- Đưa ra được các phương pháp giải bài tập nhận biết truyền đạt tới học sinh để khi học sinh gặp bất kỳ bài tập phân biệt nào cũng biết nhận dạng và nhớ phản ứng đặc trưng của các chất[r]
Trang 1I MỤC LỤC
Trang
a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
b.Nội dung cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp 5
c Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp 24
d Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp 24
e Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 24II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề 25 nghiên cứu
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khi tôi bước vào lớp học là bắt gặp những ánh mắt lo sợ và những tiếng khe khẽ cất lên “ lại giờ hoá”, “sao môn Hoá khó quá cô ơi” Không phải tại tôi là giáo viên “khét tiếng” vì hung dữ, không phải vì tôi là giáo viên luôn gây áp lực của học sinh Mà bởi vì các em sợ môn Hoá, khó khăn khi học môn Hoá, sợ kiểm tra bài cũ
mà không biết cách làm bài tập cũng bởi vì môn hoá khó Môn Hoá “khó” thì đi đâu tôi cũng nghe, nghiên cứu đề tài nào của giáo viên cũng thấy chữ “khó” là đi đầu tiên
Đã có rất nhiều giáo viên trăn trở, suy nghĩ viết sáng kiến kinh nghiệm nhằm cho mônHoá bớt khó Tôi cũng vậy là giáo viên dạy Hoá mà khi nhìn các em nhăn mặt ngao ngán với môn Hoá tôi cũng trăn trở vô cùng Trong đầu tôi luôn đặt ra câu hỏi: “ làm sao để các em học sinh hiểu Hoá dễ hơn, yêu Hoá nhiều hơn và thực sự giỏi Hoá hơn”
Với môn Hoá đặc thù là giờ học trên lớp học toàn là lý thuyết nhưng khi kiểm tra định kỳ hay bất cứ cuộc thi nào thì đa số là bài tập Vậy thời gian đâu mà giáo viên
có thể truyền thụ cho học sinh phương pháp giải bài tập? Giáo viên chúng tôi phải tranh thủ hết sức trong một thời gian ngắn: 1 tiết luyện tập, 10 phút củng cố …để dạy học sinh biết phương pháp giải bài tập Vậy đòi hỏi giáo viên phải hệ thống kiến thức đầy đủ, phương pháp giải nhanh nhất, dễ nhớ nhất để truyền đạt cho học sinh
Với những lý do trên đủ để tôi thấy rằng tôi phải nghiên cứu từng vấn đề thật tốt và thật kỹ để làm sao học sinh dễ học nhất và dễ nhớ nhất, để khi tôi hỏi các em là:
“ môn Hoá có khó không?” các em sẽ trả lời tôi rằng : “ thưa cô môn Hoá khó nhưng chúng em đã có cách học nên môn Hoá dễ”
Bài tập môn Hoá rất đa dạng và phong phú về các dạng bài tập Và tôi cũng biết rằng rất nhiều giáo viên đã nghiên cứu, đã viết sang kiến kinh nghiệm về các dạng bàitập Tôi nghĩ rằng đề tài của tôi cũng không mới mẻ, sẽ có nhiều giáo viên đã nghiên cứu đã viết Nhưng tôi thấy rằng học sinh của mỗi trường là khác nhau, mỗi giáo viên
có cách nghiên cứu khác nhau Tôi sẽ phải học hỏi của những giáo viên đi trước và kết hợp với những kinh nghiệm của mình để hoàn thành tốt hơn và áp dụng thật tốt đối với học sinh trường tôi Nên tôi sẽ vẫn viết đề tài nhỏ “ PHƯƠNG PHÁP NHẬN BIẾT CÁC CHẤT VÔ CƠ” chỉ với một mong ước giản đơn là : học trò của tôi sẽ yêumôn hoá và sẽ giỏi môn Hoá
I.2 MỤC TIÊU NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Bài tập hoá học là một trong những phần không thể thiếu trong môn hoá học làm bài tập giúp các em củng cố khắc sâu thêm kiến thức đồng thời rèn luyện óc tư duy của các em Bài tập phân biệt rất quan trong trong các dạng bài tập tôi nhận thấy trongsách giáo khoa, sách bài tập hầu như không có chuyên đề về nhận biết Nên mục tiêu của tôi khi làm đề tài này là hệ thống lại toàn bộ các dấu hiệu nhận biết, các hiện tượng đặc trưng của các chất khi tham gia phản ứng hoá học đồng thời hệ thống lại các chất chỉ thị các thuốc thử để dùng nhận biết các chất Khi đã hệ thống lại toàn bộ dấu hiệu phản ứng đặc trưng thì sắp xếp theo từng loại, từng hợp chất thành các bảng
để khi tìm để dễ dàng tìm thấy, nhận biết và so sánh
Trang 3Các dạng bài tập của bài toán nhận biết học sinh sẽ dựa vào bảng dấu hiệu, phản ứng đặc trưng để tìm ra các cách nhận biết khi đã có dạng bài tập sẽ tìm ra phương pháp giải bài toán đó nhanh nhất và khoa học nhất
- Nhiệm vụ của đề tài:
Khảo sát các bài tập lên lớp của học sinh trường THCS Hoàng Hoa Thám
Thực trạng và phân tích thực trạng
Đánh gia rút kinh nghiệm
Đề ra các giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả làm bài tập nhận biết của học sinh
I.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các dấu hiệu nhận biết các chât vô cơ và các phương pháp giải các dạng bài tậpnhận biết
I.4 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để học sinh học giỏi phần nhận biết môn Hoá hơn tôi chọn đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi học sinh khối 8, 9 trường THCS Hoàng Hoa Thám xã
CưDliêMnông huyện CưMgar tỉnh ĐăkLăk
I.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tư liệu và sản phẩm hoạt động sư phạm
Phương pháp quan sát thực tế: quan sát các cách làm phân biệt của học sinhPhương pháp hỏi đáp: trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh về những vấn đềliên quan đến nội dung đề tài
Phương pháp thống kê, phân tích số liệu
II PHẦN NỘI DUNG
II.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
Bài toán về nhận biết các chất là phải dựa vào các phản ứng hoá học đặc trưng
để nhận biết nghĩa là phản ứng mà dùng để nhận biết phải là những phản ứng gây ra các hiện tượng bên ngoài mà giác quan con người có thể cảm nhận và cảm thụ được
Cụ thể là dùng mắt để nhận biết hiện tượng hoà tan; kết tủa; mất màu; tạo màu hay đổi màu Dùng mũi để nhận biết các mùi vị đặc trưng như NH3 có mùi khai; SO2: sốc;
H2S mùi trứng thối Tuyệt đối không dùng phản ứng không đặc trưng Vậy đòi hỏi học sinh phải nắm vững lý thuyết về tính chất hoá học và biết phản ứng nào là đặc trưng từ đó vận dụng làm bài tập Nhưng để nhớ được tính chất hoá học đặc trưng của
vô số chất thì quả là khó khăn
II.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
a.Thuận lợi – khó khăn
Thuận lợi: - Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, uỷ ban nhân dân, sự
hỗ trợ nhiệt tình các ban ngành đoàn thể địa phương Được sự quan tâm chỉ đạo kịpthời của Phòng giáo dục và đào tạo huyện CưMgar
Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học môn hoá học đã và đang đổi mới
và là một trong những môn có chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp dạyhọc
Trang 4Chương trình Sách giáo khoa hoá học mới có nhiều đổi mới về mục tiêu, cấutrúc, sự đổi mới này rất thích hợp cho giáo viên giảng dạy bộ môn hoá học cho họcsinh Thông qua bài học học sinh có thể tự hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo tìmtòi phát hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học.
Được sự đồng tình của xã hội, nhất là các bậc Cha mẹ học sinh tích cực phốihợp cùng với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
-Khó khăn:
Đối với học sinh trung học cơ sở thì chương trình học nặng về cả số môn học vàvới cả lượng kiến thức khổng lồ Môn Hoá học cũng thế kiến thức nhiều mà đòi hỏicác em phải học nhớ rất kỹ thì mới có thể làm bất cứ dạng bài tập nào
Phòng thiết bị chưa có, hoá chất dụng cụ hầu như đã hư hại hết hạn sử dụng nênkhông thể làm thí nghiệm cho học sinh quan sát trực tiếp mà chỉ học lý thuyết khiếncác em khó nhớ hơn
Trường chỉ có một giáo viên dạy môn hoá học trên khối 8,9 rất khó cho việcgiảng dạy và dự giờ rút kinh nghiệm
- Tâm lý chung của mọi người trong đó có Cha mẹ học sinh cho rằng đây là mônhọc phụ, kết quả học tập không quan trọng lắm, vì chưa chú ý động viên con em tíchcực học tập
c Mặt mạnh – mặt yếu
Mặt mạnh: Các em học sinh đa số đều chăm ngoan và có ý thức học tập Luônchịu khó học bài cũ, làm bài tập hoá học và đọc trước bài mới một số em còn thamkhảo nhiều loại sách và rèn luyện làm bài tập
Mặt yếu: Các em chưa biết cách học tập hiệu quả, học tập máy móc không tự tìmhiểu nghiên cứu tìm tòi sáng tạo
Học sinh không thể nhớ nổi các phản ứng đặc trưng của vô số chất
d Các nguyên nhân , các yếu tố tác động
- Lượng kiến thức môn hoá 8,9 là quá nhiều, thời gian dạy trên lớp đều là dạy
lý thuyết, hầu như không có tiết luyện tập làm bài tập
- Hoàn cảnh gia đình học sinh còn khó khăn, cha mẹ chưa quan tâm đến việc học hành của con
- Ý thức học tập các em chưa cao
- Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phòng thực hành chưa có, hoá chất đã hư hại vàhết hạn sử dụng
II.3 GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Trang 5- Đưa ra được các phương pháp giải bài tập nhận biết truyền đạt tới học sinh để khi học sinh gặp bất kỳ bài tập phân biệt nào cũng biết nhận dạng và nhớ phản ứng đặc trưng của các chất để làm
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Trước tiên phải dạy cho các em biết về : Phương pháp trình bày một lời giải
về nhận biết
* Bước 1: Lấy mẫu thử.
* Bước 2: Chọn thuốc thử (tuỳ thuộc yêu cầu đề bài yêu cầu: Thuốc thử tuỳ chọn, hay
hạn chế, hay không dùng thuốc thử bên ngoài, )
* Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu, trình bày hiện tượng quan sát được (mô tả hiện
tượng) rút ra kết luận đã nhận được hoá chất nào
* Bước 4: Viết phương trình phản ứng minh hoạ.
Ta thấy rằng bước 2 là quan trong nhất học sinh phải xác định được phải dùng thuốc thử nào, cách làm nào để phân biệt được Muốn vậy các em phải nắm rõ phản ứng đặc trưng mà các em có thể tìm hiểu qua các bảng mà tôi cung cấp sau:
► MỘT SỐ THUỐC THỬ DÀNH CHO HỢP CHẤT VÔ CƠ
BẢNG 1 TRẠNG THÁI, MÀU SẮC CỦA CÁC ĐƠN CHẤT VÀ HỢP
H2S Khí không màu mùi trứng thối
SO2 Khí không màu, mùi hắc
SO3 Lỏng, không màu, sôi ở 45o
Br2 Lỏng nâu đỏ hay vàng nâu
I2 Tím, rắn, có hiện tượng thăng hoa
Trang 6Fe(OH)2 Rắn trắng xanh hay xanh rêu
Fe(OH)3 Rắn màu nâu đỏ
Tóm tắt một số màu giống nhau:
Trắng: AgCl, BaSO4, PbCl2, NaHCO3, CaCO3,
Đen: CuS ,FeS ,Fe2S3 ,Ag2S ,PbS ,HgS
BẢNG 2 MỘ SỐ MUỐI KHI ĐỐT THÌ CHÁY VỚI CÁC NGỌN LỬA MÀU
KHÁC NHAU
BẢNG 3.NHẬN BIẾT MỘT SỐ CHẤT KHÍ
Cs Ngọn lửa màu xanh da trời
Ba2+ Ngọn lửa màu lục vàng
Trang 7Khí Thuốc thử và hiện tượng Giải thích
1.SO2 -Nước brom: làm mất màu nước
- Dung dịch Ca(OH)2 dư: Làm cho nước vôi trong bị vẩn đục
Cl2 + 2KI → 2KCl + I2
I2 sau khi sinh ra thì làm xanh giấy tẩm
hồ tinh bột 2Cl2 + Br2 + 6H2O → 2HBrO3 + 10HCl
3.N2 Que diêm đang cháy dở: que
diêm tắt
Nitơ không duy trì sự cháy
4.NH3 - Dung dịch phenolphtalein:
Dung dịch phenolphtalein từ không màu thành màu tím hồng
- Quỳ tím: Làm xanh giấy quỳ tím
- Giấy tẩm dung dịch HCl: Có khói trắng xuất hiện
- Dung dịch muối Fe2+: Tạo dung dịch có màu trắng xanh do
NH3 bị dung dịch muối Fe2+ hấp thụ
-dd amoniac làm CuO (đen) chuyển thành Cu (đỏ)
- dd amoniac có thể hòa tan Cu(OH)2, Zn(OH)2, AgCl
(tạo phức với hirđoxit hoặc muối của Cu, Zn, Ag)
NH3 + HCl → NH4Cl (tinh thể muối)
2NH3 + Fe2+ + 2H2 O → Fe(OH)2 (trắngxanh) + 2NH2+
Trang 8- sục vào dd FeSO4 20% thì thu được dd màu đỏ thẩm
- Khí O2: Hóa nâu khi gặp O2
cho nước vôi trong bị vẩn đục
- đưa que diêm đỏ vào thì que diêm tắt
-Kết tủa đen với dd Cu(NO)3
- tạo kết tủa vàng với HNO3 (loãng)
- Tạo bột màu vàng với dung dịch SO2
- làm mất màu dung dịch Br2 hoặc KMnO4
H2S + Pb(NO3)2 → PbS↓ + HNO3
Cu(NO)3 + H2S → CuS + 2HNO3
3H2S + 2HNO3 (loãng) → 3S↓ + 2NO +4H2O
11.H2 - Cháy với ngọn lửa màu xanh
nhạt kèm theo tiếng nổ nhỏ Chosản phẩm đi qua CuSO4 rắn khan không màu chuyển thành màu xanh
- Chuyển CuO (đen) thành Cu (đỏ)
Trang 9OF2 + 2Cu → CuO + CuF2
(làm Cu đỏ → CuO đen)
OF2 + P → P2O5 + PF5 (chất rắn sau phản ứng + H2O → dd làm quì tím hoá đỏ)
- Hơi nước làm cho CuSO4
(khan, màu trắng) chuyển sang màu xanh
CuSO4 + nH2O → CuSO4.nH2O (màu xanh)
C + O2 → CO2↑
C + 2H2SO4đn → CO2↑ + 2SO2↑ + 2H2O
C + 4HNO3(đ) →CO2↑ +4NO2↑+2H2O
P + 5HNO3. (đặc) → H3PO4 + 5NO2↑
Trang 10+ H2O
I2 (iot) - iot là chất rắn màu tím nhạt
- khi đun nóng, iốt thăng hoa tạo
+ HNO3 (đặc nguội), CuO để
phân biệt Al với Zn và Cr
→ tan + dd xanh + NO2 ↑ màu nâu
Cu + HNO3 ->Cu(NO3)2 +2NO2 +H2O
→ tan + dd xanh + ↓ trắng bạc bám lên
Au + HNO3Đặc, HCl đặc tỉ lệ mol
1:3 (nước cường toan)
→ tan + NO↑ hóa nâu ngoài không khí
BẢNG 6 OXIT Ở THỂ RẮN
Trang 11CaO + H2O
+ dd Na2CO3
→ tan, dd đục, làm xanh quì tím
→ CaCO3↓CaO + H2O -> Ca(OH)2
CaO + H2O + Na2CO3 -> CaCO3 + 2NaOH
Trang 12-+ H2SO4 đặc + Cu Khí màu nâu bay ra : NO2
dung dịch có màu xanh lam
→ Al(OH)3↓ sau đó tan dần
BẢNG 8 NHẬN BIẾT KIM LOẠI TRONG MUỐI
→ Na+ cháy với ngọn lửa màu vàng
→ K+ cháy với ngọn lửa màu tím
→ Rb+ cháy với ngọn lửa màu đỏ huyết
→ Cs+ cháy với ngọn lửa màu xanh da trời
→ Ba2+ cháy với ngọn lửa màu lục (hơivàng)
→ Ca2+ cháy với ngọn lủa màu đỏ da cam
Trang 13OH-→ tạo kết tủa sau đó tan dần
→ dd chuyển sang màu vàng cam2Cr3+ + 16OH- + 3Br2 → 2CrO42- +6Br -
Thuốc thử Dùng để nhận biết Hiện tượng
1 - Quì tím - axit, muối tạo bởi gốc axit mạnh và cation
của bazơ yếu
- dd bazơ, muối tạo bởi gốc axit yếu và cation của bazơ mạnh
Trang 14(không
màu)
3 - nước
(H2O)
- các kim loại mạnh (Na, K, Ca, Ba)
- các oxit KL mạnh (Na2O, K2O, CaO, BaO)
- P2O5
- CaC2
- tan tạo H2↑, riêng Ca còn tạo
dd Ca(OH)2 màu đục
- tan tạo dd làm hồng phenolph-talein, riêng CaO tạo dd đục
- tan tạo dd làm đỏquì tím
- tan + C2H2 etilen) bay lên
(ax-4 - dung dich
kiềm
- kim loại Al, Zn, Cr, Pb (lưỡng tính)
- Al2O3, ZnO, PbO, Al(OH)3, Zn(OH)2, Pb(OH)2
+ Ag2O, AgNO3
+ CuO
- hầu hết các KL (-Au, Pt)
- Ba, BaO, muối Ba
- Fe, FeO, Fe3O4, FeS, FeS2, FeCO3, CuS, Cu2S
- tan + CO2↑,
SO2↑, H2S↑
- tan + H2↑
+ tan tạo Cl2↑ + AgCl↓
Ba2+ + Cr2O72- +
H2O → BaCrO4
+2H+
- tạo AgCl↓ trắng, AgI↓ vàng đậm, AgBr↓ vàng nhạt
- CdS↓ vàng
Trang 15- PbS↓ đen, PbI2↓ vàng
- HgI2↓ đỏCHÚ Ý KHI DÙNG QUỲ TÍM PHÂN BIỆT MUỐI
Kim loại M với gốc axit X
+Quỳ đổi màu xanh nếu: M là kim loại mạnh nằm ở nhóm I A thuộc nhóm kim loại kiềm của bảng tuần hoàn: Li ; Na ; K ; Rb ; Cs ; Fr (trừ H) cách học : " lâu nay không rảnh ĐI coi phố" hoặc nhóm II A là nhóm kim loại kiềm thổ: Be ; Mg ; Ca ; Sr ; Ba ;
Ra cách học : " Bởi mãi còn say CHIẾM bảng rồng" gắn với nhóm axit yếu như SO3,
CO3,
+Quỳ hoá đỏ nếu ngược lại: M là kim loại hoạt động yếu không phải các kim loại ở phía trên gắn vơi X gốc axit mạnh như : Cl ; Br ; I ; SO4 ; NO3
+ Quỳ không đổi màu : X là kim loại mạnh gắn với axit mạnh!
CHÚ Ý : Các kim loại kìêm thổ nhóm II A chỉ có 1 số là được phù hợp với quỳ hoá xanh
- Giáo viên cho các em tiếp xúc với các bài tập nhận biết qua các bài tập mẫu Tôi
nhận thấy rằng sau khi đưa ra các dạng làm hướng dẫn các bước hoàn chỉnh của một bài phân biệt tôi sử dụng bản đồ tư duy thấy rằng các em có thể tiếp thu rất nhanh
MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP NHẬN BIẾT
DẠNG 1: NHẬN BIẾT BẰNG THUỐC THỬ TỰ CHỌN
Phương pháp làm bài tập dạng này là ta có thể dùng bất cứ chất nào là phản ứng đặc trưng của chất để làm thuốc thử Không giới hạn thuốc thử
Câu1: Nêu cách phân biệt CaO, Na2O, MgO, P2O5, đều là chất bột trắng
Bài làm: Cách trình bày của một bài nhận biết như sau:
+ Bước 1: Trích mỗi chất một ít làm mẫu thử
+ Bước 2: Cho cả 4 mẫu hoà tan vào nước
- Thấy mẫu nào không tan là: MgO, mẫu nào ít tan tạo dd đục là CaOCaO + H2O -> 2Ca(OH)2
Trang 16Không tan tan
MgO Na2O, P2O5, CaO ít tan dd đục
HCl + AgNO3 -> AgCl + HNO3
Câu 3: Bằng phương pháp hoá học làm thế nào để nhận ra sự có mặt của mỗi khí
CO2, CO SO3
Trang 17Al Cu, Fe, S, Ag
+ dd HClTan
Fe Cu, S, Ag
+ O2 (t0)
Ag khí mùi hắc: S
Rắn màu đen: cuPhương trình: Al + NaOH + 2H2O -> 2NaAlO2 + H2
NaNO3, Mg(NO3)2, Fe(NO3)2, Cu(NO3)2, Na2SO4, MgSO4, FeSO4, CuSO4
+ BaCl2
Kết tủa Không kết tủa
Na2SO4, MgSO4, FeSO4, CuSO4 NaNO3, Mg(NO3)2, Fe(NO3)2, Cu(NO3)2,
Trang 18MgSO4 + NaOH -> Mg(OH)2 + Na2SO4
CuSO4 + NaOH -> Cu(OH)2 + Na2SO4
FeSO4 + NaOH -> Fe(OH)2 + Na2SO4
Fe(OH)2 + O2 + 2 H2O -> 4Fe(OH)3 ↓nâu đỏ Mg(NO3)2 +2 NaOH -> Mg(OH)2 + 2 NaNO3
Cu(NO3)2 + 2NaOH -> Cu(OH)2 + 2NaNO3
Fe(NO3)2 +2 NaOH -> Fe(OH)2 + 2NaNO3
Câu 6: Có 4 ống nghiệm mỗi ống chứa 1 dd muối ( không trùng kim loại cũng như
gốc axit) là: clorua, sunfat, nitrat, cacbonnat của các kim loại Ba, Mg, K, Pb
a Hỏi mỗi ống nghiệm chứa dung dịch của muối nào
b Nêu phương pháp nhận biết mỗi ống nghiệm đó
Hướng dẫn:
a Theo tính tan của các muối thì 4 dung dịch muối là BaCl2, Pb(NO3)2, MgSO4, K2CO3
Vì: gốc axit CO3 đều tạo kết tủa với Ba, Pb, Mg -> dd K2CO3
Kim loại Pb đều tạo kết tủa với gốc SO4, Cl -> dd Pb(NO3)2
Bari tạo kết tủa với SO4 -> dd BaCl2
b
BaCl2, Pb(NO3)2, MgSO4, K2CO3
+ Dd Na2S ↓ đen
Pb(NO3)2 MgSO4, K2CO3, BaCl2
+ NaOH ↓ Trắng
MgSO4 BaCl2, K2CO3
+ HCl Khí CO2 ↑