Nhận thức sâu sắc vai trò vị trí chiến lược và trách nhiệm của mình Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang Nghệ An đã cùng cả nước vượt qua mọi gian khổ hy sinhh đập tan mọi âm mưu thủ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VŨ TÀI
NGHỆ AN - 2012
Trang 2Hoàn thành đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn sư quan tâm giúp đỡ của các đồng chí Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An, các đồng chí trong Ban Chỉ huy quân sự huyện Tân Kỳ, các cô chú CBCNV tại Thư viện tỉnh Nghệ
An, Thư viện Đại học Vinh, học viên Cao học K18 Nguyễn Thị Hiếu , đã giúp đỡ tác giả về mặt tư liệu Tôi xin cảm ơn các quý thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh đã tận tình chỉ dẫn Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Vũ Tài, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng đề tài và hoàn thiện luận văn Thạc sĩ Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn tới gia đình, bạn bè, Trường Dự bị Đại học dân tộc TW Nha Trang, đã động viên, tạo điều kiện về tinh thần cũng như vật chất để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn
Tuy nhiên do trình độ và khả năng nghiên cứu còn hạn chế, điều kiện tư liệu có hạn, nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong được sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của quý thầy cô giáo, đồng nghiệp và bạn
bè, để giúp tôi hiểu sâu thêm về vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An nói riêng cũng như vai trò của lực lượng vũ trang cả nước nói chung
Xin chân thành cảm ơn
Nghệ An, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Công Đạt
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 KHÁI QUÁT VAI TRÒ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954) 8
1.1 Vài nét về điệu kiện tự nhiên - xã hội Nghệ An 8
1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, cư dân Nghệ An 8
1.1.2 Truyền thống yêu nước của nhân dân Nghệ An 10
1.2 Vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An giai đoạn 1945 -1954 15
1.2.1 Chiến đấu bảo vệ quê hương 15
1.2.2 Chi viện cho các chiến trường, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp 27
* Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 VAI TRÒ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN 1954 - 1964 37
2.1 Hoàn cảnh lịch sử 37
2.2 Lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An xây dựng và bảo vệ quê hương 38
2.3 Lực lượng vũ trang Nghệ An chi viện cho chiến trường miền Nam 55
* Tiểu kết chương 2: 59
Trang 43.1 Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới 61
3.2 Góp phần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ 62
3.2.1 Góp phần chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ 62
3.2.2 Góp phần chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ 77
3.3 Lực lượng vũ trang Nghệ An chi viện cho chiến trường miền Nam 88
3.4 Lực lượng vũ trang Nghệ An chi viện cho chiến trường Lào 92
3.5 Lực lượng vũ trang Nghệ An góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 113
* Tiểu kết chương 3 117
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi là thiên anh hùng ca vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là một sự kiện lịch sử có tầm vóc quốc tế lớn lao và tính thời đại sâu sắc Trải qua 21 năm kháng chiến gian khổ, nhân dân
ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới với quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc từ sau cách mạng tháng 8/1945, chấm dứt hoàn toàn ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước Thắng lợi vĩ đại
đó của toàn thể dân tộc đã và đang là một hướng nghiên cứu hấp dẫn đối với
sử học Ngoài bình diện chung của cả nước thì góc độ của các địa phương cũng được chú ý nghiên cứu, bởi từng địa phương là những bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc Lực lượng vũ trang của các địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trở thành một hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học
1.2 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nghệ An cùng các tỉnh trong quân khu IV là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến miền Nam và là tiền tuyến của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa Nhận thức sâu sắc vai trò vị trí chiến lược và trách nhiệm của mình Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang Nghệ An đã cùng cả nước vượt qua mọi gian khổ hy sinhh đập tan mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của các thế lực phản động và các thế lực thù địch; đánh thắng từng bước leo thang, tiến lên đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quan và hải quân của đế quốc Mỹ giữ vững và đảm bảo thông suốt mạch máu giao thông chiến lược quốc gia qua địa phương Trong chiến công oanh liệt đó của nhân dân Nghệ An phải kể đến những đóng góp to lớn của lực lượng vũ trang Nghệ An Với sự cố gắng phi thường, lực
Trang 6lượng vũ trang Nghệ An đã vượt qua gian khổ, hy sinh, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa tăng cường lực lượng, đẩy mạnh hoạt động quân sự Với khẩu hiện
“Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, quân dân Nghệ An đã hoàn thành nhiệm vụ của hậu phương
lớn đối với tiền tuyến lớn Nghiên cứu về vai trò lực lượng vũ trang trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
1.3 Gần nửa thế kỉ qua, vai trò lực lượng vũ trang Nghệ An luôn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu lịch sử và quân sự, đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu riêng, hệ thống toàn diện về quá trình phát triển và đóng góp của lực lượng vũ trang Nghệ An trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954-1975) Vì những lý do nêu trên, tôi chọn vấn đề: “Vai trò của lực
lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975)”, làm đề tài luận văn Cao học Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố đề cập tới lịch sử địa phương Nghệ An nói chung Tuy nhiên, chỉ mới được đề cập rải rác, thiếu hệ thống từ những góc độ chuyên môn khác nhau; đáng chú
ý là những công trình đã công bố sau: “Nghệ An lịch sử kháng chiến chống
Mỹ cứu nước (1954-1975)” (Thường vụ tỉnh ủy - Đảng ủy, BCH quân sự tỉnh
Nghệ An, 1995), đã trình bày khá chi tiết cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Nghệ An, trong đó có đề cấp tới những hoạt động và thắng lợi của
lực lượng vũ trang Nghệ An đã đạt được “Lịch sử Đảng Bộ quân sự tỉnh
Nghệ An 1945-2005)” (Đảng ủy quân sự Tỉnh Nghệ An biên soạn, Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân, 2010) đã trình bày về sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ
An nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, trong đó có
Trang 7đề cập tới hoạt động của lực lượng vũ trang nói riêng “Lịch sử Đảng bộ Nghệ
An 1954 - 1975", tập II (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An tổ chức nghiên
cứu và biên soạn, Nxb Nghệ An, 1999) đã trình bày về sự lãnh đạo của Đảng
bộ Nghệ An nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ,
trong đó có đề cập tới hoạt động của lực lượng vũ trang nói riêng "Những
trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang trang Nghệ An 1945 - 1975), tập I
(Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An, Nxb quân đội nhân dân), đã trình bày những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Bên cạnh đó, trong các công trình xuất bản của các địa phương trong toàn tỉnh Nghệ An, Ban chỉ huy Quân sự các huyện đã ít nhiều đề cập tới hoạt động của lực lượng vũ trang Tuy nhiên, những hoạt động của lực lựng vũ trang chỉ mới đề cập như là một bộ phận của lực lượng cách mạng, một số khía cạnh hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương hoặc tổng hợp qua những tấm gương anh hùng hay trận đánh tiêu biểu
Ngoài ra, trong một số công trình về lịch sử và lịch sử lực lượng vũ
trang Việt Nam nói chung như: “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954 - 1975)” (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Sự thật, 1990-1991),
“Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam” (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
1994); “Thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ và hai mươi năm xây dựng đất
nước sau chiến tranh” (Viện Sử học, 1995); “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” gồm 6 tập (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 1995 -
2003); "Những trận đánh của lực lượng vũ trang quân khu IV (1945 - 1975)"
(Bộ tư lệnh quân Khu IV, Nxb quân đội nhân dân, 2005) có đề cập tới lực lượng vũ trang Nghệ An nói riêng những ở mức độ khác nhau trong một bức tranh tổng thể về lực lượng vũ trang của cả nước
Nhìn chung, các công trình đã công bố kể trên đã đề cập ít nhiều đến nội dung chúng tôi nghiên cứu từ những góc độ chuyên sâu khác nhau; tuy
Trang 8nhiên mức độ đề cập ở những mức độ khác nhau, rải rác và thiếu tính hệ
thống Vai trò lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước (1954 – 1975) vẫn là một đề tài còn mới mẻ Trên cơ sở kế thừa
những công trình đã công bố trên cả hai phương diện nguồn tư liệu và phương pháp tiếp cận, chúng tôi sẽ hệ thống và mô tả một cách toàn diện về vai trò lực lượng vũ trang Nghệ An, trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giá khoa học cũng như những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và củng
cố an ninh, quốc phòng ở Nghệ An hôm nay
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
- Quá trình xây dựng, trưởng thành và hoạt động của lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
- Vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trên cả hai phương diện bảo vệ hậu phương và chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam
- Rút ra những nhận xét, đánh giá và nêu lên các bài học kinh nghiệm
về công tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở Nghệ An
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung phản ánh trong phạm vi thời gian của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975), trong đó chúng tôi chú trọng đến vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An trong hai lần chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Tuy nhiên, để làm rõ nội dung nghiên cứu, chúng tôi cũng đề cập tới giai đoạn 1945 - 1954, với sự ra đời và sự
Trang 9trưởng thành của lực lượng vũ trang Nghệ An để làm cơ sở so sánh cho giai đoạn sau
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung phản ánh những hoạt động xây dựng và chiến đấu của lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung làm rõ vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An trên cả 2 phương diện: chiến đấu bảo vệ quê hương và chi viện cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
Tài liệu lưu trữ: bao gồm các công văn, chỉ thị, các báo cáo của Đảng
bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An lưu trữ ở Văn phòng Tỉnh
ủy, Ủy ban nhân nhân tỉnh Nghệ An, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban nghiên cứu lịch sử, Ban tuyên giáo tỉnh Nghệ An, Ban Khoa học xã hội tỉnh Nghệ An, Thư viện tỉnh Nghệ An
Tài liệu tham khảo: các công trình chuyên khảo về hậu phương trong
chiến tranh cách mạng, lực lượng vũ trang Việt Nam nói chung và về Nghệ
An nói riêng Các công trình về lịch sử và lịch sử Đảng bộ Nghệ An cũng như các công trình về lịch sử của các địa phương trong toàn tỉnh
Tài liệu hồi cố: Các hồi ký, ghi chép của các nhân chứng lịch sử đã từng
hoạt động, chiến đấu trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời kháng chiến chống Mỹ
Tư liệu điền dã: Tư liệu có được thông qua việc điền dã, khảo sát của
tác giả ở những địa điểm đã từng diễn ra các hoạt động xây dựng, chiến đấu của lực lượng vũ trang Nghệ An trong kháng chiến chống Mỹ
Trang 104.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận khi thực hiện đề tài là dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về công tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Chúng tôi sử dụng 2 phương pháp chuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp liên ngành như điều tra xã hội học, điền
dã dân tộc học, phỏng vấn báo chí nhằm đảm bảo tính khoa học của quá trình phân tích, lí giải các sự kiện của lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu đã khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về vai trò lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Trên cơ
sở phân tích những hoạt động chiến đấu của lực lượng vũ trang Nghệ An để đánh giá vai trò và đặc điểm của lực lượng này trên cả hai phương diện: bảo
vệ hậu phương miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam Bước đầu luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang
Luận văn tập hợp được nguồn tư liệu phong phú về lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần vào việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử Nghệ An nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung thời chiến tranh cách mạng
Luận văn là nguồn tham khảo tốt cho việc giảng dạy lịch sử địa phương, góp phần giáo dục thêm truyền thống yêu nước, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, lòng tự hào của nhân dân Nghệ An, ý chí tự cường cho thế hệ trẻ
Trang 12NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VAI TRÒ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)
1.1 Vài nét về điệu kiện tự nhiên - xã hội Nghệ An
1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, cư dân Nghệ An
Nghệ An là một miền đất rộng, người đông thuộc Bắc Trung Bộ, cách thủ đô Hà Nội 291 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.424km, Nghệ An được định vị từ 18035'00'' đến 20000'10'' vĩ độ Bắc và từ 103050'25'' đến 103040'30'' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông là Biển Đông, phía Tây giáp các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô-Ly-Khăm-Xay, thuộc cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, với đường biên giới dài 419 km
Diện tích Nghệ An là 16.487 km2, lớn hàng thứ 3 trong cả nước (sau Đắc Lắc và Lai Châu), nằm trong vùng kiến tạo đặc biệt có từ tuổi địa chất già đến rất trẻ, địa hình ở Nghệ An rất đa dạng: miền núi và trung du chiếm gần 3/4 diện tích toàn tỉnh, núi non trùng điệp ở phía Tây, chay theo hướng Tây bắc - Đông nam, thấp dần về phía đông, tạo thành thế nghiêng Đông - Tây, cao nhất là đỉnh Phu-Xai-Lai-Leng (Kỳ Sơn) với độ cao 271 mét Dãy Phu-Xai-Lai-Leng dốc đứng trên một dải dài khoảng 200km, tạo thành biên giới tự nhiên giữa hai nước Việt - Lào và thấp dần về phía Nam
Núi rừng trùng điệp dọc ngang tạo thành "thiên la đại võng" rất thuận lợi trong công cuộc phòng thủ đất nước Từ xa xưa, các vị anh hùng dân tộc đều chọn vùng rừng núi để làm nơi lập căn cứ cho các cuộc dậy nghĩa và chiến tranh giữ nước giải phóng dân tộc Địa hình đồi núi bao trùm trên 80% diện tích tự nhiên của tỉnh, nối tiếp vùng núi cao phía tây (bao gồm các huyện
Trang 13Kỳ Sơn, Con Cuông, Quế Phong, Qùy Châu, Quỳ Hợp) là vùng núi thấp (trước đây gọi là vùng trung du, bao gồm các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn), vùng đồi núi thấp không những có vị trí rất quan trọng về kinh tế nông, lâm, nghiệp mà còn có tầm quan trọng chiến lược
về quốc phòng - an ninh Đồng hẹp, bị chia cắt bởi nhiều sông, lạch và những đồi núi lẻ ăn thông ra biển Vùng này là nguồn cung cấp dồi dào về lực lượng
và của cải từ xa xưa đến nay
Bờ biển dài 83 km, có 6 cửa lạch (lạch Cờn, lạch Quèn, lạch Thơi, lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội) Vùng thềm lục địa rộng lớn và có 2 đảo, đảo Hòn Ngư và đảo Hòn Mắt vươn ra Biển Đông giữ vi trí xung yếu của khu vực cửa ngõ vịnh Bắc Bộ [15,481] Biển là kho tài nguyên vô giá về khoáng sản, hải sản, danh lam thắng cảnh mở ra khả năng to lớn phát triển các ngành công nghiệp, khai thác hải sản, du lịch - dịch vụ Biển còn có vị trí chiến lược cực
kì quan trọng, là khu vực phòng thủ từ xa, phòng chống địch tấn công từ hướng Đông, các đảo là các đài quan sát, những trận địa tiền tiêu, là cứ điểm bảo vệ hành lang cơ động và hoạt động kinh tế biển của ta trong mọi tình huống Cư dân miền biển đã không ngừng lao động sáng tạo khai thác tiềm năng của biển, đóng góp xứng đáng cho công cuộc dựng nước và giữ nước
Giao thông vận tải, Nghệ An có quốc lộ 1A xuyên việt ở phía Đông, quốc lộ 15A xuyên việt ở phía Tây, đi suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh Quốc lộ 7 xuất phát từ quốc lộ 1A tại ngã ba Diễn Châu đi theo hướng Tây Bắc sang tận Xiêng Khoảng (Lào); Quốc lộ 48, Yên Lý - Quế Phong; Quốc lộ
46, Cửa Lò - Dùng - Đô Lương; Các tỉnh lộ 558, Vinh - Phú Thành; 534 Quán Hành - Bảo Nham; 537 Cầu Giát - Lạch Quèn; 538 Cầu Bùng - Công Thành;
454 của Nghệ An từ ga Hoàng Mai sang ga Yên Xuân
Về đường thuỷ, sông Lam, sông Con rất thuận tiện cho việc vận tải lâm sản từ miền ngược về miên xuôi Các con kênh nhân tạo, đặc biệt là kênh Nhà
Trang 14Lê cũng là một trục giao thông đường thủy quan trọng từ thời Tiền Lê Cảng Cửa Lò được xác định là cảng của vùng, phục vụ cho 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh và trung chuyển cho vùng hạ Lào Các tàu có thể neo đậu tại Hòn Ngư (cách cảng 7 km) để trung chuyển hàng hóa vào cảng Hiện nay tàu 3.000 tấn
có thể ra vào dễ dàng Phía Nam thành phố Vinh, có cảng sông Bến Thuỷ cảng này có từ thời thuộc Pháp, được nạo vét, mở rộng vào năm 1929 Ngày nay, cảng hoạt động nhộn nhịp và cảnh quan thêm tươi đẹp, bởi cầu Bến Thuỷ nối liền 2 bờ Nam Bắc sông Lam
Với vị trí địa lí quan trọng như trên, Nghệ An trở thành địa bàn trọng yếu của nước ta qua các thời kì lịch sử Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An là tỉnh hậu phương trực tiếp của chiến trường Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Nghệ An không những là hậu phương miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam mà còn là tiền tuyến, trực tiếp tham gia chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, góp phần cùng cả nước hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
1.1.2 Truyền thống yêu nước của nhân dân Nghệ An
Trải qua hàng chục vạn năm đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên, với áp bức, cường quyền của các chế độ thống trị trong nước và nạn ngoại xâm, nhân dân Nghệ An đã xây dựng nên bản sắc chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, cần cù, dũng cảm, giàu lòng yêu nước, chí khí kiên cường bất khuất liên tiếp vùng dậy bẻ gãy xiềng xích, đứng lên giành độc lập
Năm 1858, lợi dụng sự suy yếu của vua chúa nhà Nguyễn, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta từ Bắc chí Nam đã dũng cảm đứng lên đánh giặc Pháp Hưởng ứng phong trào Cần Vương, đồng bào các dân tộc trong tỉnh Nghệ An dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã hăng hái tham gia các cuộc khởi nghĩa Nhân dân Nghệ An đã thể hiện quyết tâm "đánh cả
Trang 15Triều lẫn Tây" Tại Thanh Chương, Nam Đàn từ năm Giáp Tuất (1874), trong phong trào Văn Thân đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn và Đặng Như Mai Cuộc khởi nghĩa này đã làm chấn động dự luận trong toàn quốc
Trong phong Cần Vương, tại Bắc Nghệ An dẫy lên cuộc khởi nghĩa lớn
do tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn và phó bảng Lê Doãn Nhã lãnh đạo lập căn cứ ở Diễn Châu và Yên Thành Hai ông cùng với Nguyễn Nguyên Thành, Phan Bá Niên tổ chức chiến đấu kiên cường Những trận tấn công chớp nhoáng của nghĩa quân nổ ra ở Cầu Bùng, Cầu Giát, Kênh Sắt đã gây thiệt hại cho quân địch Tại Đồng Mờm và Phủ Lý - Diễn Châu nghĩa quân đã lập được nhiều chiến công vang dội, khu vực Đồng Thông (Yên Thành) được xây dựng thành căn cứ quân sự vững chắc Khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng từ Hương Khê (Hà Tĩnh) phát triển ra, nhân dân Nghệ An đã sôi nổi hưởng ứng
Đến đầu thế kỷ XX, Nghệ An lại là nơi khởi phát Duy Tân Hội và phong trào Đông Du với người đứng đầu là nhà chí sĩ yêu nước lừng danh Phan Bội Châu, Người con xứ Nghệ tiêu biểu nhất của phong trào yêu nước trong những năm đầu thế kỷ XX Từ sau phong trào Đông Du thất bại, Phan Bội Bội Châu và Cương Để bị trục xuất khỏi nước Nhật Phong trào xuất dương vẫn diễn ra sôi nổi trên đất Nghệ An hướng xuất dương không còn sang Nhật mà sang Xiêm, Trung Quốc Người có công khai phá ra hướng đi này là Đặng Thúc Hứa (quê Thanh Chương) Năm 1909 ông sang Xiêm và lập "trại cày" ở Thái Lan, hay các lớp huấn luyện ở Trung Quốc Tại các lớp huấn luyện này đã trưởng thành nhiều người con ưu tú đất xứ Nghệ như Đặng Quỳnh Anh, Võ Trọng Đài, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Phạm Hồng Thái
Kế tục truyền thống yêu nước của tổ tiên, bước vào thời đại mới - thời đại cách mạng vô sản, những thanh niên yêu nước ở Nghệ An, tiêu biểu trong những người con đất Việt ra đi tìm đường cứu nước đầu thế kỷ XX, người
Trang 16tiêu biểu nhất, đầu tiên bắt gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và cách mạng tháng Mười Nga, người duy nhất tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam là Nguyễn Ái Quốc
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), thực dân phong kiến thi hành chính sách bóc lột nặng nề, không cam chịu làm nô lệ cho chúng, nhân dân lại vùng dậy đấu tranh Đã đến lúc phong trào cách mạng Việt Nam đòi hỏi có một chính Đảng cách mạng khoa học tiên tiến đủ uy tín đứng ra lãnh đạo Đáp ứng yêu cầu lịch sử, ngày 03 tháng 02 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Ngay sau đó ngọn lửa cách mạng đã bùng cháy thành một cao trào đấu tranh sôi nổi mạnh mẽ nhất từ trước tới nay, cao trào 1930 - 1931
mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh
Vô cùng thống khổ dưới bộ máy cai trị hà khắc của thực dân Pháp và phong kiến Nam Triều, thợ thuyền và dân cày cùng các tầng lớp nhân dân lao động ở Nghệ An đã nuôi chí quật khởi chờ dịp vùng lên chặt bỏ xiềng xích nô
lệ giành lại quyền sống Được ánh sáng của cách mạng tháng Mười Nga soi sáng, được các Đảng viên Cộng sản trung kiên tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển rộng khắp toàn tỉnh Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, là thiên anh hùng ca bất diệt trong chương đầu "pho lịch sử bằng vàng" của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một trong những trang tiêu biểu nhất của khí phách anh hùng muôn thủa của dân tộc Việt Nam Với Cao trào cách mạng 1930 - 1931 đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, Quốc tế Cộng sản đã coi Việt Nam là điển hình đầu tiên trong 6 trường hợp điển hình
ở các Châu lục, thuộc khối các nước thuộc địa và phụ thuộc có quá trình đấu tranh độc đáo từ khi Quốc tế Cộng sản ra đời Ngay trong khi Xô Viết Nghệ Tĩnh đang tồn tại, Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản (tháng 4-1931) đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một bộ phận
Trang 17độc lập trực thuộc Quốc tế Cộng sản Đánh giá về Xô viết Nghệ Tĩnh, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã Viết: "Dù đế quốc Pháp và phong kiến đã tạm thời nhấn
chìm phong trào cách mạng trong biển máu, nhưng truyền thống oanh liệt của Xô viết Nghệ Tĩnh đã thúc đẩy phong trào cách mạng trong cả nước tiến lên và đưa đến Cách mạng Tháng Tám thành công rực rỡ" Từ trong phong
trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã nẩy sinh các đội "tự vệ đỏ", mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng của cả nước, là tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam [27, 33]
Tháng 9 năm 1940, Nhật nhảy vào nước ta, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, không chịu đựng "một cổ hai tròng" các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam
Kỳ nổ ra càng thôi thúc phong trào nổi dậy đấu tranh của nhân dân Nghệ An
Ở nông thôn, phong trào chống bắt phu, bắt lính diễn ra sôi nổi ở nhiều nơi Một số cấp ủy Đảng ở Vinh, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Thanh Chương, Anh Sơn, Diễn Châu được phục hồi đã tích cực chuẩn bị lực lượng Đặc biệt các cuộc đấu tranh bạo động diễn ra ngay trong số binh lĩnh người Việt trong quân đội Pháp Tiêu biểu đêm ngày 13 tháng 01 năm 1941, Nguyễn Trí Cung (Đội Cung) tại đồn Rạng (Thanh Chương) và đồn Đô Lương nổ ra cuộc binh biến làm chấn động dư luận
Đêm ngày 09 tháng 03 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp sau vài giờ từ khi nổ súng, quân Nhật làm chủ hoàn toàn thành phố Vinh Mặc dù chưa tiếp nhận kịp chỉ thị của Trung ương về việc "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", song với nhạy cảm chính trị, một số cán bộ đảng viên đã gây dựng lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa Trước đòi hỏi thực tế của cách mạng ngày 19 tháng 5 năm 1945, Hội nghị thành lập Ban vận động Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh được tổ chức tại nhà ông Mười Uyên (thành phố Vinh), do đồng chí Nguyễn Xuân Linh làm trưởng ban Ngày 15 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện Chớp thời cơ thuận lợi đó Ủy
Trang 18ban khởi nghĩa Nghệ Tĩnh đã phát lệnh khởi nghĩa Ngày 16 tháng 8 năm
1945, nhân dân xã Thanh Thủy (huyện Nam Đàn) khởi nghĩa giành chính quyền tiếp đó huyện Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên…ngày 21 tháng 8 năm 1945, nhân dân xứ Nghệ giành chính quyền tại thành phố Vinh, chỉ trong vòng một ngày (21-8-1945) cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Vinh đã thành công rực rỡ Ngày 21 tháng 8 năm 1945 trở thành ngày truyền thống của lực lượng
vũ trang Nghệ An
Sau thắng lợi ở thành phố Vinh, quần chúng cách mạng tiếp tục khởi nghĩa giành chính quyền ở Diễn Châu, Nghĩa Đàn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Yên Thành, Con Cuông, Tương Dương Chỉ trong một thời gian ngắn chính quyền cách mạng được thành lập trong toàn tỉnh [46, 35]
Liên tiếp 5 ngày từ 16/8 đến ngày 21/8/1945, tất cả các huyện đồng bằng, thành phố và miền núi đã giành được chính quyền về tay nhân dân mau lẹ Đến ngày 21/8/1945, về cơ bản cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Nghệ An đã giành được thắng lợi Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở Nghệ An là kết quả của sự vận dụng linh họat, chủ động, sáng tạo những Chủ trương Nghị quyết của trung ương Đảng, của Đảng bộ Nghệ An vào tình hình cụ thể trong tỉnh Đảng bộ đã xây dựng được đội quân cách mạng đông đảo ở các địa phương, bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang qua các thời kì Nhờ vậy, khi thời cơ đến nhân dân Nghệ An đã nhanh chóng vùng dậy giành chính quyền, góp phần cùng với nhân dân cả nước làm nên thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Tám năm 1945, đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ghi một mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1946 - 1954), Nghệ An
là vùng tự do có những đóng góp to lớn về sức người, sức của góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc
Trang 191.2 Vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An giai đoạn 1945 -1954
1.2.1 Chiến đấu bảo vệ quê hương
Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành công đã đưa tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuy nhiên sau khi Nhà nước mới ra đời đất nước ta phải đối mặt với vô vàn khó khăn trên tất cả các lĩnh vực Vì vậy, cùng với lực lượng vũ trang cả nước, lực lượng vũ trang Nghệ An phải đảm nhiệm những nhiệm vụ mới Trong thời gian từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/1946 - năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám, lực lượng vũ trang Nghệ An bên cạnh việc bảo vệ an toàn bộ máy chính quyền tỉnh, đập tan âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, thì lực lượng vũ trang Nghệ An còn có nhiệm vụ xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp của dân tộc Mặc dù chỉ trong khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi, nhưng lực lượng vũ trang Nghệ An đã đóng góp vai trò hết sức quan trọng và cơ bản hoàn thành được nhiệm vụ của Đảng, Chính phủ, Tỉnh ủy Nghệ An giao cho Thực hiên chủ trương của Trung ương Đảng, tránh đương đầu với nhiều kẻ thù cùng một thời điểm, để dành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị lực lượng cho cách mạng, Tỉnh ủy Nghê An lãnh đạo nhân dân kiên quyết đấu tranh với những hành động ngang ngược của quân Trung Hoa Dân quốc, nhưng cũng mềm dẻo buộc chúng và bè lũ tay sai phải thừa nhận chính quyền của nhân dân
Tình hình đòi hỏi phải gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh để kịp thời đáp ứng mọi nhiệm vụ quốc phòng an ninh, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống Chính quyền cách mạng đã động viên tổ chức toàn dân nhanh chóng xây dựng, phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân Các đoàn thể, chính quyền đều quân sự hóa Các đội tự vệ từ chỗ là lực lượng xung kích cùng với nhân dân nổi dậy giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám 1945, nay trở thành công cụ chuyên chính của
Trang 20chính quyền cách mạng ở cơ sở Bắt nguồn từ truyền thống cách mạng các đội tự vệ đỏ trong cao trào 1930 - 1931, từ chí khí quật cường của quần chúng trong tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, và giờ đây khí thế hào hùng kiên cường chống xâm lăng của toàn dân tộc, lực lượng vũ trang Nghệ
An đã được xây dựng, phát triển nhanh chóng Sau một thời gian vận động
tổ chức mỗi xã đã có đội du kích (từ một tiểu đội đến một trung đội), mỗi
thôn xóm từ một tiểu tổ đến một tiểu đội Tất cả dân quân du kích đều không thoát ly sản xuất làm nhiệm vụ quân sự, an ninh tại chỗ Các cháu thiếu niên hăng hái tham gia các công việc trinh sát, giao thông liên lạc Chị em phu nữ được hội phụ nữ cứu quốc bình chọn tham gia dân quân vừa biên chế chiến đấu như nam giới vừa lập ra đội cứu thương, tiếp tế, cùng với Hội mẹ chiến
sĩ lo nuôi dưỡng, động viên
Năm khu phố của thành Vinh cũng tổ chức các đội tự vệ Tổng số đội viên dân quân du kích cuối năm 1946 đã có hơn mười vạn người Các huyện, thành Vinh, các đoàn thể cấp tỉnh lựa chọn trong số dân quân tự vệ và thanh niên tự nguyện các hội viên tổ chức các đơn vị tập trung, lập ra các đội cứu quốc, giải phóng quân làm lực lượng nòng cốt chiến đấu của từng địa phương, hầu hết các huyện đều có một trung đội đến một đại đội Thành phố Vinh lập
ra 5 đại đội của 5 khu phố Hội công nhân cứu quốc tỉnh lập ra một đại đội tuyển chọn trong công nhân, lao động thành phố lấy tên đại đội Lê Hồng Sơn,
cử đồng chí Nguyễn Trực làm đại đội trưởng Hội nông dân cứu quốc tuyển chọn ra Đại đội Lê Lợi do đồng chí Hoàng Thời chỉ huy Cả hai đại đội được
sử dung làm lực lượng thường trực của thành phố Giữa tháng 9 năm 1945, theo quyết định của Chính phủ, các đơn vị cứu quốc quân, giải phóng quân trong tỉnh đổi tên thành bộ đôi vệ quốc quân Để có lực lượng thường trực mạnh Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh quyết định củng cố xây dựng đơn vị giải phóng quân của tỉnh ra đời từ những ngày đầu khởi nghĩa giành chính
Trang 21quyền, sau này là bộ đội vệ quốc đoàn thành đơn vị chủ lực của tỉnh, lấy tên
là Chi đội Đội Cung vào tháng 12 năm 1945, quân số của chi đội có 1.650 người, giữa năm 1946 lên đến 2.000 người [46, 69] Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, Chi đội Đội Cung được Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy quyết định lấy phiên hiệu trung đoàn 57 thuộc hệ thống Quân đội quốc gia Việt Nam Biên chế cơ bản của trung đoàn có 3 Tiểu đoàn bộ binh: 265, 346, 418 Mặt trận Quỳ Châu có hai đại đội: 58 và 62 Mặt trận đường 7 có Tiểu đoàn 265 [27, 63] Các đại đội, tiểu đoàn của Chi đội Đội Cung (Trung đoàn 57) đều triển khai giữ những địa bàn xung yếu ở miền Tây, vùng đồng bằng ven biển, xây dựng huấn luyện, vừa sẵn sàng chiến đấu Để làm nhiệm vụ chiến đấu, canh phòng trên biển, tỉnh còn thành lập đơn vị thủy quân đóng ở Cửa Lò, lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 75, quân số 250 người Cuối
1946, Tiểu đoàn 75 giải thể, bổ sung cho Trung đoàn 57
Các cấp ủy Đảng coi trọng sự lãnh đạo trực tiếp tuyệt đối, toàn diện lực lượng vũ trang, đã cử nhiều đồng chí đảng viên ưu tú, cán bộ có năng lực được bổ sung làm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Đến cuối năm 1946 lực lượng vũ trang Nghệ An đã có gần 1 vạn người trong các đơn vị chủ lực tỉnh, huyện, hơn 10 vạn người trong lực lượng dân quân Lực lượng vũ trang Nghệ An đã trưởng thành một bước, vừa xây dựng vừa chiến đấu, trở thành công cụ chuyên chính tin cậy nhất của Đảng bộ và chính quyền, làm nòng cốt cho toàn dân chống thù trong giặc ngoài
Quân Pháp ráo riết chiếm lại những điểm xung yếu sát biên giới nước
ta Trên các trục đường quan trọng xuyên Việt - Lào sát tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã xuất hiện quân Pháp ở Mường Dương, Mường Lan, Mường Na, (tỉnh Sầm Nứa Lào), ở Noọng Hét, Bản Ban Mường Ngàn (tỉnh Xiêm Khoảng), cửa ngõ đường số 7 Xiêng Khoảng - Diễn Châu, ở NaPê, LakSao, Khăm Cợt (trên tỉnh Khăm Muộn), cửa ngõ đường số 8 Khăm Muộn
Trang 22- Vinh âm mưu của chúng là chuẩn bị đàn áp sẵn sàng tiến công các tỉnh Bắc Trung Bộ mà Nghệ An là trọng điểm, chúng còn móc nối với quan lại cũ người Việt ở miền Tây nghệ An chờ thời cơ hành động Miền Tây hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh bị họa xâm lăng trực tiếp uy hiếp của thực dân Pháp Trước tình hình đó, ngày 24 tháng 8 năm 1945 hai tỉnh bộ Việt Minh họp liên tịch bàn và quyết định phối hợp với nhau đánh địch trước, đến nơi có địch mà đánh, nhân lúc địch mới phục hồi Trước mắt cần giải phóng Napê, đẩy lùi nguy cơ bị địch tiến công theo hướng quốc lộ 8, đồng thời giúp cách mạng Lào Phát triển [46, 73] Ở thị trấn NaPê là trung tâm chỉ huy của Pháp, ở đây quân địch trang bị đầy đủ vũ khí Được tin, tỉnh Nghệ An liền cử một phân đội 60 người thuộc Chi đôi Đội Cung, cấp tốc lên Napê tăng thêm lực lượng cùng Hà Tĩnh đánh giết địch đang bị vây Ngày 8 tháng 9 năm 1945, có lực lượng được
bổ sung, ta tiếp tục tiến công Trận đánh kết thúc gọn chưa đầy 2 giờ đồng hồ
Ta làm chủ trần địa, Napê được giải phóng Sau khi nghe tin Napê giải phóng đơn vị giải phóng quân Thanh Chương do đồng chí Thọ chỉ huy phối hợp với
du kích Bạn bất ngờ tập kích quân Pháp đồn trú tại thị trấn Khăm Cợt diệt một
số địch, tàn quân chúng bỏ chạy, ta truy kích diệt thêm 2 tên ở Na Hương, thu một bản đồ kế hoạch đánh chiếm thành phố Vinh của địch
Chiến thắng NaPê - Khăm Cợt đầu tháng 9 năm 1945, là chiến công đầu có ý nghĩa của lực lượng vũ trang hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, cùng thời gian đó nhân dân và du kích Lào anh em phối hợp đánh quân Pháp ở cửa ngõ đường quốc lộ 8, tiêu hao nặng nề một bộ phận sinh lực địch, làm chủ vùng NaPê, không cho chúng mở rộng phạm vi kiểm soát vùng này, giảm bớt sự uy hiếp của địch từ phía Tây Nam của tỉnh Trên hướng quốc lộ số 7, quân Pháp nhảy dù xuống Noọng Hét, tăng thêm quân mở rộng bàn đập từ Noọng Hét rộng ra chiếm Pha Veu, Mường Mô Đầu tháng 10 năm 1945, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Nghệ An tăng cường cán bộ cho huyện Tương Dương xây dựng
Trang 23cơ sở vật chất, điều động một đại đội giải phóng quân hợp nhất của hai huyện Anh Sơn, Thanh Chương đánh địch ở Noọng Hét Cuối năm 1945 các đơn vị giải phóng quân đang hoạt động ở hai huyện Tương Dương, Qùy Châu được lệnh thống nhất lại, tổ chức thành Tiểu đoàn 418 với nhiệm vụ chủ yếu làm nồng cốt bảo vệ miền Tây Nghệ An đóng tại thị trấn Mường Xén Tiểu đoàn
418 được biên chế vào Trung đoàn 57 của tỉnh vẫn tiếp tục làm nhiệm bảo vệ
ở miền Tây Lúc này trung đoàn cử các đồng chí Võ Văn Bính (cán bộ tham mưu), Nguyễn Oánh (trưởng ban cung cấp), Nguyễn Đình Tùng (trưởng ban chính trị trung đoàn) lên miền Tây giúp ban chỉ huy trung đoàn tăng cường chỉ đạo Tiểu đoàn 418 trong xây dựng và hoạt động [46, 77]
Cùng thời điểm khi quân Tưởng tràn vào Nghệ An, ở miền Nam, thực dân Pháp với sự cấu kết với quân Anh, lấy cớ vào "giải giáp quân Nhật" đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn Tối ngày 23 tháng 9 năm 1945, kháng chiến Nam
Bộ bắt đầu Quân và dân Nghệ An quyết cùng cả nước hương về miền Nam ruột thịt, đem hết sức mình thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng ủng hộ Nam Bộ kháng chiến Ngày 29/9/1945, hai đại đội Nam tiến còn lại tiếp tục lên đường vào Nam [46, 84] Lực lượng Nam tiến vào chiến trường đã làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho miền Nam kháng chiến Như vậy, trong một năm sau cách mạng tháng 8, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ lực lượng vũ trang Nghệ
An đã cùng với nhân dân hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ của Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho, không chỉ xây dựng, bảo vệ, củng cố chính quyền cách mạng, đánh đuổi được giặc ngoại xâm, dẹp trừ được nội phản, đẩy lùi nạn đói, nạn dốt và xây dựng cuộc sống mới, mà còn chuẩn bị thực lực về
cơ bản cho cuộc kháng chiến chống Pháp
Khi cuộc kháng chiến Nam Bộ bồng nổ quân và dân Nghệ An cũng mở đầu cuộc đấu tranh với quân Tưởng và tay sai để bảo vệ nền độc lập bảo vệ chính quyền cách mạng Ngày 24 tháng 9 năm 1945, một vạn quân Tưởng từ
Trang 24Hà Nội lũ lượt kéo vào hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Chúng vừa vào ở Vinh ngang ngược quấy nhiếu, hăm dọa dùng vũ lực giải tán chính quyền cách mạng, buộc ta phải cung cấp các nhu cầu vật chất mà chúng cần rồi chúng tự
do lập lực lượng vũ trang riêng, tự do chống phá chính quyền cách mạng Chúng tự ý cho quân đồn trú những nơi chúng tự chọn như sân bay Nghi Lộc, Cầu Cấm, Cầu Yên Xuân, Mường Xén, Cửa Rào, Diễn Châu và nhiều nơi xung yếu ở thành phố Vinh [46, 87] Quán triệt chỉ thị của Đảng, Chính phủ
và Hồ Chủ tịch, Tỉnh ủy - Ủy ban hành chính tỉnh đã hưỡng dẫn các cấp thực hiện các biện pháp đấu tranh với quân Tưởng vừa cứng rắn vừa mềm dẻo ôn hòa, mặt khác ta kiên quyết chặn đứng những hoạt động phi pháp của chúng Chỉ một thời gian ngăn trên phạm vi toàn tỉnh nhiều tên cầm đầu "Việt Nam Quốc dân Đảng" đã bị bắt giữ cùng nhiều tăng vật, tăng chứng Ở Vinh, các lực lượng vũ trang đã bắt gọn 3 tên cầm đầu: Nguyễn Xuân Triều - trưởng ban trinh sát, đặc phái viên của Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Thiên Biên - Bí thư lâm thời tỉnh ủy Quốc dân Đảng ở Nghệ An, Đặng Thị Nga - phái viên của trung ương Việt Nam quốc dân đảng Chúng đã chuẩn bị nhiều vũ khí, tài liêu, trong đó có kế hoạch lập trụ sở ở Vinh và mật khu ở Đô Lương, Nghĩa Đàn, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng Nhờ chủ trương đúng đán và biện pháp khôn khéo, mềm dẻo nên sau khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 với Chính phủ Pháp
Ta đã chủ động thuyết phục được quân Tưởng đóng ở Vinh bàn giao công việc cho chính quyền ta, tạo thế chủ động cho ta trước khi quân Pháp tiến vào Vinh Ngày 1 tháng 4 năm 1946, quân Tưởng rút khỏi Vinh [5, 52] Cuối tháng 6 năm 1946, Tỉnh ủy và ủy ban hành chính tỉnh cho bắt tên Việt Bằng đang làm trung đoàn phó Trung đoàn 57 về tội làm gián điệp cho Pháp Cuộc đấu tranh chống gián điệp tiếp tục diễn ra quyết liệt, nâng cao tinh thần cảnh giác cho nhân dân, góp phần làm trong sạch nội bộ ta
Trang 25Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An nhận rõ vai trò và vị trí chiến lược của mình đã cùng toàn quốc tiếp tục vừa kiến quốc, vừa khẩn trương bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc Theo kế hoạch tác chiến đã được Ban Thường vụ Tỉnh ủy và bộ chỉ huy Chiến khu 4 thông qua Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu 4 Hồ Tùng Mậu và Khu phố Đào Chính Nam đã giao nhiệm vụ cho Chính ủy Trung đoàn 57 Lê Năm Thắng và tham mưu trưởng Trung đoàn Lê Văn Xứng chỉ huy Đại đội 1 thuộc Trung đoàn Đội Cung và Đội Tự vệ Lê Lợi nổ súng tiêu diệt địch ở sở Canh nông, khu Đề Pô và ga Vinh Đúng 23 giờ, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Ban chỉ huy Trung đoàn 57 phát lệnh tấn công với sức mạnh áp đảo, quân ta nhanh chóng đập tan mọi kháng cự của địch, chúng buộc phải đầu hàng vô điều kiện vào 0 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 12 năm 1946 Cùng ngày, tại sân bay Vinh một đại đội đã bắt gọn tổ lái và thu chiếc máy bay Moran của Pháp Chiến thắng thành Vinh vào giữa đêm 19 tháng 12 năm 1946, là chiến công đầu của quân và dân Nghệ An góp vào chiến công chung của cả nước mở màn cho cuộc kháng chiến toàn quốc của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược [27, 81]
Thực hiện chủ trưng “tiêu thổ kháng chiến” của Đảng, Chính Phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh đã lãnh đạo lực lượng vũ trang cùng nhân dân đẩy mạnh công tác phá hoại để ngăn chặn địch Ủy viên Quân sự Tỉnh trực tiếp chỉ đạo tiến hành chiến dịch phá hoại theo phương châm "phá hoại để kháng chiến" Lực lượng vũ trang tỉnh là lực lượng đóng vai trò xúc tiến mạnh mẽ việc phá hoại giao thông và vận chuyển hàng vạn tấn máy móc, thiết bị lên chiến khu Trong phạm vi toàn tỉnh bộ đội và nhân dân đã phá hủy 302 công sở và nhà cửa của tư sản Pháp, 11.046 nhà dân Quân dân Nghệ An đã xúc tiến mạnh
mẽ việc phá họai giao thông Vào tháng 4 năm 1947, bóc dỡ đoạn đường sắt
Trang 26Hoàng Mai - Bến Thủy, đánh sập cầu Yên Xuân tuyến đường sắt Bắc - Nam
bị cắt đứt Các cầu bê tông cốt sắt trên quốc lộ 1 và quốc lộ 7 cũng phá xong trong tháng 6 năm 1947 [27, 83]
Đến giữa năm 1947, chiến tranh lan rộng cả nước Nghệ An bị uy hiếp
về nhiều phía Ngày 7 tháng 5 năm 1947, địch chiếm Hồi Xuân - La Hán thuộc huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đưa quân áp sát biên giới Tây Bắc Nghệ An Phía Tây địch đóng quân ở Noọng Hét, đối diện với huyện Tương Dương Ngày 3 và ngày 11 tháng 6 năm 1947, quân Pháp từ Lào vượt vào chiếm hai bản Mường Na, Mường Quân (nay thuộc huyện Quế Phong) Quân dân địa phương đã đánh bật chúng về bên kia biên giới Ngày 26 tháng 7 năm
1947, quân Pháp tấn công vào Mường Xén Tiểu đoàn 265 của ta phối hợp với du kích chặn đánh địch ở phía Tây sông Nậm Mô, buộc chúng phải rút lui Ngày 29 tháng 7 năm 1947, một đại đội lính Âu - Phi và một đại đội lính
ngụy Lào, tổ chức 3 mũi tấn công vào thi xã Mường Xén, theo lối "ba sạch"
(diết sạch, đốt sạch và cướp sạch) Trung đội du kích phối hợp với bộ đội,
bám sát đánh địch quyết liệt trong nhiều giờ, diệt 11 tên địch, thu 4 súng máy,
2 súng trường Để ngăn chặn hoạt động quấy rối, càn quét của địch, Tỉnh ủy chỉ đạo Trung Đoàn 57 tăng cường lực lượng cho Tiểu đoàn 265 Ngày 29 tháng 11 năm 1947, hơn 100 lính Pháp hành quân từ Mường Na đi Mường Dương để càn quét, cướp bóc Tiểu đoàn 265 chặn đánh địch ở Mường Dương, địch lọt vào trận địa ta, tên chỉ huy bị bắn chết địch rối loạn, bỏ chay tan tác Ngày 11 tháng 12 năm 1947, hơn 300 tên địch có sĩ quan Pháp chỉ huy đi từ Mường Mô xuống Mường Xén, bộ đội Trung đoàn 57 và du kích xã
Ca Tạ chặn đánh địch ở Nậm Mộ, buộc chúng phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân [27, 90] Thắng lợi này đã cổ vũ động viên nhân dân miền núi nói riêng
và nhân dân Nghệ An nói chung hăng hái chuẩn bị vũ khí sẵn sàng đánh địch bảo vệ địa phương góp phần cùng cả nước chuẩn bị cho chiến dịch Thu -
Trang 27Đông 1947 Năm 1947 chiến dịch Thu - Đông kết thúc, thực dân Pháp thất bại buộc phải chuyển sang đánh lâu dài với ta Vì vậy, chúng thực hiện chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” Nhân cơ hội quân Pháp từ phía Bắc tràn vào, bon phản động nội địa ráo riết hoạt động Tại các huyện miền núi, các thổ ty lang đạo, phản động trong Đảng Bảo ca, móc nối với phản động miền núi Thanh Hóa vận động thành lập "Xứ Thái tự trị Thanh - Nghệ"
Ở vùng đồng bằng ven biển, phản động đội lót tôn giáo đã thành lập
"Mặt trận dân chúng liên hiệp" Những hoạt động của Pháp và tay sai phản động đã bị bộ đội và lực lượng công an phát hiện sớm, ngăn chặn và trấn áp kịp thời Tháng 7 năm 1948, Tiểu đoàn 265 từ Mường Xén rút về huyện Nghi Lộc để huấn luyện và củng cố đội ngũ Lợi dụng cơ hội đó, địch lại tăng cường quấy rối, càn quét vùng Tương Dương và các huyện biên giới Việt - Lào Trước tình hình hoạt động của địch ngày càng phức tạp ở miền Tây, Tỉnh ủy quyết định điều động Tiểu đoàn 265 trở lại Mường Xén tiến hành vũ trang xây dựng cơ sở chính trị Cuộc chiến đấu chống cụm phỉ ở Mường Lống
đã diễn ra gây go, quyết liệt, ta với địch giành đi giật lại nhiều lần Sau khi đã trinh sát, theo dõi, nắm chắc mọi hoạt động của địch, được nhân dân giúp đỡ Đêm ngày 15 tháng 11 năm 1948, một bộ phận của Đại đội 17, và Đại đội 19 (thuộc Tiểu đoàn 265), lợi dụng đêm tối, trời rét, địch ngủ say không gác, đã
bí mật ám sát đồn địch ta diệt gọn cả đồn Kết quả, ta giải phóng Mường Lống, diệt 27 tên địch (trong đó có 2 tên Pháp chỉ huy, 5 tên lính ngụy chính quy, 20 lính thổ phỉ), thu 4 khẩu súng trường, 30 súng kíp, một số lựu đạn và
đồ dung quân dung khác Chiến thắng Mường Lống đã gây tiếng vang lớn, tăng thêm uy tín cho cách mạng Tạo điều kiện để củng cố chính quyền, lực lượng vũ trang, các tổ chức quần chúng cách mạng trong đồng bào các dân tộc vùng biên giới phía tây Nghệ An [6, 16] Từ cuối năm 1948, ở Quỳ Châu,
Trang 28các thế lực phản động địa phương trong tổ chức "Đảng Bảo Mương" do Sầm Văn Kim cầm đầu hoạt động ráo riết Chúng lôi kéo, dụ dỗ thanh niên dân tộc trốn sang Lào đi lính cho Pháp Trước hành động ngang ngược của chúng, Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh trực tiếp chỉ đạo, công an có
sự phối hợp chặt chẽ của lực lượng vũ trang địa phương, sự giúp đỡ của nhân dân, đã phá tan tổ chức và hành động phản loạn của "Đảng Bào Mương" Những tên đầu sọ bị Tòa án quân sự Liên khu 4 xét xử nghiêm khác [46, 164]
Sang năm 1949, thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng tiếp tục
thực hiện chính sách: "Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi
chiến tranh" Trong khi đó hậu phương Nghệ An đã đạt được nhiều thành tích
trong xây xựng lực lượng vũ trang, bảo vệ lãnh thổ, chống các cuộc tập kích của địch từ vùng biển, biên giới Điểm nóng trong giai đoạn 1949 - 1950, ở Nghệ An vẫn là biên giới phía Tây Ngày 14 tháng 4 năm 1949, 4 tên lính Pháp, 80 lính Lào từ Noọng Hét đến Bản Tỏm (huyện Tương Dương) đốt nhà, bắt dân và bắn chết dân Ngày 24 tháng 5 năm 1949, lực lượng phỉ đột nhập nơi làm việc của Ủy ban kháng chiến hành chính xã Kim Đa đốt nhà trường và trại du kích Ngày 20 tháng 7 năm 1949, ta tổ chức đánh địch nhằm giải phóng Mường Luống lần hai Tham gia trận đánh có 3 đơn vị: Tiểu đoàn Thao Tu (bộ đội Lào), Đại đội 17, Tiểu đoàn 265 và 1 trung đội đặc biệt, trong đó có 32 thanh niên dân tộc Khơ Mú tham gia Kết quả Mường Luống được giải phóng lần hai, đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, phá tan chính sách tằm thực (tăm ăn lá dâu) của thực dân Pháp, thu hẹp phạm vi hoạt động của chúng, làm chúng phải quay về cố thủ ở biên giới, đập tan âm mưu của địch hòng chiếm đóng lâu dài miền Tây làm bàn đạp tấn công đánh chiếm Nghệ An
Ngày 5 tháng 10 năm 1949, một sự kiện đột biến xẩy ra Pháp đưa 1.000 tên (500 lính Âu-Phi, 500 lính ngụy cùng Việt gian chỉ điểm) cùng 5 chiến tàu thủy, 4 ca nô, 5 máy bay yểm trợ đổ quân vào Lạch Cờn, Lạch Thơi
Trang 29và Lạch Quèn thuộc huyện Quỳnh Lưu Trước tình hình đó, huyện đội đã điều các trung đội thuộc Đai đội 120 phối hợp với dân quân du kích các xã Văn Phương, Quảng Mai, Song Quỳnh, Văn Thành chiến đấu quyết liệt suốt 3 ngày đêm Dân quân Quỳnh Lưu đã tiêu diệt 113 tên địch (trong đó có 63 tên lính Pháp và Âu - Phi, 50 ngụy quân) và làm bị thương nhiều tên khác, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng Chiều ngày 7 tháng 10 năm 1949, lúc 16 giờ giặc rút ra biển Ta 151 người hy sinh, 51 người bị thương 108 người bị giặc bắt đi, chúng đã cướp phá 135 thuyền đánh cá, đốt phá 674 nóc nhà, cào phá nhiều hécta muối
Cuộc chiến đấu chống càn quét của quân và dân Quỳnh Lưu kết thúc thắng lợi có ý nghĩa lớn, không những đối với tinh thần cách mạng của huyện nhà mà có ý nghĩa lớn đối với cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, đập tan âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp đánh vào vùng tự do của ta Sự kiện giặc đổ bộ vào Quỳnh Lưu đã để lại nhiều bài học xương máu cho dân quân toàn tỉnh Về lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp các lực lượng vũ trang chiến đấu phải hết sức khẩn trương, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc [28, 121]
Từ năm 1950, cuộc kháng chiến của dân tộc ta có những phát triển mới Trên khắp các chiến trường quân dân ta liên tiếp đánh thắng lợi Điều kiện quốc tế cũng mở ra nhiều thuận lợi Nhưng chiến tranh ngày càng trở nên gay
go, ác liệt bởi thực dân Pháp tiếp tục thực hiện âm mưu và hành động tàn bạo hơn Ngày 27 tháng 2 năm 1950, hơn 200 tên địch do sĩ quan Pháp chỉ huy từ Noọng Hét vượt biên giới càn vào xã Mỹ Lý, huyện Tương Dương Bộ đội địa phương và dân quân du kích phục kích đánh mạnh buộc chúng phải rút lui Ngày 16 tháng 3 năm 1950, cũng từ Noọng Hét 200 tên địch theo hai hướng thọc vào Tương Dương, vấp phải trận phục kích của ta, chúng phải tháo chạy Máy bay Pháp thường xuyên trinh sát và ném bom bắn phá vào các vùng dân
Trang 30cư, những hoạt động đánh phá tàn ác, dã man của địch gây nhiều thiệt hai về người và của cho nhân dân Nghệ An Quân và dân toàn tỉnh càng nung nấu ý chí căm thù mài sắc cảnh giác và nâng cao quyết tâm kháng chiến [46, 213]
Chiến thắng biên giới Thu đông 1950, đã đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta sang thời kỳ mới Địa bàn Liên khu 4 cũng như Nghệ An vừa làm nhiệm vụ hậu phương vừa làm nhiệm vụ tiền tuyến không ngừng phát triển xây dựng lực lượng vũ trang, tập trung củng cố hậu phương, dốc sức chi viện chiến trường, cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 3 năm 1951), theo chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Tỉnh, lực lượng vũ trang Nghệ
An được xây dựng phát triển về quy mô và trở thành lực lượng nồng cốt cho toàn dân đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, của thế lực phản động Được sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Liên chi bộ Tỉnh đội Nghệ An đã chủ trương
tổ chức lực lượng vũ trang phối hợp cùng các cấp, đập tan âm mưu phá hoại kháng chiến của thế phản động phản động lợi dụng tôn giáo xứ Tràng Nứa (Hưng Nguyên) Đây là vụ khủng bố vũ trang nhằm gây bạo loạn chống chính quyền cách mạng của phản động bị lực lượng vũ trang Nghệ An đập tan kịp
thời Lực lượng vũ trang tỉnh đã cùng công an "cương quyết giải quyết vấn đề
" bằng sức mạnh toàn dân, lực lượng vũ trang là nòng cốt Qua cuộc đấu tranh
chống bạo loạn ở Tràng Nứa, lực lượng vũ trang nhân dân Nghệ An đã nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng, hành động kiên quyết vào thời điểm cần thiết [27, 137] Những tháng cuối năm 1951, Pháp không thực hiện được ý đồ chiếm đóng vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, chúng liên tục dùng không quân đánh địa bàn Nghệ An từ Quỳnh Lưu, Nghi Lộc đến Tương Dương, Kỳ Sơn, Thanh Chương, Đô Lương, Hưng Nguyên gây thiệt hại lớn
về người và tài sản của nhân dân ta Trước hành động đánh phá dã man của giặc Pháp theo chủ trương của Tỉnh ủy, Liên chi bộ Tỉnh đội đã chỉ đạo các
Trang 31lực lượng vũ trang cùng nhân dân các địa phương khắc phục khó khăn, chống thiên tai, địch họa, phát triển sản xuất, kiên quyết kháng chiến đẩy lùi các cuộc càn quét của thực dân Pháp
Ngày 14 tháng 1 năm 1953, địch tung 100 tên biệt kích (gồm cả lính Âu
- Phi) vào hai xã Phúc Sơn, Quỳnh Tân (Quỳnh Lưu), bị dân quân du kích chặn đánh, chúng rút lui Ngày 15 tháng 10 năm 1953, địch thả dù 19 tên gián điệp xuống Động Lách Ngày 22 tháng 12 năm 1953, 11 tên khác nhảy dù xuống Nghĩa Môn Tất cả chúng đều bị bộ đội địa phương, công an du kích Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Yên Thành truy lùng nhiều ngày và bắt gọn [46, 267]
Chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954, với chiến giòn giã của quân ta trên khắp các chiến trường đang chuyển sang giai đoạn mới Tập đoàn Điện Biên Phủ do quân Pháp xây dựng lên trong tình thế bị động đã trở thành mục tiêu chính của quân và dân ta Quân dân cả nước đang dốc toàn lực lượng cho chiến dịch Điện Biên Phủ Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến thì lực lượng vũ trang nhân dân của tỉnh Nghệ An cũng từng bước phát triển và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, vừa sản xuất, chiến đấu bảo vệ quê hương vừa chi viện cho chiến trường góp phần đưa tới thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta
1.2.2 Chi viện cho các chiến trường, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
Trong thời gian từ 1945 đến 1954, bên cạnh trực tiếp tham gia chiến đấu lực lượng vũ trang Nghệ An còn tham gia xây dựng hậu phương, chi viện cho tiền tuyến Để đối phó với âm mưu của kẻ thù chống phá hậu phương, Đảng bộ Nghệ An đã tăng cường lực lượng vũ trang, công an để phòng gian, trừ ác chống phá họai và gây rối của địch Tuy đã ký kết với ta nhưng kẻ thù tìm cách lật lỏng phá hoại những điều khoản đã ký kết Ngày 23 tháng 9 năm
1945, kháng chiến Nam Bộ bùng nổ Quân và dân Nghệ An quyết cùng cả
Trang 32nước hướng về Nam đem hết sức mình thực hiện nghĩa vũ thiêng liêng ủng hộ Nam Bộ kháng chiến Lòng yêu nước, chí căm thù bùng lên mạnh mẽ Lớp lớp thanh niên, học sinh và nhiều cụ phụ lão đã đem hết tâm huyết viết đơn và ghi tên, xin vào Nam lên đường giết giặc Một chi đội giải phóng quân Nam tiến của tỉnh đã được thành lập xong và sẵn sàng lên đường Ngày 27 tháng 9 năm 1945, đoàn quân Nghệ An đã lên đường vào Nam, mấy ngày sau đó đại đội Nghệ An đã sát cánh cùng các chiến sĩ Sài Gòn tham gia chiến đấu ngay tại cầu Bình Lợi, Xuân Lộc (Đông Nai) Ngày 29 tháng 9 năm 1945, hai đại đội Nam tiến còn lại tiếp tục lên đường Theo phân bổ, một đại đội tiếp tục lên đường vào Khu 7 (Nam Bộ), chiến đấu tại mặt trận Đông Bắc Sài Gòn Một đại đội khác được đưa lên Tây Nguyên tham gia chiến đấu tại mặt trận Buôn Ma Thuật Đội trinh sát được bổ sung cho ngành công an các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thận Bất cứ ở mặt trận nào cán bộ chiến sĩ Nghệ An Nam tiến đều anh dũng chiến đấu, lập nhiều chiến công [46, 84]
Ở mặt trận phía Tây cuối năm 1947, lực lượng vũ trang Nghệ An phối hợp với bộ đội yêu nước Lào đánh nhiều trận, gây cho địch thiệt hại lớn về lực lượng Ngày 4 tháng 12 năm 1947, quân Pháp tập kích sang biên giới tại Xốp Dương, bộ đội ta phục kích bắn trúng 3 tên chỉ huy, cả đại đội địch phải tháo chạy Ngày 11 tháng 12 năm 1947, một tiểu đoàn địch tấn công Mường
Mô, hai đại đội Việt - Lào vận dụng chiến thuật du kích, bám đánh địch quyết liệt, buộc chúng phải rút về Xiêng Khoảng Hoạt động chiến đấu của quân Nghệ An bảo vệ căn cứ hậu phương và phối hợp với quân dân Lào đánh địch
ở miền Tây đã góp phần tích cực cùng quân dân Việt Bắc đánh bại quân Pháp tiến công vào căn cứ địa thần thánh của kháng chiến [46, 139]
Nghệ An với Bình - Trị - Thiên là mỗi quan hệ hữu cơ có tính chiến lược giữa hậu phương với tiền tuyến và là tình nghĩa anh em một nhà của
"khúc ruột miền trung" Chi viện cho Bình - Trị - Thiên là nhiệm vụ quan
Trang 33trọng, thương xuyên của các cấp ngành và quân dân toàn tỉnh Nhận thức được điều đó, ngày 20 tháng 12 năm 1947, tiểu đoàn tiếp phòng quân Vinh và một đại đội của Nghệ An, cùng với Trung đoàn Trần Văn Cao, các đại đội Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị và dân quân thành phố Huế, đồng loạt nổ súng tấn công vào tất cả các vị trí của quân Pháp ở trong thành phố, mở đầu cho cuộc kháng chiến gian lao và anh dũng của Bình - Trị - Thiên Tháng 12 năm 1947, Nghệ An chi viện 100 tấn gạo trong kho dự trữ kháng chiến, ủng
hộ Bình - Trị - Thiên
Tháng 1 năm 1948, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, tổ chức một đợt vận chuyển khẩn cấp đưa vũ khí và lương thực vào Bình - Trị - Thiên Hơn 8.000 dân công hỏa tuyến, hăng hái trong dân quân du kích các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Yên Thành, Nam Đàn; biên chế thành đại đội, tiểu đoàn như đơn vị chiến đấu Hơn một tháng gồng gánh băng rừng, lội suối, luồn lách qua các đồn bốt địch, tránh máy bay biệt kích, giữa mùa mưa giá rét…
đoàn dân công đã đưa hàng vào tận chiến trường các tỉnh: Quảng Bình: 81
súng cối, 1.220 lựu đạn, 375 quả mìn, 900 lựu đạn, 300 súng kíp, 100 tấn
muối, 1 tấn xà phòng, 200kg trà và 6.000 mét vải Quảng Trị: 2.500 lựu đạn,
80 quả mìn 15 súng cối, 200 viên đạn, 220 tấn muối, 50 tấn gạo, 15.000 mét
vải, 10.000 viên thuốc sốt rét Thừa Thiên: 16 súng cối với 600 viên đạn, 666
quả lựu đạn, 25 quả mìn, 21 súng kíp, và 50 tấn gạo [46, 169]
Đầu năm 1948, ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh tiến hành đợt vận chuyển lớn vào Bình - Trị - Thiên Tỉnh Nghệ An huy động 12.000 dân quân, 1.700 thuyền Có sự phối hợp của các Trung đoàn 103, 57, 77, Tiểu đoàn 274 và quân dân ba tỉnh, nên 13.000 tấn hàng hóa gồm: gạo, muối, vải, xà phòng, thuốc sốt rét và súng đạn…đã chuyển đến nơi đúng kế hoạch Ngày 18 tháng
4 năm 1948, Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57 được lệnh liên khu giao nhiệm vụ phối hợp với Tiểu đoàn 274 đánh địch tại Quảng Bình Từ tháng 5 đến tháng
Trang 347 năm 1948, tiểu đoàn đã phối hợp tấn công Ba Đồn, Thu Lộc, Vạn Lộc, Cử Nẫm và nhiều lần phục kích trên tỉnh lộ, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề Buộc Pháp phải rút bỏ đồn Phú Ninh và Minh Lễ, là những vị trí khống chế đường vận chuyển của ta Cuối tháng 5 năm 1948 thêm Tiểu đoàn 346, Trung đoàn 57 lên đường vào tác chiến ở Quảng Bình Ngày 3 tháng 6 năm 1948, Tiểu đoàn 346 phối hợp với du kích ở Sen Bằng và Cầu Hồ, diệt tại trận 30 lính Pháp, 6 lính khố đỏ, làm bị thương 9 tên, hạ 1 máy bay, phá hủy 1 xe Camion và xe bọc thép
Cuối tháng 6 năm 1948, quân Pháp tăng thêm 1 tiểu đoàn Âu - Phi, ứng cứu cho quân chiếm đóng Quảng Bình, địch đã củng cố lại đồn sen Bằng tháng 7 năm 1948, Tiểu đoàn 346 phối hợp với Tiểu đoàn 400 Quảng Bình, tấn công san phẳng đồn Sen Bằng Đồn Sen Bằng bị dập tắt, đường vận chuyển Bắc - Nam được giải tỏa ở một mắt xích xung yếu Chiến thắng của quân dân Bình - Trị - Thiên làm nức lòng hậu phương Càng cổ vũ động viên phong trào ủng hộ Bình - Trị - Thiên kháng chiến của quân dân Nghệ An Trong "tuần lễ Bình - Trị - Thiên" (từ ngày 11 đến ngày 18 tháng 7 năm 1948), nhân dân toàn tỉnh Nghệ An đã góp 1.503.317 đồng và 375 tấn gạo Tỉnh đội đã huy động và tổ chức một lực lượng vận tải hỗn hợp, gồm 75 thuyền biển với 500 thủy thủ là dân quân du kích đi theo đường biển và 4.000 dân công theo đường bộ mang hàng vào Bình - Trị - Thiên Số hàng có 375 tấn gạo, 10 khẩu badôca và 200 viên đạn, 600 quả địa lôi, 500 súng kíp, 1.000 qủa lựu đạn [46, 171]
Trong đợt vận chuyển cuối năm 1948, chuyển hơn 359 tấn thóc, 66 tấn gạo, 142 tấn muối, 33.500 mét vải và 80.000 viên thuốc, từ Nghệ An và Hà Tĩnh vào Tuyên Hóa (Quảng Bình) Từ đó 12.000 dân công Nghệ An và 8.000 dân công Hà Tĩnh vượt qua mọi gian nan, nguy hiểm, chuyển đến các căn cứ và chiến trường của ba tỉnh
Trang 35Căn cứ vào tình hình chiến sự, khả năng phòng thủ và sự phát triển của lực lượng vũ trang Nghệ An, Bộ tư lệnh Liên khu 4 quyết định vẫn duy trì hoạt động tác chiến của các Tiểu đoàn 418, 346 (Trung đoàn 57) tại Bình - Trị
- Thiên Ngày 15 tháng 12 năm 1949, Tiểu đoàn 346 tiêu diệt gọn vị trí Đại Nam (huyện Bố Trạch), bắt 50 tù binh, thu nhiều vũ khí, giải phóng hàng ngàn dân khỏi ách kìm kẹp Ngày 18 tháng 12 năm 1949, Tiểu đoàn 418 phối hợp với công an và du kích đánh phục kích hai đại đội địch ở chợ Ba Đồn, bắn chết 18 tên, thu một súng cối 81 ly và một trung liên Bên ta 2 chiến sĩ bị thương Tiếp đó Tiểu đoàn 418 hành quân về bao vây Minh Lễ và khống chế, tước vũ khí địch hướng vệ Hòa Ninh [46, 173]
Hòa Ninh là một vị trí tập trung đầu mối gián điệp, chỉ điểm và đầu sỏ nguy hiểm Ngày 14 tháng 1 năm 1950, ta quyết định tiêu diệt đồn Hòa Ninh, Đại đội 51 (Tiểu đoàn 418) phối hợp với tiểu đội du kích Hòa Ninh tập kích vào đồn, ta đã xóa sổ hoàn toàn trung đội bảo vệ quân: tiêu diệt 37 tên bắt sống 3 tên, thu 18 súng trường, 3 súng lục và nhiều lưu đạn Trận thắng gọn của Đại đội 51 làm cho ngụy quân trong vùng rất lo sợ Thừa thắng, ngày 15 tháng 1 năm 1950, Tiểu đoàn 418 tấn công đồn Đơn Sa Bắt sống tên đồn trưởng người Pháp là Phong Luýt, cùng 19 ngụy binh, thu 15 súng trường, 1 tiểu liên và nhiều lưu đạn
Đêm ngày 26 tháng 2 năm 1950, ba Đại đội 54, 59, 60 Tiểu đoàn 418 bắt đầu triển khai đội hình chiến đấu 4 giờ 30 phút ngày 27 tháng 2 năm
1950, trận địa của các đơn vị bố trí xong Đại đội 59 phải vùi mình trong cát bên bờ sông Gianh chờ địch 10 giờ sáng ngày 27 tháng 2 năm 1950, 7 thuyền máy chở lính Âu - Phi xuất hiện Tốp đầu 4 chiếc, tốp sau 5 chiếc Đến 10 giờ
15 phút, toàn bộ đoàn thuyền lọt vào trận địa phục kích của ta Khẩu 12 ly của Đại đội 59 đã bắn chìm 4 chiếc đi đầu Cùng lúc, khẩu 12 ly 7 của Đại đội 54 xối đạn chặn 3 thuyền tốp sau Quân địch hốt hoảng nhảy xuống sông hòng
Trang 36thoát thân, toàn bộ thuyền máy với hơn 100 sĩ quan binh lính Pháp bị tiêu diệt gọn giữa dòng sông Gianh Trận thắng giòn giã của Trung đoàn 57 gắn với dòng sông Gianh lịch sử Nhân dân Quảng Bình thân thiết gọi Trung đoàn 57
là "trung đoàn Sông Gianh" [46, 176]
Tháng 10 năm 1950, bão lụt lớn ở cả 6 tỉnh Liên khu 4 Ở Bình - Thị - Thiên, nhiều vùng mùa màng thiệt hai 70 - 80% Nghệ An cũng mất mùa trên 30% có nơi 50% Nhân dân Nghệ An dù bữa no, bữa đói vẫn luôn nghĩ tới nỗi gian khổ thiếu thốn của đồng bào Bình - Trị - Thiên Cuối 1950, 3.000 cán bộ chiến sĩ dân công tự nguyện mang thêm mỗi người 1kg hạt giống vào giúp bà con khôi phục sản xuất Quân dân Nghệ An luôn chia sẻ nỗi đau thương mất mát và vui mừng tự hào trước mỗi thắng lợi của đồng bào Bình - Trị - Thiên [46, 178]
Tháng 7 năm 1951, tỉnh Nghệ An lại được Liên khu ủy 4 giao nhiệm vụ cùng với tỉnh Hà Tĩnh tổ chức vận chuyển 1.000 tấn gạo vào Bình - Trị - Thiên Chiến trường Bình - Trị - Thiên lúc này đang có bước phát triển mới Quân dân Bình - Trị - Thiên đã lập nên chiến thắng Thanh Hưng - Ưu Điềm ngày 12 tháng 3 năm 1951, tiêu diệt binh đoàn Bút Tin, diệt và bắt sống 1.200 tên địch Đến với Bình - Trị - Thiên ruột thịt, 15.000 dân công Nghệ -Tĩnh được tổ chức thành 3 đợt vượt qua những chặng đường đầy gian nan thử thách trên cả đường biển và đường bộ Suốt hai tháng liền, cả hai hướng thủy
bộ đã hoàn thành nhiệm vụ đưa 1.000 tấn gạo tới Nam Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên [46, 127]
Những tháng cuối năm 1951, thực dân Pháp không thể thực hiện ý đồ chiếm đóng vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, chúng liên tục dùng không quân đánh phá địa bàn Nghệ An gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhân dân ta Trước hành động đánh phá dã man của thực dân Pháp, theo chủ trương của Tỉnh ủy, Liên chi bộ tỉnh đội đã chỉ đạo các lực lượng vũ
Trang 37trang cùng nhân dân các địa phương khắc phục khó khăn, chống thiên tai địch họa, phát triển sản xuất và đẩy mạnh mọi mặt kháng chiến, đặc biệt là công tác bố phòng, sơ tán luyện tập quân sự và chi viện cho chiến trường
Đúng như nhận đinh của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh, ngày
14 tháng 11 năm 1951 quân Pháp mở cuộc tiến công đánh chiếm thị xã Hòa Bình Đại đoàn 304 và các đơn vị được lệnh hành quân ra Hòa Bình Theo bước các đoàn quân ra trận, Nghệ An có 20 đoàn dân công phục vụ chiến dịch Vượt lên gian khổ, ốm đau bệnh tật, thậm chí cả bị thương vong, anh chi
em dân công đã góp phần bảo đảm cho bộ đội ăn no đánh thắng Trong chiến dịch Hòa Bình có sự kiện nổi bật; trong trận Giang Mỗ (13/12/1951), Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan (quê huyện Quỳnh Lưu) một mình nhảy lên xe tăng địch, ném lựu đạn vào buồng lái diệt địch, tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ Cùng thời điểm đồng chí Nguyễn Quốc Trị (quê huyện Đô Lương) cán bộ chỉ huy chiến đấu dũng cảm trong trận Cốc Xá (5/8/1950), cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tấm gương chiến đấu của Cù Chính Lan và Nguyễn Quốc Trị đã cổ vũ mạnh mẽ trên toàn mặt trận [46, 141] Ngày 25 tháng 2 năm 1952, chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, ta giải phóng hoàn toàn thị xã Hòa Bình và vùng Sông Đà 2.000 km vuông, với 15 vạn dân thường
Phát huy thắng lợi, đầu tháng 9 năm 1952, Bộ chính trị họp quyết định
mở chiến dịch Tây Bắc Để chi viện cho chiến dịch Tỉnh ủy, Liên chi bộ tỉnh đội đã chỉ đạo lực lượng vũ trang tham gia cùng Thanh Hóa, Hà Tĩnh, huy động 35.000 dân công và công binh mở đường vận tải tiếp tế, tổ chức bảo vệ hậu phương chiến lược và bảo vệ chiến dịch, đưa Tiểu đoàn 195 ra phòng thủ Thanh Hóa cùng với Tiểu đoàn 290 của Hà Tĩnh Nghệ An đã huy động 30.000 dân công vận chuyển từ Nghệ An ra Hòa Bình, Sơn La 1.000 tấn lương thực Tỉnh đội Nghệ An còn tổ chức Trạm xá cơ động cho chiến dịch
Trang 38các chiến sĩ Nghệ An đã nêu nhiều tâm gương sáng tiêu biểu như: đồng chí Phạm Văn Ban - khi địch ném bom Napan vào đội hình đoàn dân công Hưng Nguyên đã bất chấp nguy hiểm xông vào cứu người, cứu hàng…, ngày 10 tháng 12 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi [46, 259]
Khi mở màn chiến dịch Thượng Lào (9/4/1953), 12.000 dân công Nghệ
An theo quốc lộ 7 và đường Sông Lam vận chuyển 700 tấn gạo, hàng ngàn trâu bò, hàng trăm tấn muối, cá khô, nước mắm kem và các loại hàng khác sang Lào phục vụ chiến dịch Tham gia chiến dịch Thượng Lào Nghệ An có Tiểu đoàn bộ đội địa phương 195 và hai Đại đội 121, 123 Trong chiến công chung, riêng các đơn vị lực lượng vũ trang Nghệ An đã tham gia đánh địch 10 trận, diệt 40 tên, bắt sống 66 tên, thu 143 súng các loại, 5 tấn chiến lợi phẩm… Tuy nhiên, trong chiến dịch này đã có 57 chiến sĩ dân công Nghệ An cùng một số chiến sĩ quân đội đã hy sịnh trên đất Lào Chiến thắng Thượng Lào có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt - Lào, mở ra một cục diện mới trên chiến trường Đông Dương [27, 155]
Chiến dịch Đông Xuân (1953 - 1954), được mở màn ngày 10 tháng 12 năm 1953, bao gồm các chiến dịch: Lai Châu, Trung Lào, Bắc Tây Nguyên, Thượng Lào, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia và chiến dịch Điện Biên Phủ
Mở đầu chiến dịch Trung Lào Lực lượng vũ trang Nghệ An đã phối hợp tổ chức 20.000 dân công, 1.500 xe thồ, 1.000 dân công và thuyền cùng với Hà Tĩnh chuyển 4.600 tấn gạo chi viện chiến dịch Cùng với lực lượng dân công, Tỉnh đội đã tổ chức đưa các đơn vị chiến đấu trên tuyến đường 7 gồm: Tiểu đoàn 195, Đại đội 123, 124, 125, Trung đội 60, 70, 71 Các đơn vị
đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng phát triển nhiều cơ sở giúp Bạn giữ vùng giải phóng Cuối tháng 12 năm 1953, Tỉnh đội rút Tiểu đoàn 195 để thành lập Trung đoàn 53A, đồng thời rút các Đại đội 124 Nam Đàn, 122 Nghi
Trang 39Lộc, 127 Hưng Nguyên thành lập lại Tiểu đoàn 195, kịp thời bổ sung cho chiến dịch Trung Lào ở vung Xiêng Khoảng Nghệ An đảm bảo công tác hậu cần cho những đơn vị chủ lực từ các chiến trường Bình - Trị - Thiên và Lào tập kết và xây dựng, củng cố các lực lượng, chuẩn bị tham gia chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954
Là vùng hậu phương được giao nhiệm vụ chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ, quân và dân Nghệ An sôi nổi hăng hái thi đua hoàn thành nhiệm
vụ Nhận được lệnh hỏa tốc của Chính phủ, Nghệ An đã phát lệnh tổng động viên với tinh thần "Tất cả để chiến thắng" Mọi người, mọi giới, người người lớp lớp dồn sức cho Điện Biên Phủ [3, 166]
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ Nhân dân cùng với lực lượng vũ trang Nghệ An đã có những đóng góp to lớn, vượt bậc Như đồng chí cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã ghi nhận: "Không có Thanh - Nghệ - Tĩnh, không có Điện Biên Phủ" [46, 304]
* Tiểu kết chương 1
Nghệ An là một tỉnh có vị trí điạ lý quan trọng, mạng lưới giao thông phát triển khá hòan chỉnh, điều kiện tự nhiên thuận lợi Với nhiều yếu tố thuận lợi đó, trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An luôn đóng vai trò là hậu phương lớn, cung cấp sức người sức của chi viện cho tiền tuyến Với nền văn hiến lâu đời, đã đúc kết trong con người Nghệ An những phẩm chất tốt đẹp: Yêu nước, đoàn kết, hiếu học, truyền thống đấu tranh cách mạng Lực lượng
vũ trang Nghệ An đã sớm được ra đời và ngày càng trưởng thành qua quá trình tôi luyện trong đấu tranh
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng vũ trang Nghệ An mặc dù còn mỏng, chưa hoàn chỉnh về mặt tổ chức, nhưng trong quá
Trang 40trình đấu tranh, lực lượng vũ trang Nghệ An luôn ý thức xây dựng, chỉnh đốn, phát triển dần thành lực lượng vũ trang 3 thứ quân Lực lượng vũ trang Nghệ
An đã đoàn kết, phối hợp 3 thứ quân với bộ đội chủ lực cả nước vừa làm nhiệm vụ chiến đấu vừa tham gia tích cực xây dựng hậu phương Nhờ làm tốt các nhiệm vụ này lực lượng vũ trang Nghệ An đã giành được nhiều thắng lợi
Đó là thắng lợi của truyền thống yêu nước của lực lượng vũ trang Nghệ
An, tinh thần đoàn kết phối hợp giữa 3 thứ quân, cùng toàn thể nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ An Những thắng lợi của lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp chính là thắng lợi của
sự vận dụng sáng tạo của đường lối đấu tranh của Trung ương Đảng, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ tỉnh, sự đồng lòng của quần chúng nhân dân, sự nỗ lực của lực lượng vũ trang Nghệ An Lực lượng vũ trang Nghệ An đóng một vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho lực lượng vũ trang Nghệ An trong các giai đoạn sau, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước