1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến dịch đường số 14 phước long trong kháng chiến chống mỹ, cứu nước

90 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến dịch đường số 14 phước long trong kháng chiến chống mỹ, cứu nước
Tác giả Nguyễn Thị Huyền
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành sư phạm lịch sử
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ịch sử nghiên cứu vấn đề Chiến dịch Đường 14 - Phước Long đã có một số công trình nghiên cứu: Trong cuốn “Lịch sử Bình Phước kháng chiến 1945 - 1975” do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình P

Trang 2

Ờ Ả Ơ

Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Mạnh Hồng - người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Do điều kiện và khả năng còn hạn chế nên trong quá trình hoàn thành đề tài khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để bài làm của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Trang 3

Ụ Ụ

MỞ ẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Nguồn tư liệu và Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp đề tài 9

7 Cấu trúc đề tài 9

NỘI DUNG 9

hương 1:TỔNG QUAN VỀ ƯỚC LONG 9

1.1 ặc điểm tự nhiên 9

1.1.1 Địa hình 9

1.1.2 Khí hậu 10

1.1.3 Sông ngòi, thổ nhưỡng 11

1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 13

1.2.1 Đặc điểm dân cư 13

1.2.2 Kinh tế - xã hội 15

1.2.3 Văn hóa, truyền thống 16

1.3 Sự thay đổi địa giới hành chính của hước ong qua các giai đoạn lịch sử……… 19

1.4 hước Long trong thế bố trí chiến lược của Mỹ - ngụy 23

hương 2: CHIẾN DỊCH GIẢI P Ó ƯỚC LONG CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 25

2.1 ình hình ta và địch sau Hiệp định Pari 1973 25

2.1.1 Tình hình của Mỹ - ngụy 25

2.1.2 Tình hình của ta sau Hiệp định Pari 1973 30

2.2 Chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam của ảng ta 35

2.3 Chiến dịch ường 14 - hước Long (13-12-1974 đến 6-1-1975) 37

Trang 4

2.3.1 Vài nét về lực lượng và tình hình của quân đội Sài Gòn tại mặt trận Phước

Long đến cuối năm 1974 37

2.3.2 Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Đường 14 - Phước Long 41

2.3.3 Công tác chuẩn bị cho chiến dịch 43

2.3.4 Diễn biến chiến dịch 49

2.3.5 Kết quả và ý nghĩa 59

2.3.6 Bài học kinh nghiệm 69

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 78

Trang 5

Ở ẦU

1 ý do chọn đề tài

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đã kết thúc hơn bốn mươi năm, nhưng với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, ý nghĩa của nó vẫn còn vang mãi như là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam chống ngoại xâm Với chiến thắng oanh liệt và hào hùng năm ấy, quân và dân ta đã

“đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” theo di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Để có được chiến thắng vĩ đại mùa Xuân năm 1975, không thể không nói đến nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam, nghệ thuật đó là sự kết tinh truyền thống quân sự mấy nghìn năm của dân tộc Trước hết, đó là việc xây dựng quân đội hùng mạnh, đủ sức đảm đương nhiệm vụ của mình Với sức mạnh tổng hợp của nhiều quân chủng, binh chủng hợp thành, nhiều thứ quân kết hợp chặt chẽ, khai thác hết mọi địa hình, địa thế, vũ khí, trang bị, kỹ thuật, kết hợp hiện đại và thô sơ, đặc biệt

là coi trọng yếu tố con người, quân đội ta đủ sức đánh lại mọi kẻ thù

Trong cuộc trường chinh hơn 20 năm đánh Mỹ của cách mạng Việt Nam, có những địa danh đã mãi mãi đi vào ký ức của bao thế hệ, gắn liền với những chiến công hiển hách của cha ông - Phước Long là một trong những cái tên đó

Chiến dịch tiến công Đường 14 - Phước Long cuối năm 1974 đầu năm 1975 ghi dấu ấn riêng biệt, không mờ nhạt trên chặng đường dài mấy mươi năm chiến đấu của dân tộc Việt Nam Chiến thắng vang dội Đường 14 - Phước Long có ý nghĩa mang tầm chiến lược: đó là đòn tấn công thăm dò, là trận đánh báo hiệu sự thảm bại không sao cưỡng lại được của chính quyền và quân đội Sài Gòn Chiến thắng này đã vào cả trong thơ ca, âm nhạc, nổi tiếng là câu hát “Vượt qua sông Bé oai hùng về Phước Long xây chiến thắng” trong bài “Mỗi bước ta đi” của nhạc sĩ Thuận Yến rất nhiều người biết đến

Chiến thắng lẫy lừng Đường 14 - Phước Long đã làm nức lòng quân và dân cả nước Nguyên cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhận xét thắng lợi ở Phước Long đã mở

Trang 6

ra tiền đề cho cách mạng tiến lên giành toàn thắng Chiến thắng Phước Long đã thể hiện trình độ tác chiến chiến dịch, hiệp đồng quân - binh chủng, trình độ tổ chức chỉ huy, trình độ kĩ thuật - chiến thuật cao của cán bộ, chiến sĩ và những cách đánh sáng tạo, linh hoạt trong một chiến dịch lớn

Với mong muốn tìm hiểu sâu sắc, toàn diện một chiến dịch có vai trò to lớn trong cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân ta năm 1975, chúng tôi chọn đề tài:

“Chiến dịch ường số 14 - hước Long trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp

2 ịch sử nghiên cứu vấn đề

Chiến dịch Đường 14 - Phước Long đã có một số công trình nghiên cứu:

Trong cuốn “Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945 - 1975)” do Bộ Chỉ huy

quân sự tỉnh Bình Phước tổ chức biên soạn, dưới sự chỉ đạo nội dung của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản, xuất bản năm 2002 Nội dung cuốn sách trình bày những chặng đường vẻ vang của Đảng

bộ, của quân và dân các dân tộc ở Bình Phước; tổng kết những bài học kinh nghiệm

về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, biểu dương những tấm gương tiêu biểu của đồng bào và chiến sĩ trong chiến đấu và xây dựng (từ năm 1945 đến năm 1975), trong đó có đề cập đến chiến dịch Đường 14 - Phước Long

Cuốn “Trận đánh ba mươi năm” của nhà xuất bản Quân đội nhân dân, xuất

bản năm 2005 đã tổng hợp lựa chọn một số sự kiện liên quan đến Đường 14 - Phước Long Trong chương 60 - Bước ngoặt và thời cơ, sách có nói đến chiến dịch Đường

14 - Phước Long là đòn tấn công chiến lược đồng thời làm sáng rõ hơn những cơ sở vững chắc để Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam

Trong cuốn “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Những mốc son lịch sử”

của nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản năm 2010 đã phác họa một cách chân thực, khái quát và hệ thống quá trình phát triển của cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Từ bối cảnh lịch sử, tương quan lực lượng hai bên, đường lối kháng chiến, công tác tổ chức điều hành, động viên tối đa sức mạnh dân tộc vào cuộc chiến, tinh thần chiến đấu ngoan cường, sáng tạo, ý nghĩa, tầm vóc vĩ đại của cuộc kháng chiến Đồng thời nói đến các dấu ấn lịch sử trong kháng chiến chống Mỹ, trong đó có chiến thắng vang dội Đường 14 - Phước Long

Trang 7

Cuốn “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng” theo hồi ức của Đại tướng

Võ Nguyên Giáp do Phạm Chí Nhân thể hiện, ấn hành năm 2000, xuất bản bởi nhà xuất bản Chính trị quốc gia Nội dung nói lên nhân quan chiến lược, sự sáng suốt và nhạy bén, tinh thần quyết đoán của Bộ thống soái tối cao Chiến thắng Phước Long được đánh giá là nhân tố mới quan trọng để dẫn đến quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam

Trong cuốn “Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long” nhà xuất bản Quân

đội nhân dân năm 2004 đã đề cập tới việc ra đời của Binh đoàn Cửu Long, quân đội

ta có thêm một quả đấm chủ lực mạnh đứng ở địa bàn chiến lược ngay sát cửa ngõ Sài Gòn Thế và lực trên chiến trường nói chung và ở B2 nói riêng đã mạnh lên Quân và dân ta có thêm lực lượng mới, sức mạnh mới, có khả năng mở những chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, kết thúc chiến tranh Ngay sau ngày thành lập, Binh đoàn Cửu Long khẩn trương bước vào cuộc chiến đấu với quy

mô, cường độ chưa từng có và đã làm nên “Chiến thắng đường 14 - Phước Long”,

“Trận trinh sát chiến lược”, một kỳ tích, điểm mốc lịch sử trong chiến tranh chống

Mỹ, tạo tiền đề cho cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn

Trong cuốn “Đại thắng mùa Xuân 1975” của Đại tướng Văn Tiến Dũng xuất

bản năm 1977, giúp chúng ta hiểu rõ sự chỉ đạo đứng đắn, sáng suốt, kiên quyết, nhạy bén của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, đường lối và nghệ thuật quân sự xuất sắc của Đảng ta Đồng thời giới thiệu một số mẩu chuyện

về Đại thắng mùa Xuân 1975, sự đấu trí, đấu lực của quân và dân ta trong phạm vi chiến lược và chiến dịch dẫn đến toàn thắng

Ngoài ra, còn một số tác phẩm đề cập đến những khía cạnh khác nhau của đề

tài như: “Bản thuyết trình quân sự của đại tá tỉnh trưởng Phước Long Dẫn theo

Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004)” của nhà xuất bản Quân

đội nhân dân (2004); “Chặng đường mười nghìn ngày” của Hoàng Cầm; “Những

năm tháng quyết định” của Hoàng Văn Thái; “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tập VIII” của nhà xuất bản Chính trị quốc gia “Vương Hồng Anh Trận Phước Long Dẫn theo Lê Đại Anh Kiệt Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật” của nhà xuất

bản Công an nhân dân

Trang 8

Những tác phẩm, bài viết trên là những tài liệu quan trong giúp chúng tôi trong quá trình thực khóa luận

3 ục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây, tôi muốn làm rõ hơn quá trình chuẩn bị, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của chiến dịch Đường 14 - Phước Long

Nghệ thuật quân sự của Việt Nam qua việc chỉ đạo chiến dịch, làm rõ sự kết hợp tấn công của quân và dân miền Nam

Cũng như rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc hiện nay

4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả các khía cạnh liên quan đến chiến dịch Đường 14 - Phước Long trong kháng chiến chống Mỹ

Phạm vi nghiên cứu chiến dịch Đường 14 - Phước Long từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 1 năm 1975

5 guồn tư liệu và hương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu:

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau như sách chuyên khảo, sách tham khảo, một số tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Sự kiện và nhân vật, hồi ký của các tướng lĩnh chỉ huy trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long và trong kháng chiến chống Mỹ, tài liệu trên internet

Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đứng vững trên lập trường của Đảng, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét và nghiên cứu hiện tượng

Chúng tôi tiến hành sưu tầm tư liệu liên quan trong các sách báo, tài liệu tham khảo và tiến hành tập hợp, thống kê, phân loại các tư liệu Bằng các thao tác phân tích, so sánh, đối chiếu, rút ra kết luận

Trang 9

Kết quả của đề tài còn là nguồn tư liệu đối với những ai quan tâm đến Phước Long và nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Ngoài ra đề tài còn là nguồn tư liệu để giảng dạy lịch sử ở phổ thông sau này

7 ấu trúc đề tài

Đề tài ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục thì nội dung gồm có hai chương:

Chương 1: Tổng quan về Phước Long

Chương 2: Chiến dịch giải phóng Phước Long của Quân Giải phóng miền Nam

Ộ DU hương 1

Ổ QU VỀ ƯỚ 1.1 ặc điểm tự nhiên

1.1.1 ịa hình

Phước Long là một thị xã thuộc tỉnh Bình Phước - tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Nam Bộ Địa giới hành chính của thị xã Phước Long được giới hạn như sau: Đông giáp huyện Bù Đăng; Tây, Nam, Bắc giáp huyện Bù Gia Mập

Trang 10

Phước Long có dạng địa hình là địa hình đồi núi thấp, có độ cao từ 60m đến 723m Khu vực có độ cao từ 100m đến 753m chiếm phần lớn diện tích, tập trung chủ yếu ở Phước Long Bề mặt địa hình ở khu vực này bị phân cắt khá mạnh bởi hệ thống suối chằng chịt dạng cành cây, các đồi gò ở đây thường bằng phẳng, ít đỉnh nhọn, sườn đồi thường thoải từ (5o ÷ 7o) đến dốc (12o ÷ 22o) Khu vực có độ cao từ

60 đến 100m chiếm diện nhỏ là nơi chuyển tiếp giữa địa hình đồi núi thấp và địa hình đồng bằng cao, phân bố chủ yếu dọc thung lũng sông Bé xuống phía Nam và sang phần lớn khu vực phía Tây, Tây bắc của vùng Bề mặt địa hình ở đây có dạng đồi lượn sóng thoải, bị phân cắt bởi hệ thống sông suối khá phát triển, ven sông Bé

và các chân đồi có nơi tạo thành những vùng đất bằng phẳng hoặc bàu trũng thấp Nhìn chung bề mặt địa hình của vùng tương đối dốc và bị phân cắt mạnh, được bao phủ bởi thảm thực vật là rừng thưa, cao su, điều, cùng một số cây nông nghiệp khác Đây là một trong những yếu tố thuận lợi cho việc xây dựng các vùng căn cứ cách mạng, các đồn bốt phòng thủ trong quân sự

1.1.2 Khí hậu

Phước Long thuộc miền Đông Nam bộ, mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa:

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11

- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Theo tài liệu quan trắc khí tượng tại trạm Phước Long từ năm 2000 tới năm

2004 cho thấy các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, lượng mưa tại đây như sau: Nhiệt độ: Phước Long là nơi có lượng bức xạ nhiệt mặt trời quanh năm khá cao và tương đối ổn định Nhiệt độ trung bình tháng từ 26,0oC đến 26,8oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng 4) từ 27,9oC đến 28,6oC, tháng thấp nhất (tháng 1)

từ 24,9oC đến 25,9oC

Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình tháng từ 79,5% đến 79,8% Độ ẩm không khí biến đổi theo chế độ mưa, mùa mưa độ ẩm khá cao trung bình 73,5÷89%, mùa khô độ ẩm trung bình thấp hơn 71,8 ÷ 73,5%

Phước Long có nhiệt độ không khí quanh năm tương đối cao, số giờ chiếu sáng trong ngày lớn, nên lượng bốc hơi khá cao, tổng lượng bốc hơi trung bình nhiều

Trang 11

năm là 1.042mm Lượng bốc hơi biến đổi theo mùa, mùa mưa nhiệt độ không khí giảm nên lượng bốc hơi thấp, đặc biệt là giữa và cuối mùa mưa (tháng 8,9) lượng bốc hơi chỉ còn 47,8 ÷ 50,7mm, mùa khô (từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau) độ ẩm không khí thấp nhưng nhiệt độ không khí cao nên lượng bốc hơi rất lớn, lượng bốc hơi tháng từ 98,1mm tới 139,5mm

- Lượng mưa: có lượng mưa thuộc diện lớn nhất của Miền Đông Nam Bộ, lượng mưa hàng năm phân làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 90% lượng mưa cả năm Mưa nhiều nhất vào tháng 8 tới tháng 10 với lượng mưa trung bình tháng nhiều năm từ 316mm đến 443,3mm Mùa khô có lượng mưa thấp, chỉ chiếm 10 ÷ 15% lượng mưa cả năm, lượng mưa thấp nhất vào tháng 1 và tháng 2, lượng mưa trung bình tháng nhiều năm từ 5,0 mm đến 118,8mm

Thị xã Phước Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao điều quanh năm, ít gió bão, không có mùa đông lạnh, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nói chung và nhất là sản xuất nông nghiệp, với các loại cây trồng nhiệt đới điển hình

1.1.3 Sông ngòi, thổ nhưỡng

Do ảnh hưởng của chế độ khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, bề mặt địa hình được bao phủ bởi các thành tạo phun trào bazan phong hóa triệt để thành lớp sét màu nâu

đỏ, các trầm tích bột kết, sét kết vôi nứt nẻ phong hóa mạnh Đây là yếu tố chi phối cho hệ thống sông, suối trong vùng phát triển khá mạnh, nhất là ở các khu vực có độ cao địa hình hơn 100m Phước Long có các hệ thống sông, suối như sau:

- Sông Bé

Sông Bé là một chi lưu lớn nằm ở phía bờ hữu của sông Đồng Nai Sông Bé bắt nguồn từ vùng đồi núi của tỉnh Đak Nông có độ cao từ 400m đến 800m, chảy qua tỉnh Bình Phước, Bình Dương rồi đổ ra sông Đồng Nai ở đoạn sau hồ thuỷ điện Trị An khoảng 15km Sông có chiều dài 350km, diện tích lưu vực 7.650km2 Đoạn chảy qua tỉnh Bình Phước có chiều dài trên 200km, diện tích lưu vực 5.200km2 Đây là một sông miền núi, rộng trung bình 25  30m, chỗ rộng nhất 50m, nơi hẹp nhất 10  12m, chiều sâu 7  20m, thường gặp 5  15m, lòng sông có dạng chữ “U”, hai vách bờ dựng đứng, nhiều thác, ghềnh; độ dốc lòng sông trung bình từ 0,8 tới 1% Lưu lượng bình quân cả năm 195m3/s (tương đương với tổng lượng nước 6,15

Trang 12

tỷ m3/năm), tuy nhiên dòng chảy phân phối không đều, các tháng mùa khô dòng chảy không đáng kể, lưu lượng trung bình nhỏ nhất (tháng 3) là 16,51m3/s, các tháng mùa mưa dòng chảy lớn thường sinh ra lũ lụt, lưu lượng trung bình lớn nhất (tháng 9) là 506m3/s Sau khi hồ Thác Mơ được xây dựng từ năm 1995 đến nay, dòng chảy vào các tháng mùa khô được tăng lên từ 58m3/s đến 64m3/s

Trên dòng sông Bé đã quy hoạch xây dựng 4 công trình thủy điện lớn theo 4 bậc thang là Thác Mơ, Cần Đơn, Sóc Phu Miêng (Bình Phước) và Phước Hòa (Bình Dương); trong đó công trình thủy điện Thác Mơ đã đi vào hoạt động từ năm 1995; hai công trình Cần Đơn và Phước Hòa đang trong giai đoạn thi công Đây là một con sông có tiềm năng kinh tế quan trọng của tỉnh Bình Phước cũng như của vùng miền Đông Nam Bộ Phía bắc, sông chảy qua các thành tạo là đá bazan thuộc hệ tầng Lộc Ninh, Mã Đà, phía Nam sông chảy qua các thành tạo là các trầm tích Jura dưới - giữa và các trầm tích sét, bột, cát của hệ tầng Bà Miêu

Nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sông là nước mưa, từ các suối đổ vào và một phần nhỏ do nước dưới đất cung cấp Động thái của sông thay đổi theo mùa, mùa mưa nước sông đục có màu nâu đỏ, mùa khô nước trong

Với đặc điểm là một sông miền núi, lắm thác nhiều ghềnh, sông Bé không thuận lợi cho giao thông đường thủy, song có tiềm năng và thuận lợi lớn cho xây dựng các công trình thủy điện và phục vụ tưới tiêu

Phía thượng nguồn, sông Bé bắt nguồn từ các suối như Đak Huýt, tại Thác Mơ

là nơi hợp nguồn của các nhánh suối như Đak Glun, Đak Nhau, Đak Rlap, Đak Oa Phía đông sông Bé có các nhánh suối như suối Rát, suối Cam, suối Giai, rạch Rạt, rạch Bé, sông Mã Đà chảy vào

Phía tây sông Bé có các sông suối chảy vào như suối Nghiên, Xa Cát, suối Thôn

- Các suối nhánh

Ngoài các sông suối chính đã nêu ở trên, các sông suối nhánh nằm ở 2 bên dòng chảy chính sông Bé và một số sông có hình dạng giống như cành cây lan toả khá đều đặn trong toàn tỉnh

Trang 13

Với điều kiện tụ nhiên hội đủ những yếu tố thuận lợi: địa hình, khí hậu, sông suối, thổ nhưỡng… nên Phước Long trở thành một địa bàn chiến lược quan trọng trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, đóng vai trò là tuyến phòng thủ quan vùng ven bảo vệ chính quyền Sài Gòn của Mỹ - ngụy trong những năm cuối chiến tranh Phước Long là vùng lý tưởng để xây dựng căn cứ kháng chiến cho cách mạng, là bàn đạp tấn công rất thuận lợi về trung tâm đầu não của địch ở Sài Gòn

trong kháng chiến chống Mỹ “Lộc Ninh được giải phóng năm 1972 cùng với toàn

tỉnh Phước Long được giải phóng đầu năm nay đã trở thành một căn cứ quan trọng của ta, hiện nay trở thành một địa bàn rộng lớn rất thuận lợi cho cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn sắp tới” [3, tr.81]

1.2 ình hình kinh tế - xã hội

1.2.1 ặc điểm dân cư

“Thị xã Phước Long được thành lập theo Nghị quyết số 35 /NQ-CP ngày 11/8/2009 của Chính phủ Theo Nghị quyết trên thị xã Phước Long được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Phước Long cũ (bao gồm: toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Thác Mơ, thị trấn Phước Bình, xã Sơn Giang, xã Long Giang, xã Phước Tín; 540,17 ha diện tích tự nhiên và 3.803 nhân khẩu của xã Bình Sơn; 423,67 ha diện tích tự nhiên và 2.542 nhân khẩu của xã Bình Tân)” [49]

Với tổng diện tích tự nhiên là 11.883,93 ha và 50.019 nhân khẩu với 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Long Thủy, Thác Mơ, Sơn Giang, Phước Bình, Long Phước và các xã: Long Giang, Phước Tín

Tại thị xã Phước Long dân cư tập trung chủ yếu ở phường Long Phước Phường Long Phước với diện tích chỉ chiếm 12,2 km2 dân số lên tới 14.426 người , mật độ dân số là 1019 người/km2 Trong khi đó phường có diện tích lớn nhất 30,57 km2 – phường Phước Tín lại chỉ có 6.179 người, mật độ dân số ở đây chỉ có 212 người/km2

Về dân cư, Bình Phước nói chung và Phước Long nói riêng có nhiều đặc điểm khác so với các tỉnh Nam Bộ với nhiều dân tộc anh em sinh sống rải rác theo từng buôn sóc Chủ nhân đầu tiên của vùng đất này là dân cư thuộc các dân tộc ít người

Trang 14

Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơnông… Họ sống du canh, du cư và phương thức sinh sống chủ yếu là săn bắt, hái lượm, làm nương, tỉa lúa với năng suất rất thấp

Sang đầu thế kỷ thứ XVII, vùng đất này có thêm những cư dân mới Bao gồm những người vì không chịu nổi sự áp bức bóc lột của chế độ phong kiến Trịnh Nguyễn, cũng như cảnh sống cơ cực, lầm than nên phải rời bỏ quê hương vào đây lập nghiệp, lại có những người “mắc tội chống lại triều đình” mà phải bị lưu đày đến đây, có những người vì trốn sưu thuế, binh dịch tìm chốn nương thân Thời gian này cũng có một số người Hoa bắt đầu nhập cư vào vùng đất này

Đến thế kỷ XIX, người Kinh từ các nơi lên khai hoang vùng đất này Sự giao lưu về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc càng được đẩy mạnh

Phải nói rằng, ngay từ khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp nhận thấy ngay những điều kiện khí hậu nhiệt đới và chất đất đỏ, đất xám của miền Đông Nam Bộ (chủ yếu trên địa bàn Sông Bé cũ) thích hợp với cây cao su Chúng đã trồng thử nghiệm thành công và từ đó lập một số công ty để chuẩn bị khai thác đồn điền cao

su trên vùng đất này Cùng với sự ra đời của ngành khai thác cao su, đội ngũ công nhân cũng bắt đầu xuất hiện Lúc đầu do quy mô khai thác còn nhỏ bé, các chủ tư bản đồn điền tuyển người địa phương - nông dân Kinh và người các dân tộc vào làm Về sau, do yêu cầu phát triển của sản xuất cao su, số dân địa phương không đủ cung cấp cho các đồn điền, buộc chúng phải ra miền Bắc, miền Trung “mộ phu” hay chúng gọi là “chiêu mộ công nhân giao kèo” Trước năm 1929, chủ yếu là “mộ những thanh niên trai trẻ chưa lập gia đình, sau năm 1929 chủ yếu là “mộ” các hộ gia đình để “cột chặt” nguồn nhân lực lâu dài cho các đồn điền

Đến thời Mỹ - ngụy, việc bố trí dân cư và tổ chức xã hội được chúng coi là vấn

đề chiến lược nhằm tạo một cơ sở chính trị hạ tầng phục vụ cho việc bảo vệ ngụy quyền và làm bàn đạp bao vây căn cứ kháng chiến của ta

Tóm lại, nơi đây là quê hương đồng bào các dân tộc S’tiêng, M’nông và là nơi quy tụ dân cư của các miền đất nước đến đây làm ăn, sinh sống Họ là những người lao động nghèo khổ, bị vua quan phong kiến, thực dân, đế quốc đàn áp, bóc lột Do vậy, họ không phân biệt là những người từ nơi này hay nơi khác đến mà cùng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để tồn tại và phát triển Họ nêu cao tinh thần thượng võ, không sợ khó khăn gian khổ đấu tranh bất khuất trước mọi kẻ thù; Sẵn

Trang 15

sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng quê hương, dân tộc và độc lập của Tổ quốc, vì

tự do, ấm no, hạnh phúc của con người

1.2.2 Kinh tế - xã hội

Phước Long quá nhiều rừng rậm và đất đỏ nên nguồn lợi chính trong tỉnh không phải là lúa gạo mà là cao su Thêm vào đó rừng đã đem lại số lâm sản tỉnh lỵ đến sông Bé có những rừng tre bạt ngàn Ngoài ra còn có cẩm lai, sao, gỗ và nhiều

gổ tạp như dầu bằng lăng còn trồng mía một số hoa màu phụ và cây ăn trái

Trong sản xuất nông nghiệp, Phước Long đã xây dựng định hướng đẩy mạnh các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển các loại cây công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao kết hợp với cây trồng xen canh ngắn ngày nhằm nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích Duy trì và phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm, tăng cường áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, gắn trồng trọt với chăn nuôi

Đến nay, “toàn thị xã có khoảng 865 trang trại với diện tích gần 9.000 hécta,

giải quyết công việc cho trên 3.500 lao động thường xuyên và 2.100 lao động thời

vụ Với 13.517 hécta mặt nước nuôi trồng thủy sản, đã cung cấp cho thị trường 2.500 tấn cá mỗi năm” [51]

Về công nghiệp, Phước Long hiện có 300 doanh nghiệp và cơ sở chế biến hạt điều; trong đó, doanh nghiệp Mỹ Lệ là một đơn vị chế biến xuất khẩu nhân hạt điều hàng đầu của tỉnh Công nghiệp chế biến đã góp phần tăng thu ngân sách, tạo công việc cho lực lượng nông nhàn, góp phần đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn

Định hướng của Phước Long là phát triển du lịch gắn với việc bảo vệ và tôn tạo cảnh quan, môi trường sinh thái các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Trên địa bàn thị xã có núi Bà Rá không chỉ mang ý nghĩa giá trị lịch sử, đã được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia mà còn có thắng cảnh đẹp nổi tiếng với rừng có hệ thực vật đa dạng, phong phú được xếp vào hệ thống rừng đặc chủng của

cả nước Hiện nay, tỉnh Bình Phước đã phê duyệt quy hoạch Khu du lịch sinh thái

Bà Rá - Thác Mơ, gồm các hạng mục: Đầu tư nâng cấp hệ thống đường giao thông vòng quanh chân núi, hoàn thành tuyến cáp treo đưa đón khách tham quan, tu bổ tôn tạo các công trình có liên quan đến di tích lịch sử

Trang 16

Nhằm đẩy mạnh việc thu hút các nhà đầu tư đến với Phước Long, trên cơ sở các quy định chung và tình hình thực tế của tỉnh, thị xã đã triển khai những chính sách ưu đãi đầu tư, cải cách thủ tục hành chính theo hướng thông thoáng, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư yên tâm khi đầu tư tại Phước Long

Sau 40 năm hình thành và phát triển, Phước Long chuyển mình với nhiều

thành tựu nổi bật “Tốc độ tăng trưởng hàng năm 11%; tỷ trọng kinh tế công nghiệp

- xây dựng 45%, thương mại - dịch vụ - du lịch 38%, nông nghiệp 17%; thu nhập bình quân 39 triệu đồng/người/năm; tổng giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm giai đoạn 2011 - 2015 tăng 7% Dự án xây dựng trung tâm hành chính và khu đô thị mới thị xã với tổng diện tích 96,53 ha, kinh phí đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng đã và đang thực hiện sẽ tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho thị xã trong tương lai ”

[53]

Để tiếp tục giữ vững và phát huy hơn nữa kết quả đạt được, thời gian tới chính quyền và nhân dân thị xã Phước Long không ngừng phấn đấu, khắc phục khó khăn, xác định rõ định hướng phát triển theo lợi thế, tiềm năng sẵn có, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; chú trọng công tác bảo vệ môi trường; khai thác tốt nhất tiềm năng và lợi thế, phát huy nội lực, tạo môi trường thật sự hấp dẫn nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Sớm tạo nên đột phá về kinh tế, mở rộng dịch vụ - thương mại, công nghiệp chế biến, đưa thị xã Phước Long trở thành đơn vị vững mạnh của tỉnh và cả nước

1.2.3 Văn hóa, truy n thống

Ở vùng đất này những tôn giáo chính là đạo Phật, Thiên Chúa, Cao Đài, Hòa Hảo, thờ phụng tổ tiên và thần linh Phước Long có bản sắc văn hóa đa dạng, nổi lên

là văn hóa cồng chiêng

Có thể nói “vùng đất này là hình ảnh thu nhỏ những sắc thái của đại gia đình

các dân tộc Việt Nam, với bản sắc văn hóa riêng của mỗi miền mà đặc trưng là nền văn hóa truyền thống lâu đời của cư dân bản địa mà tiêu biểu là dân tộc S’tiêng”

[16, tr.2]

Trang 17

Phước Long hôm nay là một thị xã trù phú, xinh đẹp, là nơi khởi đầu các lễ hội của tỉnh Bình Phước: Lễ kỷ niệm ngày giải phóng 6-1; giải việt dã leo núi “Chinh phục đỉnh cao Bà Rá”; lễ hội miếu Bà, lễ hội mừng lúa mới của người S’Tiêng Phước Long là một trong những vùng đất hình thành và phát triển các đồn điền cao su của thực dân Pháp gắn liền với việc bóc lột công nhân, lao công đồn điền thậm tệ Từ sự áp bức cùng cực của chủ đồn điền và bè lũ tay sai, đội ngũ công nhân cao su đã đoàn kết đứng lên cùng các dân tộc (S’Tiêng, M’Nông, Châu Mạ…) chống lại để bảo vệ quyền sống của mình Các cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc ở đây đã gây ảnh hưởng lớn đến những cuộc đấu tranh của thợ thủ công các lò gốm ở Tân Uyên, Lái Thiêu, Bến Cát… làm cho bọn thống trị thực dân và tay sai vô cùng lo sợ

Từ những năm 1925, 1926, các phong trào đấu tranh ở vùng đất này được soi sáng bởi một đường lối cách mạng tiên tiến “con đường cách mạng vô sản” do Nguyễn Ái Quốc tiếp thu và truyền bá Nhờ vậy, nhân dân Phước Long sớm giác ngộ cách mạng, quyết tâm đi theo Đảng để đấu tranh giành độc lập, tự do Các đội tuyên truyền vũ trang mang tên gọi: Tự vệ, du kích, dân quân, thanh niên cứu quốc quân, cộng hòa vệ binh, tự vệ chiến đấu quân lần lượt ra đời, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân địa phương tham gia Đây là lực lượng nòng cốt để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp

Sau khi giành quyền quản lý các đồn điền, lực lượng thanh niên tiền phong cùng công nhân đã kéo về chợ Hớn Quản tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng, sau

đó cướp chính quyền quận lỵ Ngày 25-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa cử khoảng 100 công nhân Lộc Ninh, Hớn Quản và 50 công nhân người dân tộc thiểu số có trang bị

vũ khí đến thị xã Thủ Dầu Một tham gia khởi nghĩa giành chính quyền Ở Bà Rá (Phước Long), bọn chỉ huy và binh lính Nhật không dám đi khủng bố, chờ quân đồng minh đến để giao nộp vũ khí

Thắng lợi cách mạng tháng Tám của quân dân tỉnh Thủ Dầu Một, trong đó có quân dân các huyện phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một (Bá Rá, Lộc Ninh, Hớn Quản) cùng với cả nước đã xóa bỏ chế độ thực dân, phát xít, xây dựng nước Việt Nam độc lập; đồng thời tạo những tiền đề quan trọng cho việc hình thành, thống nhất lực lượng vũ trang tỉnh, chuẩn bị cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ

Trang 18

nhưng rất vẻ vang Sau thắng lợi cách mạng tháng Tám, lực lượng vũ trang Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp ra đời Trên nền tàng của cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương, các đơn vị vũ trang tập trung sớm ra đời, nhanh chóng phát triển, giữ vai trò là lực lượng nòng cốt trong hoạt động tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn

Vào những năm cuối giai đoạn 1945 - 1951 của cuộc kháng chiến chống Pháp, lực lượng vũ trang Bà Rá, Bù Đốp ngày càng phát triển và trở thành lực lượng nòng cốt cho phong trào cách mạng địa phương Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu

là đánh giặc, lực lượng vũ trang Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp còn dìu dắt phong trào dân quân du kích ở địa phương phát triển vững mạnh Ngay từ những ngày đầu thành lập cho đến suốt quá trình chiến đấu 9 năm chống Pháp, lực lượng vũ trang ba thứ quân luôn được Đảng bộ tỉnh, các đoàn thể, mặt trận và nhân dân trong tỉnh hết sức chăm lo, nuôi dưỡng, bảo vệ, tạo điều kiện phát triển lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Niềm vui chiến thắng chưa được bao lâu thì quân và dân Phước Long lại cùng quân và dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến mới - kháng chiến trường kỳ với

quy mô ngày càng ác liệt Năm 1965, Mỹ - ngụy mở chiến lược “Chiến tranh đặc

biệt”, Đảng bộ, lực lượng vũ trang tỉnh và nhân dân mở chiến dịch Phước Long -

Đồng Xoài Đây là chiến dịch lớn nhất của chiến trường B2 Trải qua 64 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, ta đã phá tan hàng loạt hệ thống ấp chiến lược, dinh điền của địch, giải phóng trên 5 vạn dân, vùng giải phóng được mở rộng; tiêu diệt gần 4.500 tên địch, trong đó, có 73 cố vấn Mỹ, bắn hạ 34 máy bay và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, có 4 tiểu đoàn bộ binh bị diệt 1 tiểu đoàn dù thuộc lực lượng tổng trù bị

Cũng như toàn miền Nam, giai đoạn 1954 - 1965 là giai đoạn xây dựng lực lượng vũ trang đóng vai trò chủ yếu; từ việc xây dựng những đội, mũi công tác, tuyên truyền đến những đội vũ trang tự vệ diệt ác trước và trong những ngày đồng khởi Bắt đầu từ năm 1960, khi Mỹ - ngụy triển khai chiến lược chiến tranh đặc biệt, lực lượng vũ trang tỉnh đã tập trung đánh phá vào những mục tiêu sống còn của chiến lược đó là lực lượng bình định, kìm kẹp và ấp chiến lược, xây dựng thế và lực trong thế trận chiến tranh nhân dân địa phương Từ chiến dịch Đường 10 đến chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài, lực lượng vũ trang Bình Long - Phước Long vừa

Trang 19

chiến đấu vừa trưởng thành nhanh chóng, đánh thắng nhiều trận, giải phóng một vùng rộng lớn, góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy Trong 3 năm (1965 - 1968), lực lượng vũ trang vừa phát triển lực lượng ba thứ quân vừa phải trực tiếp đối đầu với quân viễn chinh Mỹ trong chiến lược Chiến tranh Cục bộ - một trong những thời kỳ thử thách quyết liệt nhất Bằng ý chí chiến đấu, quyết tâm, lực lượng vũ trang tỉnh đã liên tục đánh địch bằng phương châm hai chân ba mũi giáp công, tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chống phá kế hoạch bình định gom dân lập ấp chiến lược của địch, mở rộng vùng giải phóng, phát triển phong trào nhân dân du kích chiến tranh Quân dân Phước Long đã cùng quân dân Đông Nam bộ, Khu 6, Khu 10 và toàn miền Nam góp phần đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966), bẻ gãy hai gọng kìm “tìm diệt và bình định” của Mỹ - ngụy

Đứng trước những khó khăn ác liệt của chiến trường sau 1968 khi địch đẩy mạnh phản kích, lực lượng vũ trang các tỉnh Bình Long – Phước Long và Phân khu Bình Phước đã không ngừng củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang các cấp phát triển vững mạnh; thực hiện nhiệm vụ bám trụ địa phương, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, làm nòng cốt xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân địa phương phát triển vững chắc

Bằng sự phối hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, bộ đội địa phương tỉnh Phước Long đã chiến đấu liên tục giành thắng lợi quyết định từ chiến dịch đường 14 đến giải phóng toàn tỉnh năm 1975, góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), quân dân Phước Long cùng miền Nam và cả nước tiến hành cuộc đấu tranh vô cùng gay go, ác liệt và hy sinh lớn lao nhưng chiến thắng rất vẻ vang, oanh liệt, góp phần viết tiếp trang sử anh hùng của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

1.3 ự thay đổi địa giới hành chính của hước ong qua các giai đoạn lịch sử

Đất này trước gọi là Bà Rá (B'RA) và đồng bào Striêng sống ở đây Nằm trong

vùng cao nguyên thuộc đoạn cuối của dãy Trường Sơn, ít chịu tác động của các đợt biển tiến - biển thoái trong thời kỳ Toàn tân, lại có tài nguyên đất mầu mỡ với các loại đất chất lượng cao (đất đỏ bazan, đất đen, phù sa), nên từ rất sớm nơi đây đã trở

Trang 20

thành địa bàn quần tụ của các cộng đồng dân cư và nơi giao lưu của các nền văn hóa nội địa Đông Nam á

Khoảng đầu công nguyên, vùng đất Nam Bộ bước vào thời kỳ lập quốc Căn

cứ vào những ghi chép trong các thư tịch cổ Trung Quốc thì vào khoảng thời gian

đó ở phía Nam của Lâm Ấp (Chămpa), tương ứng với vùng đất Nam Bộ ngày nay,

đã xuất hiên một quốc gia có tên gọi là Phù Nam

Vào cuối thế kỷ VI, đầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu, các thuộc quốc lần lượt trở thành các vương quốc độc lập Riêng Chân Lạp, nhân cơ hội đó đã tấn công và chiếm lấy một phần lãnh thổ Phù Nam ở vùng hạ lưu sông Mê Kông Vùng đất Nam bộ đã bị phụ thuộc vào Chân Lạp

Phước Long là một vùng đất thuộc miền Đông Nam Bộ, như vậy có thể nói vào thời kỳ này thì Phước Long thuộc Phù Nam, tiếp đó là Chân Lạp

Trước sự phát triển trù phú của vùng đất phía Nam, năm 1698, Minh Vương Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, chính thức xác lập đơn vị hành chính của Đại Việt tại vùng đất mới Trên cơ sở các vùng đất do

lưu dân Việt khai phá, Nguyễn Hữu Cảnh “đem xứ Đồng Nai (người Thanh gọi

Nông Nại) đặt làm huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên (khi đầu khai quốc những chỗ địa đầu biên giới gọi là Trấn Biên thuộc tỉnh Gia Định), mộ lưu dân từ Quảng Bình trở vô đến ở, chia đặt thôn ấp, người Thanh lưu ngụ cũng liệt kê vào hộ

“Đối với vùng đất đỏ miền Đông, trong buổi đầu dân cư còn thưa thớt, Nguyễn Hữu Cảnh cho đặt huyện Phước Long, thuộc dinh Trấn Biên lãnh 4 tổng Tân Chánh, Bình An, Long Thành và Phước An” [37, tr.52] Riêng với người Hoa, ông

cho tập trung vào 2 xã: Thanh Hà ở huyện Phước Long (Đồng Nai – Biên Hòa); Minh Hương ở huyện Tân Bình (Sài Gòn Bến Nghé)

Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ vương triều Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, niên hiệu Gia Long, lấy quốc hiệu là Việt Nam, đặt kinh đô ở Phú Xuân (Huế) Năm

1806, vua Gia Long tổ chức lại nền hành chính, phân chia lãnh thổ Việt Nam làm 4 doanh, 23 trấn Trong đó, trấn Biên Hòa lãnh huyện Phước Long với 4 thuộc tổng

Trang 21

Năm 1808, sau khi giao Lê Văn Chất cai quản, hoàn thành sửa chữa con đường quan lộ từ Quảng Nam đến Biên Hòa, Gia Long tiến hành cải tổ hành chính ở cấp địa phương Theo đó, huyện Phước Long được thăng làm phủ, 4 thuộc tổng (Phước Chánh – trước là tổng Tân Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An) thăng làm huyện

Sang đến đời vua Tự Đức, triều đình nhà Nguyễn tiếp tục có sự cải tổ nền hành chính ở Nam kỳ Về địa giới hành chính cấp tỉnh, triều đình nhà Nguyễn vẫn duy trì

sự phân chia cũ, nhưng toàn Nam kỳ được chia thành ba quận do quan Tổng đốc cai trị

Riêng tỉnh Biên Hòa, nhà vua cho 2 huyện Phước Bình và Long Khánh giao về cho phủ Phước Long và Phước Tuy kiêm nhiếp; sát nhập huyện Nghĩa An vào huyện Bình An, phủ Phước Long Về địa giới, phủ Phước Long nằm ở phía tây bắc

tỉnh thành Biên Hòa, có diện tích“đông đến tây cách 205 dặm, nam đến bắc cách

134 dặm Từ phủ lỵ qua đông đến Sơn Man 165 dặm; tây đến giới hạn Bình Giang tỉnh Gia Định 40 dặm; nam đến giới hạn huyện Long Thành phủ Phước Tuy 49

dặm; bắc đến Sơn Man 85 dặm” [38, tr.3]

Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành các tỉnh , Phước Long thuộc địa phận Tỉnh Biên Hoà và Thủ Dầu Một, tồn tại đến sau Hiệp định Geneve 1954

mà không có sự thay đổi nào đáng kể

Từ năm 1956 chính quyền Sài Gòn thiết lập một số tỉnh mới ở miền Nam Ngày 24-10-1956, Ngô Đình Diệm ban hành tiếp Sắc lệnh số 147- a ấn định chia

Trung phần làm hai miền Cao nguyên và Trung nguyên Sau đó, bằng Sắc lệnh Sắc

lệnh số 87 - TTP ngày 15 - 4 -1959 và Sắc lệnh 138 ngày 18 - 6 - 1959, chính quyền Diệm chia miền Nam Việt Nam thành Tây Nam Nam phần và miền Đông Nam phần Phước Long lúc này thuộc Đông Nam phần

Tỉnh Phước Long gồm một phần phía Bắc tỉnh Biên Hòa và một phần quận Bù Đốp, với hai đơn vị hành chính là quận châu thành Phước Bình (thời thuộc Pháp là quận Bà Rá hay còn gọi là Sông Bé) và quận Bố Đức (được đổi tên từ quận Bù Đốp) Tỉnh Phước Long giáp tỉnh Quảng Đức và Lâm Đồng về phía Bắc, giáp tỉnh Bình Long về phía Tây,

Trang 22

Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập Phân khu Bình Phước Cuối 1972, Phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức được thành lập

Ngày 2-7-1976 tại kỳ họp thứ nhất khóa VI, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định thành lập tỉnh Sông Bé trên cơ sở sát nhập tỉnh Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Phước và 3 xã thuộc huyện Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh)

Về địa giới, tỉnh Sông Bé là một trong những tỉnh lớn nhất nước, với diện tích trên 9.000km2, phía Bắc giáp biên giới với nước bạn Campuchia; phía Đông và Đông Bắc giáp Đắc Lắc và Lâm Đồng; phía Đông Nam giáp Đồng Nai; phía Nam và Tây Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh; phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh

Năm 1977, thực hiện quyết định của Chính phủ về hợp nhất: 3 huyện Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành thành huyện Bình Long; 3 huyện Bù Đốp, Phước Bình, Bù Đăng thành huyện Phước Long và 2 huyện Đồng Xoài và Phú Giáo thành huyện Đồng Phú, đơn vị hành chính tỉnh Sông Bé được thu gọn còn 9 huyện, thị Ngày 1-1-1997, tỉnh Bình Phước được tái lập gồm 5 huyện phía Bắc tỉnh Sông

Bé là: Đồng Phú, Bình Long, Lộc Ninh, Phước Long và Bù Đăng Phước Long là một huyện của tỉnh Bình Phước và đến ngày 11 - 8 - 2009 trở thành một trong 3 thị

xã của tỉnh Và trung tâm tỉnh Phước Long xưa nay là thị xã Phước Long được thành lập vào tháng 11 - 2009 theo Nghị quyết số 35/2009/NQ - CP của Chính phủ trên cơ sở tách ra từ huyện Phước Long cũ

Đến nay, tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.855,99km2, với 10 đơn vị hành chính gồm các huyện: Đồng Phú, Bù Gia Mập, Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Đăng, Hớn Quản, Chơn Thành và 3 thị xã: Đồng Xoài, Phước Long, Bình Long, được chia thành 92 xã, 5 thị trấn và 14 phường Về vị trí địa lý, Bình Phước được xem là

“khu đệm” nối liền phía Bắc và Đông Bắc Sài Gòn với vùng núi cực nam Trung bộ

và nam Tây Nguyên, nối tiếp với vùng biên giới Campuchia Phía đông giáp tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng; phía Nam giáp tỉnh Đồng Nai và Bình Dương; phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Bắc và Tây bắc giáp nước bạn Campuchia với đường biên giới dài 240km nằm trên 12 xã của huyện Lộc Ninh và huyện Phước Long

Như vậy, qua hơn 300 năm hình thành và phát triển, từ vùng đất hoang vu với bạt ngàn núi rừng ở miền biên viễn phía Tây của Tổ quốc, các cộng đồng dân cư nơi

Trang 23

đã đoàn kết, kiên cường đấu tranh, xây dựng nơi đây thành một trong những vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam

1.4 hước ong trong thế bố trí chiến lược của ỹ - ngụy

Vào những năm 1974, 1975, Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt khu thủ đô Sài Gòn - Gia Định Phước Long có địa giới giáp với Bình Long (phía Tây), Quảng Đức (phía Đông), Long Khánh (phía Nam) và Campuchia (phía Bắc) và nằm trong địa bàn tác chiến của Quân khu III (Quân đoàn III) của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa Đây cũng là địa bàn hoạt động của các lực lượng thuộc Mặt trận Đông Nam Bộ (B2) sau này được tập hợp thành Quân đoàn 4 (Quân đội Nhân dân Việt Nam)

Phước Long là một tỉnh nằm cách Sài Gòn 120km về phía Đông Bắc, có vị trí như một chiếc cầu nối giữa Nam Tây nguyên và miền Đông Nam bộ Riêng thị xã Phước Long nằm trên dãy đồi cao phía Tây Bắc núi Bà Rá, rộng khoảng 2km2 với dân số vào khoảng 33 ngàn dân (năm 1975) Bao quanh thị xã về phía Bắc và Đông

là sông Bé, bờ sông dốc đứng Phía Tây và Nam là khu đồi Sơn Giang, suối Dung

và hồ Long Thủy sình lầy, rậm rạp Thị xã nhỏ nhưng được xây dựng vững chắc, công sở, nhà dân đều làm bằng gạch, xi măng Quân ngụy đóng trong thị xã được tổ chức phòng thủ nhiều tầng, vững chắc, có trọng điểm; muốn đánh chiếm thị xã phải chuẩn bị nhiều ngày, đột phá từ ngoài vào và vận dụng hình thức tác chiến thành phố

Phước Long có vai trò chiến lược quan trọng trong thế trận phòng thủ của Quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Đông Nam Bộ

“Giống như Bình Long với trung tâm phòng thủ là An Lộc, Phước Long gồm các chi khu quân sự Đôn Luân (Đồng Xoài), Bố Đức, Đức Phong, quận lỵ Phước Bình, thị xã Phước Long và căn cứ Bà Rá nằm trong tuyến phòng thủ từ xa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa để bảo vệ Sài Gòn và các tỉnh đông dân trù phú ở Nam Bộ Do có các giao lộ của đường số 2(cũ) nối với đường 14 qua ngã ba Đồng Xoài và của đường 311 nối với đường 14 qua ngã ba Liễu Đức; Phước Long là điểm án ngữ, ngăn chặn hành lang vận tải của Quân đội Nhân dân Việt Nam qua Lào và Campuchia vào Đông Nam Bộ; đồng thời giữ vị trí chia cắt thế liên

Trang 24

hoàn của các vùng do Quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm lĩnh, cô lập vùng Lộc Ninh với các vùng Nam Tây Nguyên và các tỉnh miền Đông khác” [24, tr.137]

Đường 14 - Phước Long là hệ thống phòng thủ quan trọng của ngụy bao gồm nhiều căn cứ chi khu, yếu khu, tiểu khu quân sự cùng trên 100 đồn bốt, được tổ chức thành 3 tuyến phòng ngự dài hơn 100km Quân đội Sài Gòn xem đây là tuyến phòng ngự huyết mạch bảo vệ Sài Gòn

Hệ thống phòng thủ Phước Long mang kiểu dáng một tập đoàn cứ điểm quy

mô nhỏ nhưng có thế chân kiềng của chi khu quân sự Phước Bình – điểm cao núi Bà

Rá – thị xã Phước Long Mỗi mục tiêu chủ yếu đó có nhiều đồn bốt nhỏ tạo thành các lớp vành đai ngăn chặn, bảo vệ liên hoàn Trong ba mục tiêu chân kiềng đó, thị

xã Phước Long quan trọng nhất “Các cụm cứ điểm trên đường 14 và thị xã Phước

Long là những bàn đạp cho hoạt động quân sự của ngụy, uy hiếp các khu vực dự trụ vật chất lớn, đường ống dẫn dầu và các đầu mối giao thông của đoạn cuối đường

Hồ Chí Minh, nhất là hướng xuống Đông bắc Sài Gòn” [44, tr.235]

Như đã thấy ở trên, Phước Long là địa bàn có tầm chiến lược quan trọng đối với cả ta và địch trong cuộc chiến tranh Mất Phước Long, tuyến phòng thủ đông bắc Sài Gòn của ngụy bị phá vỡ ở một khâu quan trọng mà quốc lộ 13 và các vùng trung tuyến như Phước Bình, Bình Dương, Bến Cát còn lâm vào thế bị uy hiếp trực tiếp

Nói cách khác, mất Phước Long là mất đi thế đánh, thế giữ vùng Chiến thuật III, Quân khu III của chính quyền và quân đội Sài Gòn Trên ý nghĩa này, Phước Long được Mỹ và ngụy đánh giá là cửa ngõ của 44 tỉnh Nam Việt Nam

Bên cạnh đó “Phước Long là một thị xã tỉnh lỵ, mặc dù một tỉnh nhỏ ở vùng

biên ải, song lại có vị trí quan trọng về mặt quân sự Và đã là thị xã nó lại có vấn đề chính trị, tâm lý, một khi thị xã lọt vào tay đối phương thì …(!)?” [44, tr.270] Điều

này sẽ tác động không nhỏ đến tình hình chiến trường miền Nam trong đoạn cuối của chiến tranh

Tóm lại, Phước Long nằm ở cực Bắc của miền Đông Nam bộ, nơi cuối cùng của cao nguyên Trung bộ xuống miền Nam, có chung đường biên giới với Cam - pu

- chia, có Quốc lộ 13, Quốc lộ 14 là hành lang Bắc - Nam, Đông - Tây của miền Đông Nam bộ Phước Long là một trong 44 tỉnh ở Nam Việt Nam trước năm 1975

Trang 25

Phước Long có vị trí quân sự đặc biệt quan trọng, là tuyến phòng thủ vùng ven Sài Gòn Và cũng là nơi diễn ra nhiều trận chiến đấu quan trọng góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường, tác động sâu sắc đến cục diện chiến tranh

Theo Hiệp định Pari, cuối tháng 3 - 1973, tất cả các đơn vị quân viễn chinh Mỹ

và quân đồng minh của Mỹ sẽ rút khỏi lãnh thổ Việt Nam

Trang 26

Trên thực tế, thay vì phải phá hủy các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam như đã quy định tại Điều 6 của Hiệp định Pari, thì ngược lại, phía Mỹ đã chuyển giao toàn bộ những cơ sở này cho chính quyền và quân đội Sài Gòn Đối với số lượng máy bay chiến đấu, quân đội Mỹ không chuyển

về nước mà phân tán sang các căn cứ quân sự ở Thái Lan nhằm sẵn sàng chi viện

cho quân đội Sài Gòn và can thiệp vào miền Nam Việt Nam khi cần thiết “Từ cuối

năm 1972 đến đầu năm 1973, phía Mỹ đã khẩn trương chuyển gấp cho quân đội Sài Gòn tổng cộng 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, bổ sung dự trữ vật tư chiến tranh là 2 triệu tấn và những viện trợ khác trị giá lên tới 2.670 triệu đô la (năm 1973)” [4, tr.316]

Trong năm 1973, Mỹ đưa thêm vào miền Nam 90 máy bay, 100 khẩu pháo và một khối lượng lớn các loại phương tiện chiến tranh Các cố vấn quân sự Mỹ chuyển sang khoác áo dân sự, dưới sự chỉ huy của Đại sứ quán Mỹ Tổ chức và nhân viên tình báo CIA tại miền Nam Việt Nam cũng chuyển sang hoạt động dưới danh nghĩa của Tổ chức viện trợ và phát triển - USAID (United States Agency International Development) Tổng số cố vấn quân sự và dân sự Mỹ ở miền Nam tính đến giữa năm 1973, có tới 24.000 người Với lực lượng cố vấn đông đảo này ở mọi cấp, mọi ngành, từ trung ương xuống tới các địa phương, cả ở hệ thống chính quyền

và lực lượng quân đội, đế quốc Mỹ tiếp tục can thiệp sâu vào công việc nội bộ của miền Nam, quyết định những chủ trương lớn về quân sự, chính trị, kinh tế, bố trí nhân sự cao cấp của chính quyền và quân đội Sài Gòn

Được Mỹ tăng viện và khuyến khích, chính quyền, quân đội Sài Gòn, ngay từ đầu đã ngang nhiên vi phạm các điều khoản của hiệp định, đẩy mạnh các hoạt động quân sự, nhằm cải thiện tình hình, mở rộng vòng chiếm đóng, tăng cường nhanh chóng sức mạnh quân sự của Việt Nam cộng hòa Dưới sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của đội ngũ cố vấn Mỹ khoác áo dân sự, quân đội Sài Gòn ráo riết xúc tiến thực hiện Kế hoạch chiến tranh 3 năm (1973 - 1975) hòng lấn chiếm vùng giải phóng, tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, tiến tới xóa bỏ tình trạng hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng hiện có ở miền Nam, độc chiếm và biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ

Để xóa “thế da báo” trên chiến trường miền Nam, quân đội Sài Gòn liên tiếp

mở các hoạt động “tràn ngập lãnh thổ” trong khuôn khổ Kế hoạch Lý Thường Kiệt

Trang 27

“Theo thống kê của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, năm 1973, địch đã mở

11.365 cuộc hành quân lấn chiếm quy mô từ chấp trung đội trở lên, trong đó có 10.072 cuộc từ cấp tiểu đoàn trở lên, 50 cuộc từ 5 tiểu đoàn trở lên Cùng trong năm 1973, địch còn tiến hành 49.676 cuộc hành quân cảnh sát trên khắp miền Nam Với những cố gắng mới, địch đã lấn chiếm được nhiều vùng giải phóng, kiểm soát được 11.430 ấp, trong đó có 5.008 ấp loại A với số dân là 19.049.000 người” [8,

tr.612]

Đẩy mạnh các cuộc hành quân lấn chiếm, bình định vùng giải phóng, chính quyền và quân đội Sài Gòn đồng thời thẳng tay đàn áp, khủng bố những đảng phái đối lập và những người yêu nước, tiến bộ muốn thực hiện hòa bình, hòa hợp dân tộc

Chính quyền Mỹ tiếp tục xúc tiến mạnh mẽ con bài ngoại giao thân thiện với

cả Liên Xô và Trung Quốc, khoét sâu vào mâu thuẫn giữa hai cường quốc này để nhằm hạn chế tới mức thấp nhất sự ủng hộ và giúp đỡ của hai nước đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam Tháng 2 - 1972, Tổng thống Richard Nixon chính thức sang thăm Trung Quốc Sau chuyến thăm đó, Trung Quốc trở thành "đồng minh giai đoạn" của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô Và chỉ một tuần sau chuyến công du của Ngoại trưởng Henry Kissinger, thấy rõ ý định "bỏ rơi" của Mỹ cũng như các điều kiện bất lợi với Việt Nam Cộng hòa, Ngày 19 - 1- 1974 hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc diễn ra Sau trận chiến, quần đảo Hoàng Sa - một bộ phận thiêng liêng và không thể tách rời của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm giữ

Trên thực tế, từ năm 1969 trở đi, Liên Xô đã từng bước thực hiện cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt là về viện trợ quân sự; Việt Nam đã không nhận thêm được quả tên lửa nào Cho tới những năm 1974 - 1975 thì nguồn viện trợ của hai nước Liên Xô, Trung Quốc dành cho Việt Nam gần như không đáng kể Phía Mỹ đã không tính hết được rằng, về đường lối đối nội và đối ngoại của Việt Nam những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tỏ ra tương đối độc lập: tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của đông đảo nhân dân và các quốc gia trên thế giới; Không bị chi phối lớn bởi Liên Xô và Trung Quốc Mặt khác, lúc này, toàn thể dân tộc Việt Nam đang nỗ lực tới mức cao nhất, dồn sức người sức của thực hiện quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc Tuy

Trang 28

nhiên, việc quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm giữ vẫn là thiệt hại nặng nề đối với nhân dân ta

Về phần mình, nước Mỹ kể từ sau khi Hiệp định Pari được ký kết, tiếp tục lâm vào một loạt vấn đề nan giải về chính trị, kinh tế, quân sự, đối ngoại… Trong đó, mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ tiếp tục có những diễn biến mới Liên tiếp từ ngày 17 - 5 đến ngày 7 - 11 - 1973, Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Mỹ lại thêm bốn lần bỏ phiếu thông qua đạo luật hạn chế quyền của Tổng thống Mỹ trong việc đưa các lực lượng chiến đấu của Mỹ ra nước ngoài tham chiến Nếu tính tổng

số từ cấp Tiểu ban chuẩn chi quốc phòng đến Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Quốc hội Mỹ đã 11 lần ra nghị quyết buộc phe chính quyền cắt mọi khoản viện trợ cho Nguyễn Văn Thiệu, ngăn cấm tổng thống không được tự tiện tiến hành chiến tranh không tuyên bố nếu không được phép của Quốc hội

Ở miền Nam Việt Nam, mặc dù trước và sau khi hiệp định được ký kết, Mỹ tăng cường nguồn vũ khí, phương tiện chiến tranh nhưng việc quân Mỹ và quân một

số nước đồng minh của Mỹ rút ra, đã tạo nên một khoảng trống, khiến so sánh lực

lượng nghiêng hẳn về phía quân và dân Việt Nam “So với tháng 3 năm 1969, thời

kỳ số lượng quân Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ lên tới đỉnh cao, thì đến năm 1973, bộ binh địch giảm 43%, pháo binh giảm 34%, thiết giáp giảm 52%, không quân giảm 67% Hơn nữa, do một số khó khăn về nhiên liệu nên sức cơ động của quân đội Sài Gòn giảm đi 50%” [8, tr.611] Hàng nghìn máy bay không hoạt

động được vì thiếu nhiên liệu và các phụ tùng thay thế

Sau khi rút quân khỏi miền Nam, R Níchxơn vẫn cam kết ủng hộ chính quyền Thiệu, nhưng những khó khăn nội bộ đã không cho phép R Níchxơn giữ vững cam kết Quốc hộ Mỹ đã tỏ ra kiên quyết hơn trong việc hạn chế quyền lực Tổng thống

Mỹ trong các vấn đề về Nam Việt Nam “Vào ngày 3 - 4 - 1974, Ủy ban quân lực

Thượng nghị viện, với quyền hạn của mình, đã bỏ phiếu phủ quyết việc tăng ngân sách viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa, giảm viện trợ trong năm tài khóa

1974 - 1975 cho Việt Nam Cộng hòa xuống dưới 1 tỉ đôla Đây là lần đầu tiên trong vòng 10 năm (1964 - 1973), Quốc hội Mỹ chỉ chuẩn chi khoản ngân sách viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa ở mức dưới 1 tỉ đôla” [22, tr.447- 450] Trước

quyết định này của Quốc hội, Tổng thống mỹ R Níchxơn tỏ thái độ rất thất vọng, nhưng ông ta không thể đảo ngược quyết định đó Lúc này, vụ bê bối Oatơghết

Trang 29

(Watergate) buộc Tổng thống R Níchxơn phải từ chức vào ngày 9 - 8 - 1974 Người

kế nhiệm R Níchxxơn, G Pho (Gerald Ford), tuy vẫn cam kết ủng hộ Thiệu, nhưng

chỉ “trong giới hạn cho phép”

Trong điều kiện nền kinh tế - quân sự Sài Gòn phụ thuộc vào nguồn viện trợ

Mỹ tới 90%, thì việc chính quyền Mỹ không thể giữ đúng lời cam kết và việc Quốc hội nước này chi chuẩn chi 50% tổng số tiền đề nghị viện trợ cả gói cho Việt Nam Cộng hòa trong năm tài khóa 1974 - 1975 là đòn giáng nặng vào chính quyền Sài Gòn

Việc Mỹ cắt giảm viện trợ kinh tế cho chính quyền Sài Gòn mặc dù được thực hiện từng bước (năm tài khóa 1972 - 1973 là 753 triệu đôla, năm tài khóa 1973 -

1974 là 601 triệu đôla và năm tài khóa 1974 - 1975 là 400 triệu đôla), nhưng hiệu ứng do sự sụt giảm viện trợ kinh tế gây ra là rất to lớn, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế này đang phải đảm bảo cho bộ máy chiến tranh khổng lồ Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, chính quyền Thiệu vẫn hối thúc và nỗ lực thực hiện kế hoạch lấn chiếm toàn bộ vùng giải phóng và ổn định tình hình miền Nam Để phục

vụ cho mục tiêu này, trên lĩnh vực xây dựng quân đội, chính quyền Sài Gòn thực hiện kế hoạch hiện đại hóa dài hạn (1973 - 1975), trong đó tổ chức hai lực lượng chiến lược: lực lượng dã chiến (gồm quân đoàn bộ binh, các sư đoàn dù, lính thủy đánh bộ, biệt động quân) và lực lượng lãnh thổ (bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự…) Gánh nặng của kế hoạch về ổn định chính trị - xã hội và phát triển quân đội

mà chính quyền Sài Gòn vạch ra vượt quá khả năng nguồn tài chính có thể đảm đương Từ đây, nảy sinh mâu thuẫn giữa yêu cầu với khả năng thực tế, và chính mâu thuẫn này đã khiến cho các lĩnh vực quốc phòng - an ninh lãnh thổ, cũng như kinh

tế, chính trị - xã hội của chính quyền Sài Gòn rơi vào trạng thái khủng hoảng triền miên và không có lối thoát Mâu thuẫn nội bộ chính quyền, vì vậy, đã gay gắt càng gay gắt thêm Trong Chính phủ Sài Gòn, gia tăng sự chống đối lẫn nhau giữa các phe nhóm, đặc biệt, nhiều quan chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn tỏ rõ thái

độ chống đối khá quyết liệt và đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức

Trên nền tảng bất ổn của chính quyền Sài Gòn, quân đội - lực lượng nòng cốt của chế độ Sài Gòn, đang mất dần khả năng và tinh thần chiến đấu Việc Mỹ cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã khiến sức

Trang 30

chiến đấu của quân đội Sài Gòn chẳng những giảm mà còn đẩy tình hình kinh tế, xã hội của chế độ Sài Gòn càng lâm vào tình trạng khó khăn Thiệu phải kêu gọi quân

ngụy chuyển sang tác chiến theo “kiểu con nhà nghèo” Cùng với những khó khăn

của Nhà trắng đang gặp phải, chính quyền Sài Gòn cũng đang đứng trên vực thẳm Các khó khăn lớn về kinh tế, chính trị cùng những thất bại quân sự liên tiếp trên khắp các chiến trường khiến cho mâu thuẫn nội bộ chính quyền Sài Gòn càng trở nên gay gắt, Nguyễn Cao Kỳ, Phó Tổng thống và các địch thủ chính trị của Nguyễn Văn Thiệu như Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm âm mưu tiến hành đảo chính lật đổ Thiệu Tòa thánh Vaticăng cũng

lên án Thiệu, để tạo uy tín cho chính sách “canh tân hòa giải”

Nhìn chung từ tháng 6 - 1974 trở đi, trước sự tiến công liên tục của ta, chương trình hiện đại hóa quân sự ngụy được xây dựng trên đôla của Mĩ bị phá sản, ảnh hưởng lớn tinh thần và khả năng chiến đấu của quân ngụy mà sự tồn tại của chúng thường gắn liền với viện trợ của Mỹ

2.1.2 Tình hình của ta sau Hiệp định Pari 1973

Với Hiệp định Pari 1973, ta đã “đánh cho Mỹ cút” Ngày 27- 3 - 1973, những người lính Mỹ cuối cùng bắt đầu rút khỏi miền Nam Việt Nam Ngày 29 - 3 - 1973,

Bộ Tham mưu quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ Tướng Uâyen, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam cùng với 2.510 lính Mỹ cuối cùng lặng lẽ ra sân bay Tân Sơn Nhất rời khỏi Việt Nam dưới sự kiểm soát và giám sát của Ủy ban quốc tế và các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp quân sự bốn bên Cùng ngày, những người lính Nam Triều Tiên và

Philíppin cũng lên đường rút về nước

Vấn đề lớn đặt ra đối với chúng ta là liệu Mỹ và chính quyền Sài Gòn có nghiêm chỉnh thực hiện ngừng bắn, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, thành lập Chính phủ liên hiệp theo Hiệp định Pari đã quy định hay không? Phía Mỹ có thực

hiện cam kết “không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ

của miền Nam Việt Nam” hay là vẫn ngoan cố tiếp tục can thiệp bằng những cách

khác?

Đây là những vấn đề đặc biệt quan trọng và có tính cấp thiết đặt ra đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa

Trang 31

bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đều mong muốn sớm chấm dứt cuộc chiến tranh lâu dài, đã gây ra nhiều đau khổ, tổn thất, hy sinh này cho cả hai bên

Ngay sau khi Hiệp định Pari được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra lời kêu gọi đồng bào cần phải

“Tăng cường đoàn kết, luôn luôn đề cao cảnh giác, ra sức phấn đấu để củng cố

những thắng lợi đã giành được, giữ vững hòa bình lâu dài, hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc" [18, tr.13]

Cuối tháng 1 - 1973, Bộ Chính trị họp đề ra chủ trương “Kiên quyết giữ vững

hòa bình, không chủ động gây ra xung đột quân sự, gây ra nội chiến, ra sức phát huy thắng lợi đã giành được, củng cố và tăng cường thế lực mọi mặt, tranh thủ thuận lợi mới, khả năng mới để đưa cách mạng tiến lên bằng cao trào chính trị, có lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn”, nhưng “nhất thiết lực lượng vũ trang ta phải mạnh và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu Bất kể trong tình huống nào, địch gây hấn trở lại nhất định phải bị giáng trả đích đáng và ta sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn” [28, tr.2]

Tiếp sau đó, ngày 27- 3 - 1973, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp hội nghị mở rộng nhằm đánh giá tình hình miền Nam Kết luận hội nghị, đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn khẳng

định: “Mỹ đã thực sự rút quân nhưng chưa chấm dứt dính líu, ngụy còn ngoan cố

phá hoại hiệp định Ta cần tranh thủ xây dựng lực lượng mọi mặt ở miền Nam, miền Bắc, quy trách nhiệm của Mỹ, buộc đối phương phải thi hành Hiệp định Pari”

[23, tr.55]

Theo phương hướng đó, trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, chúng ta khẩn trương thúc đẩy công tác chuẩn bị họp Hội nghị quốc tế về Việt Nam ở Pari nhằm góp phần xác lập vững chắc cơ sở pháp lý của Hiệp định Pari Sau một quá trình tích cực chuẩn bị, ngày 2 - 3 - 1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam được tiến hành Đây

là một thắng lợi lớn về ngoại giao của Việt Nam

Trước những hành động vi phạm các điều khoản Hiệp định Pari một cách có hệ thống và ngày càng nghiêm trọng của Mỹ và chính quyền quân đội Sài Gòn, cuộc họp Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng ngày 24 - 5 -1973, bàn

về vấn đề cách mạng miền Nam, đã chỉ rõ: “Trong khi địch dùng hành động quân sự

Trang 32

đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý… Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại mọi hành động vi phạm của địch” [23, tr.67]

Nhìn chung, trên toàn chiến trường miền Nam trong 6 tháng đầu năm 1973, quân và dân ta đã bước đầu tổ chức và thực hiện nhiều trận đánh có hiệu suất cao trước các hoạt động tiến công lấn chiếm các vùng giải phóng của quân đội Sài Gòn Đặc biệt, cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên địa bàn Quân khu 9, không những tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch mà còn bảo vệ được địa bàn

Từ ngày 19 - 6 đến ngày 6 - 7 - 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã họp Hội nghị lần thứ 21 tại Hà Nội Sau khi điểm lại những thắng lợi to lớn có tính chất bước ngoắt và nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhận định tình hình trên chiến trường miền Nam

Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao; nhiệm vụ của miền Bắc là

ra sức chi viện chiến trường, phục hội phát triển kinh tế, làm cho miền Bắc luôn luôn là chỗ dựa vững chắc của cách mạng miền Nam nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Nhìn chung, sau những lúng túng trong chỉ đạo, điều hành, nửa đầu của năm

1973, mà hậu quả là để địch lấn chiếm khiến nhiều nơi ta bị mất đất, mất dân, đến cuối năm, ở Khu 5 và Tây Nguyên, do kịp thời khắc phục những sai lầm và thiếu sót, đề ra và chỉ đạo thực hiện các biện pháp hiệu quả của lãnh đạo và chỉ huy các địa phương, các đơn vị, nên ta đã khôi phục thế trận, lực lượng, hình thành và củng

cố những nhân tố cơ bản, bảo đảm cho bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn quan trọng này

Trên cơ sở những kết quả đạt được và nhằm đẩy mạnh phong trào cách mạng toàn khu tiếp tục phát triển một bước mới, tháng 12-1973, Hội nghị đại biểu Đảng

bộ toàn khu lần thứ III được triệu tập Hội nghị đã nghiêm túc kiểm điểm, rút ra bài học và tổng kết những kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên các mặt công tác thời gian qua Căn cứ vào diễn biến tình hình và thực tiến của khu, Hội nghị đề

ra nhiệm vụ trọng tâm của toàn đảng bộ là: đánh bại bình định lấn chiếm của địch,

Trang 33

giành dân, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng, đồng thời nỗ lực xây dựng lực lượng để giành thắng lợi lớn hơn trong thời gian tới

Liên tiếp từ tháng 6 đến hết tháng 12 - 1973, sau 6 tháng phản công và tiến công địch, lực lượng vũ trang ba thứ quân Khu 8 - Trung Nam Bộ đã khôi phục và

mở rộng được các Vùng quan trọng ở Nam - Bắc đường 4, Đông - Tây sông Bà Rài

- Cai Lậy Nam, mảng 3 Cai Lậy Bắc - Mỹ Tho, vùng 4 Kiến Tường, khu vực dọc theo kênh Nguyễn Văn Tiếp A và B, kênh 3 Mỹ Điền, Mỹ An, Kiến Phong, vùng từ Định Thủy, Minh Đức, Tân Trung, Bình Khánh lên gần sát thị trấn Mỏ Cày - Bến Tre; đánh thiệt hại nặng nhiều đại đội, tiểu đoàn của Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9, lực lượng bảo an quân đội Sài Gòn Tuy nhiên, ta vẫn chưa hoàn toàn giành lại được các vùng địch lấn chiếm, chưa khôi phục được thế trận như trước ngày ký Hiệp định Pari

Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục và mệnh lệnh của bộ Tư lệnh Miền, bước vào mùa khô 1973 - 19734, Bộ Tư lệnh Miền xác định tiếp tục tập trung mọi

nỗ lực đẩy mạnh đánh phá bình định lấn chiếm của địch, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng hành lang vận chuyển và tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào, tổ chức tiếp nhận xuống các chiến trường; tạo bàn đạp, từng bước tiến công và hoàn chỉnh vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ, đưa lực lượng vũ trang áp sát xung quanh các đô thị lớn, đặc biệt là Sài Gòn, nhằm phân tán địch và trực tiếp hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chống bình định ở Khu 8 và Khu 9; tích cực chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị thế trận, chuẩn bị dữ trữ chiến lược về vũ khí, lương thực thực phẩm…

Trong đợt 1 mùa khô 1973 - 1974 (từ 17- 12 - 1973 đến hết tháng 1- 1974), lực lượng vũ trang ta trên địa bàn Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã đẩy mạnh hoạt động phản công, tiến công, chặn đứng và đẩy lùi các cuộc tiến công lấn chiếm của quân đội Sài Gòn, mở rộng và giữ vững các vùng giải phóng, các căn cứ địa, căn cứ lõm của ta Đòn tiến công quân sự của chủ lực cùng phong trào chiến tranh du kích tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền vận động quần chúng, gây dựng các cơ sở, thu mua tích trữ lương thực của các địa phương ngày càng phát triển

Với sự nỗ lực vượt bậc của quân và dân trên khắp chiến trường, cùng sự chi viện từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, dự trữ vật chất bao gồm

Trang 34

lương thực, thuốc men, vũ khí, thiết bị phương tiện kỹ thuật của ta trên chiến trường ngày càng tăng Tính từ tháng 1 - 1973 đến tháng 11 - 1974, các đoàn hậu cần của miền đã tiếp nhận 37.000 tấn vật chất từ miền Bắc, trong đó có nhiều loại binh khí,

kỹ thuật hiện đại, xe cơ giới; thu mua và tự sản xuất được 80.500 tấn vật chất (chủ yếu là lương thực, thực phẩm) Ngoài việc bảo đảm cho hoạt động trước mắt của các đồng chí hậu cần miền còn tích lũy được 28.000 tấn ở các khu vực trọng điểm chuẩn

bị cho các kế hoạch chiến lược lớn của ta; hậu cần của các quân khu cũng dự trữ được hơn 3.000 tấn vũ khí đạn dược

Trên lĩnh vực công tác xây dựng và tăng cường lực lượng, Bộ Chỉ huy Miền khẩn trương sắp xếp kiện toàn một số cơ quan trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền theo hướng tinh gọn, bảo đảm hoạt động có hiệu quả và tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu

Trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, chúng ta đã từng bước vạch trần âm mưu

và thủ đoạn mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong việc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đánh phá, lấn chiếm; đồng thời tranh thủ được dư luận quốc tế phản đổi

Mỹ và chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pari

Nhìn chung, trong giai đoạn này, phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị trên toàn miền Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định, lực lượng đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, được gọi là lực lượng thứ ba phát triển, đẩy mạnh nhiều hoạt động đấu tranh Lực lượng này là tập hợp rộng rãi gồm các phe nhóm, các nhân

sĩ, trí thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, thương gia, các cựu sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn…, có khuynh hướng chống chiến tranh, đòi hòa bình, độc lập cho Việt Nam, đòi Thiệu phải từ chức

Trên đà thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng, trong 6 tháng đầu năm

1974, từ tháng 7 - 1974, quân dân miền Nam liên tục giành thắng lợi, sau khi tiêu diệt nhiều cụm cứ điểm, căn cứ quân sự, nhiều chi khu, quận lị của địch, quân ta phát triển thế tấn công trên khắp chiến trường

Như vậy, gần hai năm sau khi Hiệp định Pari được kí kết tình hình chiến trường và những nhân tố liên quan tới cuộc chiến Việt Nam đang trên đà chuyển biến mau lẹ Cuộc tiến công của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đẩy quân đội Sài Gòn vào thế co cụm, phòng thủ Phong trào đấu tranh chính trị ở một

Trang 35

loạt đô thị trên toàn miền dâng cao Nội bộ chính quyền Sài Gòn chia rẽ sâu sắc Xuất hiện những lực lượng, những tổ chức chính trị, xã hội chống đối chính quyền

và cá nhân Nguyễn Văn Thiệu ngay giữa lòng Sài Gòn Trong khi đó, viện trợ quân

sự, kinh tế của chính quyền Mỹ dành cho chế độ Thiệu đang suy giảm mạnh Đó là những điều kiện quan trọng mà ta cần chớp lấy để đưa sự nghiệp kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước tới thắng lợi cuối cùng

2.2 Chủ trương giải phóng hoàn toàn miền am của ảng ta

Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, đặc biệt là từ cuối năm 1973 trở đi, đang trên đà phát triển toàn diện, mạnh mẽ; quân đội Sài Gòn ngày càng bị đẩy vào thế phòng thủ bị động, tinh thần binh lính, sĩ quan sa sút nhanh chóng; mâu thuẫn trong chính quyền Sài Gòn thêm gay gắt

Sau những kết quả tạm thời về lấn đất, giành dân, cải thiện thế phòng ngự, hỗ trợ cho kế hoạch bình định, tư giữa năm 1973, trước những đòn phản công và tiến công kiên quyết, liên tục, ngày càng mạnh của quân và dân ta trên khắp chiến trường, hoạt động quân sự của địch bị chững lại, nhiều nơi địch buộc phải rút bỏ hoặc không chiếm lại được…

Đảng ta đã nhạy bén nắm bắt tình hình để sớm đi đến quyết định phải tiếp tục chọn giải pháp dùng bạo lực cách mạng để đánh đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21 (khóa III) đã xác định xu hướng phát

triển của cách mạng miền Nam là:“Tiếp tực nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng

dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc…Con đường của cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng Bất kể tình huống nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, chỉ đạo linh hoạt đưa cách mạng miền Nam tiến lên” [18, tr.226 - 227]

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, quân và dân miền Nam đã đánh trả những cuộc hành quân lấm chiếm của địch và còn chủ động đánh địch ở ngay căn cứ xuất phát các cuộc hành quân của chúng Quân và dân ta nhanh chóng giành lại các vùng

mà địch đã lấn chiếm và còn mở rộng vùng giải phóng, thu hẹp vùng kiểm soát của địch

Trang 36

Ngày 30 - 9 - 1974, Bộ chính trị cùng Quân ủy Trung ương họp bàn chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam Bộ Chính trị duyệt kế hoạch chiến lược do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị với quyết tâm hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976 Kế hoạch chiến lược gồm hai bước:

Bước 1 (1975): Tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo thời cơ Bước 2 (1976): Thực hiện Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam

Từ sau Hội nghị Bộ Chính trị, với quyết tâm cao nhất của toàn Đảng, toàn

quân và toàn dân, một công việc chuẩn bị được tiến hành "thật khẩn trương, tạo

điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong thời gian hai năm 1975 - 1976 "

Cuối năm 1974, trên chiến trường miền Nam ta tiêu diệt nhiều cụm cứ điểm căn cứ quân sự, nhiều chi khu, quận lỵ của địch Đặc biệt trong 26 ngày đêm (từ 12 -

12 - 1974 đến 6 - 1 - 1975) quân và dân ta đã giải phóng Đường 14 và toàn tỉnh Phước Long Điều đáng chú ý là sau khi mất Phước Long và nhiều căn cứ quan trọng khác quân ngụy không có khả năng phản công chiếm lại hoặc nếu có cũng rất

yếu ớt và không có kết quả; còn phía Mỹ chỉ đưa ra lời đe dọa như sẽ “ném bom trở

lại nếu ta tiếp tục tiến công” Đây là hiện tượng chưa hề có; cho thấy so sánh thế và

lực của ta và địch trên chiến trường đã thay đổi căn bản là chủ lực ta vượt trội địch Tình hình đó đặt ra cho Đảng và Bộ Tổng Tham mưu vấn đề là tìm đáp án cho cách mạng miền Nam

Ngày 18 - 12 - 1974 đến 8 - 1 - 1975, Bộ Chính trị họp mở rộng nhằm thảo luận quyết tâm chiến lược cuối cùng Trong lúc Hội nghị đang diễn ra thì nhận được tin chiến thắng Phước Long và tình hình chiến sự sau Phước Long đã giúp Bộ Chính

trị củng cố quyết tâm bổ sung và hoàn chỉnh kế hoạch Hội nghị nhận định: “Chúng

ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có thể có đầy đủ điều kiện về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay

để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến tới thống nhất

Tổ quốc” [14] Trên cơ sở phân tích tình hình, thời cơ chiến lược đó Bộ Chính trị đã

kịp thời phát hiện những nhân tố thắng lợi mới

Trang 37

Ngoài kế hoạch 2 năm (1975-1976), Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án

và một phương hướng hành động quan trọng là: “Nếu thời cơ đến vào đầu năm hoặc

cuối năm 1975 thì lập tực giải phóng miền Nam trong năm 1975.” Hội nghị này

thực sự là ngọn đuốc soi đường đưa tới Đại thắng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

2.3 Chiến dịch ường 14 - hước Long (13 - 12 - 1974 đến 6 - 1- 1975)

2.3.1 V i nét v lực lượng v tình hình của quân đội S i Gòn tại mặt trận Phước Long đến cuối năm 1974

- Tình hình quân đội Sài Gòn tại tiểu khu Phước Long

Khu phòng thủ Phước Long thực chất là tiền đồn phía Bắc trong tuyến phòng thủ miền Đông Nam Bộ của Quân đoàn III - Quân đội Việt Nam Cộng hòa nhưng

do vị trí nằm ở tuyến tiếp giáp giữa Quân khu II với Quân khu III và cách xa các trung tâm tác chiến quan trọng (Sài Gòn - Gia Định - Biên Hòa - Bến Cát - Chơn Thành) nên Quân đội Việt Nam Cộng hòa chỉ bố trí ở tiểu khu Phước Long 5 tiểu đoàn bảo an và 48 trung đội dân vệ

Trong đó: Các tiểu đoàn 341 và 352 giữ Đồng Xoài và kiểm soát đoạn Đường

14 từ Đồng Xoài đến cầu số 12; tiểu đoàn 363 giữ Bù Na và kiểm soát Đường 14 từ cầu 11 đến ngã ba Liễu Đức; tiểu đoàn 362 giữ Vĩnh Thuận và kiểm soát Đường 1

từ ngã ba Liễu Đức đến Bù Đăng; tiểu đoàn 340 là lực lượng dự bị cơ động đóng trong thị xã Phước Long

Tiểu khu Phước Long cũng có một tiểu đoàn pháo binh riêng với tám khẩu HM

- 2 105 mm và bốn khẩu HM -3 155 mm với trận địa chính bố trí trong trung tâm thị

xã Tại đây, ngụy bố trí lực lượng phòng thủ thành ba khu vực:

Khu vực 1: gồm hệ thống đồn bốt trên Đường 14, có Chi khu Đồng Xoài do Tiểu đoàn 341 bảo an (thiếu) đóng giữ; Chi khu Bù Đăng, do Tiểu đoàn 362 bản an đóng giữ; yếu khu Bù Na, do Tiểu đoàn bảo an 363 đóng giữ cùng với 50 đồn bốt nhỏ và căn cứ cấp tiểu đoàn

Khu vực 2: gồm hệ thống đồn bốt dọc lộ 311, có Chi khu Bù Đốp, do một đội của Tiểu đoàn 341 bảo an đóng giữ và một số đồn bốt dân vệ

Trang 38

Khu vực 3: khu vực tam giác Chi khu Phước Bình - Bà Rá - Tiểu khu Phước Long, có sân bay Phước Bình, các kho tàng trận địa pháo, cơ quan quân sự ngụy quyền tỉnh, có hệ thống phòng thủ nhiều lớp, do Tiểu đoàn 340 bảo an, 10 trung đội pháo (cỡ nòng 105mm, 155mm), 2 đại đội cảnh sát, 1 chi đội thiết giáp M113 (3 chiếc) cùng lực lượng dân vệ, phòng vệ dân sự đóng giữ Ngoài ra, địch còn có các lực lượng chiến đấu khác như tề điệp, thanh niên chiến đấu, nhân viên ngụy quyền được trang bị vũ khí

Chính vì sự bố trí lực lượng như vậy nên quân ngụy ở đây rất chủ quan, thậm chí sau khi ta tiêu diệt hai chi khu Bù Đăng, Đồng Xoài và yếu khu Bù Na, cô lập tiểu khu Phước Long, địch tuy có hoang mang, dao động nhưng vẫn cho rằng ta chưa có đủ khả năng đánh chiếm thị xã

Qua Bù Đăng, Đồng Xoài cho thấy kẻ địch không dễ dàng tháo chạy, không dễ dàng chịu ta bắt làm tù binh, càng không thể có hàng binh khi chưa bị dồn vào tình thế bất khả kháng Trái lại, nếu ta sơ hở và kẻ thù còn dựa được vào công sự , hầm hào, chúng chỉ là tàn quân của nhiều đơn vị cũng co cụm lại dựa vào nhau chống lại

ta Sự phản ứng của lực lượng địch tại chỗ chắc chắn điên cuồng hơn, ngoan cố hơn Đánh vào thị xã Phước Long ta sẽ gặp phải sự chống đối này, vì ở đây có sở chỉ huy tiểu khu, có cơ quan hành chính tỉnh Trận chiến đấu chắc chắn diễn ra không thể dễ dàng

Trong cuộc họp các tướng lĩnh ngụy Sài Gòn ngày 17 - 12 - 1974, tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy, vẫn khẳng định với cấp trên của y rằng:

“Tình hình Phước Long sôi động, nhưng đó không phải là trọng điểm tiến công của

Việt cộng, trọng điểm vẫn là Tây Ninh”

Việc tiếp tế cho Phước Long được quân ngụy thực hiện bởi các đoàn xe vận tải quân đội chạy trên liên tỉnh lộ 1A và Quốc lộ 14 Thổ sản của Phước Long cũng được vận chuyển về Sài Gòn bằng hai ngã này Tuy nhiên, sau khi lệnh ngưng bắn theo Hiệp định Paris được công bố, chỉ một tuần sau quân ta đã bắt đầu cắt đứt hai đường này thành nhiều chặng, do đó việc tiếp tế cho tỉnh đã phải dùng đến trực thăng và phi cơ vận tải, kể cả việc tiếp tế cho bốn quận trong tỉnh Nhu cầu hàng tháng của tỉnh cần từ 400 đến 500 tấn hàng hóa gồm gạo, muối, đường, nhiên liệu

Trang 39

Từ tháng 8-1974, Quân đoàn III đã phối hợp với Quân đoàn II của ngụy đã tổ chức cuộc hành quân quy mô để mở lại con Đường 14 Cuộc hành quân đã giải tỏa được áp lực, giảm được gánh nặng tiếp tế bằng đường hàng không, từ đó chỉ có các thứ nhu yếu như đạn dược, nhiên liệu và thuốc men mới được vận chuyển bằng phi

cơ, các thứ khác được chở bằng quân xa

Ngày 14 tháng 12-1974, quận lỵ Đức Phong nằm dọc theo đường tiếp tế bị ta tấn công, do đó việc tiếp tế cho tỉnh Phước Long bằng đường bộ bị gián đoạn và phải nhờ đến không vận Vào thời gian này việc chuyên chở hàng tiếp tế bằng phi

cơ rất tốn kém và nguy hiểm vì các cụm phòng không của ta bắn lên

Cần nói thêm là, âm mưu của quân đội Sài Gòn lúc này là tiếp tục thực hiện bình định ở đồng bằng sông Cửu Long, còn ở Đông Nam Bộ địch tập trung phòng thủ vững chắc Sài Gòn, cố thủ những nơi chúng chiếm đóng sâu trong vùng giải phóng của ta như An Lộc, Chơn Thành, đặc biệt là Phước Long nhằm vừa làm bàn đạp hoạt động đánh phá hậu phương ta vừa giữ thế chúng chưa mất hoàn toàn một tỉnh nào Hơn nữa từ khi đường Trường Sơn được mở rộng từ Quảng Trị đến Đông Nam Bộ, ống dẫn dầu vào tới Lộc Ninh, Phước Long trở thành cầu hành lang chiến lược của ta thì địch càng đẩy mạnh hoạt động quân sự ở vùng này nhằm uy hiếp khu vực dự trữ vật chất, đầu mối giao thông chiến lược của ta đi các hướng, nhất là xuống Đông Bắc Sài Gòn

- Tình hình quân đội Sài Gòn tại các địa bàn hỗ trợ cho Phước Long

Cũng như trong Chiến dịch Nguyễn Huệ, các lực lượng mạnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong đội hình Quân đoàn III - Quân đội Việt Nam Cộng hòa là đơn vị chỉ đạo lực lượng phòng thủ Phước Long và tất các đơn vị có khả năng tăng viện cho nó Có thể tăng phái cho quân phòng thủ tại Phước Long gồm các sư đoàn

bộ binh 5, bộ binh 18 và bộ binh 25 trong đó có lữ đoàn thiết giáp số 2 và 7 thiết đoàn khác được bố trí từ Long An đến Biên Hòa thành một vòng cung xung quanh Sài Gòn từ ba hướng Bắc, Đông và Tây

Giữ cửa ngõ vào tiểu khu Phước Long chỉ có Liên đoàn biệt động quân số 31 đóng tại Chơn Thành, cách Phước Bình hơn 70 km đường bộ Đơn vị lớn hơn có khả năng tiếp cận giải tỏa cho Phước Long nhanh nhất khi bị tấn công là sư đoàn 18

Trang 40

đóng ở Biên Hòa Gần hơn nữa có sư đoàn 5 ở Bến Cát trong đó có một chiến đoàn đóng tại An Lộc

Tuy nhiên, đơn vị này phải chịu trách nhiệm phòng thủ hướng đường 13 nên khả năng tăng viện cho Phước Long bị hạn chế Ngoài ra, Quân đoàn III còn có Liên đoàn biệt kích dù 81 với hơn 100 máy bay trực thăng các loại HU-1A và CH-47 đóng tại Biên Hòa làm lực lượng dự bị cơ động cho các hướng khi bị tấn công Các máy bay phản lực tiêm kích - oanh tạc của các sư đoàn không quân số 3 và số 5 tại các sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa có thể yểm hộ cho các lực lượng phòng thủ

ở Phước Long chỉ sau hơn chục phút bay

Như vậy, ở “Phước Long đầu năm 1974 toàn bộ lính chủ lực ngụy thuộc sư

đoàn 5 đã rút khỏi tỉnh, thay vào đó là các tiểu đoàn biệt động quân Quân bảo an, dân vệ qua thời gian chiến đấu với ta, một số bị ta tiêu diệt, số khác đào rã ngũ, vì thế chúng tích cực bắt lính đôn quân, tinh thần binh lính sa sút, tỏ ra ngao ngán chiến tranh trừ bọn ngoan cố hiếu chiến Chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân nống

ra vùng ven, dùng máy bay oanh kích nhằm tạo ra một vành đai trắng phân cách giữa hai vùng” [16, tr.11]

“Trên trục Đường 14, chúng cũng tăng cường càn quét bắn phá để khai thông đường vận chuyển tiếp tế cho bọn lính ở tiểu khu, chi khu đang bị cô lập Có lúc, bị

ta tấn công mạnh, không vận chuyển được bằng đường bộ, buộc chúng phải vận chuyển tiếp tế bằng máy bay vận tải Riêng bộ máy kìm kẹp ở xã, ấp được chúng thay thế bằng những tên ác ôn hiếu chiến để kìm kẹp nhân dân Trong 6 tháng đầu năm 1974, các đại đội độc lập của tỉnh và lực lượng huyện, xã đánh 55 trận, diệt

251 tên Trong đó có những trận đánh thu được kết quả lớn như trận giải phóng Hồng Tâm, diệt địch tại khu vực hành chính Phước Bình Du kích mật ở các xã, ấp đánh 7 trận, tiêu diệt một số tên ác ôn, qua đó đã có tác động tâm lý đến những tên

ác ôn còn lại và làm cho bộ máy địch bị yếu đi” [16, tr.12]

Tóm lại, đến cuối năm 1974 Phước Long là một địa bàn rộng, dân cư ít, nơi địch tương đối yếu, có nhiều sơ hở, hệ thống phòng ngự thiếu chặt chẽ, khó hỗ trợ chi viện cho nhau, khả năng chi viện của Quân đoàn III ngụy cho Phước Long rất hạn chế, vì cả hai tuyến Quốc lộ 13 và Quốc lộ 2 đã bị ta cắt đứt Bên cạnh đó quân ngụy ở đây khá chủ quan một phần dựa vào hệ thống phòng thủ quân sự, hầm hào,

Ngày đăng: 17/05/2021, 00:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w