích vươn lên
- Thứ tư, vai trò góp phần tuyên truyền với những người khác giúp đỡ NKT
Những nhân viên công tác xã hội cần phải giúp cho các thành viên khác trong
xã hội hiểu rõ hơn về NKT và bản chất của sự khuyết tật để xã hội có cái nhìn đúng vềNKT Từ đó nhìn nhật ra sự thiếu công bằng cơ hội mà họ luôn gặp phải Tác độngđến những người, tổ chức liên quan đến việc phát triển các chính sách, chương trìnhphát triển xã hội để họ bao gồm sự tham gia của NKT vào quá trình ra quyết định