ĐỀ TÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Tìm hiểu con đường chi viện của miền Bắc cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bao gồm các con đường: đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không, đường xăng dầu, đường tiền tệ
Trang 1Tìm hiểu con đường chi viện của miền Bắc cho miền Nam trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Thực hiện: Nhóm 1 Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Lan Phương
Mã lớp học phần: 21116HCMI0131
HÀ NỘI - 2021
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG
STT HỌ VÀ TÊN CÔNG VIỆC THAM GIA NHẬN XÉT
3 Bùi Thị Ngọc Anh Nội dung (2.2)
6 Nguyễn Hoàng Ngọc Anh Nội dung (2.4)
7 Nguyễn Thị Lan Anh Nội dung (2.3)
9 Trần Thị Vân Anh Nội dung (2.3)
11 Trịnh Thị Mai Anh Nội dung (1.1) + Word
12 Nguyễn Minh Ánh Nội dung (1.1) + PowerPoint
13 Nguyễn Ngọc Ánh Nội dung (III)
15 Nguyễn Minh Châu Nội dung (2.1)
Nhóm trưởng
Nguyễn Việt Anh
MỤC LỤC
I 5
Trang 31.1 5
a) Nguyên nhân cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 5
b) Tình hình cách mạng miền Nam trước khi xuất hiện con đường chi viện 5 1.2 Chủ trương hình thành con đường chi viện miền Nam 7
III Kết quả chung và ý nghĩa của các con đường chi viện 28
3.1 Kết quả của con đường chi viện của miền Bắc cho miền Nam trong cuộc
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định nhất đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Khi nói đến hệ thống chi viện chiến lược, huyền thoại cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam người ta thường nghĩ đến: con đường thứ nhất, đường Trường Sơn - đường
Hồ Chí Minh trên bộ; con đường thứ hai, con đường xăng dầu; con đường thứ ba, con đường Hồ Chí Minh trên biển; con đường thứ tư, con đường hàng không; và con
đường thứ năm là một con đường vô hình, không có lối, không có đường, con đường chỉ có ai đi qua rồi mới biết, con đường tài chính - chuyển ngân Cùng với tuyến
đường chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên bộ nổi tiếng thế giới, dân tộc ta còn lập một kỳ tích nữa trong lịch sử, đó là tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Đây là một kỳ tích có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; là biểu hiện của ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta
Những đóng góp hiệu quả của tuyến chi viện miền Bắc cho miền Nam đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, vượt lên những tính toán thông thường về chiến tranh của chính quyền Mỹ - ngụy, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho hôm nay và mai sau
Nhóm chúng em làm đề tài: “Tìm hiểu con đường chi viện của miền Bắc cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)” để làm đề tài thảo luận nhằm hiểu rõ hơn vai trò to lớn mang tính lịch sử ấy và xác định tầm quan trọng của chiến lược này Qua nghiên cứu đề tài, nhóm chúng em sẽ có thêm những bài học quý giá và thêm lòng tự hào tự tôn dân tộc, yêu tổ quốc và hết mình nỗ lực trong thời đại ngày nay để góp phần nhỏ bé trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
NỘI DUNG
Trang 5I Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương con đường chi viện:
I.1 Hoàn cảnh lịch sử:
a) Nguyên nhân cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước:
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) được ký kết Cuộc chiến tranh kết thúc, hòa bình lặp lại ở Việt Nam và trên bán đảo Đông Dương Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng Theo hiệp định
Genève, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước Nhưng đế quốc Mỹ không thực hiện, với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy ngụy quyền, ngụy quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Từ năm 1955, đế quốc Mỹ xây dựng nên chính quyền Ngô Đình Diệm để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước ta, chia cắt đất nước ta lâu dài Bấy giờ cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu xâm lược
Lúc đó, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ra sức phá hoại hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng” đánh phá điên cuồng, giết hại, giam cầm hơn nửa triệu cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước, đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi hành hiệp định Genève và thực hiện tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước cùng chính quyền dân sinh, dân chủ Chỉ trong 4 năm (1955 - 1958), 9/10 cán bộ đảng viên của ta bị địch bắt giết, tù đày, nhiều huyện không còn cơ sở Đảng Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ ta bị giết, gần 90 vạn nhân dân, cán bộ bị bắt, bị tù đày, gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn tật, chỉ còn khoảng 5000 so với 60000 trước đó Cách mạng miền Nam phải chịu những tổn thất nặng nề và lâm vào tình thế rất hiểm nghèo
Đứng trước chính sách cực kỳ phản động và tàn bạo của Mỹ - Diệm, Đảng ta đã chỉ
rõ nhân dân miền Nam không có con đường nào khác là đứng lên làm cách mạng để cứu nước, cứu mình Do đó, mục đích cách mạng miền Nam là phải đánh đổ chính quyền độc tài phát xít Ngô Đình Diệm và đánh đổ bằng con đường cách mạng
b) Tình hình cách mạng miền Nam trước khi xuất hiện con đường chi viện:
Với việc ký kết hiệp định Genève 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, những thành quả của cách mạng tháng Tám 1945 đã được giữ vững nhưng Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền Do âm mưu của đế quốc Mỹ từ trước, trong và sau hội nghị, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế
độ chính trị - xã hội khác nhau
Ở miền Nam, thực dân Pháp cũng có những hành động phá hoại Hiệp định mới
được ký kết Ngay sau khi hiệp định Genève còn chưa ráo mực, đế quốc Mĩ đã thay chân Pháp nhảy vào miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm Thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam, biến miền nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Biện pháp chiến lược cơ bản của chúng là thực hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, tập trung đánh phá cách mạng miền Nam vô cùng tàn khốc Việt Nam trở thành trọng điểm trong chiến lược toàn cầu của Mĩ ở châu Á Thái Bình Dương Cụ thể:
Mỹ - Diệm huy động mọi lực lượng quân sự, an ninh, hành chính, tình báo, thông tin tuyên truyền, thực hành cuộc khủng bố, đàn áp toàn diện cả về quân sự, chính trị,
Trang 6tâm lý, kinh tế, cực kỳ thâm độc, tàn bạo Chúng gây ra những cuộc thảm sát đẫm máu
ở Ngân Sơn, Chí Thạnh (Phú Yên), Chợ Được (Quảng Nam), Mỏ Cày, Bình Đại (Bến Tre), v.v Chúng dùng quân đội mở nhiều cuộc hành quân càn quét quy mô lớn, dài ngày như các “chiến dịch Thoại Ngọc Hầu” kéo dài 9 tháng (5-1956 đến 2-1957) ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ, “chiến dịch Trương Tấn Bửu” trong 7 tháng (7-1956 đến 2-1957) ở 8 tỉnh miền Đông Nam Bộ, để triệt phá cách mạng, tàn sát những người yêu nước, khủng bố những người kháng chiến cũ mà chúng gọi là cộng sản hoặc phần tử thân cộng sản Mỹ-Diệm đã ban hành Luật 10/59 “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, biến cả miền Nam thành nơi tràn ngập nhà tù, trại giam, trại tập trung
Từ tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã họp và ra Chỉ thị riêng về tình hình mới và nhiệm
vụ công tác mới cho các đảng bộ miền Nam Trong 2 năm đầu, Đảng chủ trương lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Genève, đòi củng cố hoà bình, thực hiện các quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ
sở độc lập, dân chủ Đứng trước nguy cơ, Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống khủng bố, đàn áp của ngụy quân, nguỵ quyền, chống chính sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ-ngụy, bảo vệ và xây dựng lực lượng cách mạng, căn cứ địa cách mạng, xây dựng và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng thời tích cực nghiên cứu, chuẩn bị tìm con đường đấu tranh thích hợp để hạn chế tổn thất, đẩy cách mạng miền Nam tiến lên
Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đã trải qua những năm tháng vô cùng khó khăn, ác liệt Trước sức đánh phá của địch qua nhiều đợt “tố cộng, diệt cộng” cực kỳ tàn ác và những chiến dịch càn quét khốc liệt của quân đội ngụy tay sai, cách mạng miền Nam đã chịu những tổn thất nặng nề chưa từng có Trong tình hình đó, Đảng đã động viên được 12 triệu lượt quần chúng (1955-1958) đấu tranh chính trị dưới những hình thức khác nhau Trước tình thế khó khăn, hiểm nghèo, đại bộ phận đồng bào miền Nam vẫn một lòng một dạ theo cách mạng, vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh bất khuất
chống lại cường quyền, áp bức và khủng bố tàn khốc của địch để giữ gìn lực lượng và thế đấu tranh Một số khá đông đảng viên bị thất tán do chuyển vùng và rút vào hoạt động bí mật để chống khủng bố, vẫn hướng về Đảng và Cách mạng
Cùng với sự giúp đỡ dưới hình thức "viện trợ" quân sự, chính trị, kinh tế, miền Nam Việt Nam được xây dựng thành căn cứ quân sự, thành cơ sở kinh tế thực dân kiểu mới của Mỹ
1.2 Chủ trương hình thành con đường chi viện miền Nam:
Khi cách mạng miền Nam gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là giao thông liên lạc, việc chi viện từ Bắc vào Nam, Bác Hồ và Đảng ta đã xác định con đường lối cách mạng trong giai đoạn mới: Tiến hành đồng thời chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc; đã chỉ rõ mối quan hệ chiến lược giữa hai miền: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam là để giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc; miền Bắc có tác dụng quyết định nhất, miền Nam có tác dụng trực tiếp đối với sự nghiệp hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước Đó cũng là mối quan hệ khăng khít, ruột thịt giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn, huy động sức mạnh của toàn dân để chiến thắng kẻ thù hung bạo Đó cũng là biểu thị ý chí: “Nước Việt Nam là một, dân
Trang 7Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”
Tháng 1-1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và khẳng định con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Thực hiện những nhiệm vụ trên đây, chiến trường miền Nam rất cần sự chi viện về lực lượng, vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng với số lượng lớn Chi viện sức người, sức của kịp thời trở thành yêu cầu sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của cách mạng miền Nam và điều đó đòi hỏi phải gấp rút mở những tuyến đường huyết mạch nối liền hậu phương với tuyền tuyến Tuyến đường ấy phải đủ sức đảm nhận, hoàn thành nhiệm vụ vận tải chiến lược, đáp ứng yêu cầu, tình hình phát triển của chiến trường và thậm chí phải vượt trước một bước
Ngay sau hội nghị Trung ương 15, Tổng Quân ủy Trung ương đã họp bàn về việc xây dựng lực lượng vũ trang Miền Nam và chuẩn bị tìm cách đưa một số bộ phận quân đội cùng với vũ khí đạn, dược, vật tư… vào chi viện cho chiến trường Miền Nam một cách bí mật, an toàn, tránh sự kiểm soát, phát hiện của kẻ thù Ngày 19/5/1959 Tổng Quân ủy Trung ương quyết định thành lập “Đoàn quân sự đặc biệt” (sau đó gọi là Đoàn 559) có nhiệm vụ mở xuyên đường Trường Sơn vào Nam, nhằm xây dựng tuyến chi viện chiến lược, vận chuyển vật chất và binh lực từ hậu phương lớn Miền Bắc cho tuyền tuyến Miền Nam Cũng chính từ đây – đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh huyền thoại được hình thành, là mạch máu giao thông quan trọng, góp phần quyết định và sự thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
II Con đường chi viện:
ta cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” Nhiệm vụ cấp bách đặt ra đặt ra cho miền Bắc là phải tìm đủ mọi cách để chi viện cho chiến trường miền Nam
Trên thực tế, đường Trường Sơn xuất hiện từ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy nhiên đó chỉ là những con đường mòn nhỏ hẹp, hình thức vận chuyển chủ yếu là 5 gùi thồ đơn giản Sang thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, Trước yêu cầu ngày càng cao của tiền tuyến miền nam, nếu chỉ dựa vào những con đường mòn nhỏ hẹp như vậy thì không thể vận chuyển đủ và kịp thời nhân lực, vật lực cho quân và dân miền nam đánh Mỹ; cho nên, việc khai thông, mở rộng hệ thống đường mòn
Trường Sơn thật sự cấp thiết Nhận thức rõ yêu cầu của thực tiễn lịch sử, tháng
5-1959, Hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ 15 khẳng định: “Đây là một việc làm lớn, có
ý nghĩa chiến lược, quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất
Tổ quốc”
Trang 8❖ Quá trình hình thành:
Ngày 5-5-1959, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) quyết định thành lập Phòng Nghiên cứu công tác chi viện quân sự miền nam, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, do Thượng tá Võ Bẩm làm Trưởng phòng, có nhiệm vụ: mở một con đường đặc biệt trên dãy Trường Sơn từ bắc vào nam để chuyển nhân lực, vật lực từ miền bắc phục vụ cách mạng miền nam Đến ngày 19-5-1959, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định thành lập Đoàn 559, xây dựng tuyến chi viện chiến lược - đường Trường Sơn trên bộ Vai trò của đường Trường Sơn được Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy
khẳng định là: “Con đường chi viện miền Nam, là cơ bản nhất, chủ yếu nhất, có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trước mắt và lâu dài”
Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng quyết định biên chế bước đầu của Đoàn là 500 cán
bộ, chiến sĩ Ngoài Đoàn bộ, Đoàn được tổ chức thành Tiểu đoàn vận tải bộ 301 và các
bộ phận: Xây dựng kho, bao gói hàng, sửa chữa vũ khí, chế biến thực phẩm Ra đời tháng 5-1959, Đoàn được mang phiên hiệu 559 (đến ngày 12-9-1959, Bộ Quốc phòng
ra quyết định chính thức thành lập Đoàn 559) Con đường được mở đúng ngày sinh của Bác nên được mang tên đường Hồ Chí Minh Và ngày 19/5/1959 trở thành Ngày truyền thống Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh
Lúc đầu đường Hồ Chí Minh trên bộ là con đường mòn đi dọc phía đông dãy
Trường Sơn, luồn lách qua hàng rào, đồn bốt và sự đánh phá ác liệt của Mỹ - Ngụy Khắc phục được những những khó khăn, cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong và nhân viên kỹ thuật của Đoàn 559 đã bền bỉ, anh dũng và mưu trí đánh địch, mở đường, đảm bảo giao thông, thực hiện nhiệm vụ trung tâm là tiếp nhận nguồn hàng từ hậu phương miền Bắc (bao gồm Tổng cục Hậu cần, của Ban Thống nhất Trung ương, của các cơ quan nhà nước gửi vào chiến trường, gửi cho bạn Lào) và nguồn thu mua ở hướng Campuchia, tổ chức vận chuyển chi viện tới các chiến trường miền Nam và Lào, đảm bảo hàng quân cho bộ đội và các đoàn cán bộ dân-chính- đảng qua lại trên đường Trường Sơn
Sau một thời gian “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” trong điều kiện địch đánh phá
ác liệt, khí hậu, thời tiết phức tạp, việc xây dựng và bảo vệ tuyến bảo vệ tuyến vận tải kéo dài hàng nghìn ki-lô-mét, vượt xa với quy mô, phạm vi cả Đông và Tây dãy
Trường Sơn, xuyên qua 20 tỉnh thuộc 3 nước Đông Dương Đường Hồ Chí Minh là khúc ruột nối các tuyến vận tải của hậu phương lớn Miền Bắc, các tuyến vận tải của các chiến trường thuộc 3 nước Việt-Lào-Campuchia, đã tạo nên một hệ thống liên hoàn và vững chắc Những chiến công 6 ấy không những đòi hỏi lòng dũng cảm mà còn phải có trí thông minh, có biện pháp tổ chức lực lượng, bố trí thế trận…đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả
b) Quá trình hoạt động:
❖ Giai đoạn 1960 - 1964:
Đây là giai đoạn của những năm đầu xây dựng tuyến chi viện chiến lược Ở miền Nam, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị chủ trương đẩy mạnh hoạt động chi viện cho chiến trường Vị trí, vai trò của Đoàn 559 ngày càng quan trọng, nhiệm vụ của Đoàn ngày càng nặng nề Trong khi đó, địch ngày càng tăng cường lùng sục, đánh phá ác liệt hơn Ngày 1/9/1960, Hội nghị Ban cán sự Đoàn 559
Trang 9ra nghị quyết nêu rõ: “Phải quyết tâm tự lực cánh sinh, tranh thủ sử dụng đi đường cũ, đồng thời tiếp tục soi đường mới để làm đường dự bị”
Trong khi tuyến giao liên vận tải quân sự từ miền Bắc được mở dọc theo dãy
Trường Sơn tiến dần vào phía Nam thì ở Trung Bộ, các con đường giao liên được mở tiếp vào các khu căn cứ Tây Nguyên và từ miền Đông Nam Bộ các đội vũ trang tuyên truyền cũng tiến hành soi đường ra Bắc Đến cuối năm 1960, ta đã thiết lập được tuyến giao liên vận tải từ Trung Bộ vào miền Đông Nam Bộ, tuyến giao liên quân sự Trường Sơn thật sự trở thành cầu nối giữa miền Bắc với các căn cứ miền Nam
Trong mùa khô 1960 - 1961, Đoàn 559 đã vận chuyển giao cho chiến trường được
30 tấn vũ khí, bảo đảm lương thực cho gần 2.000 cán bộ vào chiến trường, có chân hàng dự trữ cho các đợt vận chuyển tiếp theo Đoàn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi: “Đoàn 559 bước đầu làm được vậy là giỏi, nhưng cần nghiên cứu tổ chức làm tốt hơn nữa”
Ngày 31/1/1961, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về nhiệm vụ quân sự 5 năm (1961 - 1965) và phương hướng, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam Trong đó có nhiệm vụ: Mở rộng đường hành lang vận chuyển Bắc - Nam, cả đường bộ và đường biển nâng dần quy mô và khối lượng tiếp tế vận chuyển phương tiện vũ khí, cung cấp tài chính từ miền Bắc vào miền Nam Trước tình hình địch đánh phá ngày càng ác liệt, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhất trí với đề nghị của ta mở tuyến đường vận tải trên đất Bạn, đồng thời cũng đề nghị dùng đường đó để vận chuyển một
số nhu cầu thiết yếu của Bạn tới Nam Lào, cùng Bạn mở rộng vùng giải phóng ở khu vực này Ngày 14/6/1961, Đoàn 559 chính thức bước vào hoạt động trên tuyến Tây Trường Sơn
Ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 96/QP phát triển Đoàn 559 tương đương cấp sư đoàn, quân số 6.000 người Không chỉ phát triển về số lượng, Đoàn 559 đã có bước phát triển quan trọng về chất lượng Các chiến sĩ Trường Sơn vừa là người lính vận tải, vừa là chiến sĩ bộ binh, công binh, vừa công tác, vừa chiến đấu
Bằng những nỗ lực to lớn của Đoàn 559, hệ thống đường Hồ Chí Minh có sự phát triển nhanh chóng Đến cuối năm 1964, bộ đội tuyến 559 cùng các đơn vị vũ trang, thanh niên xung phong và giao thông Quân khu 4 đã xây dựng được tuyến hành lang vận tải gồm 7 nhiều trục đường gùi thồ và một trục đường cơ giới ở Tây Trường Sơn, thực hiện được chiến dịch vận chuyển quy mô lớn mà Quân ủy Trung ương giao Về lực lượng, sau hơn 5 năm hoạt động, quân số của Đoàn 559 lên đến 8.000 người Kết thúc năm 1964, Đoàn 559 đã đưa đón quân vào Khu 5: 15.896 người, Nam Bộ: 1.571 người
❖ Giai đoạn 1965 - 1968:
Đây là giai đoạn ngăn chặn sự phá hoại của địch và tiếp tục mở rộng Tuyến vận tải
cơ giới đường Hồ Chí Minh vươn sâu chi viện cho chiến trường miền Nam đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ
Đến tháng 4/1965 quân số của Đoàn 559 đã phát triển lên tới 24.000 người thường xuyên làm nhiệm vụ là mở đường và tổ chức vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam và Hạ Lào; đồng thời có nhiệm vụ bảo đảm vật chất và an toàn cho các lực lượng hành quân, bảo vệ hành lang chống địch tập kích bằng đường bộ và đường không, phối hợp và giúp đỡ các địa phương củng cố vùng giải phóng ở dọc hành lang
Trang 10Bộ Tư lệnh 559 có ba lực lượng chính là: lực lượng mở đường mới, giữ gìn và sửa chữa đường cũ; lực lượng vận chuyển và giữ kho; lực lượng bảo vệ Ngoài ra còn có các lực lượng bảo đảm khác như: thông tin, quân y, sửa chữa Về tổ chức, Đảng ủy và
Bộ Tư lệnh của Đoàn tương đương cấp quân khu trực thuộc Quân ủy Trung ương Quyết định trên đánh dấu bước phát triển mới của Đoàn 559, từ vận tải thô sơ chuyển sang vận tải cơ giới; từ quy mô cấp sư đoàn lên quy mô cấp quân khu với những
nhiệm vụ chiến lược to lớn, vô cùng khó khăn, phức tạp trên một địa bàn rộng Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tháng 2/1966, Bộ Tư lệnh 559 giải thể các tuyến, tổ chức thành
8 binh trạm; mỗi binh trạm phụ trách một khu vực nhất định và đều có một tiểu đoàn công binh
Mùa khô năm 1966 - 1967 đánh dấu bước chuyển lớn về chiến thuật vận tải của Đoàn 559 từ “phòng tránh tích cực” sang “tiến công” hợp đồng binh chủng Các sở chỉ huy được chuyển ra gần đường, các lực lượng phòng không, công binh đóng sát đường
để dễ hỗ trợ kịp thời và hiệu quả hơn cho lực lượng vận tải chủ công Nhiều tuyến đường phụ, đường vòng được mở thêm để đảm bảo thông đường cho xe chạy Nhờ đó công tác vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam tăng gấp 25 lần, giao cho bạn Lào tăng gấp 12 lần so với năm 1966, đưa bộ đội vào chiến trường tăng gấp 2,5 lần so với chỉ tiêu Bộ giao
Đến cuối năm 1967, mạng lưới đường đã lên đến 2.959km đường ô tô, trong đó có 275km đường chính, 576 km đường vòng và 450km đường vào các vùng kho chứa Trong năm 1967, để chuẩn bị cho tổng tấn công Mậu Thân 1968, đã có hơn 81.000 tấn hàng đã được vận chuyển và cất giữ, với 200.000 quân, trong đó có 07 trung đoàn bộ binh và 20 tiểu đoàn độc lập đã di chuyển vào Nam an toàn bằng con đường này Năm
1968, Đoàn 559 đã có 25 binh trạm, 23 trung đoàn; quân số lên đến 80.000 người
Tháng 7/1970, Bộ Tư lệnh 559 được đổi tên thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn Các binh trạm được tổ chức thành các sư đoàn; gồm 8 sư đoàn, 1 đoàn chuyên gia (tương đương sư đoàn), 16 trung đoàn trực thuộc, 6 binh trạm
Để tạo thế bất ngờ với địch, ngày 5/5/1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn huy động toàn
bộ lực lượng công binh và một số lực lượng khác đồng loạt ra quân mở “đường kín” (là các con đường chạy dưới các tán cây của rừng Trường Sơn)
Tháng 7/1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn được tổ chức thành: 5 Bộ Tư lệnh khu vực (470, 471, 472, 473, 571), 6 binh trạm trực thuộc (9, 12, 14, 15, 29, 31), 6 trung đoàn công binh trực thuộc (4, 6, 8, 10, 98, 217), 2 trung đoàn ô tô (11, 13), 3 trung đoàn phòng không (210, 591, 593), 2 trung đoàn đường ống xăng dầu (532, 592), 1 trung đoàn thông tin (gồm 5 tiểu đoàn), 4 quân y viện (Bệnh viện 59, Viện 46, Viện 47, Viện 48) và các cơ quan trực thuộc (Bộ Tham mưu và 5 cục) Bộ Quốc phòng cho phép tăng thêm 61 tiểu đoàn, nâng tổng số lên 188 tiểu đoàn và tương đương trực thuộc các binh
Trang 11trạm; bổ sung 35.000 quân (20.000 bộ đội và 15.000 thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân giao thông), nâng tổng quân số lên 92.000 người
Đến cuối năm 1971, toàn tuyến đã mở được 1.190km đường kín Vận chuyển trên đường kín đã trở thành xu thế chủ đạo trên đường Hồ Chí Minh, được Đảng ủy và Bộ
Tư lệnh Trường Sơn đánh giá rất cao, coi đó là một thành tựu có ý nghĩa chiến lược, tạo được thế bất ngờ đối với không quân địch Hệ thống đường kín tiếp tục được phát triển trong những năm tiếp theo
Cuối năm 1972, ta đã xây dựng được một mạng đường giao thông vận tải chiến lược gồm nhiều trục dọc, ngang và các đường vòng tránh, hình thành hệ thống đường cho các kiểu, loại xe cơ giới, với tổng chiều dài 11.000km Giao thông vận tải phục vụ kháng chiến của toàn miền Nam trong năm 1972 đã góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng to lớn của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, buộc đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn phải ký Hiệp định Pa-ri, đồng thời cũng góp phần cho cuộc tiến công chiến lược của quân và dân Lào giành thắng lợi toàn diện, buộc địch phải ký Hiệp định Viêng Chăn
Để hoàn thành khối lượng công việc rất lớn được giao, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã
tổ chức điều chỉnh, bố trí lực lượng phù hợp với tình hình; đồng thời được trên tăng cường lực lượng, phương tiện Mùa khô 1973 - 1974, lực lượng công binh được triển khai trên toàn tuyến làm nhiệm vụ xây dựng, khôi phục và bảo đảm đường vận
chuyển
Giữa năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn có tất cả 8 sư đoàn binh chủng, 20 trung đoàn và tương đương trực thuộc, hàng chục tiểu đoàn trực thuộc các cục nghiệp vụ; tổng quân số lên đến 100.495 người, trong đó có 13.155 sĩ quan
Cuối năm 1974, tuyến vận tải quân sự chiến lược trên đường Hồ Chí Minh đã thực hiện được chủ trương của Quân ủy Trung ương, hoạt động cả mùa khô và mùa mưa theo tỷ lệ thích hợp Quân và dân ta đã có một hệ thống đường chiến lược nối liền từ hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường, bảo đảm cho tất cả loại binh khí kỹ thuật cơ động trong đội hình hành quân của các quân đoàn, binh chủng hợp thành ra trận
c) Đánh giá:
Đường vận tải Hồ Chí Minh trên bộ là con đường của tinh thần sáng tạo, đột khởi, bất ngờ và biến hóa không ngừng Từ một nhóm nhỏ cán bộ trinh sát đường, đến tiểu
Trang 12đoàn giao liên đầu tiên dẫn quân đã hình thành một binh đoàn mang tên Binh đoàn Trường Sơn - Đoàn 559
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh được hình thành, là mạch máu giao thông quan trọng, góp phần quyết định sự thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả của nhiều nhân tố hợp thành, trong đó nổi bật là thành công của việc tổ chức, xây dựng tuyến chi viện chiến lược Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh thể hiện tư duy độc đáo, sáng tạo, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh sắc sảo, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, khẳng định quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng có thể làm nên những chiến công lừng lẫy, những kiệt tác vĩ đại lưu danh vào sử sách
Đóng góp phần lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, việc chi viện bằng đường bộ trên tuyến đường Trường Sơn còn tồn tại những ưu điểm và hạn chế riêng Với địa hình hiểm trở, núi cao, suối sâu giúp cho bộ đội Trường sơn ẩn náu khỏi những đợt đánh phá, những chiến lược của kẻ thù như “chiến tranh ngăn chặn”, “chiến tranh điện tử”, “chiến tranh hóa học”, với đủ loại vũ khí, thiết bị, phương tiện chiến tranh tối tân Song, đối mặt 10 với địa hình hiểm trở; thời tiết, khí hậu khắc nghiệt với những ngày “nắng như đổ lửa”, “mưa như trút nước” trên núi rừng Trường Sơn; đối mặt với những trận sốt rét kéo dài trong điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn… đã bào mòn đi rất nhiều sức lực của quân dân ta, đã có rất nhiều người đã hy sinh trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại này
Trong quá trình hoạt động trên con đường này, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
có những chiến lược sắc sảo, nhạy bén, linh hoạt và vô cùng độc đáo, biểu hiện cụ thể
ở nhiều hoạt động
Thứ nhất, cụ thể hóa đường lối chiến tranh nhân dân và vận dụng sáng tạo kinh
nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đó là trực tiếp tổ chức tuyến chi viện trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ cách mạng hai miền Nam - Bắc; thực hiện mục tiêu chi viện cho chiến trường, quyết tâm đánh thắng địch ở miền Nam, không cho chúng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, bảo
vệ vững chắc hậu phương của cách mạng
Thứ hai, Đảng ta thực hiện chủ trương kháng chiến toàn dân, toàn diện, mỗi người
dân là một chiến sĩ, cả nước cùng hướng về miền Nam thành đồng Tổ quốc
Thứ ba, dùng Trường Sơn là chiến trường lớn làm phân tán lực lượng Mỹ - ngụy
Sài Gòn, hạn chế chiến tranh phá hoại của Mỹ ra miền Bắc và làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu của quân và dân ta ở miền Nam Nếu không có tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, chúng ta khó có thể mở được những chiến dịch với quy mô ngày càng lớn trên khắp chiến trường miền Nam và rút ngắn thời gian để có Đại thắng mùa Xuân
1975
Thứ tư, Chủ trương chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế
tiến công để đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ
Trên đây là những nét độc đáo, chưa có tiền lệ trong lịch sử chiến tranh của dân tộc;
sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam vào điều kiện chiến trường Trường Sơn
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả của nhiều nhân tố hợp thành, trong đó nổi bật là thành công của việc tổ chức, xây dựng tuyến chi viện
Trang 13chiến lược Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh trên bộ thể hiện tư duy độc đáo, sáng tạo, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh sắc sảo, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, khẳng định quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng có thể làm nên những chiến công lừng lẫy, những kiệt tác vĩ đại lưu danh vào sử sách
❖ Quá trình hình thành:
Đường Hồ Chí Minh trên biển là tên gọi của tuyến đường vận tải quân sự do Hải quân nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam thực hiện bí mật trên Biển Đông, được thành lập ngày 23/10/1961, trong Chiến tranh Việt Nam, để vận chuyển vũ khí từ miền Bắc Việt Nam vào chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam
Đó không chỉ là phương thức chi viện mới hết sức quan trọng, trực tiếp cho các chiến trường ven biển miền Nam, mà còn là một sáng tạo chiến lược của Đảng về chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh, đã góp phần to lớn làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975
b) Quá trình hoạt động:
❖ Giai đoạn (1962-1965): Kịp thời và hiệu quả
- Đêm 12/10/1962, chiếc tàu “Phương Đông 1” gồm 10 thủy thủ dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Lê Văn Một, chính trị viên Bông Văn Dĩa chở hơn 30 tấn vũ khí rời bến k15, Đồ Sơn (Hải Phòng) đi về phương Nam
- Đến sáng ngày 19/10/1962, tàu vào tới Chùm Gọng (Vàm Lũng, Tân An) an toàn Tàu “Phương Đông 1” đã đi vào lịch sử, chính thức khai thông tuyến vận tải quân sự đường biển - Tuyến vận tải chiến lược - Sau chuyến đi thành công của tàu “Phương Đông 1”, ba chiếc tàu khác cũng đã cập bến Cà Mau an toàn; cùng với các bến Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa hình thành các cụm bến đón nhận những chuyến hàng đầu tiên của tuyến vận tải Đường Hồ Chí Minh trên biển
- Trong thời gian này tuyến đường Trường Sơn trên bộ (được thành lập từ tháng 5 năm 1959), tuy đã rất khẩn trương tiến hành soi đường, gùi hàng, vũ khí vào chiến trường Nhưng những năm đầu do địa hình phía Đông Trường Sơn quá hiểm trở, mặt khác lại
bị địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt, nên hoạt động đã gặp nhiều khó khăn
- Trong khi đó tuyến vận tải trên biển đã nhanh chóng sớm phát huy được hiệu quả, nên thời kỳ đầu (1962 - 1965), những con tàu không số đã kịp thời phát huy hiệu quả,
Trang 14trở thành tuyến chi viện chiến lược chủ yếu cho chiến trường Nam Bộ và Nam Trung
Bộ
Phát huy những kết quả giai đoạn 1962-1965, trong những năm tiếp theo, bộ đội ta đã luôn sáng tạo, hoàn thành mọi mục tiêu đề ra
❖ Giai đoạn (1965-1973):
- Thời kỳ (1965-1968): Từ sau Sự kiện Vũng Rô, bị mất đi yếu tố bí mật, ta phải đi xa
bờ và chuyển sang hình thức “lừa miếng” - đi bằng phương pháp hàng hải thiên văn
- Thời kỳ (1968-1969): Chuyển sang phương án vận chuyển gián tiếp
- Thời kỳ (1969-1972): Tiếp tục phương án vận chuyển trực tiếp
- Từ tháng 2/1965 đến tháng 1/1973 là giai đoạn khó khăn nhất nhưng hết sức hào hùng của tuyến chi viện chiến lược trên biển Sau sự kiện xảy ra với tàu C143 ở Vũng
Rô (Phú Yên), yếu tố bí mật của tuyến chi viện chiến lược trên biển của ta không còn nữa Nhưng công việc tiếp tế cho miền Nam bằng đường biển vẫn phải tiếp tục, buộc
ta phải chuyển hướng vận chuyển từ phương thức trực tiếp sang phương thức gián tiếp Bằng phương pháp vận chuyển này, trong một năm (từ 01/11/1968 đến 31/10/1969), lực lượng vận tải biển đã đưa vào cảng sông Gianh 21737 tấn vũ khí Từ đây, số vũ khí này được chuyển vào Nam theo đường bộ Ngoài ra, trong giai đoạn này, cán bộ chiến
sĩ Đoàn 125 còn tham gia chiến dịch vận tải VT5 - Vận tải tranh thủ tụt thang (từ tháng 11-1968 đến năm 1969), cùng các lực lượng trong và ngoài quân đội vận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, xăng dầu… từ Hải Phòng vào các tỉnh Nam Khu
4, tạo chân hàng cho tuyến chi viện chiến lược trên bộ (Đoàn 559)
Đồng thời với việc đẩy mạnh đưa hàng vào cảng sông Gianh, Quân chủng Hải quân chọn một số tàu và thủy thủ có kinh nghiệm tiếp tục vận chuyển vào Nam theo đường
Hồ Chí Minh trên biển
❖ Giai đoạn (1973-1975):
Sau Hiệp định Paris, ta chuyển sang phương thức hoạt động công khai
- Từ 1973 đến 1975, tuyến chi viện chiến lược bằng đường biển đã dốc toàn bộ lực lượng và phương tiện, sử dụng hàng ngàn lượt chuyến tàu chuyển vũ khí và vật chất các loại vào các chiến trường
- Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ta đã sử dụng 140 lượt chuyến tàu, vận chuyển 6282 tấn vũ khí và vật chất khác, cùng hàng ngàn lượt cán bộ chiến sĩ vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ và Khu 5, cơ động bộ đội đặc công chiến đấu giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Cù Lao Thu, các đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ quốc
c) Đánh giá:
Đường Hồ Chí Minh trên biển với Đoàn 759 (Đoàn 125) đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện chiến trường bằng đường biển có những đóng góp cực kỳ quan trọng vào việc xây dựng và tăng cường sức chiến đấu cho các lực lượng vũ trang ở miền Nam, góp phần quan trọng cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước
Trang 15Đường Hồ Chí Minh trên biển là một mắt xích quan trọng trong toàn bộ công tác chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, một nét độc đáo, sáng tạo của chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông, biển do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo Các tàu của Đoàn 759 như những con thoi dũng cảm vượt qua phong ba, bão táp và sự phong tỏa, ngăn chặn, đánh phá ác liệt của địch, dệt lên “chiếc cầu đặc biệt” nối liền tiền tuyến lớn với hậu phương lớn, nối liền miền Bắc với miền Nam
Đường Hồ Chí Minh trên biển là một kỳ tích trong bối cảnh so sánh lực lượng địch mạnh hơn ta trên chiến trường Tuyến vận chuyển chiến lược trên biển được xác định
là tuyến vận chuyển chiến lược lâu dài Trên tuyến vận chuyển chiến lược này chúng
ta tổ chức hệ thống lãnh đạo, chỉ huy và tiến hành chặt chẽ từ Bộ tư lệnh quân chủng hải quân đến các tàu vận chuyển, với nhiều hình thức phong phú, phương thức linh hoạt, hiệp đồng khá nhịp nhàng giữa bến đi với lực lượng tàu và bến nhận; giữa các lượng vận chuyển của hải quân với các lực lượng vận chuyển nhỏ lẻ của các quân khu, các địa phương
Ngoài ra còn có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng phối hợp trên bộ ở kho chứa hàng, lực lượng vận chuyển tập kết, cất giấu vũ khí và tổ chức bảo vệ hàng, dẫn dắt cán bộ, chiến sỹ, thủy thủ khi phải rời tàu lên bờ liên lạc với vùng giải phóng Ngoài ra, việc vận chuyển bằng đường biển cũng có những ưu điểm và những hạn chế riêng Về ưu điểm, dễ dàng vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực qua hệ thống đường 16 biển (nhất là đối với những vùng ven biển miền Tây Nam Bộ).Vận tải bằng đường biển rút ngắn thời gian vận chuyển, an toàn những loại "hàng đặc biệt”, đó là những ngoại tệ mạnh, những loại máy móc thiết bị quý hiếm Cũng như vận chuyển vũ khí bằng hệ thống đường biển đạt hiệu quả cao, vấn đề va chạm ít khi xảy ra do đó tỷ
lệ tổn thất rất thấp.Và đặc biệt là vận chuyển bằng đường biển được khối lượng lớn mà chi phí vận chuyển tương đối thấp Song hành với những ưu điểm to lớn khi vận
chuyển, chi viện bằng đường biển, thì đường biển vẫn còn tại một số nhược điểm như sau: Vận tải bằng đường biển phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết, điều kiện tự nhiên, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi sẽ gặp nhiều khó khăn, gian nan Đôi khi vận
chuyển không thể đến tận nơi, do kích thước lớn của các con tàu nên chỉ có thể vận chuyển vũ khí, lương thực đến cảng sau đó sử dụng đường bộ để tiếp tục chi viện Và cuối cùng là, vận tải bằng đường biển đôi khi không thể tránh được sự phát hiện của địch, vì vậy sẽ gặp nhiều nguy hiểm trong quá trình chi viện
Trên con đường chi viện trên biển này, sự sáng tạo trong tổ chức và hoạt động của nước ta được biểu hiện rõ qua nhiều khía cạnh:
Thứ nhất, là sự quán triệt đường lối quan điểm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của
Đảng; sáng tạo đề ra phương châm, phương thức vận chuyển linh hoạt, sáng tạo, phát huy hiệu quả hoạt động vận chuyển chi viện chiến trường bằng đường biển Từ thực tế tổng kết qua các chuyến đi trinh sát của các tàu, Đảng ta rút ra nhận xét về cách thức,
Trang 16bố trí lực lượng và hoạt động ngăn chặn trên biển của Mỹ- ngụy và chỉ ra: điểm mạnh của địch: ưu thế về số lượng và chất lượng, vũ khí trang bị kĩ thuật, động cơ nhanh, phạm vi kiểm soát rộng, phát hiện mục tiêu từ xa,…Điểm yếu của địch là: Chiến tranh xâm lược phi nghĩa; lực lượng của địch tuy đông, vũ khí trang bị kĩ thuật hiện đại nhưng được huấn luyện cho tác chiến chính quy và hoạt động trên những tuyến nhất định, trong những khoảng thời gian nhất định Hơn nữa đại dương mênh mông, riêng vùng ven biển có hàng nghìn, hàng vạn tàu thuyền của ngư dân ven biển làm ăn nên dù địch có tăng cường lực lượng cũng không thể kiểm soát hết được Tìm ra được những điểm mạnh, điểm yếu của địch để từ đó đề ra được những phương châm, phương thức vận chuyển linh hoạt, sáng tạo
Thứ hai, đó là biết dựa vào dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các
địa phương, các ban, ngành đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc
tế Đó là thành công trong việc lựa chọn cán bộ, chiến sỹ người miền Nam kết hợp với cán bộ miền Bắc được đào tạo cơ bản từ các trường chuyên ngành trong và ngoài quân đội… nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, tạo sự gắn bó máu thịt, tình đồng chí, đồng đội thân thiết, luôn chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau của đội ngũ cán bộ, chiến sỹ hai miền Nam, Bắc, cùng chiến đấu vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Và luôn nhận được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế Cụ thể: “Tính đến năm 1975, tổng số tàu vận tải hải quân được nước bạn viện trợ là: Trung Quốc - 127 chiếc, Liên Xô - 21 chiếc”
Thứ ba, đó là sự tích cực, khẩn trương xây dựng lực lượng, coi trọng công tác huấn
luyện đồng thời phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của mọi cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm 17 vụ vận chuyển, chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường biển
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do địch luôn thay đổi các chiến thuật và phương pháp bao vây, bám sát hoặc khiêu khích tàu ta nên đội ngũ cán bộ, chiến sỹ đã luôn phát huy cao độ tinh thần chủ động, sáng tạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho chiến trường bằng đường biển
Thứ tư, đó là sự tích cực trong nghiên cứu thiết kế, cải tiến, chế tạo các loại phương
tiện vận chuyển phù hợp với đặc điểm chiến trường miền Nam bằng đường biển Từ buổi đầu mò mẫm thiết kế loại thuyền gỗ với việc chưa tìm được kiểu tàu giống với tàu thông dụng của ngư dân ở miền Nam rồi tới tàu gỗ 35 tấn và sau đó là tàu vỏ sắt có trọng tải từ 50- 100 tấn Đó là một nỗ lực lớn của quân và dân ta - vì miền Nam giải phóng, vì sự nghiệp thống nhất nước nhà
Thứ năm, là thành công trong tổ chức xây dựng lực lượng tinh gọn, việc chỉ huy
kiên quyết, linh hoạt và tuyệt đối giữ bí mật trong thực hiện việc chi viện Trong chỉ đạo xây dựng và phát triển lực lượng, Bộ tư lệnh hải quân chú trọng xây dựng và kiện toàn hệ thống chỉ huy từ cấp quân chủng đến các đơn vị, các tàu đồng thời xây dựng
cơ quan, đơn vị gọn, mạnh, tinh nhuệ Biết bố trí, xây dựng tổ chức biên chế một cách khoa học, gọn mà tinh, giảm bớt khâu trung gian Vấn đề bí mật chỉ huy vận chuyển
Trang 17chi viện bằng đường biển có ý nghĩa sống còn, từ ý định tổ chức lực lượng, hệ thống chỉ huy, kế hoạch, phương thức vận chuyển, bí mật về lực lượng vận chuyển, bến, bãi, hoạt động của tàu đều được giữ kín
2.3 Đường ống xăng dầu:
Đường ống xăng dầu dài 1.700 km xuyên suốt chiều dài đất nước và mở rộng tới gần 5.000 km là một trong những yếu tố góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Bộ đội đường ống thực sự xứng đáng với đánh giá của Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên: “Nếu đường Trường Sơn là huyền thoại thì đường ống xăng dầu là huyền thoại trong huyền thoại đó”
Dưới bàn tay và khối óc của bộ đội và nhân dân ta, tuyến đường ống cứ vươn dần
về phía Nam, vượt qua vùng “ tam giác lửa” Vinh – Nam Đàn – Linh Cảm, vượt sông
La sông Lam để tới kho N1 tại Can Lộc, Hà Tĩnh Từ Quảng Bình đường ống được phân ra làm hai ngả: vượt Tây Trường Sơn và đi theo hướng Đông Trường Sơn Tính đến năm 1972, hai đoạn đường ống Đông và Tây Trường Sơn đã lên tới 700 km với kho dự trữ xăng dầu lên tới 12800m³
Đường ống xăng dầu được xây dựng một cách tỉ mỉ để tránh được bom mìn đạn của
Mỹ Những nơi đường ống qua sông thì phải nằm chìm xuống đáy để mùa lũ không bị cuốn trôi, bom ném không bị vỡ và quan trọng tránh được tầm nhìn của người Mỹ
Trang 18Những đường ống đi qua đất liền thì cho trâu cày thật sâu rồi đặt đường ống xuống rồi cho dân trồng lúa lên Tuy nhiên những nơi địa hình cao như đồi núi phải lắp đặt ống lên đỉnh đèo, có những nơi độ cao lên đến 1000m lắp ống Đây là độ cao mà trên thế giới chưa từng có nước nào có đường ống dẫn dầu đạt đến độ cao này Tuy nhiên khi lắp đặt xong ống dầu chúng ta phải giải quyết vấn đề bơm dầu lên độ cao đó sao cho đường ống không chịu áp suất quá cao dẫn đến vỡ ống Sau đó bộ đội ta đã lắp nhiều ống bơm 35VNU 35/70 để bơm lên theo từng cấp
b Quá trình hoạt động:
❖ Giai đoạn 1968 - 1969:
Ngày 1-11-1968, ngay sau khi đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc, Công trường 18 nhận nhiệm vụ xây dựng tuyến đường ống vượt Trường Sơn theo trục đường 12 qua đèo Mụ Giạ (gọi là tuyến Hướng Tây) vào đến bản Ka Vát dài 80km Đúng Giao thừa Tết Kỷ Dậu (16-2-1969), xăng vào đến bản Na Tông trên đất Lào Đây là lần đầu tiên xăng đường ống vượt Trường Sơn và có mặt trên tuyến vận tải chiến lược Sau đó, tuyến này được nối thông với Vinh, do Binh trạm 169 thuộc Tổng cục Hậu cần
Ngày 9-3-1969, lần đầu tiên 4 tiểu đoàn đường ống vận hành liên tuyến từ Vinh vào tận Bản Sôi với tổng chiều dài 325km Để rút ngắn quãng đường đưa xăng vào mặt trận, ta chuyển hướng thi công tuyến vượt Trường Sơn sáng trục đường 18, sát với Vĩ tuyến 17
Ngày 22-12-1969, sau nhiều cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, ác liệt, xăng đến Bản
Cọ Đây là sự kiện rất quan trọng vì nó đánh dấu sự hiện diện của xăng đường ống đến
Vĩ tuyến 17 sát chiến trường
❖ Giai đoạn 1970 - 1973:
Năm 1970, Bộ Quốc phòng phê duyệt đề nghị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn (trước đây là bộ Tư lệnh 559) thành lập hai trung đoàn đường ống là Trung đoàn 592 do Trung tá Mai Trọng Phước làm Trung đoàn trưởng, Chính ủy là Trung tá Lê Đức và trung đoàn 532 do Thiếu tá Nguyễn Tuấn làm Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Trần Ninh Châu là chính ủy Đây là hai lực lượng xây dựng đường ống xăng dầu đầu tiên của Trường Sơn Trên toàn bộ hệ thống này, đã có tới 316 trạm bơm đẩy, 101 kho với sức chứa trên 300 nghìn m3
Mùa khô 1970-1971 và 1971-1972, Trung đoàn 592, trung đoàn đường ống đầu tiên của Đoàn 559 đảm nhiệm thi công, quản lý vận hành 135km tuyến, gồm tuyến dọc từ điểm đầu tuyến 559 trên đường 18 đến nam sông Sê La - nông và tuyến ngang từ Bản
Cọ đến bản Na Lai trên trục đường 128 Nhờ hai tuyến này mà trong Chiến dịch
Đường 9 - Nam Lào, xăng được cấp phát đầy đủ cho cả chiến dịch và cho việc vận chuyển vào Nam
❖ Giai đoạn 1973 - 1975:
Tháng 2-1973, Trung đoàn 532 đã thi công và vận hành tuyến ống 144km từ nam
Sê La - nông đến cách Sekong 24km Nhờ tuyến ống mới phát triển của Trung đoàn
532, chúng ta đã hình thành được thế trận bảo đảm xăng dầu trên hai trục đường huyết mạch của tuyến chi viện chiến lược là đường 128 và đường 22 Đặc biệt, xe của Binh trạm 34 không phải vượt dốc “12 cua” hay dốc “Tử thần” để ra Mường Noòng lấy xăng nữa