1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÙNG VEN BIỂN - HẢI ĐẢO TỈNH KHÁNH HÒA

179 7 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong 2 tài liệu có liên quan là “Xây dựng mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng, góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát Bà - Hải Phòng” và “Du lịch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Phạm Quốc Tuấn, học viên cao học khóa 2011 – 2013, khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi xin chịu trách nhiệm trước hội đồng Khoa học khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Học viên

Phạm Quốc Tuấn

Trang 3

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 8

1.1 Cộng đồng địa phương 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Các yếu tố tác động đến sự hình thành một cộng đồng 9

1.1.3 Các đặc trưng của cộng đồng ven biển-hải đảo 9

1.2 Du lịch cộng đồng 11

1.2.1 Khái niệm 11

1.2.2 Vai trò của du lịch cộng đồng 14

1.2.3 Nguyên tắc phát triển của DLCĐ 14

1.2.4 Điều kiện phát triển DLCĐ 15

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng 17

Trang 4

1.2.6 Các thành phần tham gia phát triển du lịch cộng đồng 18

1.2.7 Quan hệ và mức độ tham gia của cộng đồng đối với hoạt động du lịch 20

1.3 Một số mô hình và bài học kinh nghiệm trong phát triển DLCĐ ở một số nước Asian và tại Việt Nam 24

1.3.1 Các mô hình trong phát triển DLCĐ ở Indonesia và Malaysia 24

1.3.2 Một số mô hình trong phát triển DLCĐ tại Việt Nam 30

1.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hình phát triển DLCĐ tại các nước Asian và Việt Nam 32

1.4 Không gian hoạt động phát triển DLCĐ vùng ven biển - hải đảo 33

1.4.1 Khái niệm không gian phát triển du lịch vùng ven biển - hải đảo 33

1.4.2 Không gian hoạt động phát triển DLCĐ ven biển-hải đảo 34

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÙNG VEN BIỂN – HẢI ĐẢO TỈNH KHÁNH HOÀ 35

2.1 Tổng quan chung về Khánh Hòa 35

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên – kinh tế- xã hội của Khánh Hòa 35

2.1.2 Tài nguyên du lịch Khánh Hòa 39

2.1.3 Thực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa 44

2.2 Du lịch cộng đồng vùng ven biển - hải đảo Khánh Hòa 49

2.2.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu 49

2.2.2 Thực trạng du lịch cộng đồng vùng ven biển-hải đảo Khánh Hòa 63

Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MÔ HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC VÙNG VEN BIỂN - HẢI ĐẢO TỈNH KHÁNH HOÀ 74

3.1 Cơ sở khoa học cho việc xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng vùng ven biển đảo Khánh Hòa 75

3.1.1 Sự cần thiết cho việc xây dựng mô hình du lịch cộng đồng 75

Trang 5

3.1.2 Phân tích mô hình DPSIR làm cơ sở khoa học trong việc đưa ra phương án

phát triển du lịch cộng đồng tại các vùng ven biển – hải đảo Khánh Hòa 75

3.2 Xây dựng mô hình DLCĐ tại vùng ven biển-hải đảo Khánh Hòa 80

3.2.1 Mục tiêu của mô hình DLCĐ vùng ven biển-hải đảo Khánh Hòa 81

3.2.2 Xây dựng mô hình DLCĐ vùng ven biển-hải đảo Khánh Hòa 81

3.2.3 Dự kiến kế hoạch triển khai mô hình vào thực tiễn 84

3.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình DLCĐ tại vùng ven biển đảo tỉnh Khánh Hòa 88

3.3.1 Giải pháp đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, CSVCKT du lịch 88

3.3.2 Giải pháp thu hút sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch 90

3.3.3 Giải pháp bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên du lịch 92

3.3.4 Giải pháp xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng ven biển-hải đảo tỉnh Khánh Hòa 94

3.3.5 Giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho DLCĐ 95

3.3.6 Giải pháp cho việc chia sẻ công bằng lợi ích giữa các bên tham gia 97

3.3.7 Giải pháp cơ chế, chính sách quản lý phù hợp 98

3.4 Một số kiến nghị 100

3.4.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch 100

3.4.2 Đối với các doanh nghiệp lữ hành, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch 101

3.4.3 Đối với cộng đồng dân cư vùng ven biển và hải đảo 101

Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 111

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng Việt

KBVHSTB Khu bảo vệ hệ sinh thái biển

HST RSH Hệ sinh thái rạn san hô

MCD Centre for Marinelife Conservation and Community

Development (Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng)

UNWTO United National World Tourist Organization (Tổ chức Du

lịch Thế giới) IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural

Resources (Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên)

NGO Non-governmental organization (Tổ chức phi chính phủ) SNV Netherlands Development Organization (Tổ chức phát triển

Hà Lan) LPMA Sustainable Livelihoods in and around Marine Protected

Areas (Hợp phần sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các khu vực bảo tồn biển Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU- SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

A DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình hoạt động Homestay tại 5 Bang/ Tỉnh của Malaysia……… 28 Bảng 2.1 Các đặc trưng nhiệt độ tỉnh Khánh Hòa……… …….…36 Bảng 2.2 Đơn vị hành chính cơ sở tỉnh Khánh Hòa……… ……….….37 Bảng 2.3 Phân bố dân cư trong tỉnh Khánh Hoà năm 2011………… ……….….38 Bảng 2.4 Một số chỉ tiêu KT-XH chủ yếu của tỉnh Khánh Hòa (2012 -2013)

……… ……… 39 Bảng 2.5 Khách du lịch đến Khánh Hòa giai đoạn 2009 – 2013……….… …… 45 Bảng 2.6 So sánh lượt khách lưu trú tại các điểm đến……… …… 45 Bảng 2.7 Doanh thu du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2009 – 2013……… … 46 Bảng 2.8 Dân cư địa phương sống trên các đảo thuộc vịnh Nha Trang.…… … 50 Bảng 2.9 Số hộ tham gia các ngành nghề ở xã Vạn Hưng……….… … …54 Bảng 2.10 Các hình thức tham gia dịch vụ du lịch của cộng đồng địa phương …65 Bảng 2.11 Mức thu nhập thêm hàng tháng từ du lịch của các hộ dân trên đảo Bình

Ba và đảo Trí Nguyên……… ……… … 66 Bảng 2.12 Những vấn đề được cộng đồng địa phương quan tâm khi tham gia hoạt động du lịch ……… ……… ……… 67 Bảng 2.13 Mức độ hài lòng của KDL với môi trường du lịch biển đảo và các yếu tố phục vụ khác … ……… ……….… …68 Bảng 2.14 Mức chi tiêu của du khách tại các điểm DLCĐ ven biển-hải đảo… …69

B DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tình hình hoạt động KD du lịch tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2009 – 2013……… 44

Trang 8

Biểu đồ 2.2 Mức thu nhập thêm hàng tháng của người dân từ hoạt động du lịch 66 Biểu đồ 2.3 Mức chi tiêu của KDL khi đến các điểm DLCĐ Khánh Hòa…… 69 Biểu đồ 2.4 Những khó khăn của công ty lữ hành khi thiết kế sản phẩm DLCĐ 71

C DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ mô hình DPSIR……… …… …… 76

Sơ đồ 3.2 Mô hình du lịch cộng đồng tại vùng ven biển đảo Khánh Hòa 82

D HÌNH VẼ

Hình 1: Bản đồ các đảo Vịnh Nha Trang……… … …….………49 Hình 2: Bản đồ khu vực vịnh Cam Ranh……….52 Hình 3: Sơ đồ khu vực vịnh Vân Phong 53

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch hiện nay đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và mang lại lợi ích cho nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Từ nay đến năm 2020 theo UNWTO, dự báo du lịch còn tăng trưởng nhanh hơn nữa, tạo ra các cơ hội kinh tế lớn song cũng mang lại những thách thức gay gắt và những mối đe dọa tiềm

ẩn đối với môi trường và các cộng đồng địa phương nếu không có quy hoạch, được quản lý tốt Trước những nguy cơ như vậy, con người đã có những thay đổi trong nhận thức và ngày càng muốn đóng góp trách nhiệm cho một thế giới phát triển bền vững hơn Theo đó, xu thế phát triển du lịch định hướng đến cộng đồng có ý nghĩa quan trọng, không chỉ về mặt kinh tế mà còn đối với sự phát triển bền vững của du lịch trên các khía cạnh về bảo tồn giá trị văn hóa và tài nguyên môi trường

Những năm gần đây, du lịch Khánh Hòa đã có những bước phát triển mạnh mẽ

và là một trong các trung tâm du lịch lớn của cả nước Khánh Hòa là địa phương giàu nguồn lực cho phát triển du lịch Trong nhiều nguồn lực nói chung, có hệ thống

du lịch biển - đảo là một đặc thù riêng, rất hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế Nói đến du lịch biển đảo Khánh Hòa, nhiều người nghĩ ngay đến những tour du lịch thưởng ngoạn các danh thắng, tắm biển, lặn biển ngắm san hô tại các vùng ven biển - hải đảo thành phố Nha Trang Du lịch biển đảo tuy đã có bước tăng trưởng nhanh, song việc khai thác tài nguyên biển phục vụ du lịch vẫn còn nhiều yếu kém, hạn chế dẫn tới hiệu quả du lịch chưa cao, ẩn chứa nhiều nguy cơ suy thoái tài nguyên

Trong định hướng chung về “chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” đã xác định mục tiêu là mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương nhưng vẫn bảo tồn nguồn lợi tự nhiên và giá trị văn hóa truyền thống Tuy nhiên, thực tế đời sống cộng đồng ven biển – hải đảo Khánh Hòa còn nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân như:

sự tập trung dân cư cao, hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào môi trường tự nhiên…, dẫn đến sự tác động mạnh tới hệ thống tài nguyên môi trường và xã hội, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả du lịch nói chung Như vậy, du

Trang 10

lịch Khánh Hòa rất cần một định hướng chiến lược cho các loại hình du lịch mang tính bền vững Điều này, không những đáp ứng cho những du khách thích sự khám phá và trải nghiệm mà còn đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững của Khánh Hòa trong tương lai

Từ những nguyên nhân trên, việc phát triển du lịch cộng đồng vùng ven biển-hải đảo Khánh Hòa, mà ở đó các giá trị văn hóa truyền thống, vai trò cộng đồng được phát huy đầy đủ là một trong những phương thức tiếp cận hiện đại và thuận lợi cho phát triển kinh tế bền vững Du lịch cộng đồng tạo ra cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương; góp phần tích cực phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa, nghề truyền thống, từ đó đẩy mạnh giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam và thế giới

Với mong muốn tìm ra những cơ sở khoa học nhằm thúc đẩy hoạt động du lịch cộng đồng ở Khánh Hòa nói chung và vùng ven biển - hải đảo nói riêng phát triển hơn, đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng vùng ven biển - hải đảo tỉnh Khánh Hòa” đã được lựa chọn để làm luận văn thạc sỹ Du Lịch Học Việc phát triển du lịch cộng đồng cũng sẽ góp phần tạo thêm những sản phẩm du lịch thực sự hấp dẫn đáp ứng cho nhu cầu và tính đa dạng trong hoạt động du lịch tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Khánh Hòa nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Hiện nay, loại hình du lịch cộng đồng đang được nhiều du khách và các nhà hoạch định chính sách về phát triển du lịch quan tâm Các công trình nghiên cứu về

du lịch bền vững dựa vào cộng đồng là đề tài thu hút các chuyên gia về du lịch trên thế giới và ở Việt Nam

2.1 Trên thế giới

Thuật ngữ du lịch dựa vào cộng đồng xuất phát từ hình thức du lịch làng bản từ những năm 1970 Trên thực tế, du lịch dựa vào cộng đồng đã được hình thành, lan rộng và tạo ra sự phong phú, đa dạng cho các loại sản phẩm du lịch vào thập kỷ 80

và 90 của thế kỷ trước tại các nước trong khu vực châu Phi, châu Úc, châu Mỹ La Tinh Hiện nay DLCĐ được các Tổ chức phi chính phủ, Tổ chức Bảo tồn thiên

Trang 11

nhiên Thế giới quan tâm đầu tư và bắt đầu phát triển mạnh ở các nước châu Á, trong

đó có các nước trong khu vực ASEAN như: Indonesia, Philipin, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Nepal, v.v

Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas đã nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn họ

quản lý với khái niệm: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu

là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ

du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” (Nicole Hausler and Wolfang Strasdas,

Community Based Sustainable Tourism A Reader, 2000)

Năm 2002, Ủy ban Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc họp Hội nghị

thượng đỉnh về phát triển bền vững tại Johannesburg, đã kêu gọi “ Phát triển bền vững để mang lại nhiều lợi ích hơn cho cộng đồng dân cư tại các điểm du lịch, đồng thời đảm bảo duy trì sự phát triển bền vững của các yếu tố văn hóa và môi trường nơi họ sinh sống” Bên cạnh đó, hội nghị cũng đưa ra sáng kiến phát triển bền vững

gắn với xóa đói giảm nghèo hay gọi là sáng kiến STEP nhằm tài trợ cho một số dự

án phát triển du lịch giảm nghèo tại một số quốc gia

Trong cuốn “Community Development Through Tourism”, tác giả Sue Beeton

đã tiếp cận “Từ lý thuyết đến thực hành trong đó có đưa ra các trường hợp minh họa

cụ thể giúp người đọc có điều kiện so sánh và áp dụng” Cuốn sách cũng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLCĐ, lập kế hoạch chiến lược cho DLCĐ, cách tiếp thị DLCĐ cũng như đối phó với khủng hoảng DLCĐ [59]

Và bên cạnh những công trình liên quan đến loại hình du lịch cộng đồng từ các nhà nghiên cứu du lịch trên thế giới thì Việt Nam cũng đã có sự quan tâm cần thiết

và đạt những thành tựu khả quan

2.2 Tại Việt Nam

Các công trình về du lịch bền vững trong đó có du lịch cộng đồng của các nhà nghiên cứu đầu ngành về du lịch đã đóng góp to lớn về mặt lý luận cho đề tài, tiêu biểu như:

Trang 12

Trong 2 tài liệu có liên quan là “Xây dựng mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng, góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát

Bà - Hải Phòng” và “Du lịch sinh thái những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” do tác giả Phạm Trung Lương (chủ biên) đã khẳng định cần thu hút CĐĐP vào các hoạt động du lịch và chia sẻ những lợi ích từ hoạt động du lịch với CĐĐP trong một số nguyên tắc phát triển du lịch bền vững nói chung [25],[26]

Tác giả Võ Quế trong cuốn “Du lịch cộng đồng Lý thuyết và vận dụng”, đã hệ

thống cơ sở lý luận cho DLCĐ và nghiên cứu các mô hình phát triển DLCĐ một số quốc gia trên thế giới [32]

Tác giả Bùi Thị Hải Yến - chủ biên trong cuốn “Du Lịch Cộng Đồng - 2012” đã

hệ thống cơ sở lý luận DLCĐ, đưa ra các mô hình kinh nghiệm về phát triển DLCĐ tại các quốc gia trên thế giới và Việt Nam, bên cạnh đó tác giả cũng đã hoàn thiện

cơ sở lý thuyết cho việc lập kế hoạch phát triển DLCĐ [50]

Vấn đề phát triển du lịch dựa vào cộng đồng lần đầu tiên được đưa ra tại hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng Việt Nam – 2003 tổ chức tại Hà Nội Sau đó đã được nhiều tỉnh thành nghiên cứu áp dụng thành công như: loại hình du lịch ở nhà dân (homestay) ở bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình), Sapa (Lào Cai), du lịch cộng đồng ở đảo Cát Bà (Hải Phòng) Ở miền Trung, đã có Thừa Thiên Huế với loại hình “homestay” ở làng cổ Phước Tích; du lịch Làng bản tại thôn Dõi- huyện Nam Đông

Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, tác giả Huỳnh Ngọc Phương đã đóng góp với đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng tại các Làng nghề truyền thống ở thành phố Nha trang”

Hiện có một số nhà nghiên cứu, các nhà báo và du khách viết bài về các loại hình du lịch biển đảo tại địa phương Tuy vậy, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về phát triển DLCĐ vùng ven biển - hải đảo Khánh Hòa

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Đưa ra những kiến nghị và các giải pháp nhằm bảo tồn, khai thác các nguồn lực của địa phương cho phát triển DLCĐ một cách bền vững, góp phần nâng cao chất lượng, đa dạng các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, môi trường sống của cộng đồng địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu :

- Nghiên cứu, hệ thống và bổ sung cơ sở lý luận về phát triển DLCĐ

- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển DLCĐ các nước và một số tỉnh thành ở Việt Nam

- Khảo sát, điều tra đánh giá các nguồn lực và thực trạng phát triển DLCĐ tại các vùng ven biển - hải đảo Khánh Hòa

- Đưa ra kiến nghị và đề xuất các nhóm giải pháp hợp lý nhằm xây dựng kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng cho vùng ven biển- hải đảo Khánh Hòa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn gồm các nguồn lực, thực trạng phát triển DLCĐ, là chủ thể phát triển DLCĐ

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: nghiên cứu được giới hạn ở vùng ven biển - hải đảo thuộc tỉnh

Khánh Hòa tập trung ở các khu vực: Vịnh Nha trang (Tp.Nha trang); Vịnh Cam Ranh (Tp Cam Ranh), Vịnh Vân Phong (H.Vạn Ninh)

Trang 14

- Về thời gian: số liệu thống kê để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch ở Khánh Hòa tập trung vào 05 năm gần đây (2009 - 2013)

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra khảo sát và thu thập tài liệu: Đây là phương pháp

truyền thống với việc thu thập các số liệu thứ cấp đáng tin cậy nhằm đánh giá các nguồn lực để phát triển du lịch nói chung và phát triển DLCĐ nói riêng tại địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp điều tra xã hội học: Dựa vào các bảng câu hỏi đóng/ mở nhằm

khảo sát ý kiến của cộng đồng cư dân, du khách về các vấn đề cho phát triển DLCĐ tại địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập được những thông tin, số liệu

- Phương pháp sơ đồ, bản đồ: Phương pháp này cho phép nghiên cứu những vấn

đề có sự phân bố theo không gian lãnh thổ và thể hiện các đối tượng nghiên cứu bằng sơ đồ

- Phương pháp chuyên gia: Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả có tham vấn ý

kiến của nhiều chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng

- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp và đánh giá: Được sử dụng để

thống kê, so sánh, đánh giá các thông tin, số liệu thực trạng phát triển du lịch thông qua các chỉ tiêu thống kê ngành Thông qua việc phân tích, so sánh, tổng hợp, mô hình hoá và cân đối: các dữ liệu thu thập từ các phương pháp trên sẽ được xử lý, sắp xếp một cách hợp lý, hệ thống nhằm đảm bảo tính chính xác, logic, xúc tích khoa học, giáo dục và thực tiễn

- Phương pháp phân tích định lượng: Là việc xử lý các số liệu sơ cấp thu thập

và thông qua các phần mềm Excel và SPSS 20.0 để tính toán tần suất, phân tích định lượng làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng trong chương 2 và đề ra giải pháp ở chương 3

Trang 15

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Đề tài góp phần củng cố những lý luận về DLCĐ cho việc phát triển các vùng ven biển – hải đảo

- Khảo sát về nhu cầu cho phát triển DLCĐ tại một số điểm thuộc các vùng ven biển-hải đảo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

- Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển DLCĐ ở Việt Nam và trên thế giới vào việc khảo sát đánh giá nguồn lực thực tiễn phát triển DLCĐ tại các vùng ven biển-hải đảo tỉnh Khánh Hòa

- Đưa ra các kiến nghị, xây dựng mô hình và giải pháp phát triển DLCĐ tại các vùng ven biển-hải đảo tỉnh Khánh Hòa

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm ba chương như sau:

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÙNG VEN BIỂN - HẢI ĐẢO KHÁNH HÒA

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MÔ HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC VÙNG VEN BIỂN - HẢI ĐẢO TỈNH KHÁNH HOÀ

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1 Cộng đồng địa phương

1.1.1 Khái niệm

Cộng đồng là nhóm người thường sinh sống trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình cùng một nhóm Những người trong cùng cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một tôn giáo, một tầng lớp chính trị (Keith và Ary,1998)

Khái niệm cộng đồng thường được xác định theo hai nghĩa: (1) Nghĩa thứ nhất liên quan tới cái nhìn địa lý gắn kết với cộng đồng và cho cộng đồng là một nhóm

cư dân cùng sinh sống trong một địa vực nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản (2) Nghĩa thứ hai gắn liền với lịch sử, cuộc sống con người và nêu khái niệm cộng đồng là một nhóm dân cư cùng có chung những mối quan tâm cơ bản, có thể được biến đổi bởi quá trình vận động của lịch sử, làm cho các thành viên của cộng đồng cũng phải biến đổi nhận thức và hành vi (Knop và Steward, 1973) Một số các tác giả Kang Santran (2008), Bandit Santikul (2009), Bùi Thanh Hương và Nguyễn Đức Hoa Cương (2007), Phạm Trung Lương (2010), Bùi Thị Hải Yến (2012) đã chứng minh tác động của việc phát triển du lịch đến đời sống kinh tế

- xã hội của cộng đồng dân cư

Văn hóa cộng đồng được xác lập bởi các yếu tố như chuẩn mực đạo đức văn hóa, hệ thống giá trị hình thành và được kế tục qua lịch sử, thái độ và nhận thức của người dân Nó có thể được đo lường bởi các nhân tố như:

- Các mối quan hệ xã hội tốt đẹp trong cộng đồng

- An ninh địa phương và cộng đồng

- Các mối quan hệ gia đình tốt đẹp, bền vững

- Người dân thân thiện, cởi mở

- Cộng đồng có tính hỗ trợ cao

Trang 17

1.1.2 Các yếu tố tác động đến sự hình thành một cộng đồng

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thì có một số yếu tố chính hình thành cộng đồng là yếu tố địa vực, yếu tố kinh tế (nghề nghiệp) và yếu tố văn hoá + Địa vực: yếu tố địa vực đóng vai trò quan trọng tạo nên sự cố kết tập thể, là

cơ sở để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác Ý thức về địa vực có tính sâu sắc và bền vững của con người trong lịch sử và là hạt nhân tạo nên tâm thức chung của cộng đồng

+ Kinh tế (nghề nghiệp): các hoạt động về kinh tế như: nghề nghiệp, thị trường,

sở hữu, tổ nghề… không chỉ đảm bảo cho cộng đồng về mặt vật chất mà còn là yếu

tố tạo nên sức mạnh và sự đoàn kết

+ Văn hoá: yếu tố văn hoá là một biểu thị có tính tổng hợp khi nhận biết các cộng đồng, trong đó các khía cạnh cần lưu ý là tộc người, tôn giáo - tín ngưỡng và

hệ giá trị - chuẩn mực

1.1.3 Các đặc trưng của cộng đồng ven biển-hải đảo

Khác với những cư dân đất liền, cộng đồng cư dân ven biển-hải đảo luôn phải đối mặt với rất nhiều thách thức cũng như nguy cơ từ biển cả, từ đó đã xây dựng và hình thành những quan niệm, lối sống, kinh tế - văn hóa biển mang những sắc thái đặc thù riêng biệt

1.1.3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Theo Hà Xuân Thông [41, tr.4-7], cộng đồng ven biển đảo có một số đặc điểm chính như sau:

­ Mật độ dân cư: Cư dân ven biển và hải đảo thường tập trung khá đông đúc

và mật độ dân số khá cao song sự phân bố dân cư không đồng đều

­ Dân số tăng nhanh tại các vùng ven biển đã thúc đẩy quá trình sử dụng các diện tích đất hoang hoá và các tài nguyên khác nhau

Trang 18

­ Phương thức sinh sống: cộng đồng cư dân ven biển-hải đảo thường sinh sống chủ yếu dựa trên nền tảng của ngư nghiệp kết hợp với nông nghiệp và các ngành buôn bán, dịch vụ có liên quan đến khai thác tiềm năng kinh tế biển

­ Cấu trúc lao động các vùng ven biển có nguồn nhân lực dồi dào và đa ngành

Số dân trong độ tuổi lao động ở vùng ven biển chiếm khoảng 50%, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn

­ Tình trạng thiếu việc làm: Nghề biển làm việc vất vả, nam giới là lực lượng lao động chính nên dẫn đến tình trạng thiếu việc làm

­ Trình độ lao động: lực lượng lao động đông đảo nhưng trình độ lao động còn

bị hạn chế, đặc biệt là lực lượng lao động nữ Ngoài nghề chính là nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác hải sản còn có một số nghề khác như xây dựng, đan, thêu, kinh tế biển

­ Đời sống kinh tế của những cộng đồng ngư dân còn chưa ổn định và luôn gặp nhiều khó khăn và tổn thất do thiên tai tạo nên

Ngoài ra, theo Phạm Trung Lương và các cộng sự [26, tr.53-56], khi đề cập đến cộng đồng ven biển-hải đảo cần quan tâm đến các yếu tố sau:

­ Sự phụ thuộc về lương thực: Những cư dân ven biển tuy nguồn thu nhập đa dạng nhưng luôn có mối đe dọa về an ninh lương thực Trên thực tế, sinh kế của

CĐĐP ven biển phụ thuộc vào khai thác biển và không sản xuất lương thực

­ Hiện tượng di cư tự do tăng nhanh: Hiện tượng dân cư di chuyển từ nội địa

ra ven biển tìm sinh kế đã góp phần vào sự thay đổi dân số địa phương, văn hóa và ngôn ngữ pha trộn Hiện tượng di cư tự do này đã gây sức ép lớn đến tài nguyên và

môi trường và việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội

­ Sự ô nhiễm môi trường, cạn kiệt và suy thoái tài nguyên: Việc khai thác quá mức và thiếu sự quản lý một cách chặt chẽ nguồn tài nguyên đã khiến cho hệ sinh thái ven biển đảo những năm gần đây đang dần bị hủy hoại Những rạn san hô, rừng ngập mặn và vùng cửa sông bị tàn phá bởi khai thác quá mức do nghèo đói, đánh

Trang 19

bắt bằng phương pháp hủy diệt, ô nhiễm, xói mòn và những tác động khác nữa của

sự phát triển trên đất liền

1.1.3.2 Đặc điểm văn hóa

Theo Tô Duy Hợp [14, tr.12] thì: “Nền văn hóa trọng nông nghiệp được tạo nên bởi sự tác động của các yếu tố địa lý, cư dân và con người vùng ven biển và hải đảo”

Do sự ảnh hưởng của môi trường biển cũng như nghề đánh bắt nuôi trồng hải sản nên cộng đồng cư dân vùng ven biển hải đảo luôn có sự đa dạng và phong phú ở nhiều phương diện như: văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán, nghi lễ, ngành nghề truyền thống, nghệ thuật diễn xướng cùng với hệ thống tín ngưỡng và các tập tục thờ thần Biển rất phong phú Phổ biến nhất là hình ảnh thờ cá Ông (Voi), Tứ Vị Thánh Nương (Thần Độc Cước, Dương Không Lộ, Long Vương, Thuỷ Thần) của ngư dân

Như vậy, các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế và văn hóa xã hội của cộng đồng vùng ven biển-hải đảo, đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch nói chung và phát triển DLCĐ nói riêng Ngoài những thuận lợi từ việc khai thác các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn liền với đời sống cư dân vùng ven biển-hải đảo, còn là góp phần tận dụng nguồn nhân lực dồi dào Việc phát triển du lịch cũng giúp xóa đói giảm nghèo, giảm bớt các hiện tượng tiêu cực do các đặc điểm kinh tế xã hội mang lại cho cộng đồng địa phương vùng ven biển-hải đảo

1.2 Du lịch cộng đồng

1.2.1 Khái niệm

Từ lâu, khái niệm “du lịch cộng đồng” (DLCĐ) đã được đề cập rộng rãi tại

nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, cụ thể:

Theo Sue Beeton (2006) : “Du lịch dựa trên hai khía cạnh là điểm tham quan và con người, thế nên du lịch không thể tồn tại bên ngoài một cộng đồng Khi nói đến

du lịch thì cần xem luôn yếu tố cộng đồng trong đó cùng một lúc và mọi sự thay đổi của yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến yếu tố kia Do đó, du lịch là một trong những công

Trang 20

cụ quan trọng nhất cho việc phát triển một cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng tại các vùng hẻo lánh và nông thôn” [59, tr 16]

Ở Thái Lan khái niệm Community - Based Tourism - Du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa: “DLCĐ là du lịch có tính đến tính bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội Nó do chính cộng đồng quản lý và làm chủ vì lợi ích của cộng đồng vì mục đích tạo cho du khách có khả năng nhận thức và tìm hiểu về cộng đồng và lối sống của cộng đồng” (REST – 1997) [56, tr.6]

Khái niệm này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu của nhiều tổ chức xã hội trên thế giới Pachamama (Tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về CBT như sau:“ DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng

tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa

phương” [65]

Còn Tổ chức mạng lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo đã nêu: “DLCĐ là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên” [52, tr.9]

Tại Việt Nam, cũng có nhiều nhà nghiên cứu đề cập về DLCĐ Tác giả Võ Quế (2006) đã nhìn nhận: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn

tự nhiên.” Bên cạnh nội dung xem xét phát triển DLCĐ là phương thức góp phần

Trang 21

đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn, tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn

đề cập đến việc tham gia của cộng đồng địa phương như sau: “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách” [50, tr.35 - 36]

Cuối cùng với những nội hàm về du lịch cộng đồng kể trên, tác giả Phạm Trung Lương đã đưa ra khái niệm:

“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mang lại cho du khách những trải nghiệm về bản sắc cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, được hưởng lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch và có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường, bản sắc văn hóa của cộng đồng” [29, tr.18]

Và khái niệm trên sẽ được sử dụng trong khuôn khổ nội dung của luận văn Như vậy, DLCĐ về cơ bản là do cộng đồng địa phương sở hữu và quản lý Một số loại hình du lịch sau đây phù hợp với DLCĐ trong việc quản lý có trách nhiệm các tài nguyên thiên nhiên, môi trường, văn hóa và xã hội, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng:

Du lịch sinh thái: du lịch sinh thái là một hình thức du lịch diễn ra trong khu vực

tự nhiên (đặc biệt là trong các khu vực cần được bảo vệ và môi trường xung quanh nó) và kết hợp tìm hiểu bản sắc văn hóa - xã hội của địa phương có sự quan tâm đến vấn đề môi trường Nó thúc đẩy một hệ sinh thái bền vững thông qua một quá trình quản lý môi trường có sự tham gia của tất cả các bên liên quan

Du lịch văn hóa: du lịch văn hóa là một trong những thành phần quan trọng nhất

của du lịch dựa vào cộng đồng từ khi văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, là yếu tố thu hút khách chủ yếu của cộng đồng địa phương Ví dụ về du lịch dựa vào văn hóa bao gồm

Trang 22

khám phá các di tích khảo cổ học, địa điểm tôn giáo nổi tiếng hay trải nghiệm cuộc sống địa phương tại một ngôi làng dân tộc thiểu số

Mô hình phát triển DLCĐ sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho việc giải quyết các mối quan hệ lợi ích về kinh tế-xã hội-môi trường nhằm phát triển bền vững

- Thứ hai, góp phần đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch khi mà những người dân chưa có điều kiện tham gia vào các dịch vụ du lịch sẽ được hưởng lợi từ các chính sách đầu tư nâng cấp về cơ sở hạ tầng như: giao thông, điện, nước, viễn thông …

- Thứ ba, góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng và qua đó sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu, đa dạng hóa ngành nghề và nâng cao trình độ lao động khu vực này Đây cũng là yếu tố giúp hạn chế sự di chuyển của cộng đồng từ vùng nông thôn ra thành thị, đảm bảo cho việc phát triển và ổn định kinh tế xã hội

- Thứ tư, phát triển du lịch cộng đồng sẽ góp phần tích cực trong việc phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nghề truyền thống, vì vậy có đóng góp cho phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường du lịch

- Thứ năm, phát triển du lịch cộng đồng sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu văn hóa

và kế đến là giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, từ đó tạo cơ hội cho các vùng còn khó khăn phát triển

1.2.3 Nguyên tắc phát triển của DLCĐ

Các nguyên tắc chủ yếu cho phát triển du lịch cộng đồng được xác định dựa trên bản chất của du lịch cộng đồng bao gồm:

Trang 23

- Công bằng về mặt xã hội: các thành viên của cộng đồng sẽ tham gia vào việc lên

kế hoạch, triển khai, kiểm soát các hoạt động du lịch tại cộng đồng Thông qua sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động du lịch, từ đó các lợi ích kinh tế sẽ được chia sẻ công bằng và rộng khắp, không chỉ riêng cho các công ty du lịch mà còn dành cho các thành viên của cộng đồng

- Tôn trọng các giá trị văn hoá của cộng đồng: thực tế cho thấy chương trình du

lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương Điều quan trọng là các giá trị văn hoá của cộng đồng phải được bảo vệ và giữ gìn với sự đóng góp tích cực của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặc biệt là cư dân địa phương bởi không đối tượng nào có khả năng bảo vệ và duy trì các giá trị văn hoá tốt hơn chính họ Cộng đồng địa phương phải nhận thức được vai trò và vị trí của mình cũng như những lợi, hại mà việc phát triển du lịch mang đến

- Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng: Theo nguyên tắc này cộng đồng cùng

được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào các hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch Nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng được trích một phần thông qua “Quỹ cộng đồng” để sử dụng cho lợi ích chung của cộng đồng: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường sá, cầu cống, điện và chăm sóc sức khoẻ giáo dục v.v

- Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với việc bảo vệ tài nguyên

thiên nhiên và văn hoá hướng tới sự phát triển bền vững [29, tr.19]

1.2.4 Điều kiện phát triển DLCĐ

Để phát triển DLCĐ một cách hiệu quả thì đòi hỏi một số điều kiện cơ bản và đặc thù liên quan đến cộng đồng Việc lựa chọn đúng điểm để triển khai dự án hay việc phân tích, đánh giá các điều kiện phát triển tại một địa phương là rất quan trọng Với tư cách là một loại hình du lịch, việc phát triển loại hình DLCĐ cần quan tâm các điều kiện cụ thể như sau:

Trang 24

- Điều kiện thứ nhất: cần có nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn hấp dẫn có

khả năng thu hút khách du lịch Tài nguyên tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu khu vực và các động thực vật; tài nguyên nhân văn là các yếu tố văn hóa truyền thống đặc sắc, các công trình kiến trúc đặc trưng hay điều kiện sinh hoạt tại cộng đồng Những điều kiện cơ bản trên là tiền đề cho các hoạt động tổ chức phát triển du lịch Trong khi tài nguyên du lịch có tác dụng lớn trong việc thu hút du khách thì cộng đồng dân cư địa phương lại có vai trò duy trì và phát triển nguồn khách thông qua việc bảo tồn, tôn tạo những giá trị tài nguyên điểm đến

- Điều kiện thứ hai: cần có khả năng tiếp cận điểm đến du lịch cộng đồng Đây

chính là điều kiện liên quan đến cơ sở hạ tầng, thông qua hệ thống giao thông giúp

du khách dễ dàng và an toàn tiếp cận điểm đến Các hoạt động phát triển du lịch không thể thực hiện được nếu không có hạ tầng tiếp cận điểm tài nguyên

- Điều kiện thứ ba: cần có sự hiện diện của cộng đồng dân cư sinh sống tại điểm

đến hoặc tại khu vực liền kề phát triển du lịch Phong tục tập quán, lối sống, trình

độ học vấn, quy mô cộng đồng, cơ cấu nghề nghiệp là những yếu tố cần được xác định và đánh giá rõ ràng trước khi quyết định xây dựng điểm đến du lịch cộng đồng

- Điều kiện thứ tư: cần có sự tự nguyện của cộng đồng đối với đề xuất phát triển

du lịch cộng đồng Đây là điều kiện đặc thù rất quan trọng để có thể phát triển du lịch cộng đồng bởi loại hình du lịch này chỉ có thể phát triển cùng với sự nhận thức sâu sắc của cộng đồng về trách nhiệm và quyền lợi của họ khi tham gia vào hoạt động du lịch

- Điều kiện thứ năm: cần có nhu cầu đối với sản phẩm du lịch cộng đồng Phát

triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng phải phù hợp với quy luật

“Cung - Cầu” Thị trường khách đủ lớn về số lượng và đảm bảo chất lượng (khả năng chi trả), ổn định cho vùng, từ đó đảm bảo khối lượng công ăn việc làm cho cộng đồng, thu nhập đều đặn cho họ

- Điều kiện thứ sáu: điểm đến du lịch cộng đồng cần được quy hoạch và đưa vào

hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ Đây là điều kiện chung để phát triển bất

Trang 25

kỳ một điểm đến du lịch nào, trong đó có điểm đến du lịch cộng đồng Tuy nhiên trong trường hợp du lịch cộng đồng, điều kiện này trở nên quan trọng hơn bởi bản thân cộng đồng thường không có khả năng tự tổ chức quy hoạch và kết nối với hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ [29, tr.20]

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng

Có 6 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng bao gồm:

- Tính hiệu quả của hệ thống những cơ chế chính sách và các biện pháp khuyến

khích hợp lý từ các cơ quan quản lý nhằm đảm bảo một môi trường thuận lợi cho du lịch cộng đồng phát triển Các chính sách cơ chế có thể là:

+ Hỗ trợ hạ tầng du lịch tại các điểm du lịch cộng đồng;

+ Tăng khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với các nguồn vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi như một phần của chính sách xóa đói giảm nghèo;

+ Quảng bá du lịch cộng đồng và xúc tiến hình ảnh điểm đến DLCĐ;

+ Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho cộng đồng;

+ Ưu đãi và giá thuê đất lập dự án, thuế kinh doanh dịch vụ DLCĐ, v.v + Hỗ trợ các doanh nghiệp lữ hành có hợp tác đưa khách đến các điểm DLCĐ

- Tính hấp dẫn và hình ảnh điểm đến: Đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến việc thu

hút và giữ chân du khách tại khu vực phát triển du lịch cộng đồng

- Năng lực của cộng đồng: bao gồm năng lực về tổ chức quản lý hoạt động du lịch;

kỹ năng cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản (dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch

vụ hướng dẫn), khả năng về tài chính để phát triển các sản phẩm du lịch tại điểm đến

- Mức độ hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đối với thực hiện quy

hoạch điểm đến du lịch cộng đồng, đầu tư nâng cấp hạ tầng du lịch tại điểm đến, đào tạo kỹ năng tổ chức quản lý và cung cấp dịch vụ, xúc tiến hình ảnh điểm đến

- Mức độ hợp tác của các công ty du lịch, đặc biệt là các công ty lữ hành trong việc

quảng bá sản phẩm du lịch cộng đồng và đảm bảo nguồn khách

Trang 26

- Mức độ hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ về kinh nghiệm

tổ chức du lịch cộng đồng cũng như tăng cường năng lực cho cộng đồng tổ chức quản lý và tham gia hoạt động du lịch [29, tr.22]

1.2.6 Các thành phần tham gia phát triển du lịch cộng đồng

Các thành phần tham gia vào du lịch cộng đồng sẽ có vai trò nhất định tùy thuộc vào tình hình phát triển chung của du lịch Việt Nam cũng như hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương Các thành phần tham gia phát triển DLCĐ gồm:

+ Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Vai trò chủ yếu của thành phần này đối với phát triển du lịch cộng đồng là hoạch định chính sách, tạo hành lang pháp lý

và môi trường thuận lợi cho du lịch cộng đồng phát triển Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có vai trò rất quan trọng trong hoạt động xúc tiến điểm đến của

du lịch Việt Nam, trong đó có DLCĐ, để thu hút khách du lịch quốc tế

+ Các cơ quan/tổ chức tư vấn phát triển du lịch: là những đối tác hỗ trợ trong việc

cụ thể hóa các chính sách, định hướng phát triển thông qua việc xây dựng các đề án/dự án quy hoạch, phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng và tiếp cận với thị trường Ngoài việc giúp đỡ các nhà đầu tư phân tích lựa chọn phương án nhằm khai thác có hiệu quả những giá trị tài nguyên du lịch trên địa bàn, các tổ chức tư vấn còn thực hiện các nghiên cứu đánh giá các giá trị tài nguyên, thực trạng – tác động của môi trường cho phát triển du lịch cộng đồng trên những địa bàn cụ thể nhằm đảm bảo phát triển du lịch cộng đồng bền vững Đây là những vấn đề mà các đối tác tham gia khác ít có năng lực để thực hiện

Các cơ quan/tổ chức tư vấn có thể ở cấp trung ương và cũng có thể ở cấp địa phương Các cơ quan ở cấp trung ương thường có vai trò lớn hơn đối với những nghiên cứu tư vấn cấp vĩ mô hoặc phát triển du lịch cộng đồng có tính liên vùng, liên địa phương

+ Các doanh nghiệp du lịch: là thành phần quan trọng trong hoạt động đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng, cung cấp các dịch vụ du lịch cộng đồng

có liên quan nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách Tất nhiên việc xây dựng, phát triển các sản phẩm và các dịch vụ có liên quan sẽ được dựa trên kết

Trang 27

quả hoạt động của các thành phần đã phân tích trên Tuy nhiên các doanh nghiệp

du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch cộng đồng nói riêng bởi đối tác này trực tiếp tham gia vào quá trình

“cung” các sản phẩm du lịch cộng đồng cụ thể

Các doanh nghiệp lữ hành, ngoài chức năng cung cấp các dịch vụ lữ hành còn có chức năng quan trọng là quảng bá các sản phẩm du lịch cộng đồng tới khách hàng (khách du lịch) thông qua văn phòng đại diện, các đại lý lữ hành của mình Đây là vai trò quan trọng có tính “kết nối” giữa “cung” và “cầu” tạo ra một công đoạn liên tục trong hoạt động phát triển du lịch cộng đồng

+ Các chủ sở hữu/chủ quản lý tài nguyên du lịch : về bản chất chính là cộng đồng nơi phát triển du lịch cộng đồng và cũng là “đối tác” của các doanh nghiệp du lịch Quan điểm và mức độ hợp tác của cộng đồng với các doanh nghiệp du lịch

sẽ ảnh hưởng lớn đến quy mô và chất lượng sản phẩm du lịch, từ đó ảnh hưởng chung đến hoạt động phát triển du lịch cộng đồng

Nói chung, khi mà những mâu thuẫn xung đột vẫn tồn tại trong hoạt động phát triển du lịch thì vai trò của cộng đồng càng thể hiện rõ hơn ở góc độ khai thác và bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch tại địa phương đó

+ Khách du lịch: là đối tác quan trọng không thể thiếu trong phát triển du lịch cộng đồng Khách du lịch ngoài việc “tiêu thụ” các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu cá nhân thì còn có vai trò “phản biện” đối với các sản phẩm và dịch vụ

bổ sung có liên quan được tạo ra trong quá trình hoạt động phát triển du lịch cộng đồng, từ đó góp phần đảm bảo sự phát triển du lịch cộng đồng bền vững thông qua vai trò “phản biện” của mình

+ Các cơ quan quản lý nhà nước ở các lĩnh vực có liên quan đến phát triển du

lịch: đó là các bên có liên quan như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,

ngân hàng, bảo hiểm, v.v Vai trò của đối tác này có liên quan đến các ngành hạ tầng cơ sở vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo ra các sản phẩm du lịch và việc thu hút đầu tư cho phát triển du lịch cộng đồng

Trang 28

+ Các Tổ chức quốc tế: Có vai trò hỗ trợ trong lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực, gắn du lịch với xóa đói giảm nghèo, v.v Vai trò của các đối tác này không chỉ ở sự giúp đỡ về vật chất mà còn ở sự giúp đỡ trao đổi kinh nghiệm, xây dựng chính sách cho phát triển du lịch ở Việt Nam Hiện nay việc phát triển

du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng ở Việt Nam đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm tài trợ từ các tổ chức quốc tế như Công đồng Châu Âu (EU), Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), v.v

+ Các tổ chức phi chính phủ: Khác với vai trò mang tính vĩ mô của các tổ chức quốc tế đã đề cập, các tổ chức phi chính phủ thường giúp du lịch Việt Nam trong phát triển các mô hình cụ thể, thực hiện những vấn đề cụ thể mang tính vi mô

Họ đóng vai trò là người tư vấn, hỗ trợ cho cộng đồng về CSVCKT, tài chính, cung cấp chuyên gia nhằm tạo cơ sở ban đầu cho việc phát triển du lịch tại cộng đồng Sau một thời gian hoạt động có hiệu quả, tích cực, họ sẽ trao quyền tổ chức, điều hành và giám sát cho CĐĐP

1.2.7 Quan hệ và mức độ tham gia của cộng đồng đối với hoạt động du lịch 1.2.7.1 Quan hệ giữa cộng đồng địa phương và hoạt động du lịch

Đối với cộng đồng địa phương, du lịch không chỉ có những tác động kinh tế mà còn tác động đến cuộc sống cá nhân tại cộng đồng Du lịch ảnh hưởng nhiều tới lối sống, truyền thống văn hoá cũng như sinh kế của cộng đồng Không giống như những người tham gia khác trong ngành du lịch, cộng đồng địa phương sẽ phải giải quyết với du lịch cho dù họ có chọn hay không, như vậy các cư dân luôn cần có sự chuẩn bị, trợ giúp một khi hoạt động du lịch được triển khai

Sự trao đổi giao lưu giữa cộng đồng địa phương với du khách có vai trò lớn trong việc mở rộng thêm những trải nghiệm cho cả hai, tất nhiên các cộng đồng cũng sẽ bị thay đổi khi du lịch trở thành một phần của địa phương Để tạo ra những lợi ích qua lại và để làm cho du lịch bền vững thì phải hiểu biết được những lợi ích

và đe dọa của du lịch cho cộng đồng địa phương

Trang 29

Trong cuốn “Du lịch và cộng đồng điểm đến” S.Singh và cộng sự (2003) đã có những cách tiếp cận và phân loại để làm rõ hơn mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và hoạt động du lịch thông qua bốn kịch bản sau:

Quan hệ Thắng – Thắng (win-win): Là kịch bản mà cả cộng đồng địa phương và

hoạt động du lịch cùng có lợi Quan hệ này thể hiện rõ ở những nơi có phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, trong đó cộng đồng có tham gia trực tiếp và đảm bảo duy trì các nền tảng về các tài nguyên tự nhiên và nhân văn tại cộng đồng

Quan hệ Thắng – Thua (win-lose): Đây là kịch bản có thể xảy ra ở những cộng

đồng không khuyến khích phát triển loại hình du lịch đại chúng và hạn chế số lượng

du khách để đảm bảo tỷ lệ giữa chủ - khách ở một con số ít tác động nhất Các cộng đồng khuyến khích loại hình du lịch chất lượng, chi tiêu cao, rò rỉ tối thiểu và ít tác động tiêu cực, trong đó nhấn mạnh sự tương tác có ý nghĩa giữa người dân và khách

du lịch,

Quan hệ Thua – Thắng (lose-win): Trong kịch bản này kết cấu cộng đồng

thường bị phá huỷ song mức thu về du lịch tăng lên Những cộng đồng rơi vào kịch bản này thường phát triển các loại hình du lịch sòng bài, hậu quả là người dân mất đất nông nghiệp để nhường cho hoạt động du lịch, dẫn đến những người có hành vi lệch lạc, con nghiện và tội phạm có tổ chức trong xã hội tăng cao Dĩ nhiên lợi nhuận từ du lịch sẽ tăng lên thông qua các hoạt động cờ bạc, vui chơi giải trí, mua sắm và ăn ở đáp ứng cho du khách

Quan hệ Thua – Thua (lose-lose): Đây là kịch bản cuối cùng khi mà cả cộng

đồng và hoạt động du lịch đều không thu lại được những lợi ích Những khu nghỉ mát ven biển không được kiểm soát tốt có thể rơi vào trường hợp này khi họ đặt trọng tâm lên lợi ích kinh tế ngắn hạn mà không quan tâm đến chi phí dài hạn cho môi trường và cho cộng đồng [58 ,tr.26]

Thông qua mối quan hệ và bốn kịch bản kể trên, việc xác định cách thức làm du lịch tại một địa phương sẽ là điều kiện mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng hay lại phá huỷ các nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào Một dự án tốt theo kịch bản cùng chiến

Trang 30

thắng và đôi bên cùng có lợi sẽ là hướng đi tốt theo quan điểm về phát triển bền vững mà cả thế giới đang hướng đến

1.2.7.2 Mức độ tham gia của cộng đồng vào các hoạt động du lịch

Như đã đề cập ở những phần trước, cộng đồng địa phương luôn giữ vai trò quan trọng trong nhiều loại hình du lịch mang tính bền vững trong đó có DLCĐ Trong nhiều nghiên cứu đều chỉ ra rằng cộng đồng địa phương là chủ nhân thực sự của những giá trị và tài nguyên du lịch nên họ có quyền hưởng lợi từ các hoạt động du lịch, thông qua du lịch họ sẽ tự giác bảo vệ, gìn giữ những nguồn lợi Cộng đồng địa phương còn là nguồn nội lực to lớn cho các hoạt động khi tham gia và chịu trách nhiệm trực tiếp trong các dự án phát triển về du lịch

Theo Phạm Trung Lương (2010) thì có bảy mức độ tham gia của cộng đồng vào

hoạt động phát triển nói chung và phát triển du lịch nói riêng (sơ đồ):

Chủ động Tương tác Chức năng

1 Thụ động: Cộng đồng không có quyền và trách nhiệm xem xét, tự bảo vệ đối với

các hoạt động phát triển Các thông tin về dự án không được chia sẻ với cộng đồng

2 Đưa tin: Cộng đồng có trách nhiệm trả lời các câu hỏi mà không có vai trò, ảnh

hưởng đến nội dung cần xử lý Kết quả thông tin không được chia sẻ với cộng đồng

3 Tư vấn: Cộng đồng được tham vấn ý kiến và các quan điểm được lưu ý Tuy vậy,

cộng đồng không được tham gia vào quá trình ra quyết định

Trang 31

4 Khuyến khích: Cộng đồng sẽ được khuyến khích tham gia vào các hoạt động du

lịch bằng những lợi ích về vật chất hay tinh thần Vì vậy, họ thường sẽ không tham gia tiếp nếu những khuyến khích này không còn

5 Chức năng: Cộng đồng tham gia vào hoạt động phát triển theo nhóm với các mục

tiêu chức năng đã được xác định trước Do vậy sự tham gia chưa được đầy đủ vì đã

có những quyết định mang tính áp đặt

6 Tương tác: Cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết định và sau đó thông

tin được phân tích để đưa vào các kế hoạch và thực hiện

7 Chủ động: Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển được thực hiện

độc lập với mọi can thiệp từ bên ngoài Cộng đồng sẽ tự đưa ra các sáng kiến và có thể làm thay đổi cả hệ thống [29, tr.15]

Ngoài những mức độ được xem xét như trên, sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch cũng thể hiện khác nhau tùy thuộc vào vai trò của cộng đồng:

- Mức độ thụ động : theo đó cộng đồng chỉ được xem là đối tượng du lịch (tài

nguyên) và hầu như không có vai trò gì đối với hoạt động phát triển du lịch Trong trường hợp này các công ty du lịch sẽ dựa vào các đặc điểm tài nguyên liên quan đến cộng đồng như: dân cư, lối sống cộng đồng, văn hóa, tín ngưỡng, kiến trúc quần

cư, để đưa khách đến tham quan, tìm hiểu và trải nghiệm Cộng đồng không có vai trò gì (tham gia thụ động) đối với kế hoạch phát triển du lịch và hưởng ít lợi ích từ hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trong trường hợp cộng đồng tham gia một cách

thụ động thường được gọi là “Du lịch tham quan cộng đồng”

- Mức độ tham gia: theo đó cộng đồng tham gia cung cấp một số dịch vụ như: bán

hàng lưu niệm, dịch vụ ăn uống, v.v tại điểm du lịch nơi cộng đồng sinh sống và qua đó được hưởng một số lợi ích về vật chất Trong trường hợp này, ngoài vai trò

là “tài nguyên” như trên, cộng đồng đã có vai trò nhất định trong hoạt động du lịch

và được hưởng một phần lợi ích trong chuỗi giá trị du lịch Hoạt động du lịch trong

trường hợp này thường được gọi là “Du lịch có sự tham gia của cộng đồng”

- Mức độ chủ động: Cộng đồng tham gia vào việc lập kế hoạch, ra các quyết định

phát triển du lịch là chủ thể tổ chức và cung cấp dịch vụ, qua đó sẽ đem đến cho du

Trang 32

khách những trải nghiệm tốt về cộng đồng, về những giá trị tự nhiên và văn hóa nơi cộng đồng sinh sống Trong trường hợp này các công ty du lịch sẽ chỉ đóng vai trò

là đối tác của cộng đồng Cộng đồng vừa có vai trò là “tài nguyên” vừa đóng vai trò

là người tổ chức khai thác các giá trị “tài nguyên” đó Trong trường hợp này hoạt

động du lịch thường được gọi là “Du lịch dựa vào cộng đồng” hay “Du lịch cộng đồng” Du lịch cộng đồng chính là cách thức đảm bảo mức độ tham gia cao nhất

của cộng đồng vào hoạt động du lịch [29, tr.18]

1.3 Một số mô hình và bài học kinh nghiệm trong phát triển DLCĐ ở một số nước Asian và tại Việt Nam

1.3.1 Các mô hình trong phát triển DLCĐ ở Indonesia và Malaysia

 Kinh nghiệm của Indonesia: xây dựng thành công vùng du lịch biển đảo Bali

* Nét tương đồng: Trước đây, vùng biển đảo Bali còn rất hoang sơ và kém phát

triển, tài nguyên du lịch chủ yếu là biển đảo và văn hóa truyền thống, nhưng với những chính sách đúng đắn của quốc gia và sự năng động của chính quyền địa phương, cùng sự phối hợp với các doanh nghiệp du lịch - dịch vụ, các tổ chức phi chính phủ gắn với phát triển cộng đồng sở tại đã làm thay đổi một vùng biển đảo hoang sơ thành khu du lịch biển nổi tiếng thế giới

Indonesia được mệnh danh là đất nước “vạn đảo”, nơi có rừng nhiệt đới rộng lớn nhất Đông Nam Á và có nhiều thiên đường biển đảo đẹp, nổi tiếng trên thế giới Chính phủ Indonesia đã định hướng cho việc phát triển du lịch bền vững bằng các chiến lược nhằm bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học, phát huy bản sắc văn hóa độc đáo, nhờ vậy các năm qua tuy gặp nhiều thiên tai, khủng bố nhưng tốc độ phát triển của ngành kinh tế du lịch vẫn được duy trì Năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế đạt khá cao khoảng 5,185 triệu lượt khách, thu nhập du lịch từ khách quốc tế đạt trung bình hàng năm từ 5,1 - 5,8 tỷ USD [19, tr.32]

* Mô hình du lịch vùng biển đảo Bali:

Năm 1990, dưới sự hỗ trợ của tổ chức UNDP, dự án quy hoạch tổng thể khu du lịch được chính phủ thông qua và tiến hành xây dựng

Trang 33

Mô hình du lịch được định hướng và xác lập với các đặc điểm:

Dự án được quy hoạch phát triển trên một vùng địa lý kinh tế cụ thể nhằm tạo ra

sự phát triển cân bằng gồm 16 vùng hiện có, đồng thời bổ sung các vùng mới, vùng biển đảo, đất liền Ở 16 vùng được chia làm ba loại chính: vùng biển phía Nam Bali, các vùng biển khác, vùng đất liền Ba vùng có chính sách phát triển khác nhau dựa trên các đặc trưng cơ bản về thiên nhiên, cường độ phát triển, các loại hoạt động và đặc điểm nguồn khách

Dự án bao gồm ba đặc điểm và bảy tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển bền vững gồm:

+ Ba đặc điểm:

 Duy trì các nguồn tài nguyên sản xuất

 Giữ vững bản chất văn hóa và sự cân bằng trong văn hóa

 Phát triển là một quá trình tăng chất lượng cuộc sống

+ Bảy tiêu chuẩn đánh giá:

+ Dự án du lịch Bali hội đủ các cơ hội phát triển bền vững:

 Nền văn hóa đặc sắc, giàu bản sắc, nhiều đền chùa, các điệu nhảy, âm nhạc, nghệ thuật truyền thống

 Môi trường tự nhiên phong phú

 Môi trường cuộc sống hấp dẫn, sống động

 Các hoạt động thúc đẩy du lịch

+ Dự án cũng đứng trước những thách thức:

 Phải hòa giải mâu thuẫn giữa ưu tiên quốc gia và ưu tiên địa phương

Trang 34

 Phải giải quyết các vấn đề mất cân đối trong vùng thông qua đa dạng các loại hình, quy mô phát triển du lịch một cách thích hợp

 Phải tăng cường liên kết tích cực giữa du lịch và các thành phần kinh tế khác, quản lý sự cạnh tranh giữa các ngành trong việc sử dụng nguồn tài nguyên, đảm bảo thu lợi và phân phối đồng đều trong cộng đồng

 Phải đảm bảo chất lượng môi trường tự nhiên được duy trì, giải quyết các vấn đề xói mòn biển, cung cấp và chất lượng nguồn nước, cung cấp năng lượng và xử lý chất thải, sự thay đổi của đất, sự phá hủy rừng

 Phải tính toán, theo dõi các quản lý các chuyển biển về văn hóa xã hội

 Phải nâng cấp cơ sở hạ tầng

 Phải cân bằng giữa nhu cầu của du khách và dân địa phương

+ Các chính sách làm cơ sở cho phát triển du lịch:

Có bốn yếu tố cơ bản để xác định các loại hình du lịch thích hợp cho Bali:

 Loại hình thu hút: văn hóa, tự nhiên và giải trí

 Sự phân bố giữa đất liền và bờ biển

 Các đặc điểm của vùng: có ba loại tiềm năng du lịch khác nhau là điểm, tuyến, phạm vi rộng

 Thực trạng phát triển: phát triển nhanh, phát triển và kém phát triển Chính phủ Indonesia đã thực hiện quy hoạch phát triển bền vững toàn vùng Bali rồi mới quy hoạch bền vững chi tiết ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất từ vùng đến địa phương

* Kinh nghiệm quản lý trên tầm vi mô: chính là sự hỗ trợ của chính quyền về mặt

đất đai, cơ sở hạ tầng, chính sách xúc tiến quảng bá hướng dẫn lập quy hoạch… Các doanh nghiệp du lịch ở Indonesia đã phối hợp chặt chẽ với các ngành kinh doanh khác và các địa phương để khai thác các yếu tố văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, phối hợp hài hòa giữa các loại hình du lịch nhờ vậy nhiều vùng miền ở Indonesia luôn có những sản phẩm du lịch đặc thù và đa dạng

Dưới sự hỗ trợ của các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp du lịch, các hợp tác

xã, các tổ chức cộng đồng địa phương đã chủ động xây dựng nội dung quy hoạch

Trang 35

phát triển cho các khu du lịch do mình quản lý dựa theo các tiêu chí thống nhất gồm:

i Đánh giá sự giàu có và độc đáo của tài nguyên du lịch hiện có (Hệ sinh thái, thực, động vật đặc hữu và cảnh quan thiên nhiên, nền văn hóa truyền thống và các di sản,…)

ii Nền văn hóa truyền thống bản địa (yếu tố đa văn hóa kết hợp)

iii Nhu cầu của khách du lịch, các sản phẩm chủ lực

iv Cung cấp các lợi ích kinh tế xã hội nhằm cải thiện cuộc sống cho cộng đồng địa phương trong quá trình hoạt động

v Các mối đe dọa đến HST, ô nhiễm khi khai thác tài nguyên

vi Đầu tư cơ sở hạ tầng, gắn kết với hệ thống giao thông đến các khu du lịch vii Phạm vi đất đai được giao hoặc thuê

Một kinh nghiệm quan trọng được rút ra là việc tận dụng tối đa các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn với sự tham gia chủ động của cộng đồng nhằm tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa đáp ứng cho du khách (trùng tu chùa chiềng, đền đài-nhà cửa, khôi phục lễ hội văn hóa truyền thống) Phát triển du lịch dựa vào yếu tố văn hóa đã giúp người dân trong cộng đồng tự hào về bản sắc văn hóa của mình hơn, ý thức được du lịch không chỉ để cải thiện kinh tế mà còn là công cụ để bảo tồn, được sử dụng để quảng bá triết lý phát triển bền vững (vùng Ubud-Bali) [19, tr.31-35]

 Kinh nghiệm của Malaysia: phát triển loại hình du lịch Homestay

* Nét tương đồng: Vùng DHCNTB hiện có trên 1.040 làng bản, trong đó có khoảng

400 làng nông nghiệp, ngư nghiệp ven biển có điều kiện có thể triển khai loại hình

du lịch Homestay, hiện tại loại hình này đang dần thu hút khách tại các làng ven biển thuộc tỉnh Khánh Hòa nhưng việc khai thác còn nhiều bất cập vì địa phương và các công ty du lịch chưa có kinh nghiệm triển khai

Malaysia là một quốc gia rất coi trọng đến phát triển du lịch, theo thống kê của UNWTO trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương, lượng khách quốc tế đến Malaysia chiếm hàng thứ hai chỉ sau cường quốc du lịch là Trung Quốc Du khách khi đến Malaysia thường chọn các tour dạng DLST, và một trong các loại hình du lịch được ưa chuộng phải kể đến du lịch Homestay Với loại hình này, du khách sẽ

Trang 36

được sinh hoạt chung nhà với người dân bản địa như một thành viên trong gia đình

và trải nghiệm cuộc sống hằng ngày để biết về văn hóa của người dân nơi đó Bắt đầu được triển khai từ những năm 1980, đến nay loại hình du lịch Homestay đã phát triển rộng rãi ở 13 bang trên toàn quốc với gần 3300 hộ dân từ 230 ngôi làng khắp

cả nước Hàng năm đón hơn 160.000 lượt du khách trong đó có 30.000 khách quốc

tế đến chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Úc mang lại nguồn thu trên 16 triệu USD cho các hộ tham gia

Kết quả thu được tại 5 bang có loại hình Homestay phát triển nhất năm 2009: Bảng 1.1 Tình hình hoạt động Homestay tại 5 Bang/ Tỉnh của Malaysia

Bang/Tỉnh Số làng

tham gia

Tổng lượng khách đến (Lượt khách)

Khách quốc tế

Khách nội địa

Doanh thu (RM)

7.301 4.635 2.939 2.295 2.245

10.242 17.707 10.104 2.214 8.235

917.440 1.054.805 1.068.592 605.708 413.823

Các bài học kinh nghiệm về triển khai Homestay được nhìn nhận trên các góc độ gồm:

* Kinh nghiệm ở tầm vĩ mô:

Để thực hiện thành công các chương trình phát triển du lịch Homestay, Bộ Du lịch Malaysia (MOTOUR-Ministry of tourism) đã chủ động yêu cầu có sự nỗ lực gắn kết chung giữa các cấp độ khác nhau của chính quyền các cấp, của khu vực tư nhân, và các cộng đồng địa phương Một hiệp hội Homestay Malaysia chuyên trách được thành lập, trong đó bao gồm đại diện thành viên Chính phủ liên bang, chính quyền địa phương, đại diện khu vực tư nhân và tổ chức phi Chính phủ, Ủy ban này được MOTOUR mới tham vấn chính về kế hoạch chương trình Homestay quốc gia

Trang 37

Hiệp hội Homestay đã đề xuất về phía chính quyền các cấp có trách nhiệm đóng góp để thực hiện chương trình với các nhiệm vụ cụ thể như:

+ Đề xuất hướng dẫn, chính sách phát triển chương trình Homestay cụ thể cho các bang, tỉnh

+ Cấp phép cho các làng và các hộ thành viên tham gia chương trình

+ Cung cấp ngân quỹ ban đầu cho đầu tư hạ tầng, hỗ trợ nâng cấp nhà cửa cho các hộ tham gia (ví dụ: hỗ trợ mỗi hộ 5.000 RM để sửa sang hệ thống toilet, bếp…)

+ Quảng bá chương trình Homestay ở trong và ngoài nước

+ Liên hệ với các đơn vị chức trách có liên quan

* Kinh nghiệm ở tầm vi mô:

Kinh nghiệm về chuẩn bị cho tổ chức Homestay: địa phương cùng các doanh nghiệp đang hoạt động tại địa bàn, thành lập nhóm tư vấn trực thuộc Hiệp hội, tổ chức vận động, phát hiện giúp đỡ những hộ có điều kiện tham gia, lập thủ tục cấp phép,… Sự kết hợp này thật sự có kết quả đối với các vùng nông thôn nghèo ở Malaysia Khi xét chọn, nhóm tư vấn địa phương dựa vào 5 điều kiện mà các hộ cần hội đủ như: đường sá vào nhà thuận tiện, đầy đủ tiện nghi cho du khách như phòng ngủ, toilet, gia đình không có tiền sử về tội phạm, không bị mắc các bệnh xã hội có thể lây lan cho cộng đồng, đạt tiêu chuẩn cao về vệ sinh môi trường

Việc chuẩn bị cho triển khai Homestay bao gồm:

+ Về phía chính quyền các bang và vùng: tổ chức huấn luyện trong vòng 7 ngày cho các hộ được cấp phép, theo các nội dung như hướng dẫn cách làm vệ sinh ngôi nhà mình sạch sẽ, an ninh hơn, cách tiếp đón du khách, trang trí lại cho thẫm mỹ hơn

+ Về phía các doanh nghiệp du lịch, lữ hành, đại diện cộng đồng dân cư địa phương: huấn luyện kỹ năng về quản lý, phát triển về dịch vụ du lịch, tạo các sản phẩm du lịch đặc thù, hướng dẫn cách sử dụng các nguồn thu có hiệu quả…

Trang 38

Các tiêu chuẩn chính để phát triển loại hình du lịch Homestay: có 3 tiêu chuẩn chính đó là: sản phẩm, thành phần tham gia và nguyên tắc tham gia

+ Sản phẩm liên quan đến việc thu hút du khách như: cảnh quan thiên nhiên, tập quán truyền thống, kiến trúc bản địa, di tích lịch sử, nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ, âm nhạc và hoạt động văn hóa, ẩm thực, hoạt động sản xuất nông nghiệp

cổ truyền và các lễ hội đặc biệt được tổ chức hàng năm …

+ Thành phần tham gia: đây là yếu tố quyết định đến sự thành công của chương trình, các chủ hộ, thành viên khác chủ động tham gia chương trình với vai trò của người lãnh đạo như là một doanh nghiệp thực thụ và đảm nhận nhiều công việc cụ thể trong nhóm Bên cạnh đó cần khuyến khích những người địa phương khác cùng tham gia đầu tư cho hoạt động du lịch, phát triển các dịch

vụ …

+ Nguyên tắc tham gia: được Hiệp hội soạn thảo dựa trên sự thảo luận kỹ của những người tham gia, của doanh nghiệp du lịch, của chính quyền các cấp trên tinh thần xuyên suốt hệ thống, thống nhất cao, phải xuất phát từ tâm tư trách nhiệm của những người liên quan để bảo đảm phát triển bền vững

Như vậy, đối với các vùng ven biển đảo Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng thì các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng như trên sẽ là những bài học có giá trị thực tiễn và đóng góp kinh nghiệm quý giá cho các nhà quản lý, hoạch định chiến lược phát triển du lịch tham khảo ứng dụng [19, tr.35-38]

1.3.2 Một số mô hình trong phát triển DLCĐ tại Việt Nam

 Mô hình DLCĐ Bản Hồ- Sapa :

Bản Hồ thuộc huyện Sapa – tỉnh Lào Cai, ban đầu là một điểm dừng chân trong các tuyến du lịch đi bộ dài ngày Tại đây cư dân thường bán bánh kẹo và thức uống cho du khách Năm 2001 SNV và IUCN tiến hành một dự án ba năm nhằm phát triển du lịch bền vững trong vùng Theo thống kê của Sở Thương mại và Du lịch Sapa, năm 2005 có hơn 4000 du khách tới thăm Bản Hồ, 10% trong số đó có sử dụng dịch vụ nhà nghỉ

Trang 39

Theo mô hình phát triển thì cộng đồng địa phương đã liên kết hợp tác với các cộng ty điều hành du lịch tại địa phương thuộc Sapa đưa khách về Bản Khách tham quan có thể được hướng dẫn bởi người địa phương, ở tại nhà của cư dân địa phương

và tham gia cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của người Tày Chính quyền địa phương giữ vai trò thiết yếu trong việc đưa ra các chính sách giáo dục, tiêu chuẩn dịch vụ và thuế Các tổ chức phi chính phủ như SNV và IUCN hỗ trợ trong việc đào tạo, xây dựng nhận thức, tổ chức cộng đồng, phát triển cơ cấu và sản phẩm du lịch cũng như khâu tiếp thị

Nguồn lợi nhuận thu được từ du khách ngoài việc phân chia về cho cộng đồng còn bổ sung vào nguồn vốn xã hội cho địa phương Bên cạnh đó, du lịch cũng góp phần vào việc tái sinh các truyền thống văn hóa, đặc biệt là kỹ thuật làm đồ thủ công, bảo tồn những điệu nhảy dân gian Việc nhận thức tốt hơn về vấn đề môi trường cũng giúp cải thiện điều kiện sinh hoạt, đường xá sạch sẽ và cây xanh được trồng nhiều hơn [15, tr 10]

 Mô hình DLCĐ Thới Sơn - Tiền Giang:

Thới Sơn là một hòn đảo du lịch nổi tiếng của tỉnh Tiền Giang Đảo đã tham gia hoạt động du lịch từ năm 1985 và được quản lý bởi Công ty Du lịch Tiền Giang với một chuỗi dịch vụ hoàn chỉnh gồm khách sạn, nhà hàng, du thuyền và một số hộ gia đình phục vụ du lịch bằng những sản phẩm của địa phương Mỗi năm đảo thu hút hơn 200 du khách, trong đó có 80% là khách quốc tế

Mô hình DLCĐ trên đảo được khởi động thực sự từ năm 2006 khi việc lập nhà nghỉ của các hộ dân trên đảo được cấp phép Trong mô hình này công ty du lịch Tiền Giang đã khởi xướng bằng việc kết hợp với những hộ dân đủ năng lực thông qua hợp đồng độc quyền Công ty cũng đầu tư hạ tầng căn bản và đại diện các hộ gia đình kiểm soát các thủ tục hành chính Sở Thương mại và Du lịch Tiền Giang cùng Trung tâm xúc tiến Thương mại và Du lịch tham gia vào các hoạt động hành chính, kiểm soát và giải quyết các xung đột xuất hiện giữa doanh nghiệp và các hộ gia đình ADB (Asia Development Bank) tài trợ nâng cấp cơ sở hạ tầng là bến tàu

và trung tâm thông tin du lịch

Trang 40

Phương thức hoạt động du lịch ở đây theo cách thức liên doanh giữa cộng đồng

và doanh nghiệp nên không có sự tham gia của cả cộng đồng Việc hợp tác được ký kết giữa các công ty du lịch và các hộ gia đình là riêng biệt, trong đó có khoảng 13

hộ phục vụ du khách trong ngày, 3 hộ có giấy phép mở nhà nghỉ và 400 người làm dịch vụ chèo thuyền (thuộc nhóm người nghèo)

Mô hình đã tạo điều kiện cho cộng đồng cư dân tận dụng được những nguồn lực sẵn có trên đảo để phục vụ du lịch Do hợp đồng độc quyền với công ty du lịch Tiền Giang nên những hộ dân được thanh toàn theo từng tháng căn cứ vào các ghi chép bán vé du lịch, các hộ dân được đối xử như doanh nghiệp và đóng thuế thu nhập 20% vào ngân sách tỉnh Các thành viên hộ nghèo trong nhóm chèo thuyền cũng được cải thiện thu nhập đáng kể (trung bình 500.000 đồng/tháng) thông qua hoạt động du lịch [15, tr.31]

1.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hình phát triển DLCĐ tại các nước Asian và Việt Nam

 Việc phát triển DLCĐ cần có sự phối hợp đồng bộ của các ban ngành từ TW đến địa phương nhằm hoàn thiện các chính sách, cơ chế và hạ tầng kỹ thuật, cơ

sở vật chất

 Về công tác quản lý cần vận dụng có hiệu quả thông qua sự phối hợp của nhà nước, doanh nghiệp, và cộng đồng cùng tham gia chia sẽ lợi ích (Win - Win model) Trong đó cộng đồng địa phương là nhân tố cơ bản tham gia với nhiều vai trò, từ việc xây dựng thể chế phù hợp với địa phương, giám sát thực hiện đến việc phân chia lợi nhuận hướng đến mục tiêu bảo tồn các giá trị cảnh quan, nhân văn và môi trường cho sự phát triển bền vững

 Vấn đề về bảo vệ môi trường tự nhiên và nhân văn cần phải được quan tâm hàng đầu với những chiến lược phù hợp nhằm tạo cân bằng cảnh quan sinh thái, duy trì và phát huy văn hóa bản địa

 Kinh nghiệm của các quốc gia như Indonesia, Malaysia hay Thái lan là hợp tác rộng rãi với các tổ chức quốc tế như: UNWTO, WTTC, UNDP, PATA, WWF, IUCN thông qua các dự án hợp tác tài trợ quốc tế để chuyển giao những kinh

Ngày đăng: 18/05/2021, 13:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Kim Anh (2008), Phát triển du lịch và quản lý tài nguyên thiên nhiên- môi trường bền vững ở Vịnh Nha Trang, Khánh Hoà, Khoá luận tốt nghiệp - Ngành kinh tế tài nguyên môi trường, ĐH Nông Lâm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch và quản lý tài nguyên thiên nhiên- môi trường bền vững ở Vịnh Nha Trang, Khánh Hoà
Tác giả: Hoàng Kim Anh
Nhà XB: ĐH Nông Lâm Tp.HCM
Năm: 2008
2. Nguyễn Thế Biên (2006), Đánh giá cân bằng nước và định hướng sử dụng bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường nước ở Khánh Hoà, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Bộ NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cân bằng nước và định hướng sử dụng bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường nước ở Khánh Hoà
Tác giả: Nguyễn Thế Biên
Nhà XB: Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Năm: 2006
3. Lê Trọng Bình (2007), Một số giải pháp đột phá phát triển du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam, Viện NCPT Du lịch, Tổng cục du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp đột phá phát triển du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam
Tác giả: Lê Trọng Bình
Nhà XB: Viện NCPT Du lịch
Năm: 2007
4. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch – Tổng cục Du lịch Việt Nam, Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch – Tổng cục Du lịch Việt Nam
5. Nguyễn Văn Chất và Dương Đức Minh, Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào loại hình du lịch Homestay tại Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí KH Văn hoá và Du lịch, Số 13 (67), tháng 9 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào loại hình du lịch Homestay tại Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Văn Chất, Dương Đức Minh
Nhà XB: Tạp chí KH Văn hoá và Du lịch
Năm: 2013
6. Huỳnh Cát Duyên(2013), Một số giải pháp phát triển bền vững du lịch biển đảo Nha Trang – Khánh Hòa, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa, Đại Học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển bền vững du lịch biển đảo Nha Trang – Khánh Hòa
Tác giả: Huỳnh Cát Duyên
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo khoa học Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa
Năm: 2013
7. Lê Văn Hoa (2012), Tình hình nghiên cứu văn hoá biển đảo ở Khánh Hoà, Văn hoá Biển đảo Khánh Hoà, NXB Văn Hoá, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nghiên cứu văn hoá biển đảo ở Khánh Hoà
Tác giả: Lê Văn Hoa
Nhà XB: NXB Văn Hoá
Năm: 2012
8. Nguyễn Xuân Hoa(2009), Điều tra, thống kê diện tích, thành phần loài, đánh giá hiện trạng phân bố hệ sinh thái rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và vai trò cua chúng đối với kinh tế xã hội, môi trường ở vùng biển ven bờ tỉnh Khánh Hòa- Đề xuất giải pháp quản lí và sử dụng bền vững, Sở TN và MT Khánh Hòa, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, thống kê diện tích, thành phần loài, đánh giá hiện trạng phân bố hệ sinh thái rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và vai trò cua chúng đối với kinh tế xã hội, môi trường ở vùng biển ven bờ tỉnh Khánh Hòa- Đề xuất giải pháp quản lí và sử dụng bền vững
Tác giả: Nguyễn Xuân Hoa
Nhà XB: Sở TN và MT Khánh Hòa
Năm: 2009
10. Nguyễn Thị Bích Hảo (2009), Những yếu tố tác động đến nghèo và giải pháp giảm nghèo đói đối với người dân sống trong khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang, Luận văn tốt nghiệp Đại Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố tác động đến nghèo và giải pháp giảm nghèo đói đối với người dân sống trong khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hảo
Nhà XB: Đại Học
Năm: 2009
11. Nguyễn Đình Hòe-Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe-Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
12. Nguyễn Đình Hòe (2007), Sổ tay quản lý môi trường cấp huyện, xã và các tổ chức chính trị xã hội, Sở tài nguyên môi trường Khánh Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay quản lý môi trường cấp huyện, xã và các tổ chức chính trị xã hội
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe
Nhà XB: Sở tài nguyên môi trường Khánh Hoà
Năm: 2007
13. Tô Duy Hợp- Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng, lý thuyết và vận dụng, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng, lý thuyết và vận dụng
Tác giả: Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
14. Tô Duy Hợp – Đặng Vũ Cảnh Linh (2008), Nghiên cứu đặc điểm cư dân và văn hoá vùng ven biển và hải đảo: Một số vấn đề lý luận cơ bản, Hội thảo “Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn hoá và con người Việt Nam hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm cư dân và văn hoá vùng ven biển và hải đảo: Một số vấn đề lý luận cơ bản
Tác giả: Tô Duy Hợp, Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: Hội thảo “Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn hoá và con người Việt Nam hiện nay”
Năm: 2008
17. IUCN (2008), Hướng dẫn quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên - Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên - Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế
Tác giả: IUCN
Năm: 2008
18. INCN (2012), Đầu tư cho các Hệ sinh thái Vùng bờ biển, Tài liệu Hướng dẫn cho các nhà báo về vai trò của các Hệ sinh thái Vùng bờ biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư cho các Hệ sinh thái Vùng bờ biển
Tác giả: INCN
Năm: 2012
20. Phan Thị Kim Liên (2013), Nhận diện một số thách thức đối với du lịch bền vững tại thành phố Nha Trang , Kỷ yếu hội thảo khoa học Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa, Đại Học Nha Trang, tr 13-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện một số thách thức đối với du lịch bền vững tại thành phố Nha Trang
Tác giả: Phan Thị Kim Liên
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo khoa học Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa
Năm: 2013
21. Nguyễn Văn Quân (2009), Góp phần nghiên cứu khu hệ cá rạn san hô KBTB Vịnh Nha Trang, Tỉnh Khánh Hoà, Tạp chí khoa học và Công nghệ biển T9 (2009), Số 1. Tr 46-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu khu hệ cá rạn san hô KBTB Vịnh Nha Trang, Tỉnh Khánh Hoà
Tác giả: Nguyễn Văn Quân
Nhà XB: Tạp chí khoa học và Công nghệ biển
Năm: 2009
22. Đinh Xuân Lập (2013), Bảo tồn và phát huy văn hoá làng chài trong phát triển du lịch sinh thái cộng đồng trên Vịnh Hạ Long, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy văn hoá làng chài trong phát triển du lịch sinh thái cộng đồng trên Vịnh Hạ Long
Tác giả: Đinh Xuân Lập
Nhà XB: Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Phát triển nông thôn
Năm: 2013
23. Phạm Trung Lương và Nguyễn Tài Cung (1998), Một số kết quả về đề tài nghiên cứu “Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam”, Tuyển tập báo cáo Hội thảo du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả về đề tài nghiên cứu “Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam”
Tác giả: Phạm Trung Lương, Nguyễn Tài Cung
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo Hội thảo du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam
Năm: 1998
24. Phạm Trung Lương (1999), Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, Tuyển tập báo cáo Hội thảo Xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo Hội thảo Xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm