Thanh Thuỷ dài 92km, quốc lộ 48 dài 122km nối với của khẩu Thông Thụ lànhững tuyến nối liền phía Đông và phía Tây của tỉnh với các cửa khẩu Việt -Lào, cùng với 421km đường cấp tỉnh và 3.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI THỊ HUY TÙNG
VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI NGHỆ
AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI THỊ HUY TÙNG
VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI NGHỆ
AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VŨ TÀI
NGHỆ AN - 2013
Trang 3Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn tới các đồng chí Lãnh đạo Sở, Văn phòng, Phòng truyền thống, cán bộ và nhân viên Sở Giao thông Vận tải Nghệ
An đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ tôi trong quá trình đi tìm tài liệu và khảo sát thực tế tại đơn vị.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Thư viện Tỉnh Nghệ An, Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Ban nghiên cứu lịch sử đảng, Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Nghệ An, Chi cục Lưu trữ Nghệ An, Trung tâm Thư viện Nguyễn Thúc Hào - Trường Đại học Vinh đã cung cấp cho tôi những Tư liệu hết sức qúy báu để tôi hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo Tiến sĩ Trần Vũ Tài,
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Trọng Văn, PGS.TS Trần Đức Cường và tập thể giảng viên trong và ngoài trường đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trên con đường nghiên cứu khoa học của tôi Cuối cùng rất mong muốn được lắng nghe những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn để luận văn của tôi hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An tháng 10 năm 2013
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 6
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI NGHỆ AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954) 8
1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của giao thông vận tải Nghệ An 8
1.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội tỉnh Nghệ An 8
1.1.2 Sự hình thành mạng lưới giao thông ở Nghệ An 17
1.1.3 Sự phát triển mạng lưới giao thông Nghệ An trong thời kỳ Pháp thuộc 22
1.2 Vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Pháp 32
1.2.1 Tiêu thổ kháng chiến 32
1.2.2 Phục vụ sản xuất 34
1.2.3 Góp phần chi viện cho chiến trường 36
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN 1954 - 1964 42
2.1 Góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, phục vụ sản xuất 42
2.1.1 Hàn gắn vết thương chiến tranh 42
2.1.2 Phục vụ sản xuất 50
Trang 5quốc tế với nước bạn Lào 54
2.2.1 Góp phần thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 54
2.2.2 Thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với Lào 56
Tiểu kết chương 2 58
Chưong 3 VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN 1965 - 1975 59
3.1 Vai trò của giao thông vận tải trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968) 59
3.1.1 Đảm bảo mạch máu giao thông 59
3.1.2 Phục vụ sản xuất 76
3.1.3 Góp phần chiến thắng chiến tranh phá hoại 79
3.1.4 Góp phần chi viện cho chiến trường miền Nam 81
3.2 Vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong những năm 1969 - 1972 .86
3.2.1 Phục vụ sản xuất 86
3.2.2 Góp phần chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai 89
3.2.3 Đảm bảo mạch máu giao thông, chi viện cho chiến trường 94
3.3 Giao thông vận tải Nghệ An góp phần giải phóng Miền Nam (1973 - 1975) 100
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đã kết thúcvới thắng lợi với Đại thắng mùa xuân 1975, chấm dứt cuộc chiến tranh phinghĩa của đế quốc Mỹ, đem lại tự do độc lập cho dân tộc Dưới sự lãnh đạocủa Đảng, nhân dân ta đoàn kết một lòng, mỗi người dân thuộc mọi giai tầng
xã hội đã dốc hết bản lĩnh, trí tuệ của mình thành bản lĩnh trí tuệ dân tộcViệt Nam Thắng lợi vĩ đại của dân tộc là tổng hòa của nhiều yếu tố, thắnglợi trên các mặt trận: quân sự, binh vận, văn hoá, giao thông vận tải Mỗimột mặt trận nào đều góp phần to lớn trong công cuộc vừa xây dựng vừakiến thiết nước nhà, phối hợp với các hoạt động qụân sự trên chiến trườnglàm nên chiến thắng lẫy lừng cho đất nước Góp phần vào thiên anh hùng ca
ấy, mặt trận giao thông vận tải đã cống hiến bao kì tích, biết bao huyền thoạicho dân tộc
Dưới làn mưa bom bão đạn của kẻ thù, đất đai cũng oằn mình vì bị càyxới, người chiến sỹ giao thông vẫn lặng thầm để hoàn thành nhiệm vụ củaĐảng, nhà nước và nhân dân giao phó, đảm bảo giao thông thông suốt khi mặtđất không có tiếng bom, hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế, chi viện vật chất, kĩthuật, con người và vũ khí cho chiến trường Nghiên cứu về giao thông vận tảitrong cuộc kháng chiến chống Mỹ là hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn
1.2 Hoà mình vào dòng chảy dân tộc, ngành giao thông vận tải Nghệ
An cũng góp phần to lớn trong cuộc kháng chiến chông Mỹ cứu nuớc
Nghệ An là nơi đất rộng, người đông, có vị trí chiến lược trọng yếu,nhân dân các dân tộc Nghệ An vừa có sẵn truyền thống yêu nước và cáchmạng, vừa hiếu học lại rất cần cù trong lao động, kiên cường bất khuất trongchiến tranh và nghĩa tình trong cuộc sống Trong thời kỳ kháng chiến chống
Trang 8Mỹ, Nghệ An là căn cứ địa vững chắc của quân khu 4, được các định là mộttrong những căn cứ địa quan trọng trong cả nước, là cửa ngõ trục tiếp củamiền bắc chi viện cho miền Nam và là một căn cứ địa quan trọng của chiếntrường Đông Dương Nghệ An luôn là điểm nhấn quan trọng trong mọi âmmưu và hành động phá hoại của kẻ thù khi tấn công ra miền bắc trong hai lần
Đế quốc Mỹ đưa chiến tranh phá hoại miền bắc, Nghệ An là một trong nhữngđịa phưong bị đánh phá đầu tiên và cũng là nơi cuối cùng địch buộc chấm dứtchiến tranh phá hoại, trong klháng chiến, Nghệ An đã phải gánh chịu nhiềumất mát hi sinh
Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của mình người Nghệ
An đã kiên cường vượt qua mọi gian lao thử thách Dưới sự lãnh đạo sángsuốt của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đãphát triển thế trận chiến tranh nhân dân, phục vụ tốt cho nhu cầu kháng chiếntại chỗ, huy động toàn lực của địa phương, động viên mọi tầng lớp nhân dân,tạo nên sức mạnh tổng hợp hoàn thành mọi nhiệm vụ như đánh máy bay, bắtgiặc lái, đánh tàu chiến, chống gián điệp, xây dựng hậu phương vững chắc,đặc biệt hơn nữa đảm bảo giao thông vận tải chi viện tiền tuyến Không chỉphục vụ cho địa phương, cho đất nước người dân Nghệ An còn thực hiệnnghĩa vụ quốc tế cao cả đối với Lào và Cam-pu-chia
Nhiều chiến tích vẻ vang của quân dân Nghệ An dã gắn liền với nhữngđịa danh lịch sử: giao thông đường thuỷ với phà Bến Thủy, cầu Cấm, kênhnhà Lê đường bộ với núi Dũng Quyết, các tuyến đưòng chiến lược nhưđưòng số 15 với mười hai cô gái Truông Bồn, cột mốc số không, đường 7
Là những biểu tượng khí phách của người dân xứ Nghệ trong hai cuộc chiếntranh phá hoại, trong nghĩa tình chung thuỷ đối với chiến trường Lào
Mặt trận giao thông vận tải với tinh thần "Đường không ổ gà, cầu phàvững chắc " Thời kì kháng chiến chống Mỹ được đánh giá là thời kỳ lịch sửsôi động của tỉnh nhà
Trang 9Việc nghiên cứu vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong khángchiến chông Mỹ Cứu nước không chỉ tái hiện những sự kiện lịch sử trên mặttrận giao thông vận tải của cả nước nói chung mà còn phục dựng một cáchsinh động lĩnh vực giao thông vận tải Nghệ An, góp phần đánh giá vai trò tíchcực của giao thông vận tải Nghệ An trong nhu cầu phục vụ tại chỗ trong cuộckháng chiến chống Mỹ tại địa phương và những đóng góp, chi viện phục vụcác chiến dịch lớn trên mặt trận quân sự.
Do vậy, nghiên cứu về vai trò giao thông vận tải Nghệ An trong thời kìlịch sư 1954 - 1975, thời kì gắn liền với bao sự kiện trọng đại của dân tộckhông chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn
Thông qua đề tài tôi hi vọng góp phần bổ sung, cung cấp thêm tài liệuphục vụ cho học tập, giảng dạy và nghiên cứu thêm về lịch sử địa phươngtrong một hình thức mặt trận mới: Mặt trận giao thông vận tải
Ngoài mặt giáo dục truyền thống lịch sử đề tài còn góp phần nâng caosức chiến đấu cho thế hệ mai sau, viết thêm vào trang sử hào hùng của ngànhgiao thông vận tải Việt Nam nói chung, ngành giao thông vận tải Nghệ Annói riêng, tô thắm thêm trang sử của tỉnh nhà trên mặt trận giao thông vận tải
Xuất phát từ ý nghĩa trên tôi chọn vấn đề " Vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)" làm
đề tài luận văn thạc sĩ sử học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài chúng tôi nghiên cứu đã được đề cập từ những góc độ chuyênmôn khác nhau Sau kết thúc cuộc chiến, có rất nhiều học giả trong và ngoàinước viết về cuộc chiến tranh của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam, có nhiều tác giả
là người trực tiếp tham gia chỉ huy, trực tiếp cầm súng đã gửi các bài viết, hồi
kí của mình góp phần tổng kết, đúc rút kinh nghiệm chiến tranh với nhiềukhía cạnh, lĩnh vực khác nhau
Trang 10Cuốn "Giao thông vận tải Việt Nam giai đoạn 1955 - 1965"của tác
giả Phan Văn Liên - Nhà xuất bản GTVT 1994 - Đã đi sâu vào phân tích
sự hình thành và phát triển mạng lưới giao thông vận tải hai miền Nam Bắc Cuốn sách đề cập đến đặc điểm và tình hình giao thông vận tải ViệtNam thời kỳ này
-Tập sách "Mặt trận giao thông trên địa bàn Quân khu IV trong chốn
Mỹ cứu nước" - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - Hà Nội 2001 - đã đề cập
tới nhiều vấn đề xung quanh mặt trận giao thông ở Quân khu IV như vấn đề
tổ chức, chỉ đạo đảm bảo giao thông vận tải, về thế trận mặt trận phòng khôngbảo vệ giao thông vận tải ở các tỉnh trên địa bàn thuộc quân khu Qua cuốnsách độc giả hình dung ra mặt trận giao thông vận tải trong cả nước
Cuốn "Biên niên Lịch sử hậu cần quân khu IV" - Cục hậu cần 1994 có
đề cập đến nhiều vấn đề như: Tham gia thi công tuyến đường ống xăng dầucủa các đơn vị vũ trang cùng hàng ngàn dân công, thanh niên xung phong xâydựng đường ống xăng dầu ở trên địa bàn quân khu trong kháng chiến chống
Mỹ Cuốn sách cũng đã nêu những đóng góp của các đơn vị vũ trang quânkhu trong kháng chiến và chiến trường Lào
Cuốn "Thanh niên xung phong Nghệ An - Những mốc son chói lọi" của
tập thể nhiều tác giả do Cựu thanh niên xung phong thực hiện xuất bản 2010
đã đề cập đến sự hi sinh và chiến công của thanh niên xung phong Nghệ Antrong kháng chiến chống Mỹ trên mặt trận giao thông vận tải
Cuốn "Giao thông vận tải Nghệ An 60 năm xây dựng và phát triển"
-Nhà xuất bản Nghệ An 2005 đề cập đến thành tích của ngành giao thông vậntải Nghệ An ở mức chung
Cuốn "Nghệ Tĩnh 40 năm sự kiện và con số" - Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh
1985 ghi lại những sự kiện của hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh trong kháng chiếnchống Mỹ ghi một số sự kiện liên quan đến giao thông vận tải
Trang 11Ngoài ra trong các công trình lịch sử Đảng bộ các địa phương thuộc tỉnh
Nghệ An như:- Lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đàn, Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn, Lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh Nơi có những con đường giao thông
huyết mạch trong kháng chiến như đường số 7, cột mốc số 0, đường 15, quốc lộ
1, phà Bến Thuỷ cũng đã đề cập ít nhiều đến đề tài chúng tôi nghiên cứu
Cuốn lịch sử "Đảng bộ Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4"
Nhà xuất bản văn hoá thể thao Hà Nội, có ghi chép rõ sự ra đời của Cục côngtrình I đến những thành tích cụ thể của Đảng bộ, công nhân cục công trình Igóp phần mở dường giao thông tham gia kháng chiến Quá trình thi công cáccon đường chiến lược theo chủ trương của Đảng và nhà nước
Cuốn "Lịch sử giao thông vận tải đường bộ Việt Nam" đã ghi nhận ít
nhiều những đóng góp của giao thông vận tải Tỉnh nhà vào lịch sử giao thôngvận tải đường bộ
Đặc biệt cuốn "Lịch sử giao thông vận tải Nghệ An 1945 - 1995" Nhà
xuất bản Giao thông vận tải Hà Nội 1996 ghi lại quá trình ra đời và phát triểncủa ngành Giao thông Nghệ An trên cơ sở tập hợp các dữ liệu, hệ thống cácthời kì lịch sử, nêu lên chiến công, tinh thần dũng cảm, mưu trí sáng tạo củanhiều lực lượng của ngành Giao thông vận tải, có niên biểu những sự kiệntrọng yếu của Giao thông vận tải Nghệ An và nhũng đóng góp lớn của nhândân trên lĩnh vực giao thông vận tải
Tất cả những tài liệu nêu trên chưa có tài liệu nào chuyên khảo đề cậptới vai trò của Giao thông vận tải Nghệ An trong sản xuất và chiến đấu thờikháng chiến chống Mỹ cứu nước Tuy nhiên đó là nguồn sử liệu vô cùng quantrọng và quý báu giúp tôi tiếp tục nghiên cứu và hoàn thành luận văn Trên cơ
sở kế thừa các công trình đã công bố cả về Tư liệu lẫn phương pháp tiếp cận,chúng tôi muốn làm rõ vai trò của mặt trận giao thông vận tải Nghệ An trongcuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Trang 123 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giao thông vận tải Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước (1954 - 1975)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Hệ thống giao thông vận tải trên địa bàn tỉnhNghệ An
- Phạm vi thời gian: từ năm 1954 đến năm 1975
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cơbản như sau:
Khái quát về sự phát triển của ngành giao thông vận tải Nghệ An
Phân tích các hoạt động của ngành giao thông vận tải Nghệ An
Đánh giá vai trò của ngành giao thông vận tải Nghệ An
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu, giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi dựa vào cácnguồn tư liệu sau:
- Tài liệu gốc gồm các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhànước, của các cấp uỷ Đảng, chính quyền của Bộ Giao thông vận tải và tỉnhNghệ An về vấn đề giao thông vận tải Nghệ An trong kháng chiến chống Mỹcứu nước
- Tài liệu tham khảo gồm các công trình nghiên cứu về giao thông vậntải Nghệ An đã công bố
- Tài liệu hồi cố: hồi ký, lời kể của các nhân chứng lịch sử đã hoạtđộng trong lĩnh vực giao thông vận tải ở Nghệ An thời chống Mỹ cứu nước
- Tư liệu điền dã thông qua những lần thực tế tại các cung đường vànút giao thông quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ mà vẫn còn dấu tích
để làm phong phú và sáng tỏ nội dung của đề tài
Trang 134.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm củaĐảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng, về mặt trận giaothôngvận tải trong chiến tranh
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Ngoài 2 phương pháp nghiên cứuchuyên ngành là lịch sử và lôgic, chúng tôi sử dụng các phương pháp liênngành khác như điều tra điền dã, phỏng vấn, thống kê kinh tế, thống kê xã hộihọc để thực hiện đề tài này
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ về quá trình phát triển và hoạt động của ngành giaothông vận tải Nghệ An
- Đánh giá vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trên cả hai bình diệnphục vụ sản xuất và chiến đấu
- Làm rõ vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong việc thực hiệnnhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến miền Nam
- Hệ thống nguồn Tư liệu, góp phần nghiên cứu và giảng dạy lịch sửđịa phương, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dungchính của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1 Khái quá về vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Chương 2 Vai trò của giao thông vận tải Nghệ An giai đoạn 1954 - 1964 Chương 3 Vai trò của giao thông vận tải Nghệ An giai đoạn 1965 - 1975
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI NGHỆ AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)
1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của giao thông vận tải Nghệ An
1.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội tỉnh Nghệ An
Với vị trí địa lý nằm ở vùng trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, Nghệ An códiện tích tự nhiên 16.490,68 km2, đứng đầu các tỉnh thành phố trong cả nước,chiếm 5,1 diện tích tự nhiên trong nước, trải dài theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam Trên tuyến giao lưu Bắc - Nam và đường xuyên Á Đông Tây, cách thủ
đô Hà Nội 300km về phía Nam, phía Bắc giáp Thanh Hóa (chung địa giới128km) phía Nam giáp Hà Tĩnh (chung địa giới 91km); phía Tây giáp nướcCộng hoà dân chủ nhân dân Lào với 3 tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhăm xay có chung 419,5 km đường biên giới, theo đường 8 cách biên giớiViệt - Lào khoảng 80km, biên giới Lào - Thái Lan gần 300km Điểm cực Bắc
là đỉnh núi bản Liên xã Thông Thụ huyện Quế Phong, điểm cực Nam là sườnnam dãy núi Thiên Nhẫn (Nam Kim - Nam Đàn) Điểm cực Tây là đỉnh PùXơi xã Mường Ải - Kỳ Sơn, điểm cực đông là chân núi Xước - Đông Hồi(Quỳnh Lập, Quỳnh Lưu) Nghệ An hội nhập đủ các tuyến đường giao thông:đưòng bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường sông và đường biển Với vị trí địa lýnày Nghệ An là địa bàn quan trọng trong cả nước, có các tuyến giao thônghuyết mạch từ Bắc vào Nam có các cửa ngó sang nước bạn Lào và vùng đôngbắc Thái Lan (3 của khẩu) có biển và đường biển ra thế giới, một lợi thế thời
mở cửa Với tuyến quốc lộ 1 dài 91km, đường Hồ Chí Minh chạy song songvới quốc lộ 1 dài 132km, quốc lộ phía Tây dài 149km chạy xuyên suốt tỉnh,quốc lộ 7 nối với cửa khẩu Nậm Cắn dài 225km, quốc lộ 46 nối với của khẩu
Trang 15Thanh Thuỷ dài 92km, quốc lộ 48 dài 122km nối với của khẩu Thông Thụ lànhững tuyến nối liền phía Đông và phía Tây của tỉnh với các cửa khẩu Việt -Lào, cùng với 421km đường cấp tỉnh và 3.670km đường cấp huyện đã tạo nênmạng lưới giao thông thuận tiện, đóng vai trò quan trọng trong vận chuyểnhàng hoá đường nội tỉnh, giao lưu hàng hoá Bắc - Nam và vận tải quá cảnh.
Tuyến đường sắt Bắc - Nam dài 94km, tuyến đường sắt Cầu Giát điNghĩa Đàn dài 30km với 7 ga trong đó ga Vinh là ga trung tâm có khốiluợng hành khách và hàng hoá lưu thông lớn Bên cạnh đường biên giới dài
419 km và 82km bờ biển tỉnh còn có sân bay Vinh, cảng Cửa Lò với quy môhiện tại 1, 3 triệu tấn, tàu ra vào một vạn tấn và có khả năng nâng cấp đạtcông suất 3, 5 triệu tấn và từ 6 - 8 triệu tấn vào 2020, tàu ra vào 3 - 4 vạn tấn
là tiềm năng lớn cho ngành vận tải biển và xúât nhập hàng hoá của Nghệ An,của khu vực Bắc Trung bộ đồng thời là của ngõ thông ra biển của nước bạnLào và Đông Bắc Thái Lan Nằm giữa hai cảng nước sâu là Nghi Sơn(Thanh Hóa) và Vũng Áng (Hà Tĩnh) khi phối hợp tốt với cảng này thì cảngCửa Lò của Nghệ An sẽ phát huy năng lực vận chuyển vận chuyển hàng hoá.Đầu mối giao thông lớn nhất của tỉnh là thành phố Vinh, nơi có cảng BếnThuỷ, sân bay Vinh, nhà ga Vinh thuận lợi cho việc giao lưu và vận chuyểnhàng hoá lớn đi qua
Với vị trí địa lý và điều kiện nêu trên Nghệ An đóng vai trò là của ngõgiao lưu kinh tế xã hội giữa Bắc Trung bộ, Bắc bộ và Nam bộ, kết cấu hạ tầngđược nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới bằng mạng lưới giao thông đường
bộ, đường sắt đã tạo cho Nghệ An có nhiều thuận lợi trong giao lưu kinh tế
-xã hội với cả nước, khu vực và quốc tế
Điạ hình Nghệ An dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bị chia cắtmạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thông sông suối chằng chịt, núi đồi chiếmdiện tích 83% sáu huyện ở miền núi cao, bốn huyện miền núi thấp, núi ở
Trang 16Nghệ An là chủ yếu là núi trung bình và núi thấp, núi đồi xen lẫn các thunglũng nhỏ hẹp đỉnh cao nhất là Puxailaileng 2.711m, rồi Pù Hoạt 2.452m, Pùmát 1058m nhiều đỉnh cao khác cũng trên 1500m Khu vực Tây Bắc có nhiềudãy núi tuy không cao trên 2000m nhưng cũng có nhiều đỉnh cao như PùHuống 1.477m, trung du và đồng bằng ít núi cao nhưng Nghệ An có nhữngđặc điểm riêng không kéo dài liên tục mà thường nằm rải rác được nhân dângọi là "lèn" Lèn thường cao từ 200 - 300m [15, Tr 29] Đồng bằng Nghệ Ankhông rộng so với đồng bằng ở một số tỉnh ở khu vực Bắc Bộ nhưng lại khácđồng bằng ở Trung bộ và Nam Trung bộ ở đây có một số cánh đồng rộng lớn
do sự bồi đắp lâu đời của phù sa các vùng cao đổ xuống, thấp nhất là đồngbằng Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, có nơi chỉ cao 0, 2m so với mựcnước biển Đồng bằng Nghệ An có hai kiểu: đồng bằng bồi tụ tập trung ở phíaĐông và Đông Nam do phù sa sông cả bồi đắp có những cánh đồng rộng nhưVăn Tràng (Đô Lương), Nam Cát, Kim Liên (Nam Đàn), Quỳnh Thạch,Quỳnh Hậu, Quỳnh Hồng (Quỳnh Lưu) miền núi có Nghĩa Trung, Nghĩa
Mỹ, (Nghĩa Đàn), Môn Sơn, Lục Gịa (Con Cuông) Địa hình đồng bằng venthấp và bằng phẳng bị các cửa sông chia cắt với sáu cửa sông cửa lạch Dòngsông Cả là một trong 5 con sông lớn nhất ở nước ta, sông Cả bắt nguồn từnước Lào chảy qua các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Anh Sơn, ThanhChương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh đổ ra biển Đông tại CửaHội Bắt nguồn từ tỉnh Hủa Phăn (Lào) chảy theo hướng tây bắc - đông namnhập vào đất Nghệ An tại xã Keng Đu (Kỳ Sơn), dòng chính đi sát biên giớiViệt - Lào chừng 40km sau đó đổi theo hướng Bắc - Nam nhập với nhánhNậm Mộ và lại chuyển dòng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Quanhiều lần uốn lượn đến chợ Tràng (Hưng nguyên) sông cả nhập với sông La
và đổi dòng một lần nữa theo hướng tây - đông rồi chảy ra Cửa Hội Phầnmiền núi lòng sông hẹp hình chữ V chảy len lỏi giữa các núi cao và dọc
Trang 17đường nhận các nhánh sông suối, từ thượng nguồn đến hạ lưu có 117 ghềnhthác, tại miền núi phía Tây đoạn từ Mường xén - Kỳ Sơn đến của Rào TươngDương có 3 thác khá nguy hiểm, từ Nậm Nơn đến Kim Đa có 5 thác trong đố
có thác kênh Tạng khó đi hơn cả (thác có 2 bậc, mỗi bậc cao chừng 2m), từcửa Rào về Đô Lương dòng sông thể hiện rõ tính chất trung lưu, đoạn này có
74 ghềnh thác trong đó có hai thác Tương đối cao ở Con Cuông [15, Tr 67,68] Mùa lũ tốc độ lớn cuốn trôi nhà cửa và đe doạ nghiêm trọng đê kè cầucống phương tiện và các công trình giao thông Bên cạnh đó Thượng nguồn
có nhiều ghềnh thác có khả năng tạo ra nguồn năng lượng dồi dào cho phépphát triển các công trình thuỷ điện mạnh công nghiệp thuỷ điện, khoảng 70điểm có thể xây dựng các công trình thuỷ điện nhỏ và thuỷ điện gia đình nơithuỷ điện quốc gia chưa tới điều đó có ý nghĩa quan trọng khi hiện nay chúng
ta đang đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông nghiệp nông thôn đăcbiệt là nông thôn miền núi Dòng sông Lam nhánh chính gồm Nậm Mộ, sôngHiếu, sông Giăng, sông La và các con sông chảy trực tiếp ra biển đó là sôngHoàng Mai, sông Thái, sông Bùng, sông Cấm Các con sông này bắt nguồn từnội địa, sông ngắn, nhỏ, chảy quanh co, sông suối ở Nghệ An có giá trị lớnđối với việc phát triển kinh tế xã hội, đó là cung cấp nguồn nước cho nôngnghiệp nuôi trồng thuỷ sản và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân là tuyến giaothông đường thuỷ tiện lợi ở mức độ nhất định Các tuyến sông trên địa bàntính phần lớn đều bắt nguồn từ miền núi cao độ dốc lớn, đi qua sác khu trungtâm dân cư, các khu công nghiệp, các vùng kinh tế và các khu du lich củatỉnh, mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn nước chảy xiết gây nguy hiểm chocác phương tiện hoạt động trên sông, mùa khô nhiều đoạn bị cạn thuyền bè đilại khó khăn, những tuyến sông ven biển chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, luồnglạc thay đổi theo mùa Các dòng sông ở Nghệ An trước hết là các dòng sôngđịa lý, rồi đến dòng sông kinh tế xã hội và là những chứng nhân của lịch sử,
Trang 18cạnh các dòng sông là những làng mạc sầm uất, các công trình kiến trúc nổitiếng, chợ búa, và các công trình giao thông.
Bên cạnh các nhánh sông chảy trong nội tỉnh, Nghệ An còn có các consông chảy trực tiếp ra biển, đó là sông Hoàng Mai, bắt nguồn từ Nghĩa Thọ -Nghĩa Đàn chảy qua các xã bắc Quỳnh Lưu, qua cầu Hoàng Mai chảy trựctiếp ra biển tại Cửa Cờn hay còn gọi là Cửa Cạp xã Quỳnh Phương, diện tíchlưu vực 370km vuông, có chiều dài khoảng 44km Sông Thái bắt nguồn từdãy núi thuộc xã Quỳnh Châu - Quỳnh Tam chảy qua các xã phía Nam huyệnQuỳnh Lưu qua cầu Giát chảy ra biển tại Cửa Thơi, diện tích lưu vực 102 kmvụông, chiều dài 27 km Sông Bùng bắt nguồn từ dãy núi thuộc xã MinhThành - Yên Thành chảy qua các xã bắc Yên Thành đến các xã đồng bằnghuyện Diễn Châu qua cầu Bùng chảy ra biển tại Cửa Vạn xã Diễn Vạn diệntích 739km vuông, chiều dài khoảng 52km Sông Cấm bắt nguồn từ NghiCông bắc - Nghi Kiều thuộc mái nam dãy Đại Huệ, chảy qua cầu PhươngTích, cầu Cấm rồi chảy ra biển tại phường Nghi Thuỷ thị xã Cửa Lò diện tíchlưu vực 177km, chiều dài khoảng 32km [50, Tr 2] Các vùng của sông venbiển này chịu sự tương tác giữa môi trường nước ngọt và nước mặn, hoạtđộng của thuỷ triều làm hình thành nên các hệ sinh thái vô cùng đa dạng,phong phú ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và phát triển kinh tế của vùng,trên dòng chảy của các con sông này có tác động thóat lũ nhanh ra biển, là nơi
đi về của của các phương tiện thuỷ nội địa từ xa xưa là nơi neo đậu đi về củangư dân ven biển, nơi neo đậu của tàu thuyền, là nơi phục vụ tàu và là đầumối giao thông quan trọng của giao thông đường thuỷ điểm tập hợp củanhững phương tiện giao thông thuỷ bộ, trao đổi giao lưu văn hoá, hàng hoágiữa các vùng miền, thúc đẩy buôn bán của nội tỉnh, góp phần làm thay đổi cơcấu hàng hoá trong khu vực và trong nước, là một trong những điểm giaothông để giao lưu, đi lại giữa các vùng miền, tạo mối liên hệ vùng và quốc tế
Trang 19Nghệ An có bờ biển dài 82km và diện tích vùng biển 4.230 km vuông,dọc bờ biển có 6 cửa lạch với độ sâu từ 1 - 3,5m thuận lợi cho tàu thuyền cótrọng tải 50 - 1.000 tấn ra vào, bờ biển Nghệ An có nhiều bãi tắm đẹp và hấpdẫn nước sạch, sóng không lớn độ sâu thoải, độ mặn thích hợp với vị trí thuậnlợi về giao thông đó là các bãi biển Cửa Lò, Nghi thiết, Cửa Hiền, QuỳnhBảng, Quỳnh Phương.Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch Nghệ An có nhiềutiềm năng phát triển vận tải biển trong đó cảng Cửa Lò - cảng hàng hoá lớnnhất của vùng, cách bờ biển Nghệ An 4 km có đảo Ngư với diện tích trên 100hécta, nước mớm quanh đảo có độ sâu 8 - 12m có điều kiện xây dựng thànhcảng nước sâu trong tương lai, rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá củacác nước trong khu vực Biển Nghệ An có tiềm năng lớn để phát triển nuôitrồng thuỷ sản, phát triển du lịch và vận tải biển [50, Tr 4].
Dải đồng bằng nhỏ hẹp chỉ có 17% chạy từ nam đến bắc giáp biển đông
và các dãy núi cao bao bọc Địa hình của tỉnh với hệ thống sông ngòi dày đặc
và những dãy núi xen kẽ, độ dốc lớn nên gây trở ngại không nhỏ về giaothông, thuỷ lợi nhất là ở miền núi
Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt,mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh ít mưa.Do ảnh hưởng của hệthống cao áp á của nhiệt đới, áp thấp khô nóng từ rìa phía Nam lục địa Ấn ĐộMyanma tràn sang, hệ thống gió tây nam khi thổi qua dãy Trường Sơn bị tácđộng của hiệu ứng phơn khi đi qua địa hình Nghệ An thời tiết trở nên khô cằnnóng bức Nghệ An có hai chế độ gió mùa khác nhau mùa đông hoạt động từtháng 1 đến tháng 5 mùa hè hoạt động từ tháng 5 đến tháng 10 Do nằm ởphía Bắc của vùng bắc trung bộ, nơi có sự giao thoa của 3 hệ thống gió mùa,của tín phong bắc bán cầu, sự hoạt động của chế độ bão trên biển đông nứơc
ta nói chung hay Nghệ An nói riêng ở gần một trong 5 ổ bão của thế giới - ổbão tây bắc Thái Bình Dương miền trung là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng
Trang 20nhiều nhất của bão chiếm 65% số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam [15, Tr
60, 61], trong đó Nghệ An chiếm 28,5% Gío bão, mưa lớn, lũ lụt đã làm thiệthại tới nhà của, hoa màu, tàn phá các công trình giao thông
Rừng Nghệ An phong phú và rậm rạp, trước đây không kể các huyệnmiền núi các vùng đồng bằng cũng có rừng, rừng Nghệ An đa dạng, với diệntích 720,13 ha bao gồm rừng tự nhiên cà rừng trồng đứng thứ 2 toàn quốc, tạiNghệ An có 3 khu bảo tồn thiên nhiên đó là: Pù Mát ở phía tây nam, PùHuống ở trung tâm lưu vực sông Hiếu và thượng nguồn sông Cả, Pù Hoạt ởphía tây bắc huyện Quế Phong
Trên địa hình Nghệ An có 6 tộc người cùng chung sống đó là kinh,Thái, Khơ Mú, Mông, ƠĐu trong đó người kinh chiếm số đông tại các thànhphố, thị xã dọc các quốc lộ 48, quốc lộ 7, đường HCM đều có tụ điểm dân cưngười kinh sinh sống.Từ thuở bình minh lịch sử họ đã đem cánh tay gân guốc
và trí tuệ của mình đào đá, chặt cây diệt thú dữ, làm ruộng, làm rẫy chốngngoại xâm, chống bọn bóc lột và các thế lực hắc ám để bảo vệ quê hương,xóm làng Từ thế kỷ X trở về sau Nghệ An đón thêm luồng dân di cư từ nơikhác đến, đó là những người đói nghèo từ các nơi di cư vào khai khẩn, làm
ăn Bởi nơi đây là vùng viễn trấn xa kinh đô chưa được khai phá mấy nên một
số tiểu vùng còn gọi là Kimi (quản lý lỏng lẻo) nên mỗi khi ngoài bắc, ngoàithanh có lụt lội hạn hán bà con vào đây để khai khẩn, lập làng hoặc dắm vàolàng đã có người cư trú Số người này di cư không có sự tổ chức của nhà nướcđến Nghệ An đông nhất vào thế kỷ XI - XV những quan chức được bổ nhiệmtrị nhậm tại Nghệ An rồi lấy vợ, sinh con, lập nghiệp tại đây không về quêhương nữa, trong số này có một số người vào đây xây dựng căn cứ chống lạitập đoàn phong kiến [16, Tr24] trung ương vốn là dòng tộc Tiền Lê, Trần,Hậu Lê Những người có "tội" với nhà nước phong kiến, những người thất bạitrong các cuộc khởi nghĩa, những người thất thế qua các làn sóng phế hưng
Trang 21cua các vương triều hoặc qua các cuộc phân tranh của các tập đoàn phongkiến, họ vào đây thay tên, đổi họ để tránh sự đàn áp, những lính thú lưu đồnhoặc đến đánh trận lấy vợ sinh con không về quê hương vản quán nữa Kiềudân của Ai lao, Chăm Pa, Tống, Nguyên, Minh có người là tù binh, dân buônbán đến đây rồi ở lại cho dù là ngườiTrung Quốc, Chăm Pa, Bồn Man, AiLao hay cả người Bồ Lô cự trú ở một số cửa biển từ đời này qua đời khác,theo tháng năm họ trở thành cư dân Việt Nam, ngưòi Nghệ An, trong mộttrường kỳ lịch sử họ đã đóng góp công sức của mình vào việc khai phá, xâydựng, chiến đấu và bảo vệ mảnh đất này.
Đồng bào các dân tộc thiểu số tập trung ở miền núi sống thành làngbản Năm 2005 miền núi chiếm 83% diện tích tự nhiên Đây là địa bàn quantrọng có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninhđói với cả tỉnh và khu vực
Nhìn chung các tộc người sinh sống trên đất Nghệ An tuy có khác nhau
về ngôn ngữ, phong tục tập quán, quá trình chuyển cư nhưng trước nhữngbiến động của lịch sử, nhu cầu sinh tồn cư dân trên mảnh đất này đã cùngchung lưng đấu cật để chế ngự thiên nhiên và các lực lượng khác để bảo vệbản làng, quê hương, đất nước
Theo cố học giả Đặng Thai Mai, khi nói về tính cách người Nghệ An,
đã nhận xét: người Nghệ An can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiênquyết đến khô khan và tằn tiện đến mức cá gỗ [43, Tr 37] Giáo sư Vũ NgọcKhánh một con người của chính đất Nghệ đã đưa ra những nhận định ngườiNghệ An có chất lý tưởng trong tâm hồn, sự trung kiên trong bản chất, sựkhắc khổ trong sinh hoat, sự cứng cỏi trong giao lưu Phong thổ và khí hậunơi đây đã tạo ra nét rất riêng của con người xứ Nghệ, mùa đông ẩm ướt, mùa
hè khô nóng, hằng năm hứng chịu nhiều cơn bão, sinh ra trong môi trườngthiên nhiên không mấy ưu đãi con ngưòi nơi đây luôn phải gồng mình luôn
Trang 22phải đối mặt và gồng mình trong cuộc sống ngưòi Nghệ An luôn có ý chívươn lên khắc phục hoàn cảnh với quyết tâm cao, họ yêu chuộng sự giản di,thật thà, chắc chắc chắn, nắng hạn, mưa dông, bão lũ không khuất phục được
họ mà chỉ khiến cho tinh thần của cộng đồng người nơi đây thêm kiên cường,nghị lực, sức vóc thêm dẻo dai, cốt cách thêm cứng cáp Người Nghệ An khíkhái thẳng thắn, nhưng giàu tình cảmchân thành trong quan hệ ứng xử, sẵnsàng quên mình vì nghĩa lớn Người Nghệ An coi trọng nghĩa khí, gan góc,cứng cỏi, Tư duy cứng nhắc, rạch ròi.Trong hoàn cảnh thiên nhiên tai quái,vua quan ức hiếp, nhà giàu bóc lột, cái đói nghèo đe doạ thường xuyên cộngđồng dân cư làng xã ngưòi Nghệ luôn giúp đỡ tương trợ lẫn nhau để bảo vệtài sản, mùa màng và sự bình yên trong thôn làng [16,Tr39], khi có giặc ngoạixâm làng còn xây dựng cả một cộng đồng chiến đấu Trong hành động, nhất
là trong phong trào đấu tranh người Nghệ An thường quyết liệt hăng hái xôngpha đấu tranh vì chính nghĩa Sử sách luôn ca ngợi xứ Nghệ luôn đi đầu trongcác phong trào đấu tranh yêu nước, đấu tranh cách mạng Với vị thế là "đấtphên dậu", là "đất đứng chân" vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến, nhân dânNghệ An luôn đi đầu và kiên cường trong đấu tranh chống cường quyền, ápbức, bất công, chống giăc ngoại xâm
Xứ Nghệ là đất văn vật, mặc dù không phải là xứ nổi tiếng không vìnhiều người đỗ đạt, nhưng được coi coi trọng bởi hiếu học, cần học, khổ họctrí tuệ trong sáng có nghĩa khí, trọng đạo lý làm người, gần gũi quần chúngyêu nước, chống quan trường hủ bại, mang nhiều chính nghĩa Nghệ An làvùng đất đa tôn giáo - đặc điểm này được thể hiện hai khía cạnh, thứ nhất cónhiều tôn giáo được nhiều người Nghệ An chấp nhận trên vùng đất này, thứhai trong một con người chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo Hầu hết các tôngiáo ở Nghệ An đều mang dầu ấn văn hoá địa phương do lòng độ lượng, nhân
ái, khoan dung và do yêu cầu đoàn kết bảo vệ dân tộc các tôn giáo hoà nhập,
Trang 23đan xen với nhau chung sống bên n hau một cách hoà hợp để xây dựng quêhương, gắn bó đoàn kết trong một cộng đồng chung.
Được coi là hình ảnh của một nước Việt Nam thu nhỏ với đủ các vùngmiền, mảnh đất chịu nhiếu tác động thiên tai, khí hậu khắc nghiệt do vậy cộngđồng dân cư nơi đây đã chung lưng đấu cật hình thành nên truyền thống laođông cần cù, sáng tạo, cải tạo tự nhiên, tổ chức xã hội để xây dựng cuộc sốngngày càng tốt đẹp hơn
1.1.2 Sự hình thành mạng lưới giao thông ở Nghệ An
Ngay từ thời Văn Lang Âu Lạc sử cũ có chép năm 179 Tr CN, ThụcPhán đã cùng con gái Mị Châu bỏ thành Cổ Loa chạy về phương Nam đến đất
Mộ Dạ (Diễn Châu) như vậy từ xa xưa đường sá đã hình thành và phát triển
Trong thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc hệ thống giao thông thuỷ bộ cũngđược mở mang, con đường bộ xuyên suốt từ cực Nam Nghệ An đến quậnGiao Chỉ được chính quyền đô hộ đốc thúc xây dựng, sửa sang nhằm mụcđích hành quân trấn áp và vận chuyển nộp thuế, cống sản vật ngoài đường bộvựơt Hoành Sơn vào Chămpa lại có đường bộ vượt đèo Vụ Ôn (Hưong sơn)sang đất Chân Lạp Con đường sông Đáy - và đường bộ cũng như đường núidọc lưu vực sông Đáy nối miền thượng châu thổ (Mê Linh) với miền trungchâu thổ (Chu Diên) và miền hạ châu thổ (Vô Công) vào thời điểm Mã Việnđưa quân sang đàn áp cánh quân của Chu Bá và Đô Dương trong cuộc khởinghĩa Hai bà Trưng ở miền Cửu Chân thì đường thuỷ giữa Giao Chỉ và CửuChân dễ dàng đi lại hơn trước nhiều Hệ thống đường thuỷ sông Lam, sông Lasớm được sử dụng đảm bảo mối giao lưu kinh tế giữa các địa phương Có cảnhững con đường do nguời Chân Lạp vượt dãy Trường Sơn sang đây buônbán và mua sắm các loại khí giới [32, Tr 9]
Phải chăng trên con đường muôn dặm ấy mà Mai Thúc Loan đã liên kếtcác hào trưởng trong vùng và căn cứ Sa Nam còn liên kết được với các nước
Trang 24Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân để giữ miền biển phương Nam, và cũng từ căn
cứ Sa Nam theo con đường thiên lý ấy, Mai Thúc Loan đã đem quân ra đánhphủ thành Tống Bình vào năm 722 [31, Tr 28]
Từ thời họ Khúc đến thời Lý - Trần, trải qua các triều Đinh - Lê quan
hệ giữa Nghệ An với triều đình trung ương còn rất lỏng lẻo, Nghệ An vẫnđược coi là vùng xa trung tâm Xu hướng thoát ly khỏi triều đình trung ươngrất mạnh, đến đầu thời Lý Nghệ An còn được gọi là châu, trại Nghệ An đượccoi là phên dậu phía Nam của quốc gia Đại Việt, Thời Trần được coi là hậuphương vững chắc trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên
Vào đầu thế kỷ XI trong thời kỳ U Minh Vương Lý Nhật Quang giữchức tri châu Nghệ An [31, Tr 129], ông đã ý thức rõ về vị trí đặc biệt củavùng đất này và tìm moi cách phát huy tiềm lực nơi đây, Lý Nhật Quang đãcho khai phá làm hai con đường thượng đạo ở Nghệ An:
- Con đường thứ nhất khởi đầu từ Đô Lương qua Nghĩa Hành, NghĩaPhú lên nông trường Sông Con, qua Thái Hoà (Nghĩa Đàn) rồi theo bãi Trành
để nối với con đường thượng đạo của Thanh Hóa ra Hoa Lư, Thăng Long Để
mở con đường này năm 1042 ông cho một số người thông thạo địa bàn, thánggiêng 1043 cho nhiều toán dân phu tới khai phá rừng núi, làm đường bắccống, hoàn thành vào đầu năm 1044
- Con đường thứ hai cũng khởi đầu từ Đô Lương qua Anh Sơn lên CựĐồn thuộc phủ Trà Lân cũ qua Hội Nguyên lên Mường Mật ở Tương Dương
và Kỳ Sơn giáp Ai Lao [39, Tr 247]
Hai con đường thượng đạo trong đó có một đường nối liền Nghệ An,Thanh Hóa với Thăng Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu giữaNghệ An với nhiều vùng miền góp phần thúc đẩy sự phát triiển văn hoá, kinh
tế của Nghệ An trong thế kỷ XI và nhiều thế kỷ sau đó Sự hình thành mạnglưới giao thông này góp thêm phần tăng cường bảo vệ an ninh quốc phòngcho địa phương
Trang 25Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nghệ An được chọn làm đất đứngchân.Từ Nghệ An đồng bào các dân tộc miền núi nơi đây đã có sự đóng góp
to lớn làm nên trận Bồ Đằng, sau trận Bồ Đằng nghĩa quân Lam Sơn đã khaithông con đường xuống miền Trà Lân.Cũng từ Nghệ An cuộc khởi nghĩa cónhững bước trưởng thành vượt bậc, Lê Lợi và bộ chỉ huy nghĩa quân trênnhững tuyến đường quan trọng đã vào phía Nam giải phóng Thuận Hoá, tiến
ra phía Bắc đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi
Đến thời Nguyễn Huệ, khởi nghĩa Tây Sơn 1771 đã tạo ra một bướcchuyển mới về GTVT Từ các tuyến giao thông trước đây dưới thời NguyễnHuệ, các đường tiến quân trong Nam ngoài Bắc thật sự thông suốt nhanhchóng cả đường bộ lẫn đường thuỷ đều được sử dụng
Năm 1786 Nguyễn Huệ đưa quân ra thu phục Bắc Hà Chặng đường từNghệ An ra Tam Điệp là đưòng xấu có nhiều đèo núi qua hơn 10 sông lạch,với danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh hàng vạn quân Tây Sơn đã đi theo conđường Truông Băng (Nam Đàn) hiểm trở Năm Kỷ Dậu (26/12/1788) đạiquân của hoàng đế Quang Trung dừng chân tại Nghệ An hơn 10 ngày đểtụyển quân và củng cố lực lượng, nâng số quân lên 10 vạn, tổ chức thành 5đạo tiền, hậu, tả, hữu và trung quân Vua Quang Trung còn tổ chức lễ duyệtbinh ngay tại đây để khích lệ tinh thần chiến đấu của quân sỹ, ngay sau lễduyệt binh tiến quân ra Bắc Hà Trong nghệ thuật chọn con đường tốt nhấttiếp cận mục tiêu, ngoài các yếu tố địa hình, khí hậu còn phỉa đảm bảo yếu tố
bí mật, trong binh pháp có tổng kết "lai vô ảnh, khứ vô hình" nhằm chỉ sự bímật của đựờng đi Lúc bây giờ từ Huế ra Thăng Long chỉ có 2 con đườngchính, đó là đường dịch trạm hay đường thiên lý (gần trùng với quốc lộ hiệnnay) và tụyến thượng đạo men theo đồi núi trung du phía tây giãn cách vớiquốc lộ 1A từ 30 - 40km đến 70 - 80km Vậy với cuộc hành quân cấp tốc nàyQuang Trung phải chọn một trong hai tuyến đó
Trang 26Tuyến Lai Kinh (quốc lộ 1A) có ưu điểm ngắn hơn nhưng đó là đườngđất có sông, hồ, cầu cống, quân cùng voi sẽ khó vượt qua cầu đò để đạt được
độ tối đa 10 - 15km/ngày như vậy quân sỹ không thể ra Thăng Long bằngtuyến Lai Kinh Tuyến Thượng Đạo dài hơn 1 ít so với tuyến Lai Kinh nhưngđịa hình đồi núi trung du chỉ có vài 3 con sông lớn như sông Lam, sông Mã.Đây là con đường thượng đạo có từ xa xưa và các cuộc hành quân của cáctriều đại trước thường sử dụng, tuyến đường này có những chặng sau: Từ Huế
- Quảng Bình trùng với quốc lộ 1A, Quảng Bình - Nghệ An trùng với tuyếnđường sắt Đồng Hới - Vinh nhưng đến Linh Cảm thẳng ra Nam Đàn từ NamĐàn lên Tân Kỳ ra Như Xuân - Vĩnh Lộc - Thạch Thành (Thanh Hóa), từ đó
ra Nho Quan, đến Chương Mỹ rồi vào Thăng Long Như vậy quân sỹ, Tượngbinh có thể theo đường thượng đạo hành quân bí mật, thần tốc Như vậy mộtlần nữa trên con đường hành quân Nam - Bắc, Truông Băng (Nam Đàn) mộtlần nữa lại đón tiếp đoàn quân của người anh hùng áo vải đi trên mảnh đấtquê nhà thực hiện cuộc tổng phản công đập tan 29 vạn quân Thanh xâm lược
Hệ thống giao thông đường thuỷ của Nghệ An cũng có những đóng góphết sức to lớn trong sự nghiệp chống giăc ngoại xâm, trong cuộc kháng chiếnchống quân Minh sông Lam, sông La, sông Trài nhiều phen nổi sóng nhấnchìm hàng nghìn tên giặc, kênh Đa Cái do Lê Hoàn đích thân chỉ huy khơimối vào năm 1003[31, Tr 98] qua Kẻ Gai, Phương Tích, Thần Vũ, sông Bùng
ra biển và ra Bắc dài hàng trăm km qua hàng nghìn năm là tuyến giao thôngkết hợp thuỷ lợi từ xứ Nghệ đi đến các nơi bên ngoài Năm 1470, kênh Đa Cái(tức kênh Nhà Lê đã dưa cả đoàn thuyền chiến lớn của Lê Thánh Tông đi vềtrong lần chinh chiến phương nam dẹp loạn Trà Toàn [31, Tr 10094]
Chính quyền phong kiến tập quyền nhà Nguyễn thực hiện sắp xếp cải
tổ lại các đơn vị hành chính theo 4 cấp: TW - Tỉnh, Phủ - Huyện, Châu - Làng
xã Dưới thời vua Tự Đức, Nghệ An là một tỉnh được xác định trên bản đồ
Trang 27như sau "Đông Tây cách nhau 384 dặm, Nam Bắc cách nhau 356 dặm, phíaĐông đến biển 21 dặm phía Tây dến địa giới nước Nam Chưởng 363 dặm,phía Nam đến Hoành Sơn địa giới huyện Bình Chính tỉnh Quảng Bình 219dặm phía Bắc đến khe nước lạnh giáp địa giơi huyện Ngọc Sơn tỉnh ThanhHóa 137 dặm, phía Đông Nam đến của Cương Gián 43 dặm, phía Đông Bắcđến Cửa Hội 27 dặm, phía Tây Bắc đến địa giới châu Lang Chánh tỉnh ThanhHóa 362 dặm, từ tỉnh lỵ đi về phía Nam đền kinh đô 606 dặm [9, Tr117], dướithời Nguyễn mạng lưới giao thông thuỷ bộ ở Nghệ An khá hoàn thiện choviệc giao thông buôn bán giữa các vùng miền.Ta có thể phác hoạ GTVT thờiNguyễn như sau:
- Giao thông đường thuỷ: - Sông Lam, (có hai nguồn chính là sông Hiếu
và sông Tương), sông Dương, sông Vũ Liệt, sông Bùng, sông Cấm, sông Giát,sông Hoàng Mai… Sông Lam là con sông lớn nhất, nguồn sông Hiếu và SôngTương là huyết mạch nguồn giao thông đường thuỷ của Nghệ An
Mạng luới giao thông đường sông trên địa bàn các phủ huyện gồm cácnhánh, dòng như sau: phủ Anh Sơn có hai dòng chính, địa bàn huyện ThanhChương có một dòng chính và nhiều nhánh nhỏ, huyện Hưng Nguyên có banhánh, địa bàn huyện Diễn Châu có sáu nhánh
- Giao thông đường bộ: từ tỉnh thành có năm đường bộ đi đến các địaphương miền núi và các phủ, huyện miền xuôi
Đường bộ trên địa bàn phủ Anh Sơn (có 4 đường đi đến các huyện, xã).Địa bàn huyện Thanh Chương có hai đường đi đến các xã Địa bàn huyệnHưng Nguyên có 4 đường đi đến các xã, địa bàn phủ Diễn Châu có 3 đường
đi đến các huyện, xã, [40, Tr 512, 513]
Nhìn chung trong thời kỳ phong kiến, mạng lưới GTVT ở Nghệ An nóichung nhằm phục vụ cho nhu cầu đi lại trong tỉnh lỵ, giao thương giữa cácvùng miền, phục vụ sản xuất, giao thông vận tải còn đóng góp tích cực vào
Trang 28công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, hệ thống giao thông đường thuỷ cònrất đơn sơ bằng thuyền bè do nhân dân tự đóng hay các thuyền chiến của cáctriều đình phong kiến, đường quốc lộ còn gọi là đường cái quan, có người vàngựa xe qua lại, phương tiện đi lại cáng hoặc kiệu, hành lý đều do phu khuânvác trên vai, việc di chuyến hành khách phải thành từng đoàn, vận chuyển thư
từ, công văn rất khó khăn và bấp bênh do một tổ chức gọi là trạm dịch đảmnhận [41, Tr52]
1.1.3 Sự phát triển mạng lưới giao thông Nghệ An trong thời kỳ Pháp thuộc
Năm 1858 Pháp dùng 13 chiến hạm đánh chiếm cảng Đà Nẵng mở đầucho công cuộc xâm lượcViệt Nam, đến năm 1884 với hoà ước Pa-Tơ-Nôt,Pháp đã xác lập quyền thống trị trên toàn cõi VN, năm 1887 Pháp thành lậpliên bang Đông Dương gồm VN và Cao Miên, năm 1889 sát nhập thêm Làovào Đông Dương và chia Đông Dương thành 5 xứ, từ đó Việt Nam không cótên trên bản đồ thế giới mà bị chia thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam kỳ thựcdân Pháp bắt đầu cuộc khai thác mang tính chất tước đoạt và bóc lột nhân dân
ta đến kiệt cùng.Công cuộc khai thác thuộc địa ở VN có thể chia làm 2 giaiđoạn từ 1884 - 1918 và 1919 - 1939 trên tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề.Nhận thức GTVT là mạch máu không thể thiếu trong cơ thể kinh tế, ngườiPháp coi như điều kiện không thể thiếu để khai thác các nguồn tài nguyên ởthuộc địa đưa về chính quốc Bộ trưởng An-be xa-rô đã từng nói: "nước Pháp
có thể tìm thấy trong đế quốc thuộc địa của nó tất cả những kim khí cho nềncông nghiệp, nhưng phải ra sức cố gắng và chính vì vậy mà phải xây dựngđường bộ và đường xe lửa và sửa sang sông ngòi và kênh rạch" Vì mục đích
đó trong giai đoạn 1900 - 1935, trung bình hàng năm chính phủ thuộc địa đãdành 18% ngân sách để đầu tư vào việc hình thành cơ sở hạ tầng kinh doanh,trong đó có việc xây dựng hệ thống GTVT
Trang 29Về giao thông đường thuỷ, trước khi Pháp xâm lựơc đã được coi làđường giao thông quan trọng trong giao lưu giữa các vùng nước.Nhiều consông và kênh được coi vừa nhằm mục đích thuỷ lợi và đường giao thông.Trước khi Pháp sang, ở Nam Bộ đã có khoảng 2.500km kênh đào.Từ khi đặtđược sự thống trị ở Việt Nam Pháp đã có cho đào thêm khoảng 2.500km kênhmới, xây dựng và cải tạo nhiều cảng sông biển, đồng thời đã lập nhiều công tyvận tải chạy trong sông và các đội tàu vận tải viễn dương.
Bên cạnh đó đường sắt là phương tiện giao thông hoàn toàn mới dongười Pháp đem đến Việt Nam Đoạn đường sắt đầu tiên được xây dựng làSaì Gòn - Mỹ Tho dài 71km khởi công sau năm 1881 và hoàn thành sau năm
1885 Sau đó, hình thành thêm 2 tuyến Bắc - Nam (nhưng mới hoàn thành 3đoạn: Hà Nội - Vinh [21, Tr295], Quảng Trị - Đà Nẵng, Nha Trang - SàiGòn); và tuyến Hải Phòng - Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc) Tính đến
1940, tổng số chiều dài đường sắt ở Việt Nam là 2.659km, mật độ đường sắt
ở Đông Dương năm 1938 là 1,3km/1 vạn dân, hoặc tính trên 100km vuôngdiện tích chỉ có 0,4km đường sắt kém xa cả một số thuộc địa của Pháp Điều
đó, như nhận xét của một học giả người Pháp là do việc xây dựng các tuyếnđường sắt đã bị n hững tính toán về chính trị điều khiển quá nhiều so với tínhtoán về kinh tế.Việc đi lại bằng phương tiện đường sắt đối với người ViệtNam được coi là xa xỉ
Đường bộ với mục đích cho phương tiện cơ giới được Pháp xây dựngmuộn hơn, bắt đầu từ năm 1912 Con đường được xây đựng đầu tiên là từ HàNội lên Thái Nguyên, Yên Thế, phục vụ cho mục đích bình định của Pháp.Cho đến 1940 chiều dài của đường ôtô là 21.026km, trong đó có 4.573km rảinhựa, 13.896km rải đá còn lại đường đất thì ôtô chỉ đi được vào mùakhô.Trên các tụyến đường sắt, đựờng bộ, nhiều cầu cống cũng được xâydựng Cầu lớn nhất là cầu Long Biên được xây dựng từ 1898 hoàn thành năm
Trang 301901, có chiều dài 1.682m Cầu Long Biên được coi là cầu lớn nhất ĐôngNam Á khi đó.
Về hàng không, chiếc máy bay đầu tiên được xuất hiện năm 1910, đó làchuyến bay từ Sài Gòn đi Gò Công và hai chuyến bay cùng năm đó ở Huế và
Đà Nẵng Cho đến 1928 máy bay sử dụng ở Việt Nam đều phục vụ cho quân
sự Năm 1928 Pháp mới bắt đầu kinh doanh vận tải thư từ và hành khách từPháp sang, năm1938 có đường hàng không đi trong địa phận Đông Dương.Tổng số sân bay được xây dựng thời Pháp lên tới 42 chiếc chủ yếu phục vụcho mục đích quân sự
Sau khi Pháp chiếm được sáu tỉnh Nam Kỳ (1867) Thực Dân Pháp hailần tiến quân ra bắcc đánh chiếm thành Hà Nội rồi thôn tính một số tỉnh Bắc
kỳ và gây chiến với nhà Thanh để loại bỏ Trung Quốc
Sau khi Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương kếu gọi văn thân, sỹphu giúp vua cứu nước và chọn Tân Sở làm căn cứ, vua Kiến Phúc bị phế truấtPháp chỉ còn chiếm giữ hoàng cung trống rỗng ở Huế, phong trào Cần Vươnglớn mạnh ở Trung Kỳ, TDP điều quân từ Huế và Bắc Kỳ vây bắt Hàm Nghi vàđàn áp cuộc nổi dậy của văn thân sỹ phu Trung Kỳ, ngày 20/7/1885 Tướng Sô-Mông chỉ huy một lực lượng quân Pháp đột nhập Cửa Hội tiến lên BếnThuỷ hướng tới mục tiêu chiếm thành Nghệ An, tiếp đó Min-Hô được Đờ-Cuốc-Xi phái ra Vinh cùng với Sô-Mông và Bét-Tơ-Nô nhanh chóng phối hợpvới nhau tiếp trung đánh chiếm Nghệ An trước hết là chiếm giữ được Vinh -Bến Thuỷ sau đó mởi rộng ra toàn vùng Nghệ Tĩnh hướng tới mục tiêu bắtsống Hàm Nghi Năm 1896 khi tiếng súng chiến đấu trên núi rừng Vụ Quangtắt hẳn cùng với các địa phương trong cả nước nhân dân Nghệ An chịu sự tácđộng của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn của TDP
Nhận thức được tầm quan trọng của ngành GTVT - mạch máu lưuthông của cơ thể thuộc địa đối với các ngành kinh tế khác, trên địa bàn Nghệ
Trang 31An dựa trên cơ sở các con đường cũ, Pháp làm lại và làm mới các con đườnggiao thông quan trọng gọi là đường thuộc địa Năm1893 khi chưa có chủtrương khai thác thuộc địa, để phục vụ cho công cuộc bình định trên vùng đấtNghệ An - Hà Tĩnh, TDP đã cho xây dựng tuyến tỉnh lộ Vinh - Cửa Rào -Trấn Ninh dài 517km [63, Tr17] nay là tuyến đường 7, về sau tuyến đựờngnày là tuyến đường giao thông phục vụ đắc lực cho việc vận chuyển tàinguyên từ Lào về Việt Nam và tuôn về chính quốc Tiếp đến người Pháp choxây dựng quốc lộ 8 nối Vinh - Bến Thuỷ với các huyện Nghi Xuân, Đức Thọ,Hương Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh) sang tận NêPa, Xavanakhét và Viên Chăndài 217km [63, Tr21] Bên cạnh đó chính quyền thực dân Pháp còn cho xâydựng một số tuyến đựờng nội tỉnh hoặc liên huyện trước kia gọi là đườnghàng xứ gồm các tuyến đường sau đây:
- Đường 30 (nay gọi là dường 548) Yên Lý - Phủ Quỳ (qua NghĩaĐàn, Ta Soi) dài 99km
- Đường Quán Bánh - Cửa Lò dài 15km
- Đường 32 (nay gọi là 543) Kim Khê - Bảo Nham dài 27km
- Đường 34 nay gọi là đường 15A (Đô Lương - Phủ Quỳ (qua Sen) dài63km
- Đường 35 (nay gọi là đường 538) chợ Si - Yên Thành nối với đường
7 dài 37, 5km
- Đường 37 (nay gọi là đường 537) Cầu Giát - Phú Nghĩa dài 12, 5km
- Đường 42 tức đoạn đê 42 Lộc Điền - Nam Đàn qua Yên Thái dài25km
- Đường 36 (tức đoạn đê 42 từ chợ Tràng đến Sa Nam) Vinh - ĐôLương qua Thanh Chương dài 65, 5km
- Đường 47 (nay gọi là đường 30) Sa Nam - Đô Luơng qua TruôngBồn dài 21, 5km
Trang 32- Đường 46 (nay gọi là đường Vinh) Trường Thi - Cửa Lò (qua CửaHội) dài 21km.
- Đường Yên Thành - Tri Lễ dài 30km [41, Tr 20, 21]
Một số đường cũng nâng cấp rải đá như đường Napê - Thà khẹt nằmphục vụ chuyên chở quặng thiếc từ mỏ paten ra biển Vinh - Bến thuỷ, đườngVinh Cửa rào nhằm phục vụ việc thu mua lâm sản ở Trấn Ninh.Theo thống kêcủa chính quyền thực dân từ tháng 11/1923 đến tháng 5/1924 có khoảng 218ôtô từ Vinh đi Thà khẹt
Trên danh nghĩa người Pháp xây dựng con đường nhưng đoạn đường điqua địa phương nào, địa phương đó phải huy động người ra làm việc.Cáctuyến đựờng đều dựa vào đường cũ mà dân đi lại, nắn sửa theo tiêu chuẩn xe
cơ giới, những nơi bằng phẳng, dễ làm thì tiến hành làm đường sớm, nhữngvùng rừng núi, địa hình phức tạp làm sau theo từng bước như thăm dò, cắmtụyến sơ bộ mới làm nền đường Việc khảo sát, thiết kế do người Pháp chỉhuy kể cả sỹ quan trong quân đội Pháp Sau này khi đã có trường đào tạođược nhân viên đo đạc mới có những đoàn, đôi khảo sát do sự tham dự củangười Việt chỉ huy Bản đồ chưa đầy đủ, phương tiện nghèo nàn nên việckhảo sát vất vả, gặp nhiều khó khăn, đôi khi gặp những tuyến bắt buộc phảiqua đã phải chọn những nơi cao đốt khói làm tín hiệu hướng tới Nền đườngkhu vực đồng bằng thường rộng 6m, miền núi và nơi khó khăn thu lại 4 - 4,5m, leo đèo núi dốc không quá 6 - 10%, giao từng đoạn cho các nhà thầu, nhàthầu tuyển phu [42, T57] Nhiều địa phương có nơi cơ qụan công chính làmtrực tiếp, huy động dân và lính khố xanh chỉ huy từng đội, đường đắp xong đểmấy năm sau mới làm lớp mặt trong thời gian này cùng thi công với cầu cốnglúc đầu phần lớn là bằng gỗ sau này mới có bê tông cốt thép Để hoàn thànhkhối lượng công việc khổng lồ đào đắp, san lấp hàng chục triệu mét khối đất
đá trên các địa hình khác nhau, chính quyền thuộc địa đã sử dụng triệt để
Trang 33chính sách khoa học kỹ thuật của người Pháp, lao động kỹ thuật của ngườibản xứ.Việc hoàn thành các tuyến đường này các tập đoàn Tư bản Pháp có cơhội thuận tiện để khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có ởmiền tây và đông Trường Sơn, cũng thông qua các tuyến đường chính quyềnthuộc địa có thể tổ chức các cuộc hành quân càn quét hết sức thuận lợi để dậptắt các cuộc nổi dậy của nhân dân Nghệ An Với việc thông tuyến đưòng số 8toàn quyền Đu-Me đã hí hửng vui mừng "Chìa khoá miền trung Đông Dương
đã mở để taì nguyên Tư bản được thông thuơng"
Cùng với sự phát triển của hệ thống cầu đường bộ việc sử dụng xe cơgiới đi lại vận chuyển cũng phát triển tương ứng vận tải cơ giới lúc đầu chỉphục vụ quân đội và người châu Âu sau đó đến quan chức và nhân dân ỞViệt Nam việc vận tải công trước 1939 do tư nhân đảm nhiệm, năm 1925 cáchãng xe cũng tăng theo, việc quản lý ngày càng đầy đủ và nghiêm ngặt, tất cảcác xe đi trên trường bộ đều phải đóng thuế hằng năm Đi đôi với lượng xetăng những cơ sở buôn bán, sửa chữa cũng tăng theo Tại Nghệ An đến trướckhi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc nhiều loại ôtô nhỏ của Tư bản Pháp
đã hoạt động trên các tuyến đường Vinh - BếnThuỷ - Yên Lý - Phủ Quỳ ;Vinh - Hà Tĩnh, Vinh - Thanh Hóa Công ty ôtô vận tải bắc Trung kỳ và Làothành lập và độc chiếm toàn bộ việc vận tải hàng hoá, hành khách trên cáctuyến đường nối Vinh - Bến Thuỷ - Hà Tĩnh ở phía Nam, Vinh - Bến Thuỷ -Phủ Quỳ - Lào ở phía Tây, Vinh - Quỳnh Lưu - Thanh Hóa ở phía Bắc Đếnnăm 1912, Phạm Văn Phi thợ sửa chữa ôtô dứng ra thành lập công ty vận tảiôtô tại Vinh với số vốn ban đầu là 15.000 frăng và nhanh chóng trở thành đốithủ cạnh tranh của Công ty ôtô vận tải Bắc Trung kỳ và Lào Nếu tính đến
1925 thì công ty vận tải ôtô của Phạm Văn Phi [62, Tr30] có cả một đội xe tải
và xe chở khách hoạt động trên hầu khắp các tuyến đường bộ ở Bắc, Trung
Kỳ và Lào Nguyên toàn quyền Đông Dương Méc - Lanh đã từng thuê xe của
Trang 34Phạm Văn Phi để đi từ Vinh sang Viên Chăn và Luôngphabang.Phạm văn Phitrở thành tư sản người Việt kinh doanh thành công trong ngành vận tải ôtô ởbắc trung kỳ và Lào.
Hệ thống giao thông đường bộ liên tỉnh và nội tỉnh thời kỳ thuộc Phápđược xây dựng, tu sửa khá hoàn chỉnh, là một trong những điều kiện kéo theo
sự mở mang, phát triển kinh tế của Nghệ An
Bên cạnh giao thông đường bộ TDP cũng phát triển giao thông đườngsắt ỏ Việt Nam, ngày 25/12/1898, chính phủ Pháp thống nhất với chính phủthuộc địa ở Đông Dương phát hành công trái với tổng mức huy động là 100triệu frăng để xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương [14, Tr 12], tạiNghệ An TDP đã xây dựng nhiều tuyến giao thông đường sắt trên địa bàntỉnh khi xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh - Đông Hà TDP mở thêmtuyến Vinh - Bến Thuỷ Sau gần 5 năm khởi công tuyến đường sắt Hà NộiVinh - Bến Thuỷ được đưa vào sử dụng với tổng chiều dài 326km Nhằm khaithác những nguồn lợi to lớn của các huyện miền núi phía Tây Nghệ An nóichung và Phủ Quỳ nói riêng, công ty kinh doanh hoả xa Đông Dươngvà VânNam còn đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Bến Thuỷ - Phủ Quỳ.từ ga Vinhđặt đoạn đường nhánh dài 5 km nối với cảng Bến Thuỷ để bốc xếp hàng hoávới tổng chi phí hết 43 triệu frăng Tuyến đường sắt này được đưa vào sửdụng trước khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ
Ngày 17/3/1905 TDP cho thông đoạn đường sắt Hàm Rồng Vinh Bến Thuỷ
-Năm 1915 cho làm tuyến đường xe lửa Vinh - Đông Hà, đoạn đườngnày đươc khánh thành vào năm1927 [8, Tr 215]
Năm 1928, tuyến đường sắt Hà Nội Vinh được nối liền với Đông Hà Huế - Đà Nẵng
-Hệ thống đường sắt ra đời ở Nghệ An về khách quan đã thúc đẩy nhanhtốc độ đô thị hoá, đặc biệt là kích thích nội thương và ngoại thương cùng
Trang 35GTVT phát triển Với ưu thế chở được hàng hoá cồng kềnh, đường sắt trởthành một phương tiện vận tải quan trọng để chuyên chở các sản phẩm lâmthổ, khoáng sản và nhất là nông sản vào Nam ra Bắc hoặc tới cảng Bến Thuỷ
để xuất khẩu ra ngoài
Các tuyến đường sắt đã giúp chính quyền thuộc địa giải quyết được vấn
đề lưu thông hàng hoá nội địa và vận chuyển hàng hoá tới các cảng bến sông,cảng biển để xuất khẩu ra ngoài Bên cạnh đó các tuyến đường sắt đóng vaitrò quan trọng trong việc vận chuyển nhân công từ vùng đồng bằng tới nhữngkhu công nghiệp khai thác mỏ tới những đồn điền xa trung tâm hay là các tỉnhphía Bắc vào khu vực phía Nam
Giao thông đường thuỷ tại khu vực Nghệ An chủ yếu là khu vực đườngsông Lam và đường ven biển, thời phong kiến các triều đại đã dùng tuyếnđường này nhất là dưới thời nhà Nguyễn tuyến đường thuỷ chủ yếu phục vụcho việc chở gỗ từ Nghệ An vào Huế, hoặc chở quân đội ra đàn áp phong tràonông dân khởi nghĩa nơi đây Trong lịch sử Vương quốc Bắc kỳ củaAlêchxăngđrốt xuất bản năm 1652 trên bản đồ địa lý Nghệ An có xuất hiệnhai địa danh là Bến Thuỷ và Cửa Hội, nhưng suốt trong thời kỳ trị vì của nhàNguyễn dường như không có chủ trương khai thác Cửa Lò, Cửa Hội, BếnThuỷ vào mục đích kinh tế và các hoạt động thương mại Khi TDP chiếmNghệ An, người Pháp đã nhìn thấy tầm quan trong của giao thông đường thuỷ
ở đây, năm 1897 từ một bến nhỏ ở khu vực Bến Thuỷ - Vinh Pháp cho xâydựng cầu cảng để các loại tàu thuyền dễ ra vào [30, Tr46, 47] Năm 1901 bắtđầu cho xây dựng cảng Bến Thuỷ, đến năm xây xong hai bến lấy tên là Lơ-No
và Vích-to-mănggiơ Tháng 8/1921 đầu tư thêm 10 triệu frăng cho việc mởrộng cảng, năm 1923 cho xây dựng thêm cầu tàu thứ 6, đến năm 1924 đã có
354 tàu vào cảng và 349 lượt tàu ra khỏi cảng tương ứng với lượng vậnchuyển 87.531 tấn, hàng xuất khẩu gồm gạo, cà phê, cao su, gỗ Hàng nhập
Trang 36khẩu gồm than đá, xi măng, sắt thép Tới năm 1937 đã có 405 chuyến tàu cótrọng tải 200 đến 100 tấn/chiếc ra vào trong các năm 1930, 1931 sở hàng hảiBắc Kì đề ra ba biện pháp làm cho cảng Bến Thuỷ phát huy tác dụng hơn, sau
đó chọn hai biện pháp là mở thêm con kênh phía hữu ngạn sông Lam ra biểngọi là kênh Đan Hải và cho nạo vét sâu lòng sông Lam đoạn từ Bến Thuỷ đếnCửa Hội Cảng Bến Thuỷ trở thành nơi tập trung một lượng hàng hoá xuấtnhập khẩu của Nghệ An, Hà Tĩnh và Lào, thông qua cảng biển này các tậpđoàn Tư bản Pháp đã chở những sản phẩm mà họ khai thác đựoc sang tiêu thụ
ở nhiều nước Kể từ 1929 việc vận chuyển hàng hoá qua cảng Bến Thuỷ đềunằm trong tay các công ty vận tải sông biển của Pháp
Ngoài tuyến sông Lam, thời thuộc Pháp giao thông vận tải đường sôngkhác khá quan trọng nối Vinh với các huyện như Nghi Lộc, Diễn Châu,Quỳnh Lưu ở phía Bắc là kênh nhà Lê Năm 1918 Pháp cho đào kênh sắtVinh - Thanh Hóa
Trên sông Lam và các nhánh sông trong tỉnh, từ nhiều đời đã sử dụngnhiều loại thuyền làm phương tiện đi lại, thuyền chở khách dọc sông được gọi
là đò dọc, thuyền vận tải hàng hoá có tham gia vói mức trọng tải từ 2 - 10 tấn,tuỳ theo đoạn nông sâu, rộng hẹp mà nhân dân ta sử dụng các loại thuyền cótrọng tải thích hợp, đò dọc xuất phát từ các bến miền xuôi lên các bến miềnngươc kèm theo vào đó là các hãng ca nô tư nhân (các đội tàu của NguyễnHữu Thu và Bạch Thái Buởi) cũng tham gia hoạt động giao thông đườngthuỷ Năm 1927 Phúc Vinh - một tư sản người Việt đã mạnh dạn bỏ vốn đầu
tư sắm xà lan, ca nô, thuê thợ kỹ thuật, công nhân mở tuyến đường sông dọcsông Lam và sông La về Vinh - Bến Thuỷ
Hệ thống cầu cảng có nhiều biến đổi, cửa sông đều được nạo vét nhưVạn Phần (Diễn Châu), Thanh Sơn, Phú Nghĩa (Quỳnh Lưu), Cửa Hội thuyền bè có thể neo đậu và chuyên chở hàng hoá ra bên ngoài
Trang 37Như vậy hệ thống giao thông đường thuỷ được chú trọng khai thôngvới nhiều phương tiện trọng tải hiện đại như ca nô, tàu có trọng tải lớn nênviệc đi lại giao lưu giữa các vùng trở nên thuận tiện, nhanh chóng và ngàycàng được mở rộng.
Trên lĩnh vực hàng không do nhu cầu phục vụ qụân sự và đi lại củacác nhà chức trách Pháp năm 1929 TDP cho xây dựng sân bay ở Vinh trên
cơ sở chiếm 100 ha đất của nhân dân vùng Yên Dũng (Hưng Nguyên) sau
đó cho chuyển về xây dựng taị làng Yên Đại (Nghi Lộc) gần sát thành phốVinh [41, Tr23]
Hệ thống giao thông vận tải thuỷ, bộ, đường sắt và đường hàng khôngcủa Thực Dân Pháp đầu tư xây dựng tại Việt Nam nói chung và Nghệ An nóiriêng không chỉ là công cụ, phương tiện thực thi chính sách bóc lột thuộc địacủa TDP mà còn giữ chức năng hỗ trợ sự vận hành của CNTB tại Nghệ Antheo những mục đích thực dân
Trên cơ sở GTVT phát triển, chỉ trong một thời gian ngắn tại Nghệ AnPháp mở thêm hai đại lý ở Tương Dương và Phủ Quỳ, Vinh trở thành trungtâm kinh tế - thương mại giao thông, tại Vinh mọc lên các cơ sở công nghiệpnhư xưởng cưa mộc chế biến gỗ, các nhà máy diêm, nhà máy gỗ, nhà máynước đá, nhà máy điện lần lượt ra đời Năm 1917 xây dựng nhà máy cơ khíTrường Thi với số công nhân có thời điểm lên tới 4000 người phục vụ choviệc sửa chữa xe lửa cho toàn bộ vùng Bắc Trung Kỳ Lợi dụng GTVT thuậntiện người Pháp bên cạnh việc mở mang các nhà máy, xí nghiệp TDP tiếnhành chiếm đất mở đổn điền ở vùng trung du và miền núi Nghệ An Thôngqua tuyến đường 30 và đường 1 Pháp mở đồn điền La Pich tại Nghĩa - Hưngvới 7.5600 hécta, đồn điền Oan Tơ 6000 hécta tại Nghĩa Đàn Theo Đường
35, 36 TDP lấn xuống các vùng đồng bằng mở các đồn điền Cô - lanh - gô - lê
ở Yên Thành, đồn điền Hu - Gông ở Thanh Chương [39, Tr 704, 705]
Trang 38Giao thông vận tải thời kỳ thuộc Pháp đa dạng, hệ thống đường sắt bộthuỷ được xây dựng đã thúc đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hoá, phục vụnhu cầu đi lại cho dân chúng, bên cạnh đó nó tạo điều kiện cho tất cả các địaphương cùng gia nhập vào guồng máy kinh tế, đẩy nhanh quá trình côngnghiệp tại thuộc địa, tạo nền tảng ban đầu cho việc xây dựng và phát triển cơ
sở vật chất, hạ tầng sau này.Bên cạnh đó các phương tiện giao thông thuậntiện nhanh chóng trong việc dập tắt các cuộc nổi dậy ở địa phương
1.2 Vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Pháp
1.2.1 Tiêu thổ kháng chiến
Ngày 28/8/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký thông cáo của chính phủlâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thành lập bộ giao thông côngchính - một trong 13 bộ đầu tiên của nước ta ông Đào Trọng Kim một nhân sỹyêu nước đảm nhận chức vụ bộ trưởng, tại địa phương thành lập các ty giaothông công chính, đánh dấu mốc ra đời của ngành GTVT Trên cơ sở đóngành GTVT Nghệ An cũng ra đời trên cơ sở kinh nghiệm quản lý chưa cơ sởkinh nghiệm quản lý chưa có, công tác chuyên môn kỹ thuật còn yếu, trongtoàn cảnh chung của đất nước ngành GTVT vừa mới ra đời đã phải gánh vácnhững nhiệm vụ nặng nề trước muôn vàn khó khăn thử thách, ngành GTVTtỉnh nhà đã vươn lên đáp ứng những khó khăn và thử thách đối với nước nhà
Tháng10/1945 tỉnh ủy lâm thời đã đề ra nhiệm vụ khẩn cấp trong đónêu rõ "khôi phục lại hệ thống giao thông liên lạc giữa các cấp" [37, Tr174],thực hiện các nhiệm vụ cấp bách đó ngay từ những ngày đầu ngành GTVTNghệ An đã tiến hành khôi phục, sửa chữa lại các tuyến đường giao thôngchính như đường 1A, 7A và một số đường nội tỉnh bị hư hỏng, cầu phà, một
số đầu máy xe lửa trong tỉnh, tổ chức dự trữ than dầu cho các loại xe, huyđộng hàng hoá vận tải trên sông Hưởng ứng lời kêu gọi ủng hộ Nam bộ
Trang 39kháng chiến của chủ tịch HCM công nhân đường sắt Nghệ An đã cùng côngnhân đường sắt toàn quốc tổ chức nhiều chuyến tàu vận tải vũ khí, lươngthực, thuốc men và các đoàn quân Nam tiến tiếp tế, chi viện cho chiến trườngmiền Nam.
Điểm nổi bật của GTVT trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiếnchống Pháp là thực hiện phong trào phá dỡ các công trình giao thông nhằmngăn chặn các cuộc hành quân xâm lược của kẻ thù đặc biệt hưởng ứng lờikêu gọi "Tiêu thổ kháng chiến" (ngày 6/2/1947) "Bây giờ ta phải phá đi đểchặn Pháp lại không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng" ngànhgiao thông ngành GTVT Việt Nam đã phối hợp cùng với các lực lượng quânđội dân quân du kích cùng với nhân dân đia phương đã phá hoại tất cả cáccông trình giao thông mà địch có thể lợi dụng để thực hiện chiến lược đánhnhanh thắng nhanh của chúng, trong một thời gian ngắn trên toàn quốc đã pháhuỷ 10.700km đường ôtô, trên 30.000m cầu cống các loại và trên 1.540kmđường sắt [42Tr6] Tại Nghệ An ngành GTVT tỉnh nhà đã tham gia kế hoạchphá hệ thống cầu đường tập trung vào các tuyến đường xung yếu như đường1A, đường 7 cùng một số tuyến nội tỉnh, tiến hành xẻ đường, đắp các ụ đất.Tính đến năm 1947, 1948 cán bộ, công nhân ngành GTVT Nghệ An đã phá
dỡ 231km đường bộ, 30 chiếc cầu lớn nhỏ, phá dỡ toàn bộ tuyến đường sắtnội tỉnh
Bên cạnh "Phá hoại để kháng chiến" ngành GTVT tỉnh nhà tham giavào công cuộc tản cư của nhân dân lên các An toàn khu trên miềm tây củatỉnh, tham gia vận chuyển máy móc, di dời nhân dân trong thời kỳ này, hệthống đường bộ đã bị phá hỏng, các loại xe cơ giới không còn phát huy tácdụng nên phương tiện chủ yếu là đường sông và vận chuyển bằng sức người.Đây là một trong những khó khăn, thử thách đối với ngành GTVT nhưng cuốicùng nhiệm vụ cũng đựơc hoàn thành xuất sắc Kết quả đã đưa 2 vạn máy
Trang 40móc, thiết bị từ Vinh lên An toàn khu của tỉnh, trong đó có 12 đầu máy xelửa, nhiều đầu máy ô tô, thiết bị khác, góp phần ổn định sản xuất của an toànkhu Các vùng An toàn khu dần dần trở thành trung tâm chính trị, kinh tế,quân sự của Nghệ An mà còn của mặt trận Bình Trị Thiên của một số tỉnhBắc Bộ và đông bắc Lào và là hậu của tự do của vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh.
1.2.2 Phục vụ sản xuất
Theo phương châm "Phá đường ngăn địch ta vẫn có đựờng đi" ngày9/7/1948 uỷ ban kháng chiến liên khu IV ra thông tư uốn nắn việc đào đường,đảm bảo lòng đường rộng từ 0,8 - 1m để các loại xe thô sơ, xe cút kít vàngười qua lại, các địa phương trong tỉnh sửa chữa ngay một số đoạn đường.Tổng chiều dài trên các tuyến đường là 327km, cụ thể như sau: nhân dân tậptrung sửa chữa đoạn đường 7 từ Đô Lương đi Mường Xén dài 170km, đườngPhủ Quỳ - Kẻ Bọn dài 58km, đường Vinh - Đô Lương dài 63km, đường ĐôLương - Sen dài 36km Trên lĩnh vực giao thông đường thuỷ huy động nhândân nạo vét kênh Vạn Hoà (Quỳnh Lưu) để thuyền 5 tấn qua lại, các phươngtiện giao thông đường thuỷ chủ yếu là dựa vào thuyền của tư nhân có trọng tải2,5 tấn trở lên, đóng thêm một số ca nô lắp động cơ ô tô, phương tiên giaothông toàn tỉnh lúc bấy giờ chỉ có 3 ôtô tải lớn và vừa [41, Tr 34]
Ngày 14/4/1949, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu IV thành lậpngành hàng giang Nghệ Tĩnh trên cơ sở tổ chức lại các vạn đò (nơi quần tụnhững ghe đò vận tải, thương mại, đánh cá ở một giang phận nhất định) Trênsông Lam và một số nhánh sông khác, phương tiện vạn đò được quy về mộtmối Số thuyền vận tải 2, 5 tấn trở lên ở Nghệ An có hàng trăm chiếc đáp ứngtốt nhu cầu vận chuyển hàng hoá phục vụ kinh tế và dân sinh, đồng thời là lựclượng vận tải sẵn sàng phục vụ chiến trường [41, Tr35]
Ngày 12/2/1950, Chủ tịch HCM ký sắc lệnh số 20/SL, quyết định
"Tổng động viên nhân lực tài lực của toàn thể nhân dân đẩy mạnh cuộc kháng