Nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam quyển 1 và 2 2015 cũng đã khái quát một vài đặc điểm của truyện cổ tích mang màu sắc Phật giáo như: “Phần lớn truyệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hoàng Thị Tú Anh
DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG TRUYỆN NGẮN NAM BỘ
ĐẦU THẾ KỈ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hoàng Thị Tú Anh
DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG TRUYỆN NGẮN NAM BỘ
ĐẦU THẾ KỈ XXI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS BÙI THANH TRUYỀN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan nội dung nghiên cứu trong luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Bùi Thanh Truyền Các kết quả nêu trong luận văn đều có cơ sở khoa học Mọi trích dẫn trong luận văn đều
có xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2019
Tác giả
Hoàng Thị Tú Anh
Trang 4Công trình này hoàn thành, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả luận văn thực sự rất cảm kích và cảm thấy mình thật sự rất may mắn vì đã được yêu thương giúp đỡ
Trước hết, xin chân thành cảm ơn PGS.TS Bùi Thanh Truyền, người thầy hướng dẫn rất tận tâm, tận tình giúp đỡ, giảng giải, bổ khuyết những kiến thức liên quan đến đề tài luận văn cho người viết Thầy cũng luôn động viên tinh thần, tạo cơ hội và điều kiện để người viết tham gia nhiều hơn nữa vào các Hội thảo nghiên cứu
về văn học Chỉ tiếc rằng, trong khả năng và thời gian có hạn, người viết chưa thực
sự đáp ứng mong mỏi và kì vọng của thầy Xin cảm ơn thầy và hứa sẽ luôn tiếp tục
cố gắng
Em xin cảm ơn các thầy cô giảng dạy bộ môn lớp Văn học Việt Nam K28 Nhờ sự nhiệt tình và yêu thương của thầy cô mà em và cả lớp đã hoàn thành chương trình Cao học và thực sự học được những điều bổ ích để vận dụng vào trong luận văn và cả trong quá trình công tác sau này
Em cũng xin cảm ơn lãnh đạo và các thầy cô phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm TP.HCM vì đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành đúng kế hoạch học tập, đạt được kết quả tốt nhất Xin cảm ơn lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Ban Giám hiệu và thầy cô tổ bộ môn Văn trường THPT Bình Phú (TP.Thủ Dầu Một, Bình Dương) vì đã tạo điều kiện và sắp xếp thời gian để em được đi học nâng cao chuyên môn Đồng thời, cũng xin gửi lời tri ân đến các cán
bộ, thủ thư ở Thư viện trường ĐH Sư phạm TP.HCM, Thư viện tỉnh Bình Dương vì
đã tạo cơ hội để người viết tra cứu thông tin, phục vụ cho việc viết luận văn được tốt hơn
Trong quá trình tìm hiểu và viết, tác giả luận văn đã được trò chuyện, trao đổi với một số nhà văn Nam Bộ như Trần Bảo Định, Nguyễn Trí, Võ Diệu Thanh
để hiểu thêm về một số khía cạnh của tác phẩm Xin cảm ơn các cô chú rất nhiều
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bè bạn, học sinh đã luôn động viên và giúp đỡ để tiếp thêm sức mạnh cho người viết hoàn thành luận văn
Xin tri ân tất cả với một tấm lòng nhiệt thành nhất!
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các sơ đồ
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ PHẬT GIÁO NAM BỘ, KHUNG NGHIÊN CỨU CỦA NINIAN SMART VÀ TRUYỆN NGẮN NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI 14
1.1 Khái quát về Phật giáo Nam Bộ 14
1.1.1 Phật giáo Nam Bộ là một bộ phận hữu cơ của Phật giáo Việt Nam 14
1.1.2 Một vài đặc điểm của Phật giáo Nam Bộ 16
1.2 Khung nghiên cứu tôn giáo của Ninian Smart và triển vọng vận dụng vào nghiên cứu truyện ngắn Nam Bộ 18
1.2.1 Sơ lược về khung nghiên cứu tôn giáo của Ninian Smart 18
1.2.2 Triển vọng vận dụng khung nghiên cứu tôn giáo của Ninian Smart vào tìm hiểu dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ 22
1.3 Vài nét về truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI 24
1.3.1 Quan niệm về truyện ngắn Nam Bộ 24
1.3.2 Sự đan xen truyền thống – hiện đại và sự tiếp biến văn hóa như là những xu hướng của truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI 26
1.3.3 Truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI mang dấu ấn Phật giáo – dòng riêng giữa nguồn chung 27
Chương 2 DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG TRUYỆN NGẮN NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 31
2.1 Dấu ấn Phật giáo trong đề tài 31
2.1.1 Đề tài đạo đức 32
2.1.2 Đề tài thế sự 33
Trang 62.2.1 Duyên nợ trong tình yêu đôi lứa 37
2.2.2 Nhân quả, nghiệp báo, luân hồi như là quy luật chi phối và hình thành các nguyên tắc sống 40
2.2.3 Sự vô thường của cuộc sống con người 49
2.2.4 “Đời là bể khổ” và niềm tin tình thương sẽ thay đổi thế giới 51
2.2.5 Tư tưởng sinh thái Phật giáo 56
2.3 Dấu ấn Phật giáo trong thế giới nhân vật 60
2.3.1 Nhân vật có lòng tin tưởng, sùng kính đạo Phật 60
2.3.2 Nhân vật khiếm khuyết về nhân cách và con đường sám hối, hoàn lương 62
2.3.3 Nhân vật sư – “thật” và “giả” 64
2.3.4 Nhân vật có sự chuyển dịch giữa hai thái cực xuất gia – hoàn tục 69
2.4 Dấu ấn Phật giáo trong tiếng nói đối thoại và hòa trộn tôn giáo, tư tưởng 71
2.4.1 Đối thoại về những vấn đề đời sống 71
2.4.2 Pha trộn các sắc màu tôn giáo trong xã hội hiện đại 75
Chương 3 DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG TRUYỆN NGẮN NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC 80
3.1 Nghệ thuật kể chuyện kiểu Phật giáo 80
3.1.1 Lối kể đa dạng, linh hoạt 80
3.1.2 Sử dụng biện pháp, yếu tố nghệ thuật bổ trợ 84
3.2 Không gian nghệ thuật mang màu sắc Phật giáo 88
3.2.1 Không gian hòa quyện giữa đạo và đời 89
3.2.2 Không gian lánh đời – nơi nương náu về mặt tinh thần, thoát ly đời sống thế tục 91
3.2.3 Không gian nghi lễ và không gian gắn với những hoạt động Phật giáo 92
3.3 Ngôn ngữ với sự tiếp biến linh hoạt vốn từ vựng của Phật đạo 97
3.3.1 Cách đặt tên gợi những tư tưởng Phật giáo 97
Trang 73.4 Giọng điệu đậm cảm quan Phật giáo 107
3.4.1 Giọng điệu triết lí 108
3.4.2 Giọng điệu cảm thương 109
3.4.3 Giọng điệu hoài nghi 110
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 8Sơ đồ 1.1 Các con đường hình thành Phật giáo Nam Bộ 15
Sơ đồ 1.2 Bảy khía cạnh của tôn giáo theo khung nghiên cứu của Ninian
Trang 9Bảng 2.1 Dẫn chứng về sự pha trộn tôn giáo, tư tưởng trong truyện ngắn Nam
Bộ đầu thế kỉ XXI 76 Bảng 3.1 Thống kê tên các vị Phật trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI 93 Bảng 3.3 Địa danh các chùa cụ thể trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI 96 Bảng 3.3 Thống kê các từ, cụm từ Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu
thế kỉ XXI 99
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vào năm 1999, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua nghị quyết công nhận ngày Vesak là ngày lễ hội văn hóa thế giới và thừa nhận các đóng góp to lớn của Phật giáo cho thế giới Năm nay, từ ngày 11 đến 14/05/2019, Việt Nam vinh dự được chọn làm nơi tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak lần thứ 16 diễn ra tại chùa Tam Chúc (Hà Nam) Nằm trong chuỗi hoạt động này, Hội thảo khoa học
quốc tế Cách tiếp cận của Phật giáo về sự lãnh đạo toàn cầu và trách nhiệm cùng chia sẻ vì xã hội bền vững cũng được tổ chức với hai ngôn ngữ trình bày chính:
tiếng Việt và tiếng Anh (Minh Phương đưa tin, 2019) Những gì diễn ra đã khẳng định rõ ràng rằng Phật giáo đang ngày càng phát huy sức ảnh hưởng to lớn của nó, thể hiện sức mạnh của một tôn giáo luôn hướng tới hòa bình, lợi ích chung của thế giới, đồng thời luôn quan tâm đến những vấn đề xã hội trong thế kỉ mới
Việt Nam vốn là một quốc gia có truyền thống về Phật giáo Đã từ lâu, Phật giáo được xem là người bạn đồng hành vui buồn cùng dân tộc Việt, gần gũi với bao người dân Việt:
“Trang sử Phật, Đồng thời là trang sử Việt Trải bao độ hưng suy,
Có nguy mà chẳng mất”
(Hồ Dzếnh) Những sự khó khăn, nhọc nhằn, những lúc thịnh suy, con người ta tưởng chừng rơi xuống vực thẳm nhưng những câu kinh kệ, những lời giáo huấn, những trang giáo lý đã là nguồn động viên, soi sáng và giúp họ vững bước trong gian lao Nam Bộ là một vùng đất mới, tính cách con người phóng khoáng, chân chất, hồn hậu, thẳng thắn, yêu ghét rõ ràng Như một lẽ tự nhiên, con người nơi đây cũng tìm đến Phật giáo như một chỗ dựa tinh thần, như suối nguồn của lòng yêu thương và tin tưởng
Trong nhiều thể loại của văn học, truyện ngắn là thể loại được yêu thích và ngày càng phát triển nhanh bởi những nhiều lợi thế do đặc điểm của thể loại mang
Trang 11lại, nói như Huỳnh Như Phương và Lê Văn Thảo trong bài Giới thiệu truyện ngắn Thành phố Hồ Chí Minh: “Có thể nói truyện ngắn vẫn đang được những cây bút
thủy chung bền bỉ khơi dậy sức sống tiềm tàng của nó” (Huỳnh Như Phương, Lê
Văn Thảo, 2013) Nhìn vào thực tế đời sống văn học thế kỉ XXI này, chúng ta dễ
dàng nhận ra có nhiều gương mặt, tên tuổi mới, số lượng tác phẩm tăng lên chóng mặt, phạm vi khai thác và hiện thực phản ánh cũng được mở rộng và khai thác tối
đa, nghệ thuật biểu hiện cũng được cách tân và đổi mới theo kịp với nền văn học nghệ thuật của thế giới Có nhà văn chọn tiếp nối những đề tài đã có từ trước, cũng
có những tác phẩm đi vào đề tài mới mà trước đây vì xem là “cấm kị” nên không được nói tới, hoặc có nói tới thì cũng rất e dè Có thể nói rằng truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ XXI đã đạt được một số thành tựu đáng kể với nhiều xu hướng phát triển, phù hợp với tâm thế thời đại nhưng vẫn giữ được nét truyền thống, quen mà
lạ, lạ mà quen
Từ trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ XXI, truyện ngắn Nam Bộ đã khẳng định được vị thế của mình với những khuynh hướng, dấu ấn riêng, trong đó có dấu ấn Phật giáo Truyện ngắn Nam Bộ hòa nhập vào cái nền
chung nhưng vẫn có bản sắc không thể xóa nhòa Chúng tôi chọn đề tài Dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI để tiếp cận và nghiên cứu
trong luận văn này cũng chính là bởi sự hấp dẫn và mới mẻ ấy
2 Lịch sử vấn đề
Trong quá trình đi vào tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan Để tiện theo dõi và tra cứu, chúng tôi sắp xếp thành ba mảng: các công trình nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo và Phật giáo Nam Bộ; các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học; các công trình nghiên cứu truyện ngắn Nam Bộ từ góc nhìn Phật giáo
2.1 Các công trình nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo và Phật giáo Nam Bộ
Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam, Nam Bộ đã trải qua một quá trình
phát triển lâu dài Tư tưởng Phật giáo cũng được tìm hiểu nhiều, cụ thể như trong
Lời Phật dạy : tìm hiểu nguyên lý Phật giáo nguyên thủy (Walpola Rahula - Lê Diên dịch, 1994); Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tư tưởng Phật
Trang 12Giáo Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, 1999); Tám quyển sách quý (Thích Thiện Hoa, tái bản năm 2018) … Đáng chú ý là bộ sách Dẫn luận về Phật giáo gồm 4 cuốn: Dẫn luận về Phật giáo, Dẫn luận về Đức Phật, Dẫn luận về đạo đức Phật giáo, Dẫn luận về Phật giáo Tây Tạng Đây là bộ sách thuộc series sách “A very short
introduction” của Oxford university press (xuất bản tại Việt Nam năm 2016), được viết bởi những tác giả nước ngoài nhưng am hiểu về Phật giáo, và kiến giải vấn đề dưới góc nhìn khoa học Tuy là một tôn giáo nhưng Phật giáo cũng được nhìn nhận
về mặt triết học với thế giới quan và nhân sinh quan cụ thể Về điểm này chúng ta
có thể kể đến công trình Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam: Tập 1, Từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV của tác giả Nguyễn Hùng Hậu (2002)
Cũng có thể kể thêm những công trình nghiên cứu đặt Phật giáo trong dòng
chảy của văn hóa dân tộc Đó là: Phật giáo với văn hóa Việt Nam (Nguyễn Đăng
Duy, 1999); Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam - Tập 2, Phật giáo và đạo giáo trong văn hóa Việt Nam (Nguyễn Khắc Thuần, 2012); Phật giáo trong lòng người Việt (Hạnh Nguyên, Ngọc Lam tuyển chọn, 2013)… Những công trình nghiên cứu
cụ thể này đã góp phần khẳng định chỗ đứng, vị thế của Phật giáo trong lòng người dân Việt và sự gắn bó của Phật giáo với văn hóa dân tộc Ngoài ra, chúng tôi còn
lưu ý đến Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phật giáo với các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc (Thích Nhật Từ, Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý đồng chủ
biên, 2014) Kỷ yếu này tập hợp nhiều bài viết của các tác giả nước ngoài và trong nước nghiên cứu về sự ảnh hưởng và đóng góp của Phật giáo với các vấn đề của xã hội hiện đại như kinh tế, môi trường, đạo đức… Một số bài viết ở đây có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi
Phật giáo Nam Bộ cũng được nghiên cứu tìm hiểu, dù ít nhưng có thể kể đến
các công trình của nhà nghiên cứu Trần Hồng Liên: Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ (thế kỉ XVII đến 1975) (2000); Phật giáo Nam bộ: Từ thế kỷ XVII đến 1975 (2004); và Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh (2007) Đây là
những công trình tập hợp những bài viết nghiên cứu, lí giải một số khía cạnh trong đời sống Phật giáo ở Nam Bộ, chẳng hạn như nét đặc sắc của ngôi chùa Việt ở Nam
Bộ, sự giao lưu văn hóa trong Phật giáo Nam bộ, những nét riêng biệt về kiến trúc,
Trang 13tính lịch sử và văn hóa của những ngôi chùa cụ thể ở Nam Bộ… Mới đây, công
trình Vùng đất Nam Bộ (do nhóm các nhà nghiên cứu đầu ngành biên soạn) gồm 10
tập đã đi sâu vào tìm hiểu nhiều mặt về đặc điểm địa lý, sinh thái, văn hóa xã hội
của Nam Bộ Trong đó, Vùng đất Nam Bộ, Tập 7: Đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo
và sinh hoạt văn hóa (2017) đã nêu cụ thể về Phật giáo của người Khmer, người
Việt, người Hoa ở Nam Bộ Công trình này là nguồn tư liệu quý báu cho chúng tôi khi tiếp cận vấn đề đang nghiên cứu trong luận văn
Ngoài ra còn có luận văn Thạc sĩ Tính dung hợp của Phật giáo người Việt ở Nam Bộ của Nguyễn Thị Thêm (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn
TP.HCM, 2013) Công trình này nghiên cứu sâu về một đặc điểm của Phật giáo người Việt của Nam Bộ, đi vào lí giải nguyên nhân và những biểu hiện cụ thể của tính dung hợp Phật giáo
Những công trình kể trên sẽ tạo tiền đề để chúng tôi tiếp tục khơi mở và đi vào làm sáng tỏ dấu ấn Phật giáo thể hiện trong truyện ngắn Nam Bộ
2.2 Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học cổ Việt Nam
Sự ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học là khá rộng rãi Trong văn học Việt Nam, chúng ta có thể thấy được sự ảnh hưởng này ở văn học dân gian, văn học trung đại Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học hiện đại sẽ được đề cập đến ở chương 1
Đối với văn học dân gian, sự ảnh hưởng này khá đậm nét Lệ Như Thích
Trung Hậu đã tìm và sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ, những câu chuyện dân
gian mang màu sắc Phật giáo trong hai quyển: Ca dao tục ngữ Phật giáo Việt Nam (2002) và Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật giáo (2004) Trong phần
“Dẫn nhập” đầu sách Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật giáo, tác giả
đã bàn về màu sắc Phật giáo trong truyện cổ và sau đó đi vào nhận định chung về giá trị của các truyện cổ mang màu sắc Phật giáo Tác giả cũng nói rõ: “Tư tưởng Phật giáo trong các truyện cổ chỉ mang tính bàng bạc, nhẹ nhàng, trầm lắng, có khi
mơ hồ, lẫn lộn hoặc dung hòa với những tư tưởng, tín ngưỡng khác” (Lệ Như Thích
Trung Hậu, 2004) Hoàng Thị Huế trong Luận văn Thạc sĩ triết học Thuyết nhân
Trang 14quả Phật giáo trong văn học dân gian Việt Nam (Trường ĐH Khoa học xã hội và
Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội, 2014) cũng bàn sâu hơn về một tư tưởng quan trọng của Phật giáo – luật nhân quả
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam quyển 1 và 2 (2015) cũng đã khái quát một vài đặc điểm của truyện cổ tích mang
màu sắc Phật giáo như: “Phần lớn truyện mang màu sắc Phật giáo là những truyện
cổ tích thế sự”; “hiện tượng khai thác đề tài tình duyên để chuyển tải ít nhiều tư tưởng có liên quan đến đạo Phật”, “tuy loại truyện mang chủ đề tôn giáo chiếm số lượng ít, người Việt lại có khá nhiều truyện dường như là để cảnh giới người tu hành” Những nhận xét này tuy ít nhưng rất xác đáng, bước đầu đã khơi mở và gợi
ra điểm nhìn mang tính chất so sánh giữa truyện cổ với truyện đương đại về Phật giáo Những vấn đề tiếp sau chúng tôi sẽ nói rõ trong nội dung triển khai luận văn của mình
Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy những Luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ văn học Việt
Nam nghiên cứu về góc độ này như Truyện dân gian Việt Nam về Phật giáo nhìn từ góc độ loại hình của Đỗ Văn Đăng (Luận văn Thạc sĩ Trường ĐHSP TP HCM, 2005), Truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước Đông Nam Á nghiên cứu dưới góc độ so sánh loại hình của Nguyễn Hữu Nghĩa
(Luận văn Thạc sĩ Trường ĐHSP TP HCM, 2009) Hai luận văn này nghiên cứu mảng truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo dưới góc độ so sánh loại hình, có
sự so sánh mở rộng với truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo ở các nước khác
trong khu vực Đông Nam Á Luận văn Văn hóa Phật giáo qua ca dao - tục ngữ người Việt của Vũ Thị Hạnh Trang (Luận văn Thạc sĩ Trường ĐH Khoa học xã hội
và nhân văn TP.HCM, 2014) đi sâu vào khai thác và nêu lên được những điểm nổi bật của văn hóa Phật giáo thể hiện trong ca dao và tục ngữ Việt Nam Có thể thấy rằng tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa cũng khá tâm đắc những truyện cổ có yếu tố Phật
giáo và tiếp tục nghiên cứu vấn đề này trong luận án Tiến sĩ Truyện cổ dân gian có yếu tố Phật giáo của Việt Nam và Myanmar nghiên cứu theo hướng tiếp cận bối cảnh (Trường ĐHSP TP HCM, 2018) Những luận văn, luận án trên cũng là nguồn
tư liệu tham khảo hữu ích cho người viết khi thực hiện đề tài luận văn của mình
Trang 15Đối với văn học trung đại, sự ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học là rất rõ
ràng, đặc biệt chúng ta còn có cả một nền văn học Phật giáo Có thể kể đến như
Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam Tập 1 (Lê Mạnh Thát, 2001), Văn học Phật giáo thời Lý - Trần: Diện mạo và đặc điểm (Nguyễn Công Lý, 2003) Mới đây, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Văn học Phật giáo Việt Nam: Thành tựu và định hướng nghiên cứu mới (Nguyễn Công Lý, Đoàn Lê Giang chủ biên, 2016) cũng đã tập hợp
nhiều bài viết nghiên cứu có giá trị về tư tưởng Phật giáo trong thơ thiền của các thiền sư Việt Nam, về cái Tâm trực ngộ và kiểu tư duy “trực cảm tâm linh” khi đọc
thơ thiền Luận án Tiến sĩ triết học Nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du – giá trị và hạn chế của Hồ Ngọc Anh (Học viện chính trị quốc gia
TP.HCM, 2014) cũng nghiên cứu một tác phẩm nổi bật trong nền văn học trung đại dưới góc nhìn nhân sinh quan Phật giáo
Những công trình này đều chỉ ra được sự ảnh hưởng của Phật giáo trong các tác phẩm, từ đó nêu lên ý nghĩa và giá trị của việc sử dụng yếu tố Phật giáo, góp phần khẳng định Phật giáo vẫn luôn ngầm ẩn trong tâm thức người Việt từ bao đời nay
2.3 Các công trình nghiên cứu truyện ngắn Nam Bộ từ góc nhìn Phật giáo
Truyện ngắn Nam Bộ là một bộ phận hữu cơ quan trọng, không thể tách rời với truyện ngắn Việt Nam Khảo sát truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn Phật giáo ở những tác giả cụ thể như Nguyễn Trí, Trần Bảo Định, Lê Văn Thảo, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Diệu Thanh, Lê Minh Nhựt, Nguyễn Vĩnh Nguyên… chúng tôi thấy có những công trình như sau
Một số vấn đề trong truyện ngắn Nguyễn Trí đã được nghiên cứu trong Luận
văn Thạc sĩ như: Nghệ thuật tự sự của Nguyễn Trí qua “Bãi vàng, đá quý, trầm hương” và “Đồ tể” (Chu Thị Thu Hồng, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2, 2015); Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Trí (Đào Thị Lan Anh, ĐH Khoa học – ĐH Thái Nguyên, 2017); Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Trí (Phạm Thị Phương
Nga, Học viện Khoa học xã hội, 2018) Những công trình này chủ yếu đi sâu nghiên cứu truyện Nguyễn Trí từ góc độ thi pháp học, đã nêu lên được những đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Trí từ thế giới nhân vật đến nghệ thuật tự sự Tuy nhiên, truyện
Trang 16ngắn của Nguyễn Trí vẫn chưa được tiếp cận dưới góc độ văn hóa, liên ngành
Ngoài ra, chúng tôi cũng lưu ý đến bài viết Diễn trình sinh thái trong văn xuôi Nam
Bộ của tác giả Bùi Thanh Truyền in trong Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ
(2018) với nhận định: “Môtip quả báo, nghiệp báo là một âm hưởng chủ đạo trong những sáng tác về sinh thái của cây bút miền Đông Nam Bộ này” (Bùi Thanh Truyền, 2018) Đây là ý kiến khá gần gũi và có phần gợi mở với đề tài của chúng tôi
Một cây bút Nam Bộ khác cũng đáng lưu ý là Trần Bảo Định Nguyễn Khắc
Phê trong bài viết Người kể chuyện dân gian hiện đại (báo Văn Nghệ, 30/01/2017)
nhận định truyện của Trần Bảo Định có tính chất triết lý, có nêu lên dẫn chứng mang yếu tố Phật giáo nhưng không nhận định trực tiếp về dấu ấn Phật giáo trong
truyện của ông Cũng là Nguyễn Khắc Phê nhưng trong bài Trần Bảo Định – Một tác giả đặc sắc trong dòng văn học sinh thái (Tạp chí sông Hương, 01/12/2017), ông lại nêu lên yếu tố sinh thái trong tạp bút Chim phương Nam của Trần Bảo Định
Chúng tôi lưu ý đến bài viết này vì tuy chỉ đề cập đến chất sinh thái trong tạp bút nhưng đây cũng là đặc điểm chung cho các sáng tác của Trần Bảo Định Ngoài ra chúng tôi còn lưu ý đến nhận định của Huỳnh Như Phương trong Lời bạt của tập
Bông trái quê nhà (2018): “… nét riêng của Trần Bảo Định có lẽ là sự kết hợp bước
đầu chủ nghĩa nhân bản Phật giáo với chủ nghĩa nhân văn sinh thái” (Huỳnh Như Phương, 2018) Ý kiến này rất xác đáng và có giá trị với hướng nghiên cứu của đề tài
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đa phần được nghiên cứu dưới góc độ nội
dung, thi pháp như Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nguyễn Thành Ngọc Bảo, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, 2008), Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Lương Thị Hải, Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên, 2012)… Liên quan đến đề tài của chúng tôi là bài viết Cảm quan Phật giáo trong thế giới nghệ thuật của “Cánh đồng bất tận” của Phan Thu Hiền (Niên giám Bình
luận văn học, Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP Hồ Chí Minh, 2012) đã
phân tích cụ thể để thấy được Cánh đồng bất tận được tái hiện như một thế giới
nghệ thuật với chủ đề “Hạn chế sân hận, trải rộng tình thương”, qua đó thể hiện một
Trang 17thông điệp giàu ý nghĩa và nhân văn của Phật giáo, cũng là những giá trị chung của nhân loại
Truyện của Lê Văn Thảo chủ yếu được nhìn nhận và phân tích dưới nhiều
góc độ: nội dung, kĩ thuật viết… Tiêu biểu là bài viết Truyện ngắn Lê Văn Thảo: cái lạ, cái nhạt và cái thật của Huỳnh Như Phương (Lời bạt tập Lên núi thả mây)
Tạp chí Văn học Việt online cũng có một chuyên đề về nhà văn Lê Văn Thảo tổng hợp một số bài phỏng vấn nhà văn, một số bài viết nhận định về truyện của nhà văn
này như: Tôi chỉ muốn làm người kể chuyện nghe chơi (Đoàn Thạch Biền thực hiện), Lê Văn Thảo – nhà văn của xứ sở Nam bộ (Lê Tiến Dũng)… Chưa có bài viết
nào tiếp cận truyện của Lê Văn Thảo dưới góc nhìn văn hóa, cụ thể là Phật giáo
Võ Diệu Thanh cũng là một cây bút trẻ ở Nam Bộ Bài viết nghiên cứu về
truyện ngắn của nhà văn này còn ít, trong số đó có Khóa luận tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn “Cô con gái ngỗ ngược” của Võ Diệu Thanh của
Đỗ Minh Châu (ĐH Cần Thơ, 2011) Nhà sách Vinabook.com khi giới thiệu tập
truyện Gạt nước mắt đi đã dẫn lại từ báo Phụ nữ lời nhận xét của Dương Kim Thoa
- BTV Đài Tiếng nói Việt Nam: “…Không hiểu sao tôi tin Võ Diệu Thanh đã đọc
nhiều sách nhà Phật lắm trước khi viết tập truyện Gạt nước mắt đi Cũng có thể
cuộc sống đã dạy cho chị nhiều trải nghiệm đáng quý Rằng làm người thì phải dũng cảm chịu thiệt, nhưng cũng không thể vì thế mà để tấm lòng chai sạn, lạnh trơ
trước những khốn khổ của đồng loại” Nhận xét này cũng có điểm tương đồng với
quan điểm của chúng tôi khi tiếp cận và nghiên cứu truyện của nữ nhà văn này
Với Lê Minh Nhựt, đa phần các bài viết đều nhận định về chất Nam Bộ, chất
sinh thái trong văn của anh: Bài Tấm lòng quan trọng hơn… của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (Lời bạt tập truyện Những đám mây bốc cháy); Những trang văn dậy mùi đất (Tạp chí văn nghệ quân đội, 30/05/2017); Nhà văn Lê Minh Nhựt – gã “Giang
hồ vặt” (Báo Cà Mau, 17/07/2017) Yếu tố Phật giáo trong truyện của Lê Minh
Nhựt chưa được đề cập, mặc dù có xuất hiện trong tác phẩm
Với cây bút Nguyễn Vĩnh Nguyên, chúng tôi chú ý đến nhận xét của Trần
Viết Thiện trong bài Tín ngưỡng dân gian và diễn trình trở lại của yếu tố huyền thoại trong văn xuôi Việt Nam đương đại (Trang web trường ĐH Sư phạm
Trang 18TP.HCM, 19/12/2011): “Motip hóa thân, luân hồi là “triệu chứng” thường thấy trong sáng tác của nhiều cây bút: Nguyễn Vĩnh Nguyên, Hoàng Ngọc Thư, Nhật Chiêu, Phan Đức Nam, Nguyễn Minh Châu, Hà Khánh Linh, Ngô Tự Lập,… Trong truyện ngắn “Đổi mặt” của Nguyễn Vĩnh Nguyên, sự hóa thân người/chó, chó/người đã tạo nên những ám gợi lớn về kiếp người.” (Trần Viết Thiện, 2011) Như vậy, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam bộ đầu thế kỉ XXI Chọn đề tài này, chọn nghiên cứu về tác phẩm của những tác giả mới tuy sẽ khó khăn vì chưa có ai khai phá hoặc có đề cập đến thì cũng chỉ là rất ít, rải rác nhưng cũng là một thuận lợi và động lực để tạo nên tính mới cho đề tài của chúng tôi, là khoảng trống để luận văn
đi sâu vào nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của mình là những truyện ngắn ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI Các truyện này cũng nằm trong những tập truyện đã được in ấn, xuất bản Đó cũng là điều kiện thuận lợi cho chúng tôi khi tiếp cận tác phẩm, đảm bảo được độ chính xác cao nhất về mặt nội dung và hình thức của tác phẩm được khảo sát Tên các truyện ngắn cụ thể được liệt kê thành một bảng riêng trong phần Phụ lục
Trong quá trình tiếp cận đối tượng nghiên cứu, chúng tôi cũng thấy có một vấn
đề thú vị, đó là sự “tương tác thể loại” Trong công trình Văn học thế giới mở
(2010), nhà nghiên cứu Nguyễn Thành Thi đã nói đến vấn đề tương tác thể loại và
sự tương tác đó cũng có thể diễn ra trên các loại quan hệ khác nhau Khảo sát đối tượng nghiên cứu trong luận văn, chúng tôi thấy rất rõ điều đó Chẳng hạn, truyện
ngắn – tiểu thuyết hóa như Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Nhãn tiền, Đồ tể (Nguyễn Trí), Đứa con trở về (Lê Văn Thảo)…; truyện ngắn – kí “vừa có những
yếu tố của truyện vừa có sự tham gia trực tiếp của tư duy nghiên cứu” (Hoàng Ngọc
Hiến, 1997) như các truyện Bông vạn thọ, Bạc Liêu nhãn đầu mùa, Chôm chôm mùa nhớ… trong tập Bông trái quê nhà (Trần Bảo Định) Thực tế này cũng cho thấy
Trang 19sự biến hóa đa dạng của truyện ngắn hiện nay – vấn đề tương tác thể loại, sự dồn nén và giãn nở, khả năng vô cùng của truyện ngắn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do phạm vi đề tài rộng nhưng thời gian có hạn và để đảm bảo chất lượng luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu chủ yếu những tác phẩm của những tác giả tiêu biểu: Lê Văn Thảo, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Trí, Trần Bảo Định, Võ Diệu Thanh, Bích Ngân, Nhật Chiêu, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Lê Minh Nhựt, Mạc Can, Nhật Tuấn Những tác phẩm của những tác giả khác nếu được nhắc đến thì cũng nhằm mục đích mở rộng, so sánh để làm rõ những vấn đề nêu ra trong luận văn mà thôi Tác phẩm được chọn là những tác phẩm được sáng tác vào thời gian đầu thế kỉ XXI (từ năm 2000 đến 2019 – thời điểm thực hiện luận văn) Nội dung của tác phẩm có nói về những tư tưởng, triết lý Phật giáo, hình thức thể hiện mang dấu ấn Phật giáo Tuy vậy, tùy từng truyện ngắn cụ thể mà mức độ thể hiện ảnh hưởng của Phật giáo sẽ khác nhau Đây cũng điều minh chứng cho sự đa dạng và phong phú của truyện ngắn Nam Bộ viết về Phật giáo
4 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu kĩ về dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI về hai phương diện: nội dung và nghệ thuật Những triết lý, tư tưởng Phật giáo thể hiện qua đề tài, nhân vật, cốt truyện, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu… mang màu sắc Phật giáo là những điểm được lưu ý cụ thể và triển khai thành các đề mục trong luận văn Từ đó, chúng tôi sẽ bước đầu phác họa bức tranh về truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn Phật giáo
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp:
5.1 Phương pháp hệ thống: đặt truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI trong
dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam để thấy được nét tương đồng và điểm độc đáo, khác biệt
Trang 205.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp: phân tích tác phẩm cụ thể để chỉ ra
những dấu ấn Phật giáo trong tác phẩm, sau đó tổng hợp lại theo luận điểm để đưa
ra cái nhìn toàn cảnh
5.3 Phương pháp so sánh: so sánh đồng đại (truyện của những tác giả cùng
thời), so sánh lịch đại (với tác phẩm dân gian, trung đại…) để làm làm rõ hơn vấn
đề
5.4 Phương pháp liên ngành: những kiến thức về văn hóa, địa lý, lịch sử, tôn
giáo… cũng được vận dụng để làm sáng tỏ hơn những nhận định trong luận văn
Nhà nghiên cứu Thu Giang Nguyễn Duy Cần trong Phật học tinh hoa đã nhắc
đến sự phân biệt giữa “Phật học” và “Phật giáo” Theo đó, “Phật học thiên về triết học hơn, mà Phật giáo thiên về phần tôn giáo hơn” (Thu Giang Nguyễn Duy Cần, 2014) Tuy sự phân biệt này có tính chất tương đối nhưng trên tinh thần đó, luận văn của chúng tôi xét thấy có liên quan nhiều đến tôn giáo nên chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và đề xuất sử dụng khung nghiên cứu về tôn giáo của nhà nghiên cứu Ninian Smart Khung nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận tôn giáo gồm 7 khía cạnh, trong đó tập trung vào các khía cạnh chính để khảo sát và làm rõ Nội dung cụ thể chúng tôi sẽ trình bày thành một mục riêng nhỏ ở chương 1 Đây cũng là vận dụng phương pháp liên ngành để phù hợp với đề tài
Ngoài những phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng những thao tác khoa học để bổ trợ như thống kê, sơ đồ hóa để làm rõ hơn những vấn đề được nêu ra và giải quyết trong luận văn
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên phác thảo một cách khá hệ thống và đầy đủ về diện mạo của truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI dưới góc nhìn Phật giáo
Sử dụng kết hợp khung nghiên cứu về tôn giáo của Ninian Smart để làm rõ hơn về dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI, hướng tới cách tiếp cận mới và khoa học hơn
Ngoài ra, Luận văn có ý nghĩa và giá trị tham khảo nhất định cho người nghiên cứu muốn tìm hiểu sâu hơn về dòng văn học chịu ảnh hưởng của Phật giáo nước ta
Trang 217 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương chính:
Chương 1: Khái lược về Phật giáo Nam Bộ, khung nghiên cứu của Ninian Smart và truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI
Chương này nêu lên vài nét về con đường hình thành, một số đặc điểm của Phật giáo Nam Bộ Khung nghiên cứu về tôn giáo của Ninian Smart cũng được triển khai thành một mục nhằm giới thiệu một lý thuyết mới và soi chiếu lý thuyết này vào thực tiễn sôi động của văn học có màu sắc Phật giáo ở Nam Bộ Truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI cũng được tìm hiểu trên những nét cơ bản Những nội dung
ở chương 1 là phần cơ sở lí luận và thực tiễn, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu ở
chương 2 và chương 3
Chương 2: Dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI – nhìn
từ phương diện nội dung
Chương này đi vào làm rõ dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế
kỉ XXI ở phương diện nội dung Đó là những tư tưởng, triết lý Phật giáo được thể hiện trong truyện, những đề tài khai thác, những nhân vật ít nhiều chịu ảnh hưởng
bởi Phật giáo ở cách nhìn, nói năng, suy nghĩ…
Chương 3: Dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI – nhìn
từ phương diện hình thức
Chương này đi vào làm rõ dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế
kỉ XXI ở phương diện hình thức Đó là việc tạo dựng cốt truyện, không gian nghệ
thuật Phật giáo, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu… mang màu sắc Phật giáo
Xét trong chỉnh thể cấu trúc, Chương 2 và Chương 3 có mối quan hệ chặt chẽ theo hướng bổ trợ cho nhau, góp phần thể hiện đóng góp mới của luận văn, bởi lẽ:
- Thông thường, chúng ta thường nhìn một tác phẩm trong cái nhìn toàn vẹn mang tính chỉnh thể bao gồm nội dung và hình thức Đó là một quan điểm đúng đắn
và rất được ủng hộ Tuy vậy, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chọn cách chia tách làm hai phương diện nội dung và hình thức để nghiên cứu và thấy rõ dấu ấn Phật giáo được thể hiện cụ thể trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI như thế
Trang 22nào Tuy đi theo con đường khá truyền thống và an toàn như vậy nhưng trong phạm
vi của mình, luận văn vẫn cố gắng tìm ra, khái quát và đóng góp một vài điểm mới
mẻ
- Phật giáo là một lĩnh vực rất rộng và được quan tâm nhiều Sách vở, các công trình nghiên cứu về Phật giáo cũng rất đa dạng Đó cũng là điều kiện vô cùng thuận lợi khi chúng tôi triển khai luận văn Tuy nhiên, luận văn được viết với một mục đích và định hướng rõ ràng, những vấn đề được chọn viết ở đây đều đã được lựa chọn cho phù hợp Chính vì thế, luận văn không có tham vọng ôm đồm quá nhiều nội dung mà chỉ cố gắng chọn lọc sao cho sát với đề tài luận văn nhất Với tinh thần viết có điểm, có diện, chúng tôi sẽ cố gắng phác thảo ra bức tranh toàn cảnh về truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI cụ thể và rõ ràng nhất
Trang 23Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ PHẬT GIÁO NAM BỘ,
KHUNG NGHIÊN CỨU CỦA NINIAN SMART
VÀ TRUYỆN NGẮN NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI
1.1 Khái quát về Phật giáo Nam Bộ
1.1.1 Phật giáo Nam Bộ là một bộ phận hữu cơ của Phật giáo Việt Nam
Nói về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình
Chú trong bài Vị trí của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam (nhìn về dĩ vãng) đã viết ngắn gọn: “Phật giáo và văn hóa Phật giáo đã đến với Việt Nam theo
con đường dân sự êm ả, tự nguyện, từ các ngả: Đông, Tây, Nam, trước cả Bắc Nói Đông là bởi nó theo thương nhân Ấn Độ và bằng đường biển mà vào Nói Tây là nó còn qua Thượng Lào mà đến Nói Nam là bởi có vấn đề thuộc đất Thủy Chân Lạp thuở trước” (Nguyễn Đình Chú, 2014) Phật giáo đã xuất hiện ở Việt Nam từ hơn
2000 năm trước Từ những buổi đầu xa lạ, theo thời gian, Phật giáo đã trở nên quen thuộc với những con dân đất Việt Nhiều nhà nghiên cứu đã dùng hình ảnh nước và sữa, nước và đất, máu và thịt như một sự so sánh, ví von, hàm ý mối quan hệ không thể tách rời, thể hiện sự hội nhập và gần gũi của Phật giáo vào đời sống văn hóa của người dân Có được điều đó cũng bởi Phật giáo là tôn giáo vì con người, là “một tôn giáo giàu tình thương nhất trong các tôn giáo” (Nguyễn Đình Chú, 2014)
Thời Lý – Trần, Phật giáo phát triển rất mạnh và trở thành quốc giáo Nhiều chùa được xây dựng mới, nhiều nhà sư ra giúp vua trị nước yên dân, các chính sách của đất nước cũng hướng đến sự khoan hòa, mang tinh thần vị tha, bác ái của nhà Phật Nhiều vị vua cũng nhường ngôi báu cho con để tu đạo, tìm hiểu Phật học Nổi bật nhất có thể kể đến vua Trần Nhân Tông – người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm mang tinh thần Phật giáo nhập thế Cho dù về sau này Phật giáo không còn giữ được địa vị như trước (do nhiều hoàn cảnh lịch sử) nhưng chúng ta vẫn không thể phủ nhận được mạch ngầm xuyên suốt của Phật giáo trong dòng chảy của văn hóa dân tộc
Học giả Trần Hồng Liên được xem là một trong những học giả chuyên nghiên
cứu về Phật giáo Nam Bộ với ba cuốn sách đã được xuất bản: Đạo Phật trong cộng
Trang 24đồng người Việt ở Nam Bộ (từ thế kỉ XVII đến 1975) năm 2000; Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ năm 2004; Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 Nói
về sự xuất hiện của Phật giáo ở vùng đất Nam Bộ, Trần Hồng Liên đã kể ra ba hướng chính trên “con đường thiên lý” của Phật giáo vào Nam Bộ như sau:
Từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX, có thể kể đến ba hướng hoằng dương đạo pháp vào Nam Bộ Hướng thứ nhất – đó là hướng chính – Bắc tông, theo các di dân
từ Thuận Quảng vào Biên Hòa, Gia Định, Định Tường trong thế kỷ XVII, XVIII, XIX… Hướng thứ hai từ Trung Quốc, theo đường thủy, các nhà sư trong nhóm của các tướng Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch đến Cù Lao Phố (Đồng Nai),
Mỹ Tho (Định Tường) vào thế kỷ XVII (1679) Hướng thứ ba, đầu thế kỷ XVIII (1708) Mạc Cửu, người Quảng Đông, trước chạy sang Chân Lạp, sau chuyển vào vùng đất mới Hà Tiên, dựng am nhỏ cho mẹ tu, sau xây lại thành chùa Tam Bảo rất nổi tiếng Tới năm 1938, Hộ Tông du nhập hệ phái Nam tông từ Campuchia vào Việt Nam, đem lại cho Phật giáo Nam Bộ một nét mới mẻ (Trần Hồng Liên, 2004)
Có thể hình dung lại các con đường hình thành Phật giáo Nam Bộ bằng sơ đồ 1.1 dưới đây:
Sơ đồ 1.1 Các con đường hình thành Phật giáo Nam Bộ
Các con đường hình thành
Phật giáo Nam Bộ
(1) Con đường di dân từ
Bắc vào Nam
(2) Theo các nhà sư Trung Quốc
(3)
Theo chân Mạc Cửu vào Hà Tiên
Trang 25Tuy dừng lại ở cột mốc giữa thế kỉ XX trong bài nghiên cứu nhưng chúng ta cũng có thể lấy đó làm sự khái quát cho lịch sử và tiến trình Phật giáo Nam Bộ Từ gốc rễ cội nguồn ấy, Phật giáo Nam Bộ ngày càng phát triển và hòa nhập vào Phật giáo Việt Nam, trở thành một bộ phận hữu cơ không thể tách rời
Hai hệ phái Phật giáo Bắc tông và Nam tông luôn song hành, cùng nhau phát triển trong đời sống tinh thần của cư dân Nam Bộ Trong phạm vi luận văn này,
“dấu ấn Phật giáo” được hiểu là Phật giáo của người Việt ở Nam Bộ Những nét chung, “Phật giáo trung tâm” cũng được nhấn mạnh, những nét riêng mang tính đặc thù cho từng hệ phái xin phép không được đề cập đến ở đây (vì mục tiêu của luận văn vẫn là tìm hiểu dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn – không phải văn hóa nói chung)
1.1.2 Một vài đặc điểm của Phật giáo Nam Bộ
Nam Bộ là vùng đồng bằng lớn nhất của Việt Nam với tổng diện tích trên
64000 km² Vùng đất này có vị trí thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa nên xét
về nhiều phương diện thì hiện nay cũng như trong tương lai, nơi đây sẽ đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của nước ta Cũng cần nói đến
sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ ở Nam Bộ khi so với các vùng trong cả nước, Nam
Bộ là nơi có tỉ lệ dân cư theo các tín ngưỡng, tôn giáo đông, có nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng bậc nhất ở Việt Nam Vai trò của tôn giáo trong đời sống của cư dân do đó cũng rất lớn Vì vậy, tìm hiểu về Phật giáo Nam Bộ không thể không nhắc đến những yếu tố làm nên sức mạnh nội sinh của Phật giáo nơi đây như
“Truyền thống Phật giáo và văn hóa dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp biến với các tôn giáo, dân tộc khác cộng với vị trí địa lý thuận tiện giao lưu quốc
tế, tính cách phương Tây cũng ảnh hưởng tới Phật giáo Nam Bộ về tính mở, thoáng; tính năng động và tính thực dụng” (Võ Thanh Hùng, 2013)
“Dấu chân lưu dân Việt đến đâu, chùa Phật mọc lên đến đó” (Trần Thuận, 2013) Phật giáo đóng vai trò như người bạn đồng hành chia sẻ, làm chỗ dựa tinh
thần to lớn cho người dân Nam Bộ Tính chất thiết thực, do đó cũng chính là một
đặc điểm nổi bật của Phật giáo nơi đây Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần (2005): “Họ cần trước hết là những bài học về đức làm người, cụ thể, giản dị
Trang 26và sinh động chứ không phải là (bởi vì cũng khó có thể là) sự nghiền ngẫm thiên kinh vạn quyển với vô số những triết lý cao siêu”
Phật giáo Nam Bộ cũng thấy được một đội ngũ nhà sư có tinh thần nhập thế
Tính dung hợp của Phật giáo Nam Bộ thể hiện “không những trong quan hệ
giữa các giáo phái Phật giáo; quan hệ giữa Phật giáo với các tôn giáo, tín ngưỡng khác mà còn cả trong quan hệ với Phật giáo của các chủng tộc khác (Hoa, Khmer)” (Phan Thị Thu Hiền, 2012) Nói đến Nam Bộ, chúng ta nghĩ ngay Phật giáo Bắc tông (đa phần người Việt và người Hoa theo) và Phật giáo Nam tông (người Khmer theo) Phật giáo Bắc tông (Đại thừa) lại bao gồm cả Tịnh Độ tông, Thiền tông (Tào Động và Lâm Tế) lẫn Mật tông (Đông Mật và Tây Mật) Phật giáo Nam Bộ cũng có
sự pha trộn mạnh mẽ với tín ngưỡng dân gian, các hình thức tôn giáo địa phương như Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo đều đặt căn bản trên giáo lý của Phật giáo và kết hợp thêm nhiều tư tưởng khác mà thành
Phật giáo Nam Bộ cũng được nhắc đến với tính năng động, thể hiện trong các
phong trào chấn hưng Phật giáo cũng như trong quá trình hoằng dương Phật pháp của các vị danh sư Trong phong trào này, có thể nhận diện Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học như đại diện cho các phái thiên hữu, trong khi đó Hội Phật học Kiêm tế đại diện cho các phái thiên tả Các vị danh tăng ở Nam Bộ như Hòa thượng Thích Thanh Từ xây dựng Thiền phái Trúc Lâm Phụng Hoàng, Hòa thượng Thích Thiện Hoa chủ xướng và trực tiếp giảng dạy các khóa học mang tên Như Lai sứ giả huấn luyện trụ trì, các khóa huấn luyện tăng ni trở thành giảng sư có thể đi diễn giảng khắp nơi (Phan Thị Thu Hiền, 2012)
Trang 27Những đặc điểm nổi trội trên đã làm tô đậm nên tính chất của Phật giáo Nam
Bộ Trong thực tiễn đời sống và văn hóa của phương Nam nói chung, truyện ngắn Nam Bộ nói riêng, chúng ta sẽ thấy rõ những điều ấy
1.2 Khung nghiên cứu tôn giáo của Ninian Smart và triển vọng vận dụng vào nghiên cứu truyện ngắn Nam Bộ
1.2.1 Sơ lược về khung nghiên cứu tôn giáo của Ninian Smart
Ninian Smart được xem là một học giả nổi tiếng nghiên cứu về tôn giáo hiện
đại của thế kỉ XX Trong công trình The World's Religions (Những tôn giáo của thế giới), ở phần “Introduction” (Giới thiệu), mục “The nature of religion” (Bản chất
của tôn giáo), ông đã đề xuất sự nghiên cứu tôn giáo dựa trên bảy chiều kích Vì tầm quan trọng của nội dung này nên trong phần Phụ lục 2, tác giả luận văn có trích nguyên văn bản tiếng Anh của Ninian Smart viết về phần này, kèm theo đó là phần
tự dịch Dưới đây xin giới thiệu tóm lược một số luận điểm trong mỗi khía cạnh:
- The Practical and Ritual Dimension (Khía cạnh thực hành và nghi lễ): Mỗi
truyền thống đều có một số thực hành mà nó tuân thủ - ví dụ như thờ phượng thường xuyên, thuyết giáo, cầu nguyện, v.v Chúng thường được gọi là các nghi lễ Cũng có một số hình thức khác không có tính quy định chặt chẽ như nghi lễ nhưng thực hiện một chức năng trong việc phát triển nhận thức tâm linh hoặc hiểu biết đạo đức: các thực hành như yoga trong các truyền thống Phật giáo và Ấn Độ giáo, các phương pháp làm êm dịu bản thân trong chủ nghĩa thần bí Chính thống Đông phương…
- The Experiential and Emotional Dimension (Khía cạnh trải nghiệm và cảm xúc): lịch sử tôn giáo đã khẳng định sức sống to lớn và ý nghĩa của trải
nghiệm trong sự hình thành và phát triển của các truyền thống tôn giáo như trong Thiên Chúa giáo, Phật giáo… Các hình thức trải nghiệm và cảm xúc chúng giúp ta đến gần với tôn giáo hơn, bởi nó tác động đến những yếu tố bên trong con người
- The Narrative or Mythic Dimension (Khía cạnh truyền thuyết hoặc huyền thoại): điều này có thể được thể hiện trong việc kể lại một số truyền thuyết
và thần thoại về lịch sử của tôn giáo; về thời kỳ nguyên thủy bí ẩn đó khi
Trang 28thế giới đang ở trong thời kỳ vô tận của nó; về những điều sẽ đến vào ngày tận thế; một số về các anh hùng và các vị thánh vĩ đại; về những người sáng lập vĩ đại, như Moses, Đức Phật, Jesus và Muhammad; một số truyện ngụ ngôn và truyện kể; một số về cuộc phiêu lưu của các vị thần; v.v Các câu chuyện có thể có thật hoặc không, nhưng nó đã truyền cảm hứng mạnh mẽ
và góp phần xây dựng lòng tin nơi các tín đồ Thông thường, những câu chuyện này cũng được kể trong các nghi lễ tôn giáo
- The Doctrinal and Philosophical Dimension (Khía cạnh giáo lý và triết học): Khía cạnh giáo lý và triết học đóng vai trò quan trọng trong các tôn
giáo lớn vì nó là cơ sở nền tảng để hình thành đức tin và cảm xúc của con người, thể hiện tính chất trí tuệ của một tôn giáo nhất định Nền tảng của khía cạnh giáo lý có thể xuất phát từ khía cạnh huyền thoại Ví dụ, theo truyền thống Kitô giáo, câu chuyện về cuộc đời của Chúa Giêsu và nghi thức của lễ ban thánh thể đã dẫn đến những nỗ lực đưa ra một phân tích về bản chất của Thiên Chúa sẽ bảo tồn cả ý tưởng Nhập thể (Chúa Giêsu là Chúa Trời) và niềm tin vào một Chúa Trời Kết quả là học thuyết về Ba Ngôi, coi Thiên Chúa là như là ba người trong một thể vật chất (Thiên Chúa
là duy nhất, hiện hữu trong ba ngôi vị Cha, Con và Thánh thần)
- The Ethical and Legal Dimension (Khía cạnh đạo đức và luật lệ): Sự thể
hiện chiều kích đạo đức của tôn giáo được bộc lộ ở việc một tôn giáo sẽ có những giới luật hoặc điều răn nhất định, quy định đến lối sống, cách cư xử của những người theo tôn giáo đó Các truyền thống khác có thể ít bị ràng buộc với một hệ thống luật pháp, nhưng vẫn hiển thị một đạo đức chịu ảnh hưởng và thực sự được kiểm soát bởi huyền thoại và học thuyết về đức tin Chẳng hạn, thái độ đạo đức trung tâm trong đức tin Kitô giáo là tình yêu
- The Social and Institutional Dimension (Khía cạnh xã hội và thể chế): Mọi
phong trào tôn giáo được thể hiện trong một nhóm người, và điều đó thường được tổ chức khá chính thức - như Giáo hội, hoặc Tăng đoàn Các cấu trúc tổ chức của một tôn giáo cho chúng ta thấy được cách thức chúng hoạt động ra sao và ảnh hưởng thế nào đến xã hội
Trang 29- The Material Dimension (Khía cạnh hữu hình): Tôn giáo được biểu hiện
qua nhiều hình thức vật chất chúng ta có thể thấy rõ ràng như các tòa nhà, tác phẩm nghệ thuật và các sáng tạo khác Những biểu tượng tôn giáo, các bức tranh, tượng, đền thờ… sẽ cho củng cố và làm bền vững hơn niềm tin nơi các tín đồ, vì chính họ sẽ cảm nhận được sự hiện hữu của một tôn giáo trong đời sống Cũng sẽ có những đặc điểm tự nhiên của thế giới được coi
là sự linh thiêng và có ý nghĩa đặc biệt đối với một tôn giáo nào đó, như sông Hằng, sông Jordan, núi thiêng của Trung Quốc, núi Phú Sĩ ở Nhật Bản…
Với cách tiếp cận này, tôn giáo có những yếu tố nhận dạng nhất định, có thể nghiên cứu và sử dụng các chiều kích khác nhau trong bất cứ tôn giáo nào Các nhà nghiên cứu tôn giáo cũng đánh giá cao lý thuyết này, vì chúng giúp mọi người nhìn
rõ hơn về bản chất của tôn giáo Các khía cạnh đó giúp vẽ nên những hình ảnh rõ nét hơn về một tôn giáo nhất định, vì thế thuyết phục được nhiều người đọc hơn Dựa trên lý thuyết của Ninian Smart, chúng tôi đã khái quát hóa lại các chiều kích của tôn giáo trong sơ đồ 1.2 dưới đây
Sơ đồ 1.2 Bảy khía cạnh của tôn giáo theo khung nghiên cứu của Ninian Smart
Hữu hình
Xã hội và thể chế
Đạo đức và luật lệ
Giáo lý và triết học
Truyền thuyết hoặc huyền thoại
Trang 30Trong công trình “Dẫn luận về Phật giáo”, Damien Keown (Thái An dịch, 2016) cũng đã nhắc đến cách tiếp cận về tôn giáo của Ninian Smart và sử dụng cho
Phật giáo Khía cạnh thực hành và nghi lễ như lễ thọ giới, giới luật xuất gia, đại lễ dâng y, lễ cầu an… Khía cạnh trải nghiệm và cảm xúc cho rằng “Trải nghiệm
giác ngộ của Đức Phật là nền tảng của toàn bộ truyền thống Phật giáo” và đây là khía cạnh có tầm quan trọng lớn vì “Phật giáo xem đời sống tôn giáo căn bản là một
tiến trình tự chuyển hóa” Khía cạnh truyền thuyết và thần thoại cho thấy Phật
giáo cũng có những truyền thuyết như Kinh khởi thế nhân bổn hay những câu chuyện ứng xử về đời trước của Đức Phật trong Kinh bổn sinh, văn học và nghệ
thuật Phật giáo cũng có nói đến những thế lực siêu nhiên qua nhiều thế kỷ đã được
phóng đại và tô vẽ thêm Khía cạnh giáo lý và triết học nói đến “sự trình bày một
cách hệ thống những lời dạy tôn giáo trong một thể thức nhất quán về lý luận”, chủ
yếu nằm trong những kinh văn Phật giáo Khía cạnh đạo đức và luật lệ của Phật
giáo đề cao nguyên lý không gây hại, do đó các Phật tử ăn chay hoặc “chọn chủ nghĩa phi bạo lực làm lối sống” Phật giáo đề cao sự từ bi bác ái, “sự quan tâm giảm
nhẹ khổ ải của người khác” Khía cạnh xã hội và thể chế đề cập đến cấu trúc của
một tổ chức Phật giáo Đó là những tăng đoàn với những quy tắc và luật lệ riêng theo một mô hình cộng hòa, khi các thầy tu thường xuyên gặp mặt và đưa ra quyết
định trên cơ sở đồng thuận Khía cạnh hữu hình của Phật giáo “bao gồm những
đối tượng thông qua đó tinh thần của một tôn giáo được biểu lộ” như chùa chiền, các địa điểm hành hương, các bản in sao kinh văn…
Nhà nghiên cứu Dương Ngọc Dũng trong bài viết Tôn giáo là gì? cũng nhắc
đến Ninian Smart cùng bảy chiều kích của tôn giáo Sau đó, tác giả Dương Ngọc Dũng cũng lấy Phật giáo làm ví dụ để phân tích theo bảy khía cạnh này
“1/ Chiều kích nghi lễ: tụng kinh, lễ bái, ăn chay, niệm Phật
2/ Chiều kích giáo lý: giáo lý Vô Thường, Vô Ngã, Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu
Đế, Nghiệp Báo, Luân Hồi…
3/ Chiều kích huyền thoại: những câu truyện về cuộc đời Đức Phật trong Bản Sinh Kinh
4/ Chiều kích trải nghiệm: thực hành thiền định
Trang 315/ Chiều kích đạo đức: giới luật dành cho tăng ni và cư sĩ
6/ Chiều kích tổ chức: chùa, thiền viện, tịnh xá…
7/ Chiều kích nghệ thuật: kiến trúc chùa, thiền viện, ảnh tượng Phật, Bồ Tát, Mạn Đà La… Tại Việt Nam trong nghi lễ Đạo Mẫu cũng có các hình thức diễn xướng nghệ thuật đậm nét dân gian như múa bóng, hát bóng, hầu bóng” (Dương Ngọc Dũng, 2014)
Sự diễn giải khung nghiên cứu về tôn giáo của Ninian Smart, áp dụng vào trường hợp Phật giáo như trong công trình của Damien Keown và của Dương Ngọc Dũng đã cho thấy triển vọng cũng như khả năng to lớn của khung nghiên cứu này Cũng phải thấy rằng trong bảy khía cạnh đó, truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI sẽ
có những khía cạnh thể hiện dấu ấn Phật giáo được nhắc đến và khai thác nhiều, trở thành điểm nhấn của luận văn
1.2.2 Triển vọng vận dụng khung nghiên cứu tôn giáo của Ninian Smart vào tìm hiểu dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ
Trong cách phân chia tôn giáo hiện hành, Phật giáo được xem là một tôn giáo thế giới bởi mức độ phổ quát của nó Cùng với đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Tin lành, đạo Phật là tôn giáo được nhiều người tin theo và ngưỡng vọng Ở Việt Nam, theo số lượng thống kê năm 2010, Việt Nam có khoảng 10.000.000 tín đồ tính chung cho cả 9 tổ chức và hệ phái bao gồm cả Phật giáo Nam tông (Lý Tùng Hiếu, 2014)
Về nghiên cứu tôn giáo và văn hóa, có thể thấy khung nghiên cứu của Ninian Smart đã được nhắc đến và vận dụng Điển hình như trong đề dẫn khai mạc toạ đàm
khoa học quốc tế Tôn giáo và Văn hoá: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn tại
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM vào ngày 25 và 26/10/2013, nhà nghiên cứu Đỗ Quang Hưng cũng đề cập đến quan điểm về tôn giáo của Ninian Smart như một phông nền chung để nghiên cứu Đáng nói hơn,
“Tôn giáo và văn hoá: trường hợp Phật giáo” cũng là chủ đề được thảo luận trong 4
tiểu ban của Hội thảo (Thanh Hà, 2013) Điều đó chứng tỏ được vai trò của Phật giáo trong văn hóa quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng, cũng như sự vận dụng hướng đi của Ninian Smart vào tìm hiểu Phật giáo là có cơ sở khoa học
Trang 32Về nghiên cứu văn học nói chung và truyện ngắn Nam Bộ nói riêng, theo chúng tôi thì việc vận dụng khung nghiên cứu về tôn giáo của Ninian Smart cũng là một hướng đi phù hợp vì:
Trước hết, tôn giáo và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà văn học lại là một thành tố quan trọng của văn hóa Hiện nay, xu thế nghiên cứu liên ngành đang được sử dụng nhiều trong các công trình khoa học để nhìn nhận và soi sáng một vấn đề ở nhiều góc cạnh Sử dụng khung nghiên cứu của Ninian Smart trong việc nhìn nhận dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI là đi theo xu thế đó
Thứ hai, rõ ràng cách nhìn nhận một tôn giáo ở bảy khía cạnh như của Ninian Smart là cách nhìn toàn diện, do đó dễ thuyết phục được nhiều người Một tôn giáo không chỉ có trải nghiệm, nghi lễ mà còn phải có trí tuệ Nó không chỉ có những câu chuyện huyền thoại xung quanh mà còn phải hướng đến đề cao đạo đức tôn giáo, có
tổ chức được cấu trúc riêng để hệ thống tôn giáo vận hành và có những thực thể vật chất hiện hữu của tôn giáo đó để mọi người có thể nhìn thấy được, củng cố chắc chắn niềm tin và sự ngưỡng vọng với tôn giáo nơi các tín đồ Văn chương nói chung
và truyện ngắn Nam Bộ nói riêng cũng phản ánh được tâm lý, tình cảm, trí tuệ của con người Nam Bộ, lí giải những cách ứng xử, hành xử, những chuyện xảy ra trong đời sống theo quan điểm truyền thống và của cả Phật giáo Do vậy, nhìn trên những nét lớn, sự vận dụng khung nghiên cứu của Ninian Smart là nhằm chỉ ra một cách khái quát nhất cách nghĩ, cách hiểu của người dân Nam Bộ về Phật giáo, và cũng là
để chỉ ra những tư tưởng nào của Phật pháp đã ảnh hưởng sâu đậm đến họ
Thứ ba, một số nhà văn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI khi thể hiện dấu ấn Phật giáo trong truyện ngắn có quan tâm đến một vài vấn đề cụ thể Chẳng hạn như Nguyễn
Trí trong tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương quan tâm đến quả báo của con người khi khai thác và tận diệt rừng Trần Bảo Định trong tập truyện Bông trái quê nhà lại nhấn mạnh đến khía cạnh sinh thái Phật giáo Võ Diệu Thanh, Nguyễn Ngọc
Tư trong một vài truyện ngắn quan tâm nhiều đến vấn đề số kiếp, duyên nợ của con người… Những mối quan tâm đó cũng là những khía cạnh của tôn giáo nói chung
và Phật giáo nói riêng được thể hiện, nghĩa là đã có những minh chứng cụ thể trên
Trang 33thực tiễn về triển vọng của việc vận dụng khung lý thuyết của Ninian Smart vào nghiên cứu
Truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI là một thực thể sống động và không ngừng phát triển, tuy vậy để nhìn nhận và vẽ ra một bức tranh tổng thể về nó thì không hề đơn giản So sánh một chút, ta sẽ thấy nếu một bức tranh phải vẽ theo phong cách, trường phái nào thì nghiên cứu truyện ngắn Nam Bộ cũng phải theo một đường hướng nhất định để việc nghiên cứu này là có ý nghĩa Trong nỗ lực của mình, người viết luận văn đã lựa chọn và vận dụng khung lý thuyết về tôn giáo của Ninian Smart, kết hợp giữa phương pháp phân tích truyền thống của văn học và phương pháp liên ngành để làm rõ vấn đề nghiên cứu Nội dung cụ thể hơn sẽ được làm rõ ở chương 2 và chương 3 của luận văn Cũng nên lưu ý rằng trong bảy khía cạnh đó sẽ có những khía cạnh được nhắc đến và khai thác nhiều, trở thành điểm nhấn của luận văn
1.3 Vài nét về truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI
1.3.1 Quan niệm về truyện ngắn Nam Bộ
“Từ thuở mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”
Những câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ như gợi lại không khí của những ngày đầu gian khó khi ông cha ta đặt chân đến vùng đất phương Nam còn hoang vu, nhiều rừng rậm và rắn rết Nam Bộ là vùng đất trẻ trong cả lịch sử hình thành cũng như ở trong cả những con người nơi đây Trong nghiên cứu địa – văn hóa và sử - văn hóa, Nam Bộ được biết như như một vùng văn hóa với những nét đặc thù riêng Trong phân loại các vùng văn hóa ở Việt Nam, các tác giả như Chu Xuân Diên
trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999), Ngô Đức Thịnh trong Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam (2004) đều xem Nam Bộ là một vùng văn hóa với những
đặc trưng đa dạng và phong phú, làm nên sắc thái của một vùng văn hóa so với các
vùng văn hóa khác Học giả Đinh Thị Dung trong bài Hệ giá trị văn hóa Nam Bộ từ góc nhìn lịch sử cũng đã khẳng định: “cũng phải ngót gần một thế kỷ Nam Bộ mới
bước đầu được định hình trong thời gian và không gian với tư cách là một vùng văn hóa” (Đinh Thị Dung, 2015)
Trang 34Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần nói chung và văn chương nói riêng, cụm từ
“văn học Nam Bộ” cũng được dùng với hàm ý nói về văn học của một vùng văn hóa trên đất nước ta Nhiều công trình nghiên cứu, Hội thảo khoa học, bài báo…
đều sử dụng cụm từ này, chẳng hạn như Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX (Nhiều tác giả, 2000), Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ (Nguyễn Văn Hầu, 2004), PGS.TS Võ Văn Nhơn nói về văn học Nam Bộ: Viết như một phản ứng của lòng tự trọng dân tộc (Văn Bảy thực hiện, 2015), Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Những vấn đề văn học và ngôn ngữ Nam Bộ (2016), Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ (Bùi Thanh Truyền chủ biên, 2018)…
Như vậy, quan niệm “truyện ngắn Nam Bộ” được sử dụng trong luận văn này
có thể được hiểu là nói về truyện ngắn của vùng Nam Bộ với ý nghĩa Nam Bộ là một vùng văn hóa trong nhiều vùng văn hóa của Việt Nam Nói “truyện ngắn Nam Bộ” là cách nói mang tính chất khoanh vùng để tiện đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu và nhận diện tính chất của một vùng văn học trong tổng thể truyện ngắn Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ Đất nước đã thống nhất, văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng cũng đã đi chung một con đường, tuy nhiên không thể phủ nhận là mỗi vùng văn học (gắn với vùng văn hóa) vẫn có những sắc thái riêng của nó Dùng quan niệm “truyện ngắn Nam Bộ” là để nhấn mạnh đến sắc màu của truyện ngắn phương Nam Đó cũng là dụng ý của tác giả trong luận văn này
Có một vấn đề nảy sinh xung quanh quan niệm này, đó chính là tiêu chí nào để xác định được đó là truyện ngắn của Nam Bộ khi sự giao thoa và đan xen giữa các vùng trong cả nước là điều đã và đang diễn ra thường xuyên? Nhìn một cách tổng thể, đội ngũ sáng tác truyện ngắn - các nhà văn có lối suy nghĩ, lối viết, lối nói mang dấu ấn của vùng đất Nam Bộ Đặc điểm này có thể thấy rõ trong sáng tác của
họ khi soi chiếu về những nội dung tư tưởng, tính cách con người, nếp sống, sinh hoạt của những nhân vật trong truyện, những hình ảnh thân thuộc của vùng đất phù
sa màu mỡ, ruộng đồng thẳng cánh cò bay, đặc biệt là những phương ngữ miền Nam được sử dụng nhiều Những nhà văn có những tác phẩm được khảo sát trong luận văn này đa phần đều sinh ra, lớn lên và sống ở miền Nam, có thể kể đến như
Lê Văn Thảo (sinh ra tại Long An, lớn lên ở An Giang, sống tại TP.HCM), Trần
Trang 35Bảo Định (sinh tại Long An, sống ở TP.HCM), Bích Ngân (sinh tại Cà Mau, sống ở TP.HCM), Nguyễn Ngọc Tư (sinh ra, lớn lên và sống ở Cà Mau), Võ Diệu Thanh (sinh ra, lớn lên và sống ở An Giang), Lê Minh Nhựt (sinh ra, lớn lên và sống ở Cà Mau) Riêng một số nhà văn như Nguyễn Trí (sinh ra ở Bình Định, sống ở Đồng Nai), Nguyễn Vĩnh Nguyên (sinh ra ở Khánh Hòa, lớn lên ở Ninh Thuận, sống ở TP.HCM) tuy quê hương bản quán có nằm ở dải đất miền Trung nhưng chính điều này cũng làm nên nét độc đáo riêng, đó là sự hòa trộn văn hóa vùng miền trong văn hóa Nam Bộ Và trên hết, tất cả đều nằm trên một phông nền chung: văn hóa Việt Nam
1.3.2 Sự đan xen truyền thống – hiện đại và sự tiếp biến văn hóa như là những xu hướng của truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI
Tiểu thuyết gia Elizabeth Day, người sáng lập ra salon truyện ngắn Pindrop đã nói: “Đọc truyện ngắn cũng như thưởng thức 1 bài hát trong 1 album nhạc, không ai
ép người nghe phải nghe hết album” (Hạ Huyền tổng hợp, 2014) Trong sự trỗi dậy của truyện ngắn thế giới thế kỉ 21, “không viết ngắn, không hợp thời”, với sự phát triển của công nghệ, báo chí truyền thông và ưu thế về thể loại, truyện ngắn Việt Nam nói chung và truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI nói riêng cũng có những bước phát triển mạnh mẽ Trong đó phải kể đến hai xu hướng chính: sự đan xen truyền thống – hiện đại và sự tiếp biến văn hóa
Như dòng nước ngầm vẫn bền bỉ chảy, truyền thống văn chương Việt Nam vẫn hiện hữu trong những tác phẩm văn học vùng đất Nam Bộ Nhiều nhà văn lại chọn khai thác và thể hiện những nét hiện đại để tạo nên một bức tranh văn học đa dạng, mang nhiều màu sắc đến cho độc giả Nhu cầu vật chất càng cao thì nhu cầu tinh thần cũng cần được chăm lo nhiều hơn nữa Nguyễn Thị Thanh Xuân trong bài
viết Năm tác giả văn xuôi Việt Nam thế kỷ 21 đã nhắc đến những tên tuổi viết
truyện ngắn Nam Bộ như Nguyễn Ngọc Tư, Nhật Chiêu Đó là một nhà văn nữ dù ở mũi Cà Mau nhưng những trang viết “luôn chạm vào tâm điểm của xã hội Việt Nam với một cách viết hiện đại và quan điểm mới mẻ” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2016); một nhà văn khởi đầu với việc dạy học và dịch thuật nhưng lại có đến 5 tập truyện
ngắn (Người ăn gió và quả chuông bay đi, Mưa mặt nạ, Viết tên trên nước, Lời tiên
Trang 36tri của giọt sương, Ân ái với hư không) và “hầu hết đều được viết bằng tư duy và kỹ
thuật hậu hiện đại” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2016) Bên cạnh những nội dung (như chiến tranh, lòng yêu nước…) và lối viết mang tính truyền thống, chúng ta còn thấy những nét hiện đại được phản ánh trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI như tâm thế và cuộc sống của những người trẻ, vấn đề môi trường đô thị, lối viết mang hơi hướng hậu hiện đại… Sự đan xen, song hành này đã tạo nên sự đa dạng cho bức tranh văn học Nam Bộ
“Nam Bộ vẫn thể hiện được rõ nét là vùng đất mở, là sự bao dung và năng động trong tiếp nhận cái mới Nam Bộ vẫn là vùng đất đầu tiên ở Việt Nam tiếp nhận nhiều yếu tố mới mẻ của văn hóa, văn minh phương Tây vận dụng vào thực tiễn văn hóa Nam Bộ nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung” (Đinh Thị Dung, 2015) Do đặc thù về vị trí địa lý của khu vực, sự giao lưu về kinh tế và văn hóa ở Nam Bộ diễn ra vô cùng mạnh mẽ Tiếp thu văn minh phương Tây, đời sống văn hóa văn nghệ ở miền Nam trước 1975 cũng trở nên sôi động bởi sự du nhập của những tiểu thuyết, kĩ thuật viết hiện đại Sau 1975, cả đất nước vui mừng khi miền Nam được giải phóng, Nam Bắc một nhà, những chủ trương, đường lối văn hóa văn nghệ cũng thống nhất hơn trong cả nước Sài Gòn đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố trẻ nhưng rất năng động Vị trí bến sông, gần cửa biển đã giúp thành phố này nói riêng và Nam Bộ nói chúng “chứng kiến những cuộc giao lưu và tiếp biến văn hóa Văn học của nó vẫn không thôi nuôi khát vọng mở cửa ra với thế giới” (Huỳnh Như Phương, Lê Văn Thảo, 2013) Những gương mặt của văn học Nam Bộ như Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Thuần, Vũ Đình Giang, Dương Thụy… đều có những trang viết thể hiện sự tiếp nhận và biến đổi của văn hóa thế giới vào văn học Việt Nam Sự nhanh nhạy, tư duy trẻ trung, mới mẻ, hội nhập toàn cầu đã đưa đến sự tiếp biến văn hóa trong văn
học theo tinh thần “hòa nhập nhưng không hòa tan”
1.3.3 Truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI mang dấu ấn Phật giáo – dòng riêng giữa nguồn chung
Văn học Việt Nam hiện đại từ lâu đã được nghiên cứu dưới góc độ Phật giáo trên bình diện khái quát chung và trong sáng tác của các tác giả cụ thể Lê Dục Tú
Trang 37trong bài Cảm quan tôn giáo trong văn xuôi Việt Nam đương đại (Tạp chí Sông
Hương, 2014) chỉ ra cảm quan tôn giáo trong văn xuôi Việt Nam đương đại với ba điểm chính: “đức tin tôn giáo cứu rỗi con người”, “thuyết nhân quả của đạo Phật”,
“cảm quan tôn giáo và tinh thần giải thiêng” Qua đó, nhà văn sẽ hướng con người đến những điều tốt đẹp, khám phá con người qua những chiều kích mới, thông qua
kỹ thuật viết đầy hấp dẫn
Phật giáo ảnh hưởng đến văn hóa, văn chương khá đậm nét Tuy có thời gian ngắt quãng (do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh) nhưng từ sau 1986, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và văn học đã giúp các nhà văn vừa đổi mới vừa tìm về vốn văn hóa dân tộc Cảm quan Phật giáo vì vậy được khơi lại mạnh mẽ, trên văn
đàn xuất hiện hàng loạt các tác phẩm có tiếng vang như: Giàn thiêu (Võ Thị Hảo, 2003), Đức Phật, nàng Savatri và tôi (Hồ Anh Thái, 2007), Đội gạo lên chùa
(Nguyễn Xuân Khánh, 2011)… Chính vì vậy cũng có một số bài báo khoa học,
Luận văn Thạc sĩ đề cập đến vấn đề này như: Luận văn Thạc sĩ Ảnh hưởng của tư tưởng Nho – Phật – Đạo trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Văn Hiếu, ĐH Sư phạm Hà Nội, 2004), Luận văn Thạc sĩ Cảm quan Phật giáo trong tiểu thuyết “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo (Vũ Thị Mai Lan, ĐH Sư phạm Hà Nội, 2014), Bài báo khoa học Phật giáo trong tác phẩm “Đức Phật, nàng Savatri và tôi” của Hồ Anh Thái (Phùng Phương Nga, Nguyễn Thị Thu Thảo, Tạp chí Khoa học –
ĐH Khoa học, ĐH Thái Nguyên, 2012), Luận văn Thạc sĩ Tiểu thuyết “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tâm thức Phật giáo (Nguyễn Danh Thực,
Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội, 2015)…
Như vậy, suốt mười mấy thế kỉ tồn tại trên đất nước ta, tư tưởng Phật giáo đã thẩm thấu vào chiều sâu tâm thức người Việt Nam, trở thành nguồn an ủi tâm hồn con người trước phong ba cuộc đời, trở thành một trong những sức mạnh làm nên khả năng trường tồn của dân tộc “Người nam sinh hoạt ở đình Người phụ nữ sinh hoạt ở chùa Vì vậy, tinh thần Phật giáo thấm vào xã hội thông qua người mẹ, người
vợ Mà người phụ nữ nào chẳng có gia đình và con cái Người đàn bà ứng xử trong gia đình xã hội và dạy con cái ít nhiều theo tinh thần Phật giáo Vậy nên mới nói,
Trang 38bất cứ người Việt nào cũng có chút Phật giáo trong người” (Nguyễn Xuân Khánh,
2011)
Đến đầu thế kỉ XXI này, dấu ấn Phật giáo trong văn học Việt Nam nói chung, truyện ngắn Nam Bộ nói riêng còn được thể hiện Luận văn này khai thác và nhìn nhận truyện ngắn Nam Bộ trong nguồn chung ấy của truyện ngắn Việt Nam, của văn hóa văn nghệ dân tộc Nội dung cụ thể sẽ được triển khai trong chương 2 và chương 3 của luận văn
Cũng cần nói thêm rằng trong chương 2 và chương 3 của luận văn, người viết
sẽ vận dụng khung nghiên cứu về tôn giáo của Ninian Smart vào soi chiếu và làm rõ
sự thể hiện dấu ấn Phật giáo ở hai phương diện nội dung và hình thức Ở chương 2,
đó là sự thể hiện dấu ấn Phật giáo ở khía cạnh giáo lý và triết học (tập trung vào phần tư tưởng nhân quả, vô thường), khía cạnh đạo đức (“tư tưởng sinh thái Phật giáo”), khía cạnh trải nghiệm và cảm xúc (tập trung vào kiểu “nhân vật có lòng tin tưởng và sùng kính đạo Phật”) Ở chương 3, trong mục “không gian nghệ thuật”, khung nghiên cứu của Ninian Smart được nhìn nhận cụ thể và tập trung ở khía cạnh hữu hình, riêng tiểu mục “không gian nghi lễ” còn có sự kết hợp cả khía khía cạnh nghi lễ
Trang 39Tiểu kết chương 1 Phật giáo Nam Bộ rất gần gũi và thân thiết với người dân trong cuộc sống
của họ, là chỗ dựa về niềm tin, tinh thần cho cư dân vùng đất này Hình thành trên vùng đất trẻ, Phật giáo Nam Bộ mang trong mình nhiều đặc điểm như tính chất thiết thực, tinh thần nhập thế, tính dung hợp và sự năng động Luận văn sử dụng khung nghiên cứu của Ninian Smart về tôn giáo nói chung và áp dụng vào trường hợp Phật giáo để soi chiếu và làm sáng rõ một số mặt nổi trội trong dấu ấn Phật giáo ở đối tượng nghiên cứu là truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI Cũng cần lưu ý đến cách hiểu về “truyện ngắn Nam Bộ” với tư cách là một vùng văn hóa – văn học chứ chưa hình thành một khái niệm mang tính chất lý thuyết Truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI cũng mang những đặc điểm như sự đan xen truyền thống – hiện đại và sự tiếp biến văn hóa khu vực và thế giới Quả thật, có thể thấy rằng với số lượng và chất lượng nhà văn Nam Bộ như hiện nay, những truyện ngắn Nam Bộ thật sự đáng được mong chờ
Trang 40Chương 2 DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG TRUYỆN NGẮN NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI
– NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Tiếp cận phương diện nội dung của truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI để thấy được dấu ấn Phật giáo, chúng tôi lựa chọn khảo sát các khía cạnh: đề tài, tư tưởng, nhân vật, trong đó rõ nhất phải nói đến dấu ấn Phật giáo trong tư tưởng như nội dung trọng tâm, được làm nổi bật nhất trong chương này Trong quá trình khảo sát đối tượng nghiên cứu, chúng tôi cũng thấy một vài vấn đề mang tính chất đối thoại của Phật giáo Nam Bộ đối với đời sống hiện đại (thế kỉ XXI) và một số nội dung thể hiện rõ tính chất của Phật giáo Nam Bộ trong truyện ngắn Chính vì điều
đó nên luận văn đã mạnh dạn tách nội dung này ra thành một phần riêng
2.1 Dấu ấn Phật giáo trong đề tài
Trong tiếng Hy Lạp cổ, “đề tài” là thema (một cái gì đó được đặt làm cơ sở) Công trình Dẫn luận nghiên cứu văn học cho rằng “đề tài” là “cơ sở của sự nhận
thức, nói cách khác, là đối tượng của nhận thức”; “hệ đề tài” là “những hiện tượng của đời sống được phản ánh trong một lời phát biểu hoặc một trước tác nào đó, trong tác phẩm nghệ thuật, nhất là tác phẩm văn học” (Pôxpêlôp chủ biên, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch, 1998) Làm rõ hơn khái niệm đề tài,
Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học viết: đề tài là “phạm vi các sự kiện tạo
nên cơ sở chất liệu đời sống của tác phẩm (chủ yếu là tác phẩm tự sự và kịch), đồng thời gắn với việc xác lập chủ đề của tác phẩm” (Lại Nguyên Ân, 2017)
Nhìn lại truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XXI đang khảo sát, chúng tôi cho rằng có thể có hai dạng truyện ngắn cơ bản, xét về mặt nội dung đề tài Đó là những truyện có điểm xuyết yếu tố Phật giáo (chúng tôi tạm gọi là dạng 1) và những truyện có đề tài thuần Phật giáo (tạm gọi là dạng 2) Điều này thực ra khá dễ hiểu,
vì những truyện ngắn đó được viết bởi những người khác nhau, sự am hiểu về Phật học khác nhau và mục đích hướng tới, đối tượng tiếp nhận cũng khác nhau Những truyện được viết cho đa số độc giả có vốn kiến thức về Phật giáo bình thường sẽ khác với những truyện được viết cho độc giả có sự am hiểu về Phật học sâu sắc