Có thể kể đến ở đây mô hình du lịch cộng đồng ở bản Cát Cát hay Lao Chải – Tả Van ở Sapa với sự đặc sắc của văn hóa người H’Mông, hay mô hình du lịch Homestay của người Thái trắng ở bản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGHIÊM THỊ THU HUYỀN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MƯỜNG THUỘC HAI HUYỆN KIM BÔI VÀ
TÂN LẠC (TỈNH HÒA BÌNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGHIÊM THỊ THU HUYỀN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MƯỜNG THUỘC HAI HUYỆN KIM BÔI VÀ
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG, VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MƯỜNG THUỘC HAI HUYỆN 12
KIM BÔI, TÂN LẠC (TỈNH HOÀ BÌNH) 13
1.1 Khái niệm du lịch cộng đồng, phát triển du lịch bền vững 13
1.1.1 Khái niệm du lịch cộng đồng 13
1.1.1.1 Khái niệm cộng đồng 13
1.1.1.2 Khái niệm du lịch cộng đồng 15
1.1.1.3 Các điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng 16
1.1.1.4 Các tiêu chí phát triển du lịch cộng đồng 17
1.1.1.5 Các nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng 19
1.1.1.6 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch cộng đồng 20
1.1.2 Quan điểm phát triển du lịch bền vững 22
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững 22
1.1.2.2 Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững 23
1.1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc 23
1.1.3.1 Du lịch cộng đồng gắn với nông thôn mới ở Hà Giang 23
1.1.3.2 Du lịch cộng đồng gắn với du lịch sinh thái và văn hóa ở Lào Cai 24
1.1.3.3.Du lịch cộng đồng gắn với thăm quan lịch sử ở Điện Biên 25
1.2 Tiềm năng phát triển du lịch ở cộng đồng người Mường thuộc hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc ( tỉnh Hòa Bình) 26
1.2.1.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 26
1.2.1.1 Về tỉnh Hòa Bình 26
1.2.1.2 Tổng quan về huyện Kim Bôi 30
1.2.1.3 Tổng quan về huyện Tân Lạc 35
Trang 41.2.1.4 Cộng đồng người Mường ở Kim Bôi và Tân Lạc 38
1.2.2 Tiềm năng phát triển du lịch ở cộng đồng người Mường tại huyện Kim Bôi và Tân Lạc 41
1.2.2.1 Giá trị sinh thái nhân văn ở cộng đồng người Mường Kim Bôi 41
1.2.2.2 Giá trị sinh thái nhân văn ở cộng đồng người Mường Tân Lạc 47
Tiểu kết Chương 1 67
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH GẮN VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN KIM BÔI, TÂN LẠC (HOÀ BÌNH) 68 2.1 Khái quát hiện trạng du lịch tại tỉnh Hoà Bình 68
2.2 Hiện trạng hoạt động du lịch tại huyện Kim Bôi 71
2.2.1 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 72
2.2.2 Cơ sở lưu trú phục vụ du lịch 73
2.2.3 Nguồn nhân lực 73
2.2.4 Các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực du lịch 74
2.2.5 Nguồn khách và doanh thu từ du lịch 74
2.2.6 Một số đánh giá về hoạt động du lịch ở cộng đồng người Mường Kim Bôi 75
2.2.6.1 Hiệu quả đạt được 75
2.2.6.2 Những hạn chế còn tồn tại 75
2.3 Hiện trạng hoạt động du lịch tại huyện Tân Lạc 76
2.3.1 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 76
2.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động du lịch 76
2.3.3 Các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực du lịch 78
2.3.4 Các loại hình du lịch 79
2.3.5 Nguồn khách và doanh thu từ hoạt động du lịch 81
2.3.6 Một số đánh giá về hoạt động du lịch ở cộng đồng người Mường Tân Lạc 82
2.3.6.1 Hiệu quả đạt được 82
2.3.6.2 Những hạn chế còn tồn tại 82
2.4 Vai trò của cộng đồng người Mường trong việc thúc đẩy hoạt động du lịch ở Kim Bôi và Tân Lạc 82
Tiểu kết chương 2: 87
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MƯỜNG Ở HAI HUYỆN KIM BÔI VÀ TÂN LẠC
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 88
3.1 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 88
3.2 Định hướng và các chỉ tiêu phát triển du lịch huyện Tân Lạc 90
3.2.1.Quan điểm phát triển du lịch tại địa phương 90
3.2.2.Định hướng phát triển các sản phẩm du lịch huyện Tân Lạc 91
3.2.3.Định hướng phát triển không gian du lịch của huyện Tân Lạc 91
3.2.3.1 Số lượng khách du lịch 93
3.2.3.3 Nhu cầu về lao động 94
3.2.3.4 Doanh thu từ du lịch 94
3.2.3.5 Tốc tộ tăng trưởng bình quân (giá trị tăng thêm) của ngành du lịch 94
3.3 Định hướng phát triển du lịch huyện Kim Bôi 94
3.3.1 Quan điểm phát triển du lịch của huyện 94
3.3.2 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch của huyện Kim Bôi 95
3.3.3 Các chỉ tiêu chủ yếu trong phát triển du lịch huyện Kim Bôi 96
3.3.3.1 Số lượng khách du lịch 96
3.3.3.2.Công suất buồng phòng 96
3.3.3.3 Nguồn nhân lực du lịch 96
3.4 Các giải pháp phát triển du lịch ở cộng đồng người Mường thuộc hai huyện Tân Lạc và Kim Bôi 97
3.4.1 Lựa chọn loại hình du lịch phù hợp định hướng phát triển du lịch gắn với cộng đồng người Mường theo hướng bền vững 97
3.4.2.Tăng cường năng lực của cộng đồng người Mường trong các hoạt động du lịch 100
3.4.3 Nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch ở Kim Bôi và Tân Lạc 103
3.4.4 Nghiên cứu và phát triển mô hình “Hợp tác xã du lịch” 104
3.5 Một số kiến nghị 106
3.5.1 Kiến nghị với Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 106 3.5.2 Kiến nghị với tỉnh Hòa Bình và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hòa Bình106
Trang 63.5.3 Kiến nghị với chính quyền địa phương 107
3.5.4 Kiến nghị với các công ty lữ hành 108
Tiểu kết Chương 3: 109
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, hình thức du lịch gắn với cộng đồng đang rất được ưa chuộng trên thế giới Rất nhiều du khách đến những vùng đất khác không chỉ để thưởng thức cảnh đẹp mà còn muốn tìm hiểu kỹ hơn về đời sống, những phong tục tập quán của người dân tại vùng đất họ đến Họ muốn được trực tiếp tham gia vào các hoạt động hàng ngày của người dân địa phương để có cái nhìn khách quan hơn về những nền văn hóa khác, qua
đó giúp bảo vệ những giá trị này Với ưu thế về tự nhiên và nhân văn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, vừa nhằm bổ sung thêm một loại hình du lịch mới, thu hút khách du lịch đến Việt Nam, vừa nhằm góp phần bảo tồn những nét giá trị tự nhiên, văn hóa và nâng cao đời sống cho người dân tại những vùng đất có du lịch Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức đặt ra cho loại hình du lịch này, đó là sự thiếu hụt nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch; cơ
sở hạ tầng còn chưa được đầu tư đúng mức theo hướng đa dạng nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách; nhiều nơi sản phẩm du lịch thiếu bản sắc văn hóa riêng, bị trùng lặp với những vùng khác nên tính hấp dẫn bị hạn chế; việc quảng bá hình ảnh du lịch vẫn chưa tạo được ấn tượng, chưa đủ sức thu hút khách đến tham quan, v.v
Tại Việt Nam, loại hình du lịch cộng đồng ở Việt Nam đã và đang được chú trọng phát triển Có thể kể đến ở đây mô hình du lịch cộng đồng ở bản Cát Cát hay Lao Chải – Tả Van ở Sapa với sự đặc sắc của văn hóa người H’Mông, hay mô hình du lịch Homestay của người Thái trắng ở bản Lác và bản Poom Cọn ở Hòa Bình… Đây là những điểm du lịch vốn đa dạng về tài nguyên du lịch tự nhiên và phong phú về tài nguyên du lịch nhân văn, là nơi
có yếu tố cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch và như một lẽ tự nhiên, việc phát triển du lịch cũng tác động một phần lên đời sống của người dân địa phương
Trang 10Hoà Bình là miền đất hội tụ đủ những yếu tố tự nhiên và văn hoá đặc sắc để phát triển du lịch Nói đến Hoà Bình người ta nhớ ngay đến Bản Lác (Mai Châu) với loại hình du lịch Homestay rất hấp dẫn khách du lịch nước ngoài như là một mẫu hình tiêu biểu của du lịch cộng đồng ở Việt Nam Cũng nổi tiếng không kém là khu sinh thái Hang Kia- Pà Cò, xa hơn nữa là suối khoáng Kim Bôi, hang Đồng Tâm (Lạc Thuỷ- Hoà Bình) nơi tìm ra dấu vết của nền văn hoá Hoà Bình có niên đại hơn 4000 năm Tính đến nay, Hoà Bình
là địa bàn cư trú lớn nhất của cộng đồng người Mường ở Việt Nam và nơi đây
là khởi nguồn của nền văn hoá Hoà Bình- khởi thuỷ của nền văn hoá Việt Nam Đề tài chọn nghiên cứu tại hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc bởi đây là địa bàn cư trú của 2 trong 4 Mường lớn nhất của tỉnh Hoà Bình: Nhất Bi, Nhì Vang, Tam Thàng, Tứ Động Hơn thế nữa tính cho đến hiện nay đây là 2 huyện có hoạt động du lịch phát triển mạnh nhất tỉnh Hòa Bình, tuy việc phát triển du lịch chưa xứng với tiềm năng sẵn có Khai thác những tiềm năng về
tự nhiên, nhân văn để tạo ra nét đặc sắc riêng cho du lịch của tỉnh đặc biệt tập trung phát triển du lịch cộng đồng là chiến lược phát triển đúng đắn và bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hoà Bình đến
năm 2020 Chính vì những lí do đó, học viên đã chọn đề tài Nghiên cứu phát triển
du lịch ở cộng đồng người Mường thuộc hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu tiềm năng nhằm phát triển du lịch ở một vùng miền là vấn
đề đã được đề cập rất nhiều trong báo cáo của Tổng cục du lịch, trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia, là định hướng phát triển du lịch lâu dài ở mỗi địa phương Tuy nhiên xét riêng với tỉnh Hoà Bình, việc nghiên cứu phát triển
du lịch cộng đồng gắn với người Mường (chiếm hơn 70% dân số của tỉnh) chưa được đề cập trong bất cứ tài liệu nào Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển du lịch ở tỉnh Hòa Bình, cụ thể hơn là huyện Kim Bôi
và Tân Lạc có thể kể đến:
Trang 11- Thạc sỹ Trần Thị Tuyết với công trình “ Nghiên cứu phát triển du
lịch sinh thái tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình”- Trường đại học nông
nghiệp Hà Nội, 2008
- T.S Lê Văn Minh, Giải pháp cho phát triển du lịch Hòa Bình, Viện
nghiên cứu phát triển du lịch, 2011
Tác giả đã nghiên cứu, khai thác và phát triển đề tài trên cơ sở tiếp thu các kiến thức đã được các học giả đi trước trong đó có kế thừa những nhận xét tổng quát và rõ ràng nhất về du lịch cộng đồng, đồng thời kế thừa các kiến thức, tài liệu về cộng đồng người Mường Hòa Bình cùng với các tài liệu về phát triển sinh thái nhân văn của tỉnh Hòa Bình để phân tích và làm sáng rõ vấn đề cần nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tiềm năng sinh thái nhân văn và hiện trạng phát triển du lịch gắn với cộng đồng người Mường ở hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc của tỉnh Hoà Bình Trên cơ sở đó góp phần nâng cao khả năng khai thác phát triển
du lịch của tỉnh Hòa Bình theo hướng phát triển bền vững
Nhiệm vụ của đề tài
- Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và quan điểm phát triển du lịch bền vững
- Phân tích những điều kiện phát triển du lịch của hai huyện Kim Bôi
và Tân lạc của Hòa Bình về tiềm năng, lợi thế sẵn có, những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển du lịch nói chung và gắn với cộng đồng người Mường nói riêng
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để giải quyết các tồn tại trong phát triển du lịch gắn với cộng đồng người Mường tại hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc của tỉnh Hòa Bình
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tiềm năng du lịch sinh thái nhân văn và thực trạng phát triển du lịch cộng đồng gắn với người Mường thuộc hai huyện Kim Bôi
và Tân Lạc của tỉnh Hòa Bình
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc của tỉnh Hòa Bình, tập trung vào các xã của 2 huyện trên như: Tử Nê – Thanh Hối (Tân Lạc), Thượng Tiến – Vĩnh Đồng (Kim Bôi)…
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở đưa
ra những lý luận chung về mối quan hệ giữa du lịch và du lịch cộng đồng và các tác động của du lịch về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội lên cộng đồng người Mường trong phát triển du lịch ở đây
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu : Luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báo, tạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo của cơ quan quản lý du lịch và chính quyền địa phương
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp bằng việc điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn các cán bộ chuyên trách du lịch huyện Kim Bôi và Tân Lạc và một số người dân địa phương
- Phân tích đánh giá tổng hợp: Phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa du lịch và du lịch cộng đồng hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến và kinh nghiệm từ các chuyên gia thuộc các tổ chức tài trợ các dự án phát triển du lịch cộng đồng ở Tân Lạc
Trang 136 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục Luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Lý luận về du lịch cộng đồng, về phát triển du lịch bền
vững và tiềm năng phát triển du lịch ở cộng đồng người Mường thuộc hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình)
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch gắn với cộng đồng người
Mường ở hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc
Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch gắn với cộng đồng
người Mường ở hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc theo hướng phát triển bền vững
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 14Bảng 1 : Bản đồ hành chính tỉnh Hòa Bình
Nguồn : Sở VH, TT & DL tỉnh Hòa Bình
Trang 15CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG, VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN
VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MƯỜNG THUỘC HAI HUYỆN
KIM BÔI, TÂN LẠC (TỈNH HOÀ BÌNH) 1.1 Khái niệm du lịch cộng đồng, phát triển du lịch bền vững
1.1.1 Khái niệm du lịch cộng đồng
1.1.1.1 Khái niệm cộng đồng
Cộng đồng là một khái niệm lý thuyết cũng như thực hành xuất hiện vào những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh Năm 1950, Liên Hợp Quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia
sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện các chương trình viện trợ quy mô lớn về kỹ thuật, phương pháp và tài chính thập kỷ 50- 60
Trong quá trình triển khai các hoạt động liên quan đến phát triển cộng đồng, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp ba yếu tố hình thành nên một khái niệm tương đối đầy đủ về cộng đồng bao gồm: yếu tố lịch sử địa lý, yếu tố kinh tế
và yếu tố văn hóa
- Yếu tố lịch sử, địa lý: Mỗi cộng đồng có một lịch sử hình thành nhất định, một quá trình tồn tại và vận động tuân theo các quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của các cá nhân thành viên Cộng đồng dân
cư có thời kỳ hình thành phát triển càng lâu dài thì những đặc điểm tâm lý
xã hội của cộng đồng càng định hình rõ nét Yếu tố địa lý là yếu tố đầu tiên để khu biệt một cộng đồng Ý thức cương vực lãnh thổ là một trong những ý thức sâu sắc và lâu bền của con người trong lịch sử, là hạt nhân tạo nên tâm thức chung của cộng đồng Trên cơ sở này, ta có thể chia theo đặc điểm địa hình thành các nhóm cộng đồng vùng núi, cộng đồng vùng đồng bằng, cộng đồng trung du, cộng đồng ven biển, cộng động hải đảo hoặc chia theo vùng miền đất nước như: cộng đồng miền Bắc, cộng đồng miền Trung và cộng đồng miền Nam
Trang 16- Yếu tố kinh tế: Trong mối quan hệ tạo nên sự cố kết cộng đồng, nghề nghiệp có vai trò rất quan trọng Các hoạt động kinh tế tạo ra cho cộng động một sự gắn kết và bảo đảm về vật chất để họ cùng nhau tồn tại và phát triển
Từ đó, xã hội dần hình thành nhóm cộng đồng gọi là làng nghề Làng nghề có thể là có một vài nghề chính, có nơi chỉ có thuần một nghề; trong đó, cộng đồng dân cư tương đồng nhau về địa vị kinh tế, thị trường nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ, cách thức làm ăn… Có những nơi họ thờ chung “ông tổ nghề” tạo nên sự cố kết chặt chẽ về mặt tinh thần bên cạnh các yếu tố về kinh tế Đây là cơ sở hình thành làng nghề thủ công (ở vùng nông thôn) và các phường hội (trong các đô thị cổ)
- Yếu tố văn hóa: Đây là yếu tố mang tính tổng hợp để nhận biết các cộng đồng, trong đó đặc biệt chú ý đến ba khía cạnh cơ bản về văn hóa đó là: tộc người, tôn giáo – tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực
+ Tộc người: bao gồm các nhóm tộc người chủ thể quốc gia và các nhóm tộc người thiểu số Trong vai trò ở bình diện quốc gia, hệ tư tưởng, ý thức hệ, các giá trị và chuẩn mực hay các yếu tố văn hóa khác của tộc người chủ thể được khuôn mẫu hóa trong toàn quốc Tuy nhiên, được quy định bởi các điều kiện sinh thái, kinh tế, xã hội tại khu vực cư trú, văn hóa mỗi tộc người lại khác nhau, hình thành nên các “ đặc trưng văn hóa” có vai trò cố kết cộng đồng như: các biểu tượng, các phong tục tập quán, các nghi lễ, ngôn ngữ…
+ Tôn giáo – tín ngưỡng: Sự cố kết cộng đồng một cách bền vững còn dựa trên cơ sở niềm tin Cùng chung tín ngưỡng tôn giáo là cùng chia sẻ những ước nguyện về mặt tinh thần và củng cố đạo lý chung của
cả cộng đồng
+ Hệ giá trị và chuẩn mực: Mỗi cộng đồng xác định cho mình một hệ thống giá trị và chuẩn mực riêng thông qua các định chế xã hội quy định ý thức và hành vi của các thành viên trong cộng đồng, đảm bảo sự thống nhất trong xã hội Khi cộng đồng mới hình thành thì tâm lý cộng đồng cũng mới
Trang 17được định hình, còn mờ nhạt và dễ thay đổi, biểu hiện ở sự rời rạc, tự phát của tâm lý và hành vi các cá nhân Khi cộng đồng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, ổn định thì tâm lý cộng đồng trở nên bền vững và sâu sắc hơn, các giá trị và chuẩn mực của cộng đồng trở thành những nguyên tắc định hướng và điều chỉnh tâm lý, hành vi cá nhân, các thành viên của cộng đồng hành động một cách tự giác và thống nhất, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đạt được những mục tiêu do cộng đồng đặt ra
Khái niệm cộng đồng trong phát triển du lịch cộng đồng là nhóm người sinh sống, làm ăn bên trong hoặc liền kề các điểm tài nguyên du lịch, tham gia vào quá trình hoạt động du lịch tại địa phương, có trách nhiệm nâng cao chất lượng tài nguyên và môi trường du lịch cũng như giảm thiểu những tác động tiêu cực từ việc khai thác tài nguyên và hoạt động của khách du lịch gây ra
1.1.1.2 Khái niệm du lịch cộng đồng
Thuật ngữ “du lịch cộng đồng” (hay còn được gọi là du lịch dựa vào cộng đồng – Community Based Tourism) xuất phát từ hình thức du lịch làng bản khởi nguồn vào những năm 1970, lúc đó khách du lịch thường gọi là những chuyến du lịch có sự hỗ trợ của người bản xứ Khái niệm này đầu tiên
do khách du lịch đưa ra khi du khách đi thăm quan các làng bản, tìm hiểu phong tục tập quán, lễ hội, cuộc sống hoang dã, khám phá hệ sinh thái tại những vùng còn hoang sơ, khi đó họ cần sự hỗ trợ giúp đỡ của người dân bản địa như dẫn đường, cung cấp đồ ăn thức uống… Đây là tiền đề cho phát triển
du lịch cộng đồng
Một số tên gọi thường dùng khi nhắc đến du lịch cộng đồng:
- Du lịch dựa vào cộng đồng (Community- based Tourism)
- Phát triển cộng đồng dựa vào du lịch (Community – development
in tourism)
- Phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (Community- based Ecotourism)
Trang 18- Phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng (Community- Participation in Tourism)
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu du lịch đều xác định các khái niệm, quan niệm về mục tiêu, nguyên tắc, tiêu chí và các điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng dựa trên những tư tưởng gốc rễ căn bản và nhất quán như sau:
- Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được trước tiên tạo bởi khách
du lịch đến thăm quan các khu vực có nhiều tài nguyên hấp dẫn phục vụ khách du lịch
- Địa điểm tổ chức phát triển du lịch cộng đồng là những khu vực, điểm
có tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, hấp dẫn khách du lịch, có
độ nhạy cảm về đa dạng sinh học, chính trị văn hóa và xã hội, dễ bị tác động bởi cả khách du lịch và dân cư bản địa
- Vấn đề quan tâm nhất trong du lịch cộng đồng đó là mang lại lợi ích cho cộng đồng trong vùng có nhiều tài nguyên thông qua việc khuyến khích
họ tham gia vào hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho du khách, tạo công ăn việc làm, nâng cao điều kiện sống, đồng thời cho họ nhận thấy vai trò quyết định của họ đối với sự phát triển bền vững tài nguyên tại khu vực đó
Như vậy, nội dung cốt lõi của du lịch cộng đồng được các nhà nghiên cứu thống nhất bao gồm các yếu tố cơ bản sau: mức độ tham gia của cộng đồng địa phương, lợi ích mà cộng đồng nhận được và ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường Điều này có nghĩa là hoạt động kinh doanh du lịch dựa vào cộng đồng khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia, làm chủ và quản lý, đồng thời chính họ là người quan tâm đến sự bảo tồn, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường nơi gắn liền với sự tồn tại cũng như lợi ích cá nhân của họ và của cả cộng đồng
1.1.1.3 Các điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng
Những điều kiện cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng là:
- Điều kiện về tài nguyên môi trường tự nhiên và nhân văn: đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đến phát triển du lịch cộng đồng Tài nguyên
Trang 19thiên nhiên và nhân văn được xem xét ở mức độ phong phú về số lượng, chủng loại và giá trị về chất lượng từng loại Điều kiện tài nguyên cũng nói lên mức độ hấp dẫn thu hút khách du lịch đến tham quan hiện tại và tương lai
- Điều kiện về yếu tố cộng đồng dân cư: đây được xem xét đánh giá trên các yếu tố số lượng thành viên, bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, trình độ học vấn và văn hóa, nhận thức trách nhiệm về tài nguyên và phát triển du lịch Xác định phạm vi cộng đồng là những dân cư sống, sinh hoạt
và lao động cố định, lâu dài trong hoặc liền kề vùng có tài nguyên thiên nhiên [8, 42]
- Điều kiện có thị trường khách: bao gồm thị trường khách trong nước
và quốc tế đến thăm quan du lịch, nghiên cứu và nguồn khách trong tương lai Điều kiện về thị trường khách du lịch cũng nói lên bản chất của vấn đề phát triển du lịch và vấn đề công ăn việc làm cho cộng đồng Nơi nào thu hút được nhiều khách du lịch và khả năng chi trả cao tức là nơi đó tạo được nhiều công
ăn việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống Khi đó, du lịch đã làm đúng vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế nói chung và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội
- Điều kiện về cơ chế, chính sách: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở các cấp cần phải có cơ chế, chính sách hợp lý, tối ưu nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng
- Điều kiện về sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước: bao gồm sự hỗ trợ về nhân lực, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, cũng như sự hỗ trợ của các công ty lữ hành trong vấn đề tuyên truyền, quảng bá nhằm thu hút khách du lịch đến thăm quan
1.1.1.4 Các tiêu chí phát triển du lịch cộng đồng
- Khuyến khích sự tham gia và chia sẻ trách nhiệm của cộng đồng:
Xác định đúng vai trò và vị trí của cộng đồng trong quá trình tạo ra các sản phẩm du lịch Cộng đồng là một thành phần, một nhân tố bình đẳng tham gia
Trang 20tích cực trong quá trình phát triển du lịch Đây là sự chia sẻ trách nhiệm với các cơ quan hữu quan, các công ty lữ hành Còn nếu nhìn từ góc độ nội bộ cộng đồng, sự chia sẻ sẽ bao hàm sự phân công trách nhiệm giữa các thể chế trong cộng đồng, từ chính quyền, các tổ chức xã hội (chính thức và phi chính thức), các gia đình và các cá nhân trong cộng đồng
- Tăng tính tổ chức: Xác lập những năng lực cần có để tổ chức và
quản lý các sản phẩm du lịch do cộng đồng làm ra Đây không chỉ đơn thuần là một hoạt động kinh doanh mà là một hoạt động tổ chức xã hội, năng lực ở đây bao gồm việc vận dụng các bài toán kinh tế, từ vốn, nhân lực, vật lực; việc quảng bá sản phẩm, tiếp thị, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm; năng lực vận động và tổ chức xã hội Tuy nhiên, năng lực quản
lý của cộng đồng trong phát triển du lịch là yêu cầu hàng đầu trong phát triển du lịch cộng đồng
- Huy động nguồn lực: Đề cập tới phương hướng huy động các nguồn
lực xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng, không chỉ bao gồm các nguồn lực về tài chính, nhân lực, vật lực, tài nguyên thiên nhiên, tài sản văn hóa mà còn các nguồn lực quản lý Bản chất của du lịch dựa vào cộng đồng là hoạt động mang tính đa thành phần kinh tế, đa phương thức đầu tư và quản lý, có
sự cân bằng quyền lực (theo nghĩa rộng, đó là một quá trình tương tác của các nhóm xã hội) bên trong cộng đồng, cân bằng các lợi ích của các nhóm xã hội bên trong và bên ngoài cộng đồng Đó là lý do Đảng và Nhà nước ta đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn được ưu tiên phát triển dựa trên sự hỗ trợ từ nguồn lực tổng hợp của các ngành và các thành phần kinh tế khác
- Có sự lãnh đạo: Sự lãnh đạo ở đây bao gồm cơ chế và quy trình ra
quyết định (dân chủ hay quan liêu, trực tiếp hay gián tiếp), quá trình thực hiện
và cuối cùng là quá trình giám sát Sự lãnh đạo chủ yếu sẽ là hoạt động của chính quyền, nhưng nó không đơn thuần chỉ là hoạt động của riêng tổ chức này Sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư vào các quyết định đầu tư, triển khai cũng là rất cần thiết
Trang 21+ Phù hợp với khả năng của cộng đồng: Khả năng bao gồm các điều kiện tài chính và nhân lực của cộng đồng để đáp ứng các yêu cầu phát triển du lịch Bên cạnh đó còn là khả năng nhận thức về vai trò và vị trí của mình trong việc sử dụng tài nguyên, nhận thức được tiềm năng to lớn của du lịch đối với sự phát triển của cộng đồng cũng như biết được các bất lợi từ hoạt động du lịch và khách du lịch đối với tài nguyên, cộng đồng
+ Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng Theo nguyên tắc này cộng đồng phải cùng được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch, nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng được trích để phát triển lợi ích chung cho xã hội như: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường xá, cầu cống, điện và chăm sóc sức khỏe, giáo dục, v v
+ Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên thiên nhiên và văn hóa hướng tới sự phát triển bền vững Nguyên tắc này cho thấy du lịch cộng đồng là một phương thức, là một quá trình tương tác giữa 2 đối tượng: người dân bản địa (người tạo ra sản phẩm du lịch) và
du khách (người tiêu dùng sản phẩm du lịch) vì sự phát triển bền vững, dài hạn Mối quan hệ này mang hàm ý khuyến khích sự tham gia của cả hai bên
và tạo ra được các lợi ích kinh tế đồng thời bảo tồn tài nguyên và môi trường địa phương
+ Nguyên tắc về cách tiếp cận bền vững đối với tài nguyên nhân văn
và tài nguyên tự nhiên; cân bằng với các tiêu chuẩn kinh tế, văn hóa, xã hội,
Trang 22môi trường Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa được khai thác hợp
lý Du lịch cộng đồng chính là cách tốt nhất vừa làm du lịch vừa giữ gìn bản sắc văn hóa của mỗi địa phương trong đó có việc làm sống lại các làng nghề thủ công truyền thống
1.1.1.6 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch cộng đồng
Để phát triển du lịch cộng đồng, theo Viện nghiên cứu phát triển miền núi Hoa Kỳ (The Mountain Institue), các nhà quản lý cần quan tâm đến bốn mục tiêu căn bản sau đây:
- Du lịch cộng đồng là công cụ cho hoạt động bảo tồn; nghĩa là du lịch phải mang đến cho khách hàng những sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, bao gồm sự đa dạng sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa …
- Du lịch cộng đồng là công cụ để nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng, nghĩa là du lịch cộng đồng phải đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khác cho cộng đồng cũng như mang lại thu nhập cho họ
- Du lịch cộng đồng là công cụ để nâng cao nhận thức, kiến thức và sự hiểu biết cho cộng đồng, mở ra các cơ hội trao đổi kiến thức giữa cộng đồng
và du khách; khích lệ họ tham gia tích cực vào hoạt động du lịch
- Du lịch cộng đồng là công cụ cho cộng đồng cùng tham gia, thảo luận các vấn đề, cùng làm việc và giải quyết các vấn đề mang tính cộng đồng
Đạt được các mục tiêu căn bản nói trên thì du lịch cộng đồng mang lại ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nhiều vấn đề như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, tài nguyên môi trường:
- Đối với công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn:
+ Du lịch cân bằng với các tiêu chuẩn về kinh tế, văn hóa xã hội và
môi trường
+ Nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn được quản lý, khai thác một
cách hợp lý
Trang 23+ Môi trường sinh thái cảnh quan được bảo vệ: Nhận thức của người dân
về bảo vệ môi trường và giữ gìn hệ sinh thái được nâng cao, sự thay đổi về tài nguyên môi trường ở địa phương này làm cho cộng đồng địa phương khác nhận ra trách nhiệm của mình đối với nguồn tài nguyên môi trường và văn hóa địa phương nơi mình đang cư trú
+ Môi trường văn hóa được bảo tồn Du lịch cộng đồng chính là cách tốt nhất vừa làm du lịch vừa giữ gìn bản sắc văn hóa, sử dụng dịch vụ tại chỗ, phát triển và tôn trọng văn hóa địa phương thông qua việc thúc đẩy nghề nghiệp truyền thống, bảo tồn các di sản văn hóa cộng đồng
- Đối với ngành du lịch:
+ Tạo ra sự đa dạng của sản phẩm, dịch vụ du lịch trong một vùng, một quốc gia hoặc một khu vưc;
+ Góp phần tạo ra một môi trường thu hút, hấp dẫn khách du lịch;
+ Các loại hình du lịch cộng đồng đã và đang được nhiều địa phương, nhiều quốc gia quan tâm phát triển như một giải pháp hữu hiệu cho phát triển
du lịch nói chung
- Đối với cộng đồng:
+ Mang lại lợi ích kinh tế cho các thành viên cộng đồng tham gia trực tiếp và gián tiếp cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch, đồng thời các thành viên khác cũng được hưởng lợi từ sự đóng góp của du lịch;
+ Du lịch cộng đồng mang lại cơ hội cho các thành viên của cộng đồng trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên, môi trường tự nhiên và văn hóa Những thành viên trong cộng đồng có thể có cơ hội được học hỏi nâng cao trình độ tay nghề chuyên môn thông qua các chương trình đào tạo tập huấn, từ đó đóng góp lại cho sự phát triển cộng đồng Cộng đồng địa phương sẽ phát triển ngành nghề, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập
+ Phát triển du lịch cộng đồng giúp cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương;
Trang 24+ Sự tham gia tích cực của cộng đồng sẽ trở thành mô hình khích lệ các cộng đồng khác; tạo cơ hội cho các nhà quản lý xây dựng các kế hoạch và hành động cụ thể cho du lịch cộng đồng ở từng địa phương
1.1.2 Quan điểm phát triển du lịch bền vững
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững
Từ những năm 1990, cùng với tốc độ phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới, các nhà khoa học đã để cập nhiều đến việc phát triển du lịch với mục đích kinh tế đơn thuần đã, đang và sẽ đe dọa đến môi trường và nền văn hoá bản địa Thực tế đó làm nảy sinh yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu “ phát triển du lịch bền vững” nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch nhằm đảm bảo sự phát triển lâu dài của xã hội Một số loại hình
du lịch bước đầu quan tâm đến khía cạnh môi trường và tài nguyên đã xuất hiện và dần dần trở nên phổ biến như “ du lịch sinh thái”, “du lịch khám phá”,
“du lịch mạo hiểm”, “du lịch nông thôn” Chính điều này đã góp phần nâng cao hình ảnh về một hướng phát triển loại hình du lịch có trách nhiệm, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
Theo tổ chức UNWTO thì: Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển các hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững phải có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được
sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển các hệ sinh thái và các
hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người Hiện nay, trong quá trình thống nhất về nhận thức, quan niệm về du lịch bền vững vẫn có những trường phái khác nhau nhưng đa số đều nhất trí cho rằng: du lịch bền vững là hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục du trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương
Trang 25Như vậy, xét cho đến cùng, trọng tâm của phát triển du lịch bền vững là đấu tranh cho sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và bảo tồn tài nguyên, môi trường và văn hóa cộng đồng trong khi vẫn quan tâm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách
1.1.2.2 Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõ rệt,
có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Chính vì vậy, sự phát triển du lịch bền vững đòi hỏi có sự nỗ lực chung và đồng bộ của toàn xã hội Phát triển du lịch bền vững cần hướng tới việc đảm bảo đạt được 3 mục tiêu cơ bản sau:
- Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế: nghĩa là đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của du lịch, góp phần tích cực và phát triển kinh tế của quốc gia và của cộng đồng
- Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường: thể hiện ở việc sử dụng hợp lý các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường Việc khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch cho phát triển cần được quản lý sao cho không chỉ thỏa mãn nhu cầu ở hiện tại mà cũng đảm bảo nhu cầu phát triển du lịch qua nhiều thế hệ Bên cạnh đó, qua quá trình phát triển, các tác động của hoạt động du lịch đến môi trường sẽ được hạn chế, đồng thời có những đóng góp trong việc nỗ lực tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường
- Đảm bảo sự bền vững về xã hội: sự phát triển du lịch có những đóng góp cụ thể cho phát triển xã hội, đảm bảo công bằng trong phát triển
1.1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc
1.1.3.1 Du lịch cộng đồng gắn với nông thôn mới ở Hà Giang
Hà Giang cách thủ đô Hà Nội khoảng hơn 300km về phía Đông bắc, là mảnh đất địa đầu nơi biên cương của Tổ quốc Hà Giang có diện tích gần 8.000km², là nơi cư trú của cộng đồng 22 dân tộc, trong đó mỗi dân tộc đều bảo tồn và lưu giữ những giá trị, sắc thái văn hóa riêng, tạo nên bản sắc đặc trưng mà không phải vùng đất nào cũng có được Với những lợi thế đó, Hà Giang đã đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch cộng đồng gắn với nông thôn
Trang 26mới, như bước đột phá trong phát triển du lịch của địa phương Hà Giang hiện
đã xây dựng được 25 làng văn hóa du lịch cộng đồng tại hầu hết các huyện trong tỉnh, tiêu biểu là các làng Tiến Thắng, Hạ Thành (Tp Hà Giang); Nậm Hồng và Phìn Hồ (huyện Hoàng Su Phì)…
Cách thành phố Hà Giang 6km về phía tây, làng văn hóa du lịch Hạ Thành có 117 hộ dân với 558 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày, trong đó có 5 hộ tham gia hoạt động du lịch cộng đồng Bản đã thành lập đội ngũ hướng dẫn viên gồm 3 người (1 nam, 2 nữ) có trình độ học vấn 12/12 để dẫn khách tham quan bản Đến Hạ Thành, du khách sẽ được tận hưởng bầu không khí trong lành, mát mẻ, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp với những đồi cọ xanh biếc, những tảng đá cổ nằm rải rác khắp các thửa ruộng bậc thang hay dòng thác Nậm Tha ngày đêm ào ào nước chảy Đến đây,
du khách còn có dịp tham gia chương trình du lịch “30 phút làm công dân thôn Hạ Thành” với nhiều hoạt động thú vị như: nghỉ đêm tại nhà dân, câu cá, làm nương, thưởng thức các món ăn dân dã hay tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian như: múa sen, hát cọi, hát then, hát giao duyên… Bà con thôn bản đã bắt đầu có ý thức về du lịch cộng đồng và mong muốn chính quyền địa phương tạo điều kiện hỗ trợ về cơ sở vật chất và đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực phục vụ du lịch để phát triển hơn nữa loại hình du lịch này trong thời gian tới Đặc biệt từ khi cao nguyên đá Đồng Văn được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu, Hà Giang lại càng trở nên hấp dẫn
với khách du lịch quốc tế đặc biệt là du khách Pháp [14, tr.2]
1.1.3.2 Du lịch cộng đồng gắn với du lịch sinh thái và văn hóa ở Lào Cai
Nằm ở vùng núi Tây Bắc của Tổ quốc, mang trong mình nhiều giá trị đặc sắc về cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ cũng như bản sắc văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc, Lào Cai là một trong những địa phương tiên phong trong việc phát triển loại hình du lịch cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống cho người dân bản địa Thực tế cho thấy, du khách, đặc biệt là khách nước ngoài đến Lào Cai thường thích đi thăm những bản làng dân tộc để cùng sống
Trang 27và sinh hoạt với dân bản, cùng dân bản nấu ăn, thực hiện các công việc nhà nông, thưởng thức các tiết mục văn nghệ dân gian và mua những sản phẩm thổ cẩm, mỹ nghệ, mây tre đan làm quà lưu niệm Hiện nay, Lào Cai đã xây dựng được 13 điểm du lịch cộng đồng, tập trung chủ yếu ở các huyện Sa Pa
và Bắc Hà, tiêu biểu là: xã Tả Van, Tả Phìn, Nậm Sài (huyện Sa Pa); Bảo Nhai, Na Hối, Tà Chải (huyện Bắc Hà)… Và một trong những điểm du lịch cộng đồng mang đặc trưng, sắc thái văn hóa riêng, nổi bật ở Lào Cai là bản Tả Van Giáy, xã Tả Van, huyện Sa Pa, nằm cách trung tâm thị trấn Sa Pa 8 km
về phía nam Bản có khoảng 20 hộ dân là đồng bào dân tộc Giáy, trong đó hầu hết các hộ đều làm du lịch cộng đồng Các hộ dân trong bản đã tự mua sắm một số vật dụng cần thiết như: chăn, màn, gối, đệm phục vụ nhu cầu lưu trú của du khách Nhờ phát triển du lịch cộng đồng, đời sống của nhân dân thôn Tả Van Giáy đã được nâng lên đáng kể [13, tr.5]
1.1.3.3.Du lịch cộng đồng gắn với thăm quan lịch sử ở Điện Biên
Điện Biên là nơi tập trung sinh sống của 21 cộng đồng dân tộc, trong
đó chủ yếu là dân tộc Thái, đồng thời có nhiều di tích lịch sử mang đậm dấu
ấn của chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954 Từ năm
2004, tỉnh đã bắt đầu xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại 8 bản văn hoá thuộc huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ theo hình thức Nhà nước
và nhân dân cùng làm, trong đó nổi bật là các bản Phiêng Lơi, Him Lam (Tp Điện Biên Phủ) và bản Mển (huyện Điện Biên)
Bản Mển nằm cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 6km về phía bắc
có hơn 110 hộ dân với khoảng 500 nhân khẩu đều là người dân tộc Thái đen, trong đó có 6 hộ làm du lịch cộng đồng Nhìn từ xa, bản Mển đẹp như một bức tranh với lưng tựa núi, mặt hướng ra cánh đồng rộng mênh mông Nổi bật trên nền xanh của cây cối và bầu trời là những nếp nhà sàn nhỏ xinh còn giữ nguyên nét truyền thống Du khách đến với bản Mển, ngoài dịp chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên đặc trưng vùng Tây Bắc còn có cơ hội trải nghiệm các hoạt động hàng ngày cùng dân bản như: chế biến các món ăn
Trang 28truyền thống; chăm sóc gia súc, gia cầm; lên rừng lấy củi; xuống suối bắt cá; dệt, thêu thổ cẩm hay tham gia các hoạt động văn nghệ cộng đồng Bản Mển
đã thành lập một tổ ẩm thực gồm 10 người có kinh nghiệm trong việc chế biến các món ăn địa phương và một đội văn nghệ gồm 15 người chuyên biểu diễn các bài hát, điệu múa truyền thống phục vụ du khách Đặc biệt, đến đây,
du khách sẽ được chính trưởng bản dẫn đi tham quan và tìm hiểu một số phong tục, tập quán độc đáo của đồng bào dân tộc Thái bản địa [11, tr.6]
Với những đặc trưng riêng về cảnh quan thiên nhiên cũng như bản sắc văn hóa các dân tộc, mỗi địa phương đã lựa chọn những hướng đi khác nhau nhằm phát triển hoạt động du lịch cộng đồng, đem lại lợi ích kinh tế cho người dân bản địa Hòa Bình cũng là một trong những tỉnh miền núi phía Bắc chứa đựng những tiềm năng to lớn về tự nhiên và văn hóa có thể khai thác và phục vụ mục đích du lịch, đồng thời đóng góp cho việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân địa phương
1.2 Tiềm năng phát triển du lịch ở cộng đồng người Mường thuộc hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình)
1.2.1.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.2.1.1 Về tỉnh Hòa Bình
Hoà Bình là tỉnh miền núi, nằm ở cửa ngõ Tây Bắc của nước ta, tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Hồng, có vị trí địa lý quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên miền núi, điểm trung chuyển sức hút ảnh hưởng kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của trung tâm lớn - Thủ đô Hà Nội Tỉnh Hoà Bình có diện tích tự nhiên 4.662,53km2
nằm trong giới hạn địa lý 20019’
- 210 08’ vĩ Bắc và 1040
48’ – 105050’ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Sơn La, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Hà Nam và Thanh Hoá
Tỉnh Hoà Bình được thành lập từ ngày 22- 6-1886, khi chính quyền thực dân Pháp ký Nghị định cắt các vùng đất có nhiều đồng bào thuộc các tỉnh Hưng Hoá, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình để thành lập một tỉnh mới có
Trang 29tên là tỉnh Mường Vào thời kỳ này, tỉnh Mường có bốn phủ: Vàng An, Lương Sơn, Chợ Bờ và Lạc Sơn Từ năm 1896, địa giới hành chính của Hoà Bình về cơ bản đã được xác lập và ổn định Sau năm 1954, các châu được chuyển thành đơn vị hành chính cấp huyện Sau năm 1976, hai tỉnh Hoà Bình
và Hà Tây sáp nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình Năm 1991, Kỳ họp thứ 8, Quốc
hộ khoá VIII đã quyết định điều chỉnh lại địa giới hành chính và chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình
Đến nay, địa giới hành chính của tỉnh Hoà Bình tương đối ổn định với
11 huyện, thành phố: Đà Bắc, Mai Châu, Tân lạc, Lạc Sơn, Kim Bôi, Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Kỳ Sơn, Cao Phong và Thành phố Hoà Bình với
Hoà Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 230C Tháng 7 có nhiệt
độ cao nhất trong năm, trung bình 27– 290
C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 – 16,50C Lượng mưa trung bình năm là 1.800mm
Hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn là sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Lạng, trong
đó sông Đà chảy qua địa bàn tỉnh dài 151 km; Hồ thủy điện Hòa Bình có dung tích 9,5 tỷ m3
và nhiều hồ lớn có địa thế phát triển du lịch như các hồ Đồng Bài, Đồng Sến, Sam Tạng …
Dân số Hòa Bình theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
là gần 80 vạn người, có 7 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Mường chiếm gần 63%, còn lại là các dân tộc Kinh, Thái, Tày, Dao, H’Mông và Hoa Nguồn lao
Trang 30động dồi dào với hơn 50 vạn người trong độ tuổi lao động, trong đó số lao động được đào tạo chiếm khoảng 25%, tuổi lao động trung bình từ 22 đến 25 tuổi đáp ứng đủ nhu cầu về nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung
và phát triển du lịch nói riêng Trung bình mỗi năm lực lượng lao động ở Hòa Bình được bổ sung thêm 10.178 người Số lao động tham gia lĩnh vực nông nghiệp chiếm tới 83,18% dân số trong khi đó lao động trong ngành dịch vụ chỉ chiếm 4,1% [17, tr.137]
Về kinh tế - xã hội tiếp tục được duy trì và phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng năm 2012 đạt 11,8% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng Nông – Lâm - Ngư nghiệp là 34,2%; Công nghiệp – Xây dựng 32,8%; các ngành dịch vụ 33% Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.322 tỷ đồng; thu ngân sách địa phương đạt 4.633 tỷ đồng Năm 2010, thu nhập GDP bình quân đầu người của tỉnh đạt 13,4 triệu đồng, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 14% [17, tr.109]
* Tài nguyên du lịch tự nhiên
Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên là 4.662,53 km2
trong đó đất lâm nghiệp chiếm hơn 51% Với địa hình núi cao chia cắt, độ dốc lớn đã tạo cho Hoà Bình những tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú, đa dạng và có thể tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn Địa hình tương đối phức tạp tạo ra nhiều đồi núi xen kẽ, hình thành các thác nước, hang động đẹp có giá trị về khảo cổ học và du lịch: Khu Liên hồ Phú Lão huyện Lạc Thuỷ; động Tiên Phi thị xã Hoà Bình; động Hoa Tiên, thác Lũng Vân huyện Tân Lạc; các nguồn suối khoáng nóng phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh như Kim Bôi, Quý Hòa, Ngọc Lương,…; các khu bảo tồn thiên nhiên đa dạng sinh học như Ngọc Sơn – Ngổ Luông, Pu Canh, rừng nguyên sinh Thượng Tiến Kim Bôi, rừng Hang Kia- Pà Cò, Thung Nai là những điểm có nhiều tiềm năng trở thành các
khu du lịch sinh thái nổi tiếng
Hồ nước sông Đà mênh mông có dung tích 9,5 tỷ m3 với hàng trăm hòn đảo nhỏ kết hợp với đập thuỷ điện Hòa Bình tạo nên cảnh quan hấp dẫn
và mô hình kinh tế thuỷ năng – thuỷ sản – lâm sản đầy sức thu hút khách du lịch
Trang 31* Tài nguyên du lịch nhân văn
Hòa Bình là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa, gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, là nơi lưu giữ những bằng chứng xác thực nhất của nền văn hóa tiền sử nổi tiếng thế giới –“ Nền văn hóa Hòa Bình.”
Hiện nay toàn tỉnh có hơn 70 hang động khảo cổ, 112 di tích, danh lam, thắng cảnh, trong đó có 37 di tích cấp quốc gia và 19 di tích lịch sử văn hoá, lịch sử cách mạng được xếp hạng tiêu biểu như:
- Di tích khảo cổ: Hang Đồng Nội – Đồng Tâm thuộc huyện Lạc Thuỷ
thuộc niên đại tầng văn hoá cách đây 10 vạn năm có nhiều xương, răng động vật đã hoá thạch nằm trong trầm tích Hang Muối huyện Tân Lạc là nơi cư trú của người nguyên thuỷ vào thời đại đá giữa thuộc nền văn hoá Hoà Bình có niên đại cách đây 10 nghìn đến 7 nghìn năm Hang Khoài thuộc huyện Mai Châu là di tích chỉ khảo cổ thuộc thời đại đá giữa cách đây 11.000 đến 14.000 năm và các khu mộ cổ của người Mường ở Kim Bôi, Mai Châu như khu mộ
cổ Đống Thếch, Kim Truy
- Di tích lịch sử văn hoá: Đền, miếu Trung Báo huyện Kim Bôi, di tích
Thác Bờ - thị xã Hòa Bình,
- Di tích lịch sử cách mạng: Chiến khu Mường Khói – thuộc huyện Lạc
Sơn đánh dấu sự kiện kéo cờ khởi nghĩa 8/1945 giành chính quyền ở châu Lạc Sơn, Khu căn cứ Hiền Lương huyện Đà Bắc, Di tích Dốc Tra xã Toàn Sơn huyện Đà Bắc nơi lưu giữ chiến công của Đội du kích Toàn Sơn và anh hùng liệt sĩ Triệu Phúc Lịch Ngoài ra, khu căn cứ cách mạng Mường Diềm (Đà Bắc), khu căn cứ cách mạng Cao Phong, đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ
Cù Chính Lan ở làng Giang Mỗ- Bình Thanh và nhà tù Hoà Bình cũng là những di sản văn hóa đặc biệt quan trọng của Hòa Bình
Hoà Bình còn là cái nôi của nhiều dân tộc sinh sống (Mường – Kinh - Thái- Dao- H’mông…) Những làng nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, đan, thêu cùng với trang phục hấp dẫn của người Mường, người Thái, người H’mông vẫn giữ được nét độc đáo, đặc sắc riêng, được phân biệt rõ nhất qua
Trang 32trang phục của người phụ nữ từ kiểu dáng, màu sắc, họa tiết hoa văn Ngoài
ra, nghệ thuật ẩm thực đặc trưng của xứ Mường với các món ăn phong phú như cơm lam, rượu cần, cỗ lá… cũng hứa hẹn trở thành sản phẩm du lịch vô cùng hấp dẫn
Lễ hội ở Hoà Bình rất đa dạng và mang đậm bản sắc văn hoá của các dân tộc nơi đây Một số lễ hội nổi tiếng có thể kể đến: Lễ hội Khai hạ Mường
Bi, Lễ hội Sắc bùa ngày xuân, Cồng chiêng cầu phúc của bản Mường, lễ hội Chá Chiêng cầu mưa của dân tộc Tày, Thái…
Âm nhạc và các điệu múa ở Hoà Bình cũng rất hấp dẫn du khách trong
và ngoài nước Về nghệ thuật múa, người Mường đặc trưng với múa xắc bùa, múa chuông, múa đắm đuống Người Thái múa xoè, nhảy sạp Người H’mông múa khèn bè, múa ô Về âm nhạc, người Mường có hát mời trầu, hát vè Người Thái còn hát gọi bạn, gọi người yêu Người H’mông thể hiện tình cảm
và tài năng qua khèn, đàn môi Đây là những tiềm năng lớn có thể khai thác
để phát triển du lịch văn hóa
Sự đặc sắc về văn hoá, phong tục tập quán đa dạng của 6 dân tộc anh em: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, H’Mông là yếu tố quan trọng để phát triển
du lịch du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững của tỉnh Hòa Bình
Với vị trí cửa ngõ vùng Tây Bắc, tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng, Hoà Bình còn có thể phát triển nhiều loại hình du lịch khác như du lịch MICE, tổ chức hội thảo, hội nghị, … là nơi kết nối các tour, tuyến du lịch với các tỉnh lân cận và miền Bắc
1.2.1.2 Tổng quan về huyện Kim Bôi
* Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên
Dưới triều Lê, vùng đất Kim Bôi thuộc phủ Gia Hưng, trấn Hưng Hoá Đến năm Tự Đức thứ 5(1851), Kim Bôi là một tổng của huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai Ngày 22/6/1886, khi tỉnh Mường được thành lập, Kim Bôi là
Trang 33một tổng của phủ Lương Sơn thuộc tỉnh Mường Đến năm 1890, cả phủ Lương Sơn được sáp nhập về đạo Mỹ Đức Ngày 18/3/1891, phủ Lương Sơn sáp nhập trở lại với tỉnh Mường Hoà Bình và được đổi tên thành châu Lương Sơn Đến ngày 15/04/1959, huyện Lương Sơn được chia thành hai huyện: Lương Sơn và Kim Bôi Huyện Kim Bôi mới thành lập gồm 22 xã, sau nhiều lần hợp nhất đến nay cơ cấu hành chính của Kim Bôi ổn định với 35 xã và 2 thị trấn
Huyện Kim Bôi là huyện miền núi nằm ở phía Đông của tỉnh Hoà Bình, cách thị xã Hòa Bình 36km, có vị trí vào khoảng 20032’ – 20049’vĩ Bắc
và 105022’ – 105043’ kinh Đông Phía Bắc giáp huyện Lương Sơn, phía Tây
và Tây Bắc giáp các huyện Lạc Sơn, Tân Lạc, Kỳ Sơn và thị xã Hoà Bình, phía Nam giáp huyện Lạc Thủy, phía Đông giáp huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Là một huyện miền núi, địa hình Kim Bôi khá phức tạp, bị chia cắt bởi
hệ thống khe và núi Toàn huyện có tới 2/3 diện tích là đồi núi, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Tại các vùng đá vôi, do kết quả của hiện tượng cacxtơ hoá nên có những hang động cổ xưa nối dài từ núi này sang núi khác cao nhất là đỉnh Cốt Ca cao 1.800m Dựa vào địa hình và sự phân bố dân cư, Kim Bôi được chia thành 3 vùng:
Vùng Đông Bắc của huyện gồm các xã: Tú Sơn, Đú Sáng, Hùng Tiến, Nật Sơn, Sơn Thủy và Vĩnh Tiến Vùng này chủ yếu là địa hình đồi núi, núi
đá vôi xen kẽ với các vùng đất hẹp, khá bằng phẳng Dọc theo chân vùng đồi núi là các mảnh ruộng bậc thang nhỏ, đứt đoạn
Vùng trung tâm của huyện gồm các xã: Vĩnh Đồng, Trung Bì, Thượng
Bì, Hạ Bì, Kim Tiến, Kim Bình, Kim Sơn, Nam Thượng, Kim Truy và thị trấn Bo Vùng này chủ yếu là những cánh đồng được bao bọc bởi những dãy núi thấp và đồi
Vùng ven đường 21 gồm các xã: Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Cao Dương, Long Sơn, Thanh Lương, Thanh Nông … Đây là vùng tiếp giáp với đồng bằng, có những cánh đồng nhỏ, bằng phẳng, thuận lợi cho trồng lúa nước và cây ăn quả các loại
Trang 34Nằm trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, cũng tương tự như các huyện khác nằm trong tỉnh, khí hậu của Kim Bôi mang tính chất của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong 1 năm, thường phân biệt 2 mùa rõ rệt: mùa nóng (ẩm và mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh (khô hanh, mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Nhiệt độ bình quân trong năm là 22,80C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 27,80C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 15,80C Nhiệt độ không khí cao tuyệt đối là 390
C Tháng nóng nhất là tháng 7, lạnh nhất là tháng 1 trong năm Nhiệt độ giữa các vùng khác nhau, vùng cao nhiệt độ tháng lạnh thấp hơn vùng thấp 2- 30C, mùa đông đến sớm và kết thúc muộn
Độ ẩm không khí bình quân các tháng trong năm ở huyện Kim Bôi là 85%, tháng cao nhất là 88%, độ ẩm thường cao vào những tháng cuối xuân đầu hè
Mùa mưa ở Kim Bôi bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 trong năm Lượng mưa trung bình khoảng 2.716mm/năm Tổng số ngày mưa trong năm trung bình là 145 ngày, tập trung vào tháng 5 đến tháng 9 Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 10-15% tổng lượng mưa cả năm Các xã vùng cao, vùng thượng có lượng mưa cao hơn vùng thấp Lượng nước bốc hơi trung bình năm
là 650,2mm
Sương mù thường xuất hiện ở Kim Bôi vào khoảng tháng 11 đến tháng
3 năm sau, tập trung nhiều vào tháng 12 đến tháng 2 Sương mù ở Kim Bôi trung bình mỗi năm có 1 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất là 5 ngày Sương muối chủ yếu xuất hiện vào tháng 12 đến tháng 1 hàng năm
Gió ở Kim Bôi thường thay đổi theo hai hướng Đông Nam vào mùa hè
và Đông Bắc vào mùa đông Tốc độ gió trung bình là 1,8m/s Gió Đông Bắc mang theo không khí khô và lạnh, thỉnh thoảng có mưa phùn Gió Đông Nam được hình thành theo các cơn mưa mùa hè và thường có lũ xuất hiện Bão ở địa bàn huyện Kim Bôi rất hạn chế về số lượng và mức độ ảnh hưởng không
Trang 35lớn song gây ra mưa to và gió mạnh Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.412 giờ, tháng thấp nhất là 41 giờ (tháng 1), tháng cao nhất là 175 giờ (tháng10) [22, tr.67]
Với đặc điểm tự nhiên như trên, Kim Bôi rất thuận lợi cho việc tổ chức
du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh và các hoạt động sinh thái văn hoá vào thời gian mùa hè và mùa thu từ tháng 6 đến tháng 11 trong năm
* Điều kiện kinh tế, xã hội, dân cư
Huyện Kim Bôi tương đối thuận lợi về giao thông, gần các thành phố lớn, có vị trí quan trọng trong quốc phòng và phát triển kinh tế của tỉnh, có thị trường lớn, thuận lợi trong giao lưu kinh tế với thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận Mức tăng trưởng kinh tế bình quân 10,4%, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp (44,4%), tăng tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp và xây dựng (20,5%), dịch vụ và du lịch (35,1%) Thu nhập bình quân đạt 8,497 triệu đồng/người
Theo thống kê năm 2011, dân số huyện Kim Bôi là 107.430 người phân
bố ở 27 xã và 01 thị trấn Dân tộc Mường chiếm trên 80%, dân tộc Kinh chiếm 15%, còn lại là dân tộc Dao, Tày, Hoa Số người trong độ tuổi lao động
là 73.453 người chiếm 55% Tuy lực lượng lao động rất dồi dào nhưng việc
sử dụng vẫn chưa hợp lý đặc biệt là nhưng người có trình độ, chuyên môn chiếm tỷ lệ rất nhỏ
Hệ thống giáo dục đào tạo ở Kim Bôi đang ngày một nâng cao Mạng lưới y tế trên địa bàn huyện được kiện toàn thống nhất góp phần nâng cao khả năng chăm sóc sức khỏe cộng đồng Phong trào văn hoá thể thao được duy trì
và phát triển mạnh trong toàn huyện
* Tài nguyên du lịch tự nhiên
Kim Bôi từ lâu cùng với Mai Châu là một trong hai điểm du lịch sáng giá nhất của Hòa Bình Hệ thống các hang động, thác nước, thung lũng, những cánh rừng nguyên sinh, suối nước nóng là tiềm năng vô cùng phong
Trang 36phú cho Kim Bôi phát triển nhiều loại hình du lịch Có thể kể đến ở đây là khu giải trí tắm bùn ở xóm Khai Đồi (xã Sào Báy), khu Du lịch sinh thái Cửu thác Tú Sơn( xã Tú Sơn), rừng đặc dụng (xã Thượng Tiến), khu nghỉ dưỡng cao cấp xóm Mớ Đá (xã Hạ Bì), khu du lịch sinh thái V- resort (xã Vĩnh Tiến)
* Tài nguyên du lịch nhân văn
Huyện Kim Bôi có nhiều dân tộc cùng cộng cư Trong năm mỗi vùng đều diễn ra nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa của từng dân tộc: Dao, Mường, Tày, Thái như: Lễ hội Khuống mùa, Dộng chùa, Lễ Hạ điền, Lễ Mừng cơm mới, Hội đánh cá, Tết nhảy, Cấp sắc… và các trò chơi mang tính cộng đồng cao như: tung còn, đánh mảng, thi kéo co, đi cà kheo, đẩy gậy, bắn nỏ…
Một trong những giá trị độc đáo của tài nguyên du lịch nhân văn ở Kim Bôi chính là khu Mộ cổ Đống Thếch (xóm Chiềng, xã Vĩnh Đồng) có diện tích trên 6 ha nằm ở phía Tây Bắc Mường Động, có niên đại từ nửa cuối thể
kỷ 17 với hàng ngàn cột đá lớn, nhỏ được khắc chữ Hán Đây là minh chứng
rõ ràng nhất về hình thức mộ táng của người Mường cổ, đã được Bộ Văn hóa- Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia Khu mộ cổ được chia làm hai khu, khu
I là khu mộ của dòng họ Đinh Công - dòng họ lớn có thế lực nhất ở huyện Kim Bôi, có công với triều Lê nên được cắt đất cai quản theo hình thức thế tộc Khu II là khu dành cho thân tộc của Uy Lộc Hầu (Đinh Công Kỷ) - Thổ
tù cai quản khu vực phía Bắc huyện Kim Bôi ngày nay
Toàn huyện Kim Bôi có 147 làng văn hóa Riêng xóm Vay, xã Thượng Tiến được Vụ Văn hóa dân tộc của Bộ Văn hóa - Thông tin chọn làm điểm
mô hình bảo tồn Làng bản người Mường truyền thống Đây là xóm có 100% người Mường sinh sống và còn giữ được 98% nhà sàn truyền thống, bảo tồn được các phong tục tập quán truyền thống của người Mường xưa, có thể xác định là một trong những trọng điểm của du lịch cộng đồng ở Kim Bôi[9,tr.78]
Trang 371.2.1.3 Tổng quan về huyện Tân Lạc
* Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên
Tân Lạc khởi đầu có tên là Hắc Thuỷ, thuộc huyện Lạc Thổ, phủ Thiên Quan, đạo Thanh Bình Khi thực dân Pháp thành lập tỉnh Mường Hoà Bình, vùng Tân Lạc nằm trong hai tổng Lạc Thiện và Lạc Nghiệp thuộc phủ Lạc Sơn Sau Cách mạng Tháng Tám, tổ chức hành chính của Tân Lạc bị thay đổi nhiều lần để đáp ứng tình hình mới Ngày 15/10/1957, Thủ tướng Chính phủ
đã quyết định chia huyện Lạc Sơn thành hai huyện: Lạc Sơn và Tân Lạc Lúc đầu huyện Tân Lạc chỉ có 22 xã, đến ngày 28/02/1985, xã Ngòi Hoa của huyện Đà Bắc được chuyển trở lại cho Tân Lạc Ngày 19/3/1988, Hội đồng
Bộ Trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Mường Khến từ các xóm Chiềng và Minh Khai của xã Mãn Đức và xóm Tân Hồng của xã Quy Hậu Từ đó đến nay, địa giới hành chính của Tân Lạc đã ổn định 1 thị trấn và 24 đơn vị hành chính cấp xã
Tân Lạc là huyện miền núi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình, cách thị xã Hòa Bình 30km Tổng diện tích đất tự nhiên là 523km2 (chiếm11,2% tổng diện tích toàn tỉnh) Tọa độ địa lý nằm trong khoảng 21027’- 20035’ vĩ Bắc và
10506’ -105023’ kinh Đông Tân Lạc giáp với Mai Châu ở phía Tây, hồ Hòa Bình và huyện Cao Phong ở phía Bắc và Đông Bắc, Lạc Sơn ở Đông Nam,
Bá Thước (Thanh Hóa) ở Tây Nam Dân số của Tân Lạc là 77,300 người trong đó người Mường chiếm đa số (75% dân số) và ngoài ra còn có người Kinh, người Thái, người Dao Tân Lạc có 24 đơn vị hành chính gồm thị trấn Mường Khến và 23 xã Tân Lạc là đầu mối giao thông quan trọng, cửa ngõ nối vùng Tây Bắc với Thủ đô Hà Nội theo quốc lộ 6 và đường 12B
Địa hình Tân Lạc rất phong phú, đa dạng Theo số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh Hòa Bình năm 2003, huyện Tân Lạc có độ cao trung bình
so với mặt nước biển là 318m Nơi cao nhất trên 1000m là núi Thạch Bi (1.108m) và núi Toàn Thắng (1.105m) Địa hình thấp dần về phía Đông Nam, được chia làm 3 vùng:
Trang 38Vùng cao gồm 5 xã: Quyết Chiến, Ngổ Luông, Nam Sơn, Bắc Sơn và Lũng Vân Độ cao trung bình của vùng từ 600 - 800m Địa hình bị chia cắt bới các dãy núi có độ dộc lớn xen giữa các thung lũng nhỏ nằm rải rác theo các hệ thống sông suối nhỏ
Vùng giữa (vùng thượng) gồm 4 xã: Ngòi Hoa, Phú Cường, Phong Phú
và Trung Hòa Độ cao trung bình của vùng từ 200 – 300m Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống núi đá, đồi dốc và khe suối, xen giữa các đồi thoải và các bãi bằng hẹp nằm rải rác
Vùng thấp (vùng hạ) gồm 14 xã còn lại và thị trấn Mường Khến nằm dọc theo đường 12C và đường 12B Độ cao trung bình của vùng từ 150 - 200
m với 2 thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo hệ thống suối chính (suối Chù và suối Cái) tạo thành 2 vùng lúa chủ yếu của huyện
Tân Lạc nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong một năm, khí hậu nơi đây có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, nhiệt độ và độ ẩm cao Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước và kết thúc vào tháng 4 năm sau với đặc trưng nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa rất ít Nhiệt độ trung bình cả năm là 220
C Tháng nóng nhất trong năm là tháng 7, lạnh nhất là tháng 1 Lượng mưa trung bình năm đạt 2,000 mm nhưng tập trung chủ yếu vào khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 9
Tân Lạc không có hệ thống các sông lớn chảy qua nhưng có nhiều suối nhỏ và hồ chứa Nguồn nước mặt chủ yếu được hình thành từ 3 hệ thống suối: Suối Chù, Suối Cái là đầu nguồn sông Bưởi - chi lưu của sông Mã và suối Hoa chảy về sông Đà.[167 – 174]
Những độc đáo địa hình cũng như thuận lợi về điều kiện tự nhiên có thể giúp Tân Lạc phát triển nhiều loại hình du lịch: sinh thái, nghỉ dưỡng, thăm quan …
* Điều kiện kinh tế, xã hội, dân cư
Tân Lạc là một Mường cổ của Hoà Bình Theo thống kê năm 2003, tổng dân số của toàn huyện Kim Bôi là 77,340 người trong đó người Mường chiếm 83.5% dân số toàn huyện Mật độ bình quân đạt 148 người/km2
, tỷ lệ
Trang 39tăng dân số tự nhiên là 1,34% Đặc điểm nổi bật trong phân bố người Mường
ở Tân Lạc là nơi cư trú tập trung Hình thức cư trú xen kẽ với dân tộc Kinh đã xuất hiện tuy cư trú xen kẽ ở mức độ khác nhau
Hiện nay kinh tế của huyện vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp là chính Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 7,7 – 9.5% Cơ cấu kinh tế: Nông – Lâm – Ngư nghiệp: 33- 36%, Ngành công nghiệp: 25 – 27%; Ngành dịch vụ: 38 – 40%
Ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp đã có bước tiến đáng kể Các ngành tiểu thủ công nghiệp đã vươn lên đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ở địa phương Ngành dịch vụ ở Tân Lạc năm 2009 đạt 56.7 tỷ đồng, trong đó thương mại và du lịch chiếm tới 40,95 tỷ đồng
Ý thức được tầm quan trọng của giao thông trong phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, huyện Tân Lạc đang ngày càng được chú trọng đầu tư hơn vào hạ tầng cơ sở Quốc lộ 6 và 12B dài 42km chạy qua địa bàn huyện được quản lý, duy tu tốt đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân trong huyện và phục vụ phát triển kinh tế đặc biệt là cơ sở hạ tầng cho du lịch
* Tài nguyên du lịch tự nhiên
Địa hình đa dạng, phức tạp đã tạo cho Tân Lạc nhiều hang động đẹp, có thể trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút khách du lịch
Động Hoa Tiên: Là hang động lớn nằm ở xã Ngòi Hoa, được xem là sản phẩm hiếm có của tự nhiên với không gian thoáng rộng, nhũ đá phong phú, đầy màu sắc thu hút được tính tò mò, thích khám phá, nghiên cứu và chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên của mọi du khách Hang động này đã được
Bộ văn hóa thông tin xếp hạng
Động Đá Mường Chiềng: Thuộc địa phận thị trấn Mường Khến, là hang động có nhiều nhũ đá, mái đá, cột đá rất đẹp tạo nên vô vàn hình thù sinh động và hấp dẫn
Núi Cột Cờ: là biểu tượng đặc trưng của người Mường Bi, đại diện cho sức mạnh, ước mơ hướng tới tương lai của người dân xứ Mường
Trang 40Hồ Vưng: thuộc xóm Đối Vưng, xã Đông Lai, là một trong những hồ nước lớn nhất ở Tân Lạc có thể khai thác loại hình du lịch sinh thái và kết hợp thăm các bản làng người Mường Khơi
* Tài nguyên du lịch nhân văn
Tân Lạc còn lưu giữ rất nhiều các di tích lịch sử, văn hóa và khảo cổ có giá trị:
+ Hang Bụt, Hang Muối, Hang Chiềng Khến II, Mái đá Chiềng Khến thuộc thị trấn Mường Khến là trung tâm chính trị, quốc phòng, kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Trong đó, Hang Muối đã được Bộ Văn hóa công nhận
và xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia
+ Hang Bẻo, Hang Đắng II thuộc xã Quy Hậu
+ Hang Mường Khàng thuộc xã Mãn Đức
+ Hang Bưng nằm tại xóm Ngòi Hoa đã được Bộ Văn hóa công nhận
và xếp hạng
Bên cạnh đó là những giá trị đặc sắc về văn hóa của người Mường Bi - trung tâm của người Mường Hòa Bình với các phong tục, tập quán, lễ hội, nếp sinh hoạt hằng ngày hứa hẹn sẽ trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn khách
du lịch gần xa
1.2.1.4 Cộng đồng người Mường ở Kim Bôi và Tân Lạc
Người Mường là một dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc cư trú lâu đời trên đất nước Việt Nam Người Mường có quan hệ gần gũi với người Kinh, người Dao, người Thái và một số dân tộc khác Có thể khẳng định rằng, người Mường là chủ nhân sớm của nền văn hóa bản địa thông qua các di chỉ của nền văn minh hậu kỳ đồ đá nằm rải rác, tập trung ở vùng đất cư trú của người Mường Với dân số trên một triệu người, đồng bào Mường cư trú ở các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Tây, Phú Thọ, Sơn
La, Yên Bái, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, bao gồm địa phận từ Đông Nam dãy Hoàng Liên Sơn đến khu vực Bắc Trường Sơn Một bộ phận đồng bào Mường di dân tới các tỉnh Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai thuộc Tây Nguyên