- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Từ việc chỉ ra những nét nổi bật trong tập thơ Hoa cô độc và trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí về cả nội dung và nghệ thuật, tôi đã chia nhỏ các
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
-
HỒ QUỲNH NHƯ
DẤU ẤN SIÊU THỰC TRONG THƠ NGÔ KHA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 05/2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
-
DẤU ẤN SIÊU THỰC TRONG THƠ NGÔ KHA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi, Hồ Quỳnh Như xin cam đoan: Những nội dung trong khóa luận tốt nghiệp này là do tôi thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Th.S Phạm Thị Thu Hương
Nếu có bất kì sự sao chép nào không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Đà Nẵng, ngày 02 tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Hồ Quỳnh Nhƣ
Trang 4TRANG GHI ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức lý luận và thực tiễn quý báu và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Phạm Thị Thu Hương - người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Thư viện Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp cho tôi những tư liệu cần thiết và quý giá để chúng tôi có cơ sở nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Dù đã nỗ lực cố gắng, song do điều kiện về thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn nên khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và góp ý chân thành của các thầy cô và các bạn
để khóa luận có thể hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn
Đà Nẵng, ngày 02 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Trang 5sự lựa chọn quyết liệt của lịch sử Cuộc đời thăng trầm, ngắn ngủi mà nhiều biến động của Ngô Kha, cũng như của lịch sử Huế thời ấy in dấu ấn đậm nét không chỉ trong những trang tiểu sử, trong lòng bạn bè và học trò ông mà còn tỏa sáng trong những thi phẩm đặc biệt mà ông để lại Dù rằng ở các tuyển tập, các công trình mang tính phổ biến tên tuổi Ngô Kha còn ít được nhắc đến, nhưng với giới trí thức
và đặc biệt các thi sĩ đương thời không ít người rất hâm mộ Ngô Kha Người ta thường nói, một nhà thơ nổi tiếng không phải là một người sáng tác nhiều mà là một nhà thơ có sáng tác độc đáo Cho đến hôm nay khi nhìn lại toàn bộ sự nghiệp thơ ca giai đoạn trên, ta thấy Ngô Kha có một điểm vô cùng nổi bật Ông là một trong số ít những nhà thơ miền Nam lúc bấy giờ hòa nhập vào dòng thơ siêu thực
Hoa cô độc và Ngụ ngôn của người đãng trí là những tập thơ đáng nhớ nhất khi nhắc đến thơ siêu thực của Ngô Kha Ngoài ra, nhà thơ còn có Trường ca hòa bình và một số bài thơ khác in rải rác trên các tạp chí miền Nam
Chính vì lẽ đó, khi thực hiện đề tài “Dấu ấn siêu thực trong thơ Ngô Kha”, mục đích của chúng tôi nhằm khám phá một hồn thơ độc đáo và những tác
phẩm thơ mang đậm màu sắc dấu ấn siêu thực từ nội dung đến nghệ thuật – tác phẩm được xây đắp bởi những hoài bão, những đớn đau trước hiện thực chiến tranh, những ám ảnh vô thức, nơi “nỗi cô đơn niềm tuyệt vọng cháy sáng” Từ đó góp phần khẳng định vị trí của nhà thơ trên chặng đường thơ trước 1975
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Trên thực tế, số lượng các công trình nghiên cứu hay bài viết về thơ Ngô Kha chưa nhiều Đặc biệt, chưa có những công trình nào đi sâu vào khảo sát và nghiên cứu toàn diện về dấu ấn siêu thực trong thơ ông Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một số nhận định trong những bài viết, phê bình của các nhà văn, nhà thơ đối với thơ siêu thực Ngô Kha:
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, một người bạn cùng thời, chí cốt của Ngô
Kha khi tiếp cận với Hoa cô độc (1961) đã viết: “Những năm đầu thập kỷ 60 ấy,
ngày tháng sao như dài hơn và Ngô Kha đã rong chơi khắp miền để kết bạn phong trần với loài phù du, để rồi trở về ngồi nhìn cái bóng đơn chiếc của mình đổ dài trên đất rừng trơ hốc đá, nơi một sườn đồi hoàng hôn trên sông Hương…Cái nhìn chính mình Ngô Kha đã bắt gặp trên cánh đồng hắt hiu của linh hồn chàng một loài
ác hoa mọc lên từ bao giờ, chàng âu yếm gọi tên nó là “Hoa cô độc” Hành trình của chàng khởi đầu với niềm kiêu hãnh thầm kín của bông hoa ấy” [11, tr.243]
Còn đối với Ngụ ngôn của người đãng trí (1969), Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận định: “Ngụ ngôn của người đãng trí mang đầy đủ cấu trúc của một mê cung,
trong đó đã diễn ra cuộc giác đấu đẫm máu giữa nhà thơ bức xúc vì khát vọng sống
và phía bên kia thần Chết mang sừng bò Điều nghịch lý đau đớn mà cuối cùng chàng đã phát hiện ra, rằng chẳng phải là con Minotaure nào khác cả, nó chính là bản thân chàng và đó chính là trận đấu vật vã với Chính Mình, của Người Đãng Trí” [11, tr.237] Những nhận xét nói trên của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường như là một lời khẳng định rằng thơ Ngô Kha chứa đựng cảm hứng siêu thực trong cái nhìn về thực tại, một thực tại chênh vênh giữa hư và thực, giữa bên này và bên kia, bên trong và bên ngoài
Trang 7Năm 2005, bạn bè và học trò của nhà thơ đã tập hợp và cho in cuốn sách
Ngô Kha – ngụ ngôn của một thế hệ (NXB Thuận Hóa) Trong cuốn sách, bên cạnh việc đăng lại các tác phẩm đã phổ biến của Ngô Kha như tập thơ Hoa cô độc, hai trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí, Trường ca Hòa bình, còn là những
tác phẩm lần đầu được công bố Bên cạnh đó là những bài viết về chính cuộc đời của Ngô Kha, một nhà thơ – nhà giáo luôn dấn thân cho sự nghiệp chung, một nhân cách đáng quý của kẻ sĩ trong thời loạn… Tất cả được khám phá từ góc nhìn của những bằng hữu, những văn nghệ sĩ - những người cùng thời xuống đường tranh đấu cho hòa bình trên đất Huế
Đến nay, tập sách Ngô Kha – Hành trình thơ, hành trình dấn thân và ngôi nhà vĩnh cửu do NXB Hội Nhà văn ấn hành (2013) được xem là cuốn sách ghi lại
đầy đủ nhất, đa chiều nhất về hành trình cuộc đời của nhà thơ, nhà giáo Ngô Kha cho dòng thơ siêu thực hiện đại Việt Nam, cho sự nghiệp giáo dục và cả Phong trào đô thị, của trí thức và sinh viên học sinh miền Nam lúc bấy giờ Tập sách gồm hơn 60 bài viết của một đội ngũ phê bình, nghiên cứu nhiều thế hệ ở cả ba miền và các đại học lớn ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế Trong tập sách, nhà nghiên cứu
Đỗ Lai Thúy, với bài viết Người Đọc không đãng trí, đã cho rằng “thơ siêu thực
Ngô Kha xứng đáng có một vị trí trên hành trình đi tìm cái khác của thơ Việt” [12, tr.40] Dịch giả - nhà nghiên cứu thơ Diễm Châu đánh giá Ngô Kha là nhà thơ siêu thực hay nhất, tiêu biểu nhất cả hai miền trước 1975 [12, tr.33] Huỳnh Như Phương thì khẳng định Ngô Kha là nhà thơ dấn thân đậm chất hiện đại nhất và có phong cách nhất… [12, tr.30] Không một ai có thể phủ nhận tài năng và vị trí của Ngô Kha trong nền thơ hiện đại Việt Nam, đặc biệt là trong địa hạt thơ siêu thực
Ngoài ra còn có thể kể đến một số bài nghiên cứu về tác phẩm của Ngô Kha
trên các tạp chí, các website uy tín như bài viết Thế giới siêu thực trong thơ Ngô Kha của Trần Thị Mỹ Hiền (đăng trên Tạp chí KH Văn hóa và du lịch, số 14, tháng
Trang 811/2003), bài viết Ngụ ngôn của người đãng trí - Bản trường ca siêu thực độc đáo của thi ca Việt Nam của ThS Diêu Phương Lan (đăng trên wessite khoavanhoc.edu.vn), bài viết Đãng trí mà minh triết của Hoàng Thụy Anh (đăng
trên website của Tạp chí văn nghệ quân đội)…
Như vậy, điểm qua tình hình nghiên cứu về thơ Ngô Kha, ta thấy các bài viết chủ yếu phát hiện và khai thác một cách chung chung về thơ và trường ca của Ngô Kha trên những phương diện đơn lẻ từ những góc nhìn và đánh giá mang tính cá nhân của người viết Đặc biệt chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu đi sâu vào khám phá dấu ấn siêu thực trong thơ ông Chính vì vậy, trên cơ sở lĩnh hội có chọn lọc những điểm nhìn và khám phá từ những bài viết trên, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu sâu hơn, rõ ràng hơn về yếu tố siêu thực này trong sáng tác thơ của Ngô Kha với
hai tập Hoa cô độc và Ngụ ngôn của người đãng trí
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biểu hiện của dấu ấn siêu thực trong thơ Ngô
Kha trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các tác phẩm thơ và trường ca của Ngô
Kha trước 1975, cụ thể là tập thơ Hoa cô độc (1961) và Ngụ ngôn của người đãng trí (1969)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như sau:
Trang 9- Phương pháp so sánh: Trong khóa luận, chúng tôi đã kết hợp so sánh chất liệu thơ Ngô Kha với thơ siêu thực của một số thi sĩ khác để thấy được nét độc đáo của yếu tố siêu thực trong Ngụ ngôn của Ngô Kha
- Phương pháp thống kê: Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để thu nhập, tính toán các số liệu xuất hiện trong trường ca như số lần xuất hiện của cái chết, của hình ảnh chiến tranh,
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Từ việc chỉ ra những nét nổi bật trong
tập thơ Hoa cô độc và trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí về cả nội dung và
nghệ thuật, tôi đã chia nhỏ các bộ phận và sau đó đi vào trong cấu trúc để phân tích, tìm hiểu, khai thác, khám phá mọi khía cạnh.Trên cơ sở đó, tôi có thể thấy một cách toàn diện hồn thơ Ngô Kha cũng như những giá trị cách tân về nghệ thuật của ông trong dòng thơ siêu thực này
- Phương pháp lịch sử: Từ việc giới thiệu về Chủ nghĩa siêu thực, sự ảnh hưởng của chủ nghĩa này đến dòng văn học Việt Nam, tôi đã đi từ tiến trình sự vận động tiếp nhận – cách tân của thơ Ngô Kha theo thời gian và những biến cố của lịch sử dân tộc đến những đổi mới trong chính tư duy của nhà thơ
Ngoài các phương pháp trên, tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như phương pháp diễn dịch – quy nạp, …góp phần làm nổi bật và hoàn thiện một cách tốt nhất công trình nghiên cứu của mình
5 Đóng góp của đề tài
- Khảo sát một cách có hệ thống tập thơ của Ngô Kha, góp phần đánh giá một cách tương đối toàn diện về khám phá, sáng tạo của Ngô Kha trên hành trình đưa yếu tố siêu thực vào thơ mình
Trang 10- Chỉ ra và làm nổi bật những nét hiện đại, độc đáo, siêu thực trong thơ Ngô Kha từ nội dung đến nghệ thuật
- Khai mở một hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu thơ Ngô Kha, góp phần khẳng định vị trí của nhà thơ trên chặng đường thơ trước 1975
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo thì phần Nội dung khóa luận được bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Thơ siêu thực và hành trình dấn thân đến với chủ nghĩa siêu thực của Ngô Kha
Chương 2: Dấu ấn siêu thực trong thơ Ngô Kha – nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Dấu ấn siêu thực trong thơ Ngô Kha – nhìn từ phương diện nghệ
thuật
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 THƠ SIÊU THỰC VÀ HÀNH TRÌNH DẤN THÂN ĐẾN VỚI CHỦ NGHĨA
SIÊU THỰC CỦA NGÔ KHA 1.1 Thơ siêu thực và sự tiếp nhận nó ở Việt Nam
1.1.1 Đặc trưng thẩm mĩ của thơ siêu thực
Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tư duy phân tích và tư duy duy lý bộc lộ nhiều bất cập Chúng không thể giải thích, thể hiện được phần tiềm thức, vô thức,
bí ẩn của những giấc mơ và thế giới tâm linh ẩn sâu trong tâm hồn con người Lúc này xuất hiện xu hướng quay về với đời sống tự nhiên, bộc phát về cảm xúc, hành
Trang 11động,… nên những phương pháp duy lý bị phủ nhận mạnh mẽ: “Không thể dùng tam đoạn luận để rút tỉa linh hồn của sự vật, cũng như không thể dung câu liêm để kéo con quỷ Lévithan trong thánh kinh” (Albérès) Đồng thời Albérès cũng phát hiện ra: “Cuộc sống của chúng ta thật nhiệm màu nó tránh xa phản ánh của lý trí…
Nó bị lôi cuốn bởi cái huyền bí và nó chống lại sự an bài của phép tắc ngoại hiện” (Albérès) Điều này, dẫn con người đến sự khủng hoảng tinh thần cực độ Những
bí ẩn của tạo vật, của con người và cuộc sống được khám phá và thể hiện bằng một trào lưu tư tưởng hoàn toàn mới Chủ nghĩa tượng trưng hình thành cuối thế kỉ XIX, và sau đó là chủ nghĩa siêu thực hình thành vào đầu thế kỉ XX bắt nguồn từ
cơ sở tư tưởng này
Chủ nghĩa siêu thực là một khuynh hướng văn học xuất hiện vào đầu thế kỉ
XX ở Pháp trên cơ sở thuyết phân tâm học của Freud và thuyết trực giác của Bergson Năm 1924, sau khi đã công nhận Tristan Tzara là một nhà tiên tri, André
Breton (1896 – 1966) cho ra đời Bản tuyên ngôn đầu tiên của chủ nghĩa siêu thực
(Premier Manifeste du Surréalisme) Ông tuyên bố: “Sự tự động tâm thần thuần khiết qua đó người ta dự định diễn đạt hoặc bằng ngôn ngữ, hoặc bằng tác phẩm, hoặc bằng bất kì một cách nào khác, sự vận hành thực sự của tư duy” Phần còn lại của bản tuyên ngôn mở rộng định nghĩa trên André Breton lên án lí trí và văn hóa,
ca tụng sức mạnh trọn vẹn của thế giới tưởng tượng và mơ mộng như là một phương thức hiểu biết Chủ nghĩa siêu thực dựa trên sự tin tưởng vào tính tự động hoàn toàn của ngôn ngữ được vô thức đọc cho và mục đích của nó là tạo ra hiệu lực
Đối tượng khám phá của chủ nghĩa siêu thực là thế giới vô thức Đó là thế giới của những giấc mơ, những điều kì ảo và ảo giác Một thế giới hoàn toàn không
có sự chi phối của tư duy duy lý Đây cũng là nguyên nhân hình thành lối viết tự động Kết quả của hình thức viết này tạo ra sức mạnh để tiếp cận một cách ngẫu
Trang 12nhiên những hiện thực mà tính logic hoàn toàn bất lực Người nghệ sĩ sáng tác dựa vào những kinh nghiệm của những biểu hiện vô thức như ảo giác, giấc mơ, sự mê sảng, hồi ức thơ ấu, hình ảnh, biểu tượng thần bí, … Bằng tất cả những gì có thể tiếp nhận bằng tất cả các giác quan mà nhà thơ có thể thâm nhập vào phía sâu thẳm của con người dựa trên thủ pháp của sự tương tự, sự bất ngờ, cái nghịch lí, sự tương liên của những cái vô cùng phi lý tưởng không bao giờ có thể tồn tại gần nhau
Các nhà siêu thực chủ trương đề xuất một cách nhìn, cách cảm, cách thể hiện hoàn toàn trái ngược với tất cả những phương cách đã có trước đó Họ giải thể lối viết cũ, tạo ra cấu trúc mới, cấu trúc nổi hay cấu trúc âm thanh, tiến vào cấu trúc không gian khiến cho tất cả các trật tự ngữ pháp trước đó bị đảo lộn hoàn toàn và cắt chữ phân câu theo một trật tự mới của quan niệm thẩm mĩ và triết lí gián đoạn Nếu như tư duy thông thường thì tất cả những hình ảnh, biểu tượng, thời gian, không gian trong thơ siêu thực trở nên vô cùng huyền ảo và phi lý gây ngạc nhiên, thậm chí là những cú sốc mạnh với người đọc Tuy vậy, đằng sau những sáng tạo phi lý ấy là sự nỗ lực và năng lực đặc biệt của các nhà siêu thực vì họ đã phản ánh được thực tại ở chiều sâu, ở những ẩn dấu thăm thẳm trong lòng sự vật
Với chủ nghĩa siêu thực, lần đầu tiên địa hạt của cái đẹp được mở rộng biên
độ về mọi phía Cái đẹp không chỉ đơn thuần là cái có ích, cái hiền lành thánh thiện
mà còn là cái rùng rợn, khủng khiếp…
1.1.2 Sự tiếp nhận thơ siêu thực ở Việt Nam
Với những đặc điểm nổi bật như trên, Chủ nghĩa siêu thực không chỉ có sức hấp dẫn đặc biệt ở Pháp, ở phương Tây mà còn trên phạm vi toàn thế giới Nó cũng
có sức hấp dẫn mạnh mẽ với nền văn học hiện đại Việt Nam
Trang 13Vào đầu thế kỷ XX, văn hóa và văn học Pháp du nhập vào Việt Nam một cách rầm rộ và rộng khắp Trong đó đặc biệt là sự hấp dẫn lạ thường của thơ siêu thực Giữa lúc ấy văn học Việt Nam xuất hiện nhu cầu đổi mới một cách cấp thiết Đổi mới trở thành nhu cầu nội tại hàng đầu trong sự tiếp xúc giữa Thơ mới Việt Nam với văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp
Các nhà thơ Việt Nam hiện đại cũng đã gặp gỡ các nhà thơ siêu thực Pháp ở một điểm là cùng sống trong một xã hội không như ý Một xã hội đầy rẫy những cái vô nghĩa vô lý Trước thực tại xã hội đó, các nhà thơ hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX phản ứng một cách kịch liệt
Sự gặp gỡ về tâm trạng, khát vọng, sự tương đồng về hoàn cảnh và đời sống tâm lý giữa các nhà thơ siêu thực và các nhà thơ hiện đại Việt Nam dẫn đến:
“Trường phái thơ tượng trưng, siêu thực được người ta chú ý hơn cả…Cái chính vẫn là sự gặp nhau của những tâm hồn trí thức bất mãn với xã hội đau buồn, chán nản, u uất khi phong trào cách mạng của quần chúng bị thất bại hoặc bị đàn áp dữ dội” (Phan Cự Đệ) Sự gặp gỡ này là tiền đề quan trọng góp phần hình thành những sáng tác mang yếu tố siêu thực trong văn học hiện đại Việt Nam Trời đất, vạn vật và con người đều có chung một nguồn gốc, giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau Mối quan hệ đó có thể được thể hiện qua những giấc mơ, qua vùng tâm linh, miền vô thức và đặc biệt là qua khả năng ngoại cảm của con người Chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực còn phát hiện ra một phần rất lớn của con người là vô thức, tiềm thức và bí ẩn của những giấc mơ, thơ ca có nhiệm vụ phải thể hiện được
và cũng chỉ có thơ ca mới thể hiện được những bí ẩn nằm sâu trong sự vật và thế giới bí ẩn của tâm hồn con người Người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng không thiên về tư duy logic, tư duy duy lý mà là tư duy hình tượng Tất cả mọi vấn đề đều được nhận thức, xử lý bằng hình tượng hoặc hệ thống các hình tượng Đây là đặc điểm phù hợp với tư duy thơ siêu thực
Trang 14Với sự gặp gỡ giữa các yếu tố chủ quan, khách quan, nhiều nhà thơ đã tiếp nhận thơ siêu thực để làm mới thơ hiện đại Việt Nam Trong quá trình hiện đại hóa thơ ca giai đoạn 1932 – 1945 phải kể đến sự đóng góp của các nhà Thơ mới như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh…Giai đoạn 1965 – 1975 có sự xuất hiện của Bùi Chí Vinh, Thái Ngọc San, Tần Hoài Dạ
Vũ, Ngô Kha…; giai đoạn đổi mới sau 1975 là sự tiếp nối của các thế hệ nhà thơ, trong đó nổi tiếng là Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo,…
1.2 Ngô Kha và sự tiếp nhận thơ siêu thực trên hành trình đổi mới tƣ duy thơ
1.2.1 Hành trình đến với thơ siêu thực
Kế thừa và phát huy những tinh hoa của thơ Việt những giai đoạn trước (Thơ mới 1932 – 1945, thơ thời kháng chiến chống Mỹ), đồng thời tiếp nhận quan điểm thẩm mỹ mới của chủ nghĩa hiện đại phương Tây, thơ Ngô Kha ngày càng vận động và nghiêng về khuynh hướng sáng tác thơ tượng trưng, siêu thực
Trong không khí náo nhiệt và nhiễm độc của chiến tranh được tung ra khắp phố phường miền Nam trong những năm 60, Ngô Kha cho xuất bản tập thơ đầu tay
mang tên Hoa cô độc – tập thơ xuất hiện như một nỗi buồn lặng lẽ và trong sạch,
thực chất là một thái độ hoài nghi và dừng lại trước lẽ sống bịa đặt mà chế độ Mỹ
và Ngô Đình Diệm đang rao hàng hết hơi trong tuổi trẻ thời buổi ấy Ngô Kha nói thủng thẳng với bóng mình:
Lần hồi sinh trên con tàu cuối cùng Chung quanh anh phù sa cát đỏ Anh hỏi thầm về đời mình:
- Gỗ đá có buồn không?
Trang 15- Chim chóc có buồn không?
Sau khi cho ấn hành tập thơ Hoa cô độc, Ngô Kha lại cho ra đời tập Ngụ ngôn của người đãng trí (1969) Đây là tác phẩm mà Ngô Kha gửi gắm rất nhiều
tư tưởng và thái độ của mình trong giai đoạn lịch sử mà chính tác giả là chứng nhân Một bản trường ca hùng tráng mà theo đánh giá của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thì trong tác phẩm này chứa đựng tất cả ngôn ngữ và hình tượng ám ảnh kinh hoàng về chiến tranh
Lúc Ngô Kha viết Ngụ ngôn của một người đãng trí là lúc chúng ta phải đối
mặt với dã tâm xâm lược bành trướng của chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ Huế là tuyến giữa của cuộc chiến, còn là kinh đô cũ của Việt Nam vốn tập trung nhiều khoa bảng Huế cũng là nơi Phật giáo có chỗ đứng và ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống văn hóa, là nơi có bề dày truyền thống yêu nước và cách mạng Bởi vậy, Huế trở thành mối quan tâm lớn của Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã thiết lập ở đây một bộ máy cai trị cực mạnh và thi hành chính sách thống trị tàn bạo nhằm bắt nhân dân Huế đi theo quĩ đạo của chúng, tiến hành đàn áp phong trào cách mạng Chính Ngô Kha, năm 1966, đã bị động viên vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức Bất mãn với chế độ Sài Gòn, Ngô Kha đã đấu tranh và là một trong những thành viên nòng cốt lãnh đạo chiến đoàn Nguyễn Đại Thức (đơn vị quân đội Sài Gòn li khai) Cuộc đấu tranh thất bại, Ngô Kha bị bắt lần đầu tiên và
bị đày đi Phú Quốc, tinh thần chàng trai tràn trề lòng nhiệt thành bị chấn động nghiêm trọng khi lần đầu tìm ra hướng đi lại bị đời vùi dập không thương tiếc Cũng thời gian này, cuộc hôn nhân của Ngô Kha tan vỡ Một đời sống chính trị bức bối, ngột ngạt, đòi hỏi sự lựa chọn quyết liệt; một niềm đau riêng nhiều khi âm
ỉ đã thai nghén nên thế giới siêu thực “người đãng trí”
Trang 16Với Ngụ ngôn của người đãng trí, tác giả đã cho người đọc thấy được sự
phân rã lớn trong tâm thức, đồng thời làm lay động một trái tim nhạy cảm đặc biệt Trong muôn vàn hướng đi, Ngô Kha đã chọn cho mình “sa mạc”, những “khoảng
vô hình”, những “ác mộng”, “hư vô”… như tiếng nói thầm thĩ, từ khước cuộc sống thực tại Không thể dung hợp với thực tại, nhà thơ tìm đến chốn hư vô, tìm đến mộng, đến khung trời siêu thực Điều đó đánh dấu một bước trưởng thành trong tư tưởng của ông, từ một thanh niên ngập tràn lý tưởng, mơ mộng nhưng từ trong tinh khôi đã thấy trước sự cô độc
Hành trình đến với dấu ấn siêu thực của Ngô Kha là một quá trình biến đổi tinh vi và lâu dài Bước vào thế giới thơ Ngô Kha, người đọc hoàn toàn choáng ngợp trước một lối ngôn ngữ kiến tạo mới lạ và huyền bí Nhà thơ có ý thức cách tân một cách tuyệt đối về mặt ngôn ngữ tạo ra hàng hoạt từ ngữ và câu thơ mới lạ
có sức gợi cảm mạnh mẽ Ngô Kha không sử dụng lại mô hình cấu trúc thơ truyền thống mà kiến tạo những câu thơ “phóng túng hình hài” với năng lực biểu thị thế giới tâm linh thầm kín của con người một cách tinh tế Với năng lực này thơ Ngô Kha có khả năng phá vỡ hoàn toàn mọi biên giới đế tìm đến chủ nghĩa siêu thực
1.2.2 Sự đổi mới tư duy thơ
Nhà văn Nam Cao đã khẳng định: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những
gì chưa ai có” Ngô Kha là người có ý thức rất rõ về điều này nên thơ ông là sự đổi mới trên mọi phương diện, nhưng trước hết, quan trọng và ấn tượng nhất là sự đổi mới về mặt tư duy thơ
Ngụ ngôn của người đãng trí được kiến tạo theo hình thức của chủ nghĩa
siêu thực hư ảo Chủ nghĩa siêu thực, trên cơ sở phân tâm học của Freud và thuyết trực giác của Bergson, muốn đưa lại một cách nhìn mới và chính xác về thực tế,
Trang 17một thực tế kết hợp giữa thực và mộng, giữa vô thức và ý thức, giữa có lý và phi
lý Và để có thể nhất thể hóa được hai thế giới, hai trạng thái ấy, các nhà siêu thực
đề ra lối viết tự động và nhấn mạnh đến thế giới của hình ảnh Lối viết tự động đưa đến sự tự do, có thể thể hiện được tính đa chiều kích của hiện thực và của thế giới tâm hồn, nó phá tan những mô hình cổ kính của vần luật Khi không còn vần luật
và những trói buộc của hình thức thì hình ảnh dường như chiếm dụng toàn bộ bài thơ, hình ảnh tạo nên và là chất thơ Cho nên thơ siêu thực là “những va đập chói lòa của từ ngữ”, nó đánh mạnh vào trực giác và trí tưởng tượng, kết hợp với lối
viết tự động, mở ra một thế giới chông chênh, nhiều đối nghịch và phi lí
Hiện thực trong thơ là hiện thực của đời sống xã hội và hiện thực của tâm hồn con người Trong thơ của Ngô Kha đầy rẫy những hiện thực của cuộc sống thời chiến mà suốt một thời gian dài người ta tìm mọi cách để né tránh Ngô Kha
đã cảm nhận cuộc sống từ nhiều chiều, nhiều phương diện và nhiều trạng thái tâm
lí khác nhau Kiểu tư duy mới mẻ này cho ta bắt gặp trong thơ những ảo giác, những vùng khuất, vùng mờ tâm linh, những mảnh vỡ kí ức hòa quyện với thực tại, tâm thức và tiềm thức đan xen tạo nên một trường ca với dấu ấn siêu thực đậm nét Trong dòng chảy đó, Ngô Kha có đóng góp không nhỏ cho sự đa dạng, phong phú của một xu hướng thơ nói riêng và thành tựu của thơ hiện đại nói chung
CHƯƠNG 2 DẤU ẤN SIÊU THỰC TRONG THƠ NGÔ KHA – NHÌN TỪ PHƯƠNG
DIỆN NỘI DUNG
2.1 Hoa cô độc – những hạt mầm đầu tiên của lối tư duy siêu thực
2.1.1 Từ nỗi ám ảnh triền miên về tình yêu và cuộc sống…
Cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam những năm 1954 – 1975 lúc bấy giờ đang dần đi vào sự khốc liệt nhất cả về bề mặt lẫn bề sâu Ở đây ta không nhấn
Trang 18mạnh những tàn phá về vật chất mà chiến tranh gây ra Cái tác động nhiều nhất đến tâm thức người Việt lúc đó chính là hành động tàn bạo, dã man mà đế quốc Mỹ thi hành trên đất nước Việt Nam Chính sách “thay màu da trên xác chết” cùng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” vô hình trung đã làm sâu sắc thêm tính chất của một cuộc chiến tranh phi nhân đến tận cùng của bọn đế quốc Chính điều này làm tổn thương đến tâm hồn bao thế hệ thanh niên miền Nam lúc ấy Ở họ, cái hồn nhiên, tin tưởng không còn nữa Ở họ đã có cái lo âu và bất mãn, đã có cả sự suy tưởng và nỗi rã rời Họ vẫn sống, vẫn yêu nhưng trong tình yêu ấy, trong đời sống
ấy đã phảng phất một nỗi buồn phiền, những toan tính Con người cảm thấy mất niềm tin thật sự với mọi giá trị cuộc sống Những giá trị đạo đức dần bị “đôla hóa”, con người vì vật chất, tiền bạc, lối sống xa hoa, hào nhoáng bên ngoài mà sẵn sàng bán rẻ dân tộc, đất nước Cuộc sống lúc này hiện ra với tất cả bản chất trần trụi nhất Điều đó tạo thành một sự dằn vặt, ghê sợ cứ bám riết trong tâm hồn thi sĩ Ngô Kha, thành một nỗi ám ảnh triền miên
Chính điều đó đã thai nghén nên hồn thơ Ngô Kha – thầy giáo dạy văn trường Quốc học và các trường khác ở Huế ngày ấy Năm 1961, Ngô Kha cho ra
đời Hoa cô độc như bước đánh dấu cho sự nghiệp thơ ca của mình Tập thơ là sự
tập hợp một số bài thơ tình lãng mạn, những hạt mầm đầu tiên cho sự ra đời thơ siêu thực của Ngô Kha
Còn gì là cuộc sống khi:
tôi mãi nhìn pháo nổ trên thây người thân gục ngã
muôn làn máu đổ thân ngã gục muôn người giãy giụa mắt hờn căm đỏ rực chiến chinh
(Điên)
Trang 19Mọi lý lẽ, giá trị của cuộc sống mà con người hằng kì vọng đều bị xáo trộn, phá vỡ Trong tâm thức của con người lúc bấy giờ, Chúa, Phật điều không còn tồn tại, không ai có thể ra tay cứu rỗi loài người hay mang tự do đến cho con người khi lòng tham và sự nhẫn tâm lên đến tột đỉnh
Trong cuộc đời đầy đau thương, bất trắc, anh không nhận được gì ngoài đau khổ, và thế nên càng sống, càng tìm hạnh phúc thì chỉ càng nhận được sự cô đơn, lạc lõng:
những đòn roi đau buốt trên vết hằn cừu hận của loài người những thanh gươm loáng thép
…
kẻ quen thuộc vây quanh mang vẻ mặt lạnh lùng nhân chứng Nếu như Thanh Tâm Tuyền mạnh mẽ lên tiếng tuyên bố Tôi không còn cô độc trong tập thơ cùng tên thì Ngô Kha cũng không kém phần mạnh mẽ khi viết
hoa cụm từ khẳng định như đóng một nhát đinh chát chúa vào cuộc đời:
Tôi lên tiếng VẪN CÒN CÔ ĐỘC
(Ám ảnh)
Cuộc đời không còn tràn ngập sắc màu của yêu thương, không còn tươi đẹp như ước vọng của con người Kiếp nhân sinh chỉ như cánh phù du lạc loài, vô vị, một kiếp sống thừa Những trí thức trong các đô thị miền Nam lúc bấy giờ cũng có những tâm sự giống như những anh chàng “đầu thai nhầm thế kỉ” những năm đầu thế kỉ XX
Cùng một dòng tâm thức ấy, cái tuổi đôi mươi của anh chàng trí thức Ngô Kha từng tâm sự:
Anh ngủ cuộc đời
Trang 20trên chăn chiếu ẩm
úp mặt vào trang sách còn nghe hương thơm em phảng phất lòng tay còn hình ảnh đôi mắt em thèm thuồng uống ấy vòng ngang lưng em cuối xuống
cuộc đời chúng mình không còn xa lạ
bơ vơ
dù chỉ là ảo ảnh bên ngoài trời mưa
trời mưa không ngớt đại lộ than khóc nghĩ về chúng mình cuộc đời tàn trong ánh mắt đêm
(Đêm 30)
Nói như triết lý nhà Phật, Ngô Kha cho rằng nhân gian chỉ là cõi tạm, con người chỉ làm một cuộc du hành, tạm trú, rồi cũng có lúc sẽ ra đi:
Ta đã từ quê hương xa lắm như vị thần lạc nẻo trời cao quay về đây tinh tú hôm nào
từ vô cực trở về hạ giới
(Ưu tư)
Đi suốt cuộc đời vẫn không thể hiểu cuộc đời là gì, hoàn toàn bơ vơ, trơ trọi Con người như đứng giữa hai bờ vực thẳm, tìm đời thực nhưng chỉ gặp toàn bóng tối hư vô:
muôn ánh mắt tìm về vực thẳm Đời hiện tại như một niềm bí ẩn
Trang 21(Ưu tư)
Về cảm thức này, ta cũng có thể bắt gặp trong những ca khúc thấm đẫm chất
vị hiện sinh của Trịnh Công Sơn, một người bạn rất thân của Ngô Kha Tất cả tạo nên cảm thức u buồn, chút bi quan không thành hình nhưng cũng đủ cho đời trăn trở Có chăng tất cả những gì tồn tại trên thế gian này đều là một kiếp trọ? “Tôi nay
ở trọ trần gian, trăm năm về chốn xa xăm cuối trời…” (Ở trọ - Trịnh Công Sơn)
Con người sống trên thế gian này chỉ là “cõi tạm”, luôn thấy mình bơ vơ, không quê hương, hay nói như Sartre “Quê hương là chốn lưu đày” Họ sống như những
người “tị nạn”, những đứa trai lạc loài (Người con trai), kẻ hành khất (Ngụ ngôn của người đãng trí), kẻ lưu đày (Bức họa đồ tình yêu, Ám ảnh), hay kiếp vong thân
đòi đoạn mãi:
tôi chỉ là một kẻ vong thân khát tình thương chẳng thiết phân trần còn cái bã con người
xin trả lại…
(Điên)
Và cũng chính vì “địa ngục là tha nhân” nên con người luôn có cảm giác xa
lạ với thế giới xung quanh, không tìm ra sợi dây liên hệ nào với cuộc đời, không tìm đâu ra chốn trú ngụ bình yên trong tâm hồn Mang trong mình tâm thức của kẻ lưu vong, những vần thơ lúc nào cũng in đậm sự xơ xác, tiêu điều:
Hồn Do-thái bơ vơ Trước mắt hàng thép gai tua tủa Thế kỉ 20 xa lạ
(Khúc ca tình yêu)
Xã hội ngày một văn minh hiện đại, nhưng hiện đại trong cái ảo ảnh xô bồ, hỗn loạn những giá trị ngụy tạo Là một trí thức tương tri, Ngô Kha không hòa
Trang 22nhập được và cũng không đủ sức để chống đối lại nên càng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng:
anh ngồi bất động một góc những chuỗi cười rùng rợn vang lên nước mắt lóng lánh nhỏ xuống vũ trường anh bềnh bồng trong bóng tối
cái nhìn chiếu hào quang vào đêm
vũ trường biến đi anh hồi sinh
có tiếng hát và giọng ngâm thơ dịu dàng xuôi theo dòng suối
anh muốn đến gần em
có người kéo lại anh khóc như đứa trẻ lạc loài
(Tiếng nói)
Cuộc đời giống như cỗ máy khổng lồ vận hành bởi bàn tay của tạo hóa, tất
cả thật rời rạc không chút cảm xúc, không chút liên hệ nào với thế giới tâm tư của con người:
Bâng khuâng ga nhỏ tàu cũng đi luôn Bầu trời cô đơn buồn dâng kín lối
Trang 23Có gì đẹp hơn yêu em?
một ngày tuy không hò hẹn tâm tư vẫn tìm về nhau anh nhìn bóng đêm cuối tháng nghẹn ngào thời gian ko còn chung thủy
Yêu em anh tin cuộc đời…
(Có gì đẹp hơn yêu em) Nhưng cũng thật bất ngờ, ngay sau bài thơ Có gì đẹp hơn yêu em là hình ảnh
của người con trai mang đầy dự báo về một cuộc đời cô độc:
…nó trốn chạy khúc nhạc buồn gợi nhớ tên em nên trở về đây
ôm tượng đá lạnh lùng tưởng linh hồn con gái
…tay cầm vừng trăng ném xuống công viên anh chỉ thấy đời dài bằng cô độc
(Người con trai)
Đó là đỉnh cao của mơ ước nhưng rồi ngay sau đó lại phải đối mặt với một thực tế phũ phàng Kẻ thất tình như lạc vào mê cung tình yêu không tìm thấy lối ra bởi bóng tối của hoang liêu và ngờ vực:
em bỏ ra đi những ngọn đèn tím đỏ viễn phương còn là thành phố…
nếu được gần em chỉ cần một âm giai
Trang 24thì chúng ta đâu còn đơn lẻ”
(Người con trai)
Có lúc Ngô Kha đã đau đớn khóc cho cái chết của một tình yêu:
đêm cuối cùng mùa đông nếu đời không còn có mai sau anh sẽ viết bài điếu văn nhân thế
và tạc mồ bia em
(Đêm ba mươi)
Có một bóng hồng thấp thoáng trong thơ ông:
còn nghe hương thơm em phảng phất lòng tay còn hình ảnh đôi mắt em thèm thuồng uống lấy
(Đêm ba mươi)
Với Ngô Kha, mọi thứ càng buồn hơn khi tình yêu cũng không thể là nơi cứu cánh cho tâm hồn Bởi tình yêu lúc bấy giờ cũng bị vật chất hóa, tình yêu không còn vẻ thanh khiết, trọn vẹn như ban đầu, tình yêu không còn đủ sức để cứu rỗi một linh hồn đang rơi vào tuyệt vọng Hình ảnh “em” mang bóng dáng cuộc đời, nhưng ngay cả trái tim em trọn đời anh cũng không thể nào hiểu hết:
Em hát trên môi câu thần bí Tôi tìm trọn đời không giải nổi lời ca
(Khúc ca tình yêu)
Tập thơ cũng cho thấy dự cảm về một trái tim rạn vỡ, một chút u tối trong
tâm hồn nhà thơ Tình yêu đối với Ngô Kha bây giờ như tan tành, rách nát khiến
Trang 25anh lạc lõng giữa cuộc đời Tình yêu mang người ta về với nguồn cội, nhưng bây
giờ tình yêu cũng mất, anh không thể nào níu kéo được:
tình yêu chết
để tang trong thầm lặng mộng vỡ rồi như lạc mẹ chiều xuân…
ở nơi đây mà xa vắng muôn trùng
là tất cả ngày đi không trở lại
Tình đã chết một đời trẻ dại hương đã buồn kết trái cô đơn tuổi hoa niên nào ai khỏi tủi hờn đêm tỉnh dậy nghe linh hồn lạnh cóng…
(Hoa niên)
Không có tình yêu, anh như người đi trên sa mạc không la bàn chỉ lối Tất cả
đổ vùi theo giông bão cuộc đời, anh đánh mất đời và cũng đánh mất anh:
Tây Bá Lợi hay miền Bắc tuyết phủ
Ta đi đày Sahara hay thành trì hoang rợ
…
ô đèn đường xua đuổi ta đi linh hồn ta nấm mộ hoang linh hồn ta nắm mộ hoang Sahara mênh mông
(Bức họa đồ tình yêu) vẫn còn đi…
đi mãi
Trang 26Hai cánh tay anh bơ vơ…
(Đêm 30)
Tìm đến thế giới siêu thực, Ngô Kha xem đó là cách thể nghiệm sự suy nghĩ, hòa trộn giữa thực và mộng, nhập vào thế giới mới hơn để tìm ra không gian riêng cho mình Nó cho thấy một sự bi quan chán nản đến cùng cực, không còn tin vào thực tại, bao nhiêu biến cố đã làm cho trái tim ấy có lần tan nát Không tìm ra lối thoát, và bất mãn với những gì đang diễn ra trước mắt, anh thanh niên tuổi đôi mươi tràn trề sức sống và khát khao tình yêu đã thốt lên một cách cay đắng rằng:
Âm thầm như rừng hoang héo dần trái cô độc
trên các ngõ em đi vào lòng đời tôi còn đợi mãi
… phải chăng, tôi không còn gặp em dồn bao niềm khao khát viết trọn lên trang giấy bài thơ là bản kinh cầu nguyện mỗi vần ôm ấp một niềm tin
(Khúc ca tình yêu)
Cũng từ đây, chính lòng khát khao tình yêu và cuộc sống đã khiến “tôi là kẻ điên” như một nỗi ám ảnh triền miên khi anh không thể thoát ra khỏi cái bào ảnh của cuộc đời
2.1.2 …đến sự hòa nhập giữa thực và mộng trong niềm cô độc
Mở đầu hành trình thơ ca với Hoa cô độc, tác giả đưa chúng ta vào một miền
âm u, chật chội nhưng có khi cũng rộng đến vô cùng Thế giới siêu thực dường như
Trang 27chỉ tồn tại hai miền sáng tối, nhưng nếu siêu thực của Hàn Mặc Tử là một thế giới toàn năng bởi ánh trăng, cái trăng sáng ngời, cái trăng nhập nhoạng và mờ ảo thì thế giới của Ngô Kha lại bao trùm bởi bóng tối, bóng tối của hư vô, giữa thực và mộng trường cửu như cái đại lộ thăm thẳm của cuộc đời Đại lộ ấy giống như một dòng sông đêm trải dài muôn nẻo, mang đến bao nhiêu đau thương cuồng nộ, tăm
tối, hoang rợ Thế giới mà Hoa cô độc mang đến chất đầy những bóng đêm
Cảm nhận cô độc đã thấm sâu trong những bài thơ của Ngô Kha để trở thành hình tượng “hoa cô độc”, cô độc đến tuyệt vọng ngay trong đêm giao thừa mở đầu một năm mới Ở đó bóng tối bao trùm như chúa tể vạn năng làm mặt trời cũng méo
mó, đớn đau, tan vỡ:
Đại lộ 30 mắt em tròn 16 anh chán nản cuộc đời vẫn còn đi…
đi mãi hai cánh tay anh bơ vơ dài lên
bằng địa cầu như hai người tuyệt vọng
…Đại lộ 30 nhìn bàn tay em thần thánh lên cao
Trang 28và lên cao hồn anh vừa rụng cánh đại lộ dòng sông đêm mặt trời vô hình tan vỡ
(Đêm 30)
Hay:
mưa điên cuồng gió loạn bóng đen làm mặt trời còng lưng
người ca bài sám hối trên bàn tay lạnh lùng
(Bài thơ hôm nay)
Bản thảo cuộc đời, bản thảo địa đàng vẫn mãi hoang vu, nguyên sơ, trinh bạch Ở đó cũng có cuộc sống nhưng thấp thoáng bóng hình của con người thuộc hai thế giới đối lập nhau: hoặc rất ngây thơ trong trẻo, hoặc rất khổ đau, tang thương và hoang dã Thế giới ấy có những mảng đối lập vô cùng lạ lẫm, mọi vật như có linh hồn và thức tỉnh rất tinh khôi Thực và mộng, thiên đàng và hạ giới,
lịch sử và tương lai trong phút chốc nhập thành một:
Ta đã từ quê hương xa lắm như vị thần lạc nẻo trời cao
Trang 29quay về đây tinh tú hôm nào
từ vô cực trở về hạn giới
… trời thủy tinh đổ vỡ tan tành muôn ánh mắt tìm về vực thẳm
(Ưu tư)
Giữa ánh sáng và bóng tối vẫn còn có chỗ cho những khoảng âm u, mờ nhạt, nhưng chút ánh sáng le lói không đủ sức để thắp sáng một linh hồn, không thể làm tan hết bóng đêm nặng trịch và tàn nhẫn kia Người con trai thấy mình lạc vào một cõi nào xa lắm và trong cuộc hành trình ấy, anh vẫn đi tìm em như khát khao tìm thấy chút ánh sáng mong xua đuổi bóng đêm trong tâm hồn anh chìm vào giấc ngủ vạn kỷ để rồi khi tỉnh dậy cũng chỉ thấy hoang liêu, ngơ ngác trước cuộc đời Cái hồn của cảnh nhập vào cái tình của người càng làm cho nỗi hoang liêu càng thêm
xa vắng:
Bàn tay tâm sự bỗng thấy hoang liêu Rừng cây sâu thêm đau niềm căm tức Lưng trời phiêu bạt thơ thẩn về đâu Sương rơi trên đầu ướt triền má em Tâm tình dứt, khúc nhạc cũng buồn nôn Bâng khuâng ga nhỏ tàu cũng đi luôn Bầu trời cô đơn buồn dâng kín lối
Trang 30(Tiễn em)
Thế giới ấy thẳm sâu vô cùng, khó ai nhìn thấy nếu không co thắt hết biên
độ của sự nhạy cảm Ngô Kha là người đã làm được điều đó Với một con người khi sinh ra trên đời vốn dĩ đã rất cô đơn, thì còn gì cô đơn hơn là cái chết - tận cùng của niềm đơn độc Thế nên tìm đến với cô đơn là tìm về với bản thể của chính
mình Bởi tự mệnh danh là Hoa cô độc nên trong thơ ông xuất hiện rất nhiều nỗi
ám ảnh về cái chết và sự cô độc Người đọc sẽ không khỏi ám ảnh khi bắt gặp những từ như “mồ bia”, “điếu văn”, “linh hồn”, “vành khăn tang”, “mồ rêu cỏ mọc”, “băng hà”, “mồ hoang”, “chết”, “hỏa ngục”,… Ta có cảm tưởng như chính tâm thức đặc biệt đó mà đôi khi trong các bài thơ tác giả đã nhìn thấy được trước cái chết của mình
Ngoài cảm thức đặc biệt về thế giới, nguyên nhân thứ hai khiến hồn thơ thi
sĩ phát tiết tinh hoa phải chăng là vết thương không bao giờ liền sẹo Nó có tác động rất lớn tới tâm hồn, là mạch dẫn vô tận đến suối nguồn của vô thức, trong cái thẳm sâu của con người Ai đó đã nói rằng, khi yêu người ta như được trở về với cội nguồn của mình Bởi nhìn đâu họ cũng thấy đẹp, thấy yêu thương và gắn bó với mọi người, sẽ không có cảm giác cô độc Có lẽ vì thế mà khi thất tình con người có cảm giác mình đang bị bứt ra khỏi nguồn cội Họ luôn thấy bơ vơ, lạc vào một cõi
vô hình nào xa xôi lắm:
phượng cầu hoàng héo hắt chờ đợi
dù phượng hoàng chúa tể chim trời yêu tiếng nói tuyệt vời
anh còn yêu em mãi
Trang 31(Có gì đẹp hơn yêu em)
Thế giới tình yêu trong thơ ông mới đẹp đẽ, thanh khiết làm sao, như huyền thoại, tình yêu vốn gắn liền với thế giới tuyệt đẹp mang sắc thái thượng giới Đó là đỉnh cao của mơ ước nhưng rồi ngay sau đó lại phải đối mặt với một thực tế phũ phàng Kẻ thất tình như lạc vào mê cung tình yêu không tìm thấy lối ra bởi bóng tối của hoang liêu và ngờ vực:
Em bỏ ra đi!
những ngọn đèn tím đỏ viễn phương còn là thành phố
nó đớn đau rời qua Phi châu làm quân tình nguyện con đường bệnh hoạn hôm nay
nếu được gần em chỉ cần một âm giai thì chúng ta đâu còn đơn lẻ
(Người con trai)
Con đường yêu đương giờ biến thành bức họa đồ quanh co, không còn tìm thấy lối ra Người con trai ấy chếnh choáng, cô đơn, khô gầy không còn chút niềm tin Anh với tay hái lấy vầng trăng ngày ấy, vầng trăng anh từng tôn vinh và thèm khát ném xuống giữa cuộc đời Khi choàng tỉnh khỏi cơn mơ, tất cả chỉ còn là niềm
cô độc
Âm hưởng của những câu thơ siêu thực đầu đời, gắn với những cảm xúc siêu hình phảng phất tính siêu thực về sự cô độc, bơ vơ, tuyệt vọng…đã phát họa lên
Trang 32hình ảnh và tâm thức của những người trí thức, người nghệ sĩ trẻ lớn lên ở đô thị miền Nam đầu thập kỉ 1960 Những điệp khúc “cô đơn”, “độc hành”, “lạc loài”, “u hoài”, “hoang liêu”, “linh hồn đơn chiếc”, “linh hồn cháy xém”, “linh hồn lạnh cóng”… được Ngô Kha đưa vào thơ không chỉ là ảnh hưởng từ những trào lưu của triết học và văn học hiện đại phương Tây mà còn là những khắc khoải giằng xé từ một thực trạng của đô thị miền Nam, không ngừng vang vọng trong tập thơ đầu tay của Ngô Kha:
tôi ngồi chờ viễn cảnh mồ côi tôi mãi nhìn pháo nổ trên thây người thân gục ngã
muôn làn máu đổ thân ngã gục muôn người giẫy giụa mắt hờn căm đỏ rực chiến chinh thét điên cuồng
loạn cả kinh thành chiều tận thế!
van xin người tỉnh lại
(Điên)
Bằng một giọng thơ lặng lẽ, đầy trăn trở, khác xa với những giọng thơ lãng
mạn cuối kỳ còn rớt lại, tập thơ Hoa cô độc của Ngô Kha đã mang hơi hướng của
Trang 33phong cách thơ siêu thực với những thi ảnh và cảm xúc siêu hình mới, đầy hình
tượng triết lí đương đại Hoa cô độc mới là khúc dạo đầu, ẩn giấu những ray rứt và
ám ảnh về tình yêu, về lẽ sống và số phận của quê hương, đất nước, được thể hiện bằng một phong cách thơ siêu thực ở buổi đầu Cuộc hành trình trong miền tâm thức ấy tuy chưa thật sự về đến đích nhưng cũng để lại sức lay động rất lớn, tạo ra nhiều ám ảnh, dư ba Phải trải qua một thời gian nung nấu, dằn vặt bởi số phận bi thương của chính mình và thực trạng đất nước, thơ Ngô Kha mới thực sự chuyển
mình với bản trường ca độc đáo Ngụ ngôn của người đãng trí
2.2 Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí – đỉnh cao trong địa hạt viết bằng
lối cảm nhận siêu thực
Cuộc lang thang của thi sĩ với nỗi cô đơn phận người, cộng thêm một trời máu lửa chiến tranh trên quê hương yếu dấu, đã đẩy tâm hồn Ngô Kha đến cõi
tuyệt vọng Đó là hoàn cảnh ra đời của Ngụ ngôn của người đãng trí của Ngô Kha
vào năm 1969, năm chiến tranh vào hồi ác liệt nhất Trong khoảng 8 năm sau khi
tập thơ đầu tay Hoa cô độc (1961) ra đời, anh còn để lại một số bài thơ rời, vẫn phảng phất hơi hướng của giọng thơ siêu thực buồn bã như Xác ướp (1962), Ngõ hoang vu vào tình yêu (1963), Gió (1964), Mai về ngồi nghỉ (1966), nhưng đã bắt
đầu hé lộ những khát khao vùng vẫy của “tên vong mạng”, của “đôi cánh ngông
cuồng và rồ dại” Phải đến tập trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí, thi pháp thơ
siêu thực của Ngô Kha mới phát triển đến đỉnh điểm Tập trường ca dài 788 câu với 8 phân đoạn dài dằng dặc, đánh dấu giai đoạn dấn thân đầu tiên của Ngô Kha, vừa vùng vẫy mình để thoát khỏi bạo lực của chiến tranh và nỗi buồn của cuộc hôn nhân bị tan vỡ, vừa bắt đầu tham gia các hoạt động đấu tranh chống chế độ độc tài,
đòi dân chủ đầy sôi động ở Huế từ 1963 đến 1968 Nói cách khác, Ngụ ngôn của người đãng trí là tiếng thét đòi giải thoát khỏi không gian tù ngục: “Khoảng hư vô
Trang 34như cánh tay gối đầu/ Giấy trắng là cánh đồng của bầy ngựa già đi lang thang” Ngụ ngôn bắt đầu với lời đề từ siêu thực như thế
2.2.1 Sự hiện diện của những giấc mơ, của vô thức và trí tưởng tượng
Các nhà siêu thực xem sự tồn tại của các giấc mơ là cơ sở để khẳng định cái
tôi, cái bản ngã thuần khiết nhất Nếu như Hoa cô độc cơ bản là những bức khảm lạnh lẽo về hiện thực thì Ngụ ngôn của người đãng trí là sự triền miên của miền vô
thức với sự chắp nối của những giấc mơ Trong lí thuyết phân tâm học của Freud, giấc mơ là hình thức ngụy trang tuyệt vời nhất của những xung lực và ước mơ bị dồn nén Không thể dung hợp với thực tại một đời sống chính trị bức bối ngột ngạt của chế độ Mỹ - Diệm và niềm đau riêng về cuộc hôn nhân tan vỡ, nhà thơ tìm đến chốn hư vô, tìm đến mộng, đến khung trời siêu thực như một phương tiện cứu cánh Vì chỉ có nơi đó, con người mới không phải đối mặt với thực tại phi nhân, những gông cùm mà chế độ áp đặt lên con người Theo Freud, thế giới vô thức là nơi duy nhất không chịu sự chi phối của lí trí, ở đó con người được hoàn toàn tự
do Đây là một phần quan trọng trong chủ thể mà chủ nghĩa hiện sinh luôn đề cao
Ngụ ngôn của người đãng trí ra đời có lẽ cũng không nằm ngoài vùng ý nghĩa đó Thế giới siêu thực trong Ngụ ngôn của người đãng trí là thế giới của mộng, của
chiêm bao, của trí tưởng tượng và hơn cả, nó được khúc xạ qua tầng vô thức của một kẻ đãng trí nên hư vô càng tiếp hư vô, siêu thực lại càng trở về siêu thực
“Đãng trí” ở đây có nghĩa là phủ nhận thực tại, là sự chống lại cái quyền lực đang
cưỡng ép người ta phải thừa nhận một thực tại phi nhân
Nếu Hoa cô độc tạo nên một thế giới siêu thực trong tâm trạng, “bản tốc ký tâm trạng trên bản thảo cuộc đời” không có dấu vết của sự bôi xóa thì đến Ngụ ngôn của người đãng trí, thế giới siêu thực không đơn giản chỉ tồn tại trong nội tâm mà tuôn chảy từ dòng ý thức của một kẻ đãng trí Nếu Hoa cô độc siêu thực
Trang 35bằng những hình ảnh nhẹ nhàng, những cung bậc cảm xúc trải đều trong tâm thức
thì Ngụ ngôn của người đãng trí là bản phối lạ với những hình ảnh, những mảng
màu bất chợt rời rã nhưng lại được liên kết với nhau một cách tự nhiên trong cùng một mạch liên tưởng Ta như lạc vào một miền đất lạ, một thế giới hoang sơ với những con người vô tư, say rượu, những kẻ hành khất… Phải chăng đó là chốn trú ngụ bình yên, sẽ không có lý trí nào có thể điều khiển được họ, tất cả đều là ngẫu nhiên Nếu ai đó nói rằng “thơ Ngô Kha là một nỗi cô đơn trên cuộc hành trình
dằng dặc đi tìm chính mình” thì Ngụ ngôn của người đãng trí là một chặng dài trên
nẻo đường thiên lý ấy [11, tr.285]
Bản thân nhà thơ cũng phân thân thành hai, ba thực thể, nhân vật: không chỉ
ở chỗ vừa là “tôi” vừa là “người đãng trí”, và vừa là “người say rượu” hay “đứa con trai”…, mà những nhân vật được tách chiết ra từ chính nhà thơ cũng tiếp xúc, đối thoại với nhau như thể đang cùng tồn tại trong một thế giới huyền thoại nào đó Hay nói cách khác, tiếng nói của những nhân vật đó, thực chất chính là hiện thân cho tiếng nói của nhân vật tôi Và cứ thế, những u uẩn bên trong vô thức, sự đối lập giữa thực và mộng, những giấc mơ, ảo giác và những ám ảnh nối nhau hiện lộ trong bản trường ca của nhà thơ Thủ thuật phân thân này phù hợp với mạch tâm trạng vô thức, phù hợp với cái nhìn của người đãng trí, tự nguyện, có chủ ý, trước những bế tắc của vận nước và tình riêng mà chính mình chưa tìm ra lối thoát
Qua lăng kính của “người đãng trí”, hiện thực cuộc sống bị lệch pha, nhòe
mờ Nhất là, những thi ảnh vốn dĩ xa lạ nay trú ngụ trong một ngôi nhà, cùng hành trình vào một thế giới ma mị, kì ảo, đối nghịch hoàn toàn với hình ảnh của thực tại
Những hình ảnh trong Ngụ ngôn của người đãng trí đa phần không chịu bất kì sự
kiểm duyệt nào của lý trí, thẩm mĩ, đạo đức, tư tưởng…, mà chỉ “phục tùng” sức mạnh của dòng chảy vô thức Bằng thủ thuật phân thân, nhà thơ phá vỡ tuyến tính,