1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm nội DUNG của tác PHẨM HOÀNG HOA đồ PHẢ

63 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm nội dung của tác phẩm Hoàng hoa đồ phả
Tác giả Ngô Thì Nhậm
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn học
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 75,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua tác phẩm Hoàng hoa đồ phả, chúng tôi thấy ở đó một Ngô Thì Nhậm, với phong thái tự tin, kiêu hãnh, tinh thần lạc quan của một sứ thần; một thi nhân với tâm hồn phong phú, suy ngẫm về

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM HOÀNG

HOA ĐỒ PHẢ

Mỗi tác phẩm văn học đều biểu hiện tư tưởng, tình cảm của người cầm bút, nhưng mỗi thể loại có những phương thức biểu đạt riêng Đối với những tác phẩm trữ tình, thế giới chủ quan của con người gồm: cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu Tác phẩm trữ tình cũng làm sống dậy thế giới chủ quan của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào nội tâm của chủ thể nhân vật trữ tình Từ đó có thể hình dung về con người, tâm hồn, quan niệm, tư tưởng của mỗi tác giả

Tập Hoàng hoa đồ phả với 99 bài thơ, có nội dung

phong phú và đa dạng đã phản ánh rõ chân dung con người tác giả với vai trò là một sứ thần và là một thi nhân Qua

tác phẩm Hoàng hoa đồ phả, chúng tôi thấy ở đó một Ngô

Thì Nhậm, với phong thái tự tin, kiêu hãnh, tinh thần lạc quan của một sứ thần; một thi nhân với tâm hồn phong phú, suy ngẫm về thiên nhiên, con người, cuộc sống của nhân dân Trung Quốc.

Chân dung của một vị sứ thần

Trang 2

Ngô Thì Nhậm xuất thân từ một gia đình quý tộc, cha con nối đời đều là những trí thức, đỗ đạt Chúng tôi thấy rằng, ông được đào tạo trong khuôn khổ Nho giáo Nhưng khi nghiên cứu các tác phẩm của ông để lại, chúng tôi nhận thấy Ngô Thì Nhậm là trường hợp đặc biệt, hành động và nhận thức của ông đã có những điểm mới, thức thời Ý thức và hành động đó đã không bị chi phối bởi tàn dư lạc hậu của Tống nho sau này Bởi ông đã kế thừa và tiếp thu

có sáng tạo tinh hoa của những bậc tiền nhân đi trước Cho nên, Ngô Thì Nhậm trong tư tưởng và hành động đã rất coi

trọng trung và hiếu theo quan điểm của văn hóa Đại Việt Ông nhận thấy trung theo quan điểm văn hóa Đại Việt đã trở thành một nét văn hóa tốt đẹp từ xa xưa: trung là trung với tổ quốc, dân tộc Ông khẳng định Trung và hiếu đó

phải gắn với lợi ích tập thể, lợi ích của nhân dân Người tri thức, nhà cầm quyền phải hành động vì dân, vì nước Khác

với chữ trung của văn hóa Trung Quốc chỉ có nghĩa là hi

sinh, tận tụy, chết cho vua.

Trang 3

Qua tác phẩm Hoàng hoa đồ phả chúng tôi thấy chí

hướng của Ngô Thì Nhậm từ buổi thiếu thời đã bộc lộ rõ tiền đồ phát triển, với sự tự tin hành động: theo con đường học hành để tích lũy kiến thức, phát triển kiến thức; thi cử

để đỗ đạt; làm quan với triều đình để thi thố tài năng Tất cả

để giúp nước, giúp dân, thờ vua Cúc cung tận tụy Không phải ngẫu nhiên ông có tên tự là Hy Doãn Hy là noi theo;

Nhậm là nhận làm Cho nên, khi ông tham gia hoạt động ở

thời kì Lê - Trịnh cho đến triều Tây Sơn sau này đều được chúa Trịnh Sâm, vua Quang Trung tin tưởng, trọng dụng, vị

nể Từ đó hình thành nên phong thái của ông khi đi sứ là niềm tự tin kiêu hãnh, lòng tự hào dân tộc và tinh thần lạc quan

Phong thái tự tin, kiêu hãnh

Niềm tự tin kiêu hãnh về sứ mệnh thiêng liêng

Đi sứ là một sứ mệnh thiêng liêng, mang một trọng trách lớn lao, vì công việc này liên quan đến quốc thể, sự an nguy của quốc gia Cho nên được đi sứ là một nhiệm vụ vinh quang, tự hào, đối với sứ thần Chẳng thế mà có câu

nói của người xưa truyền lại: “Không làm khanh tướng thì

làm sứ giả” Đối với Ngô Thì Nhậm, đi sứ cho triều đình

Trang 4

Tây Sơn khiến cho ông tự hào và kiêu hãnh Khi ra làm quan cho triều Tây Sơn, ông đứng trên lập trường dân tộc

và cảm nhận được vẻ lớn lao, vĩ đại của sự nghiệp mà triều đình Tây Sơn đang xây dựng Ngô Thì Nhậm được Nguyễn Huệ trọng dụng khi còn chưa lên ngôi vua, mặc dù Nguyễn Huệ biết ông đã từng tận tụy cống hiến cho phủ chúa Trịnh.

Tư tưởng tiến bộ, dân chủ đó của Nguyễn Huệ khiến cho ông vô cùng cảm kích.

“Ngũ dạ loan thanh tần nhập mộng,

Y hi Nam khuyết bạng quân thiều.”

(Năm canh tiếng loan nghi luôn vào giấc mộng,

Phảng phất như đang ở cửa khuyết phương Nam nghe nhạc Quân Thiều.)

(Dạ hành)

Ngô Thì Nhậm đã viết về chiến công của triều đại mình bằng tất cả niềm tự hào với một giọng thơ mạnh mẽ, hùng tráng:

“Bách vạn tỳ hưu nhất há san,

Kiền khôn nang quát chuyển tình giang.

Trang 5

Phá điền thiên tử uy phương xướng, Lạc mộc quân vương đảm diệc tàn.”

(Ùn ùn trong núi quân ra, Non sông chỉ nháy mắt là thu xong, Lừng danh áo vải anh hùng.

Sợ run hoàng đế chưa từng biết thua.)

(Hoài cựu).

Cảm kích trước vua Quang Trung và triều đình Tây Sơn, khi đi sứ ông luôn nêu cao tấm gương Vua Quang Trung sáng ngời bởi lòng quả cảm, bởi bản lĩnh, tài năng.

Có lúc lời thơ của ông như tự tâm sự với chính lòng mình, với chính triều đình Tây Sơn, với đất nước như trong bài

Sơn hành.

“Sầu thính tuyền phong thời sắt sưu.

Hành hữu phù trì nguy cánh ổn, Phận đương xu phó lạc vong tru.

Làm sao hốt kiến đông sơn bạch,”

(Buồn nghe, tiếng gió ở bên suối luôn vi vu.

Trang 6

Đi đường được sự phù trì, dù nguy hiểm rồi cũng yên ổn,

Phận sự là thi hành mệnh vua, nên vui quên

“Trinh cố thần tâm lợi khắc gian.

Bất dụng lâm kỳ châm biệt tửu, Chư quân tằng thử cận thiều hoàn.”

(Lòng tôi trinh chính, bền vững vượt được khó

khăn.

Trang 7

Lúc chia tay chẳng cần rót chén biệt ly, Nơi đây các bạn đã từng cưỡi xe sứ trở về.)

(Quá quan Lưu tặng Phan Ngự Sử, Vũ Công Bộ, Ngô

Hiệp Trấn chư công).

Ngô Thì Nhậm kiêu hãnh, tự hào vì mình là người nước Nam Ông cảm thấy hạnh phúc khi được là dân nước Nam, được cống hiến sức mình cho tổ quốc Trên đường đi

sứ, ông thấy nước Đại Việt cũng văn minh, có nhiều nếp văn hóa đặc sắc, nhiều anh hùng, nhân tài như bao nước khác

“Hạnh tại sinh Nam bang,

Nghiễm nhiên bội thân phụ.

Vật vị ngã bất hoa, Việt Thường hữu Hoàng cẩu.”

(May mắn thay! Chúng ta được sinh ra ở nước Nam.

Đường hoàng đai lưng, dây ấn, Chớ bảo rằng ta kém văn minh,

Trang 8

Xưa kia đất Việt Thường có bậc kì lão.)

(Hoản nhĩ ngâm)

Đó là những tâm trạng của Ngô Thì Nhậm khi đi sứ Yên Kinh Ông hào hứng, hãnh diện vì được làm người sứ thần, là một người dân nước Nam Nguồn cảm xúc đó bắt nguồn từ niềm vui, niềm cảm kích trước tài năng và tấm lòng của vua Quang Trung Cho nên ông tin tưởng hoàn toàn vào con đường mà mình đã đi Điều đó cũng lí giải vì sao Ngô Thì Nhậm luôn luôn tận tụy với công việc để hoàn thành sứ mệnh.

Niềm tự hào về truyền thống lịch sử, văn hóa Đại Việt

Đối với mỗi người, niềm tự tin, kiêu hãnh về văn hóa dân tộc là một yếu tố quan trọng cấu thành nên ý thức dân tộc Nó là yếu tố khởi đầu quyết định đến tình yêu nước, yêu quê hương

Ở tác giả Ngô Thì Nhậm, niềm tự tin, kiêu hãnh cá nhân về dân tộc đã khẳng định và làm nảy sinh trách nhiệm với dân tộc, hình thành nên bản lĩnh dân tộc Trong cội nguồn văn hóa gia đình và dòng họ Ngô Thì, vốn có bề dày những yếu tố đó, điều đó được khẳng định rõ nét ở Ngô Thì Nhậm Trong suốt hành trình đi sứ, luôn cháy

Trang 9

bỏng trong trái tim của ông là lòng tự tin, tự hào dân tộc Điều đó không chỉ bởi Nguyễn Huệ và triều đại Tây Sơn mới đánh đuổi 29 vạn quân Mãn Thanh, điều đó còn có từ trong mạch nguồn văn hóa gia đình và dòng họ Ngô Thì Khi đi qua cửa ải Lạng Sơn, ông bày tỏ cảm xúc của mình khi thấy cảnh vật nơi đây thật sống động, nên thơ Ông tự hào về cảnh đẹp nơi đây, đất Lạng Sơn của Đại Việt có núi liền núi, sông liền sông, đất trời một dải xanh biếc.

“Kì quan tối thị trường thiên sắc,

Trung cực kinh tinh huyến Đảu Thai.”

(Rất đỗi kỳ quan là màu trời một dải, Trong chòm kinh tinh ở ngôi trung cực, rực rỡ sao Đẩu sao Thai.)

( Lạ

ng Sơn đạo trung II).

Trong cảm xúc của Ngô Thì Nhậm, niềm tự hào đó hòa quyện với những khoảnh khắc suy tư, hoài cổ khi nhìn lại những dấu tích xưa của cuộc chiến tranh đã qua.

Trang 10

“Nhị Lạng giang sơn cảnh giới liên,

Bàng thông Kinh, Quảng tiếp Cao, Tuyên.

Khê lưu bôn sử tranh qui hải, Lĩnh đạo thùy thê trực thướng thiên.

Thần kiếm thượng lưu Minh tướng thạch, Quỉ môn không tỏa Hán từ yên.

Tự tòng Nam Bắc khai quan hậu, Chỉ điểm tinh kì chí tự Yên.”

(Non sông hai xứ Lạng tiếp liền nhau, Thông với đất Kinh đất Quảng, tiếp với tỉnh Cao, tỉnh Tuyên.

Dòng khe đua nhau chạy đổ ra bể, Đường núi bắc thang vút thẳng lên trời.

Gươm thần còn lưu vết trên hòn đá tướng Minh,

Khói ải Quỷ khóa đền thờ tướng Hán.

Trang 11

Sau khi phương Nam, phương Bắc mở thông cửa ải,

người dẫn đường cho sứ từ Yên Kinh đến.)

(Lạng Sơn đạo trung I)

Ngoài ra trên hành trình đi sứ, Ngô Thì Nhậm cũng rất trân trọng truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Văn hóa Đại Việt rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, cha mẹ Nếp văn hóa đó còn là tấm lòng hiếu nghĩa của mỗi con người Trong quá trình đi sứ, ông dành tình cảm cho gia đình, quê hương thật nồng nàn, đằm thắm Trên hành trình đi sứ, gian

khổ và khó khăn nhưng tác giả vẫn nhớ đến ngày giỗ từ

thân Cụ thể là ngày giỗ từ thân mà Ngô Thì Nhậm không

có nhà để tỏ lòng hiếu kính Tác giả lúc này chỉ còn biết bái

vọng từ xa - nơi sứ người để tưởng nhớ, tri ân tới từ thân

mà thôi.

“ Tầm giang khâm đái loan ao xứ,

Thanh miếu y thường mộng mị gian.

Cảnh ngưỡng Nhân Phần tùng bách mậu, Thực bằng tiên ấm bảo khang hoàn.”

Trang 12

(Ở trên bến sông, bờ bãi quanh co bao bọc,

Mơ màng như mặc áo xiêm tế lễ nơi thanh miếu.

Trông ngóng Nhân Phần tùng bách tươi tốt, Thực nhờ tiên ấm bảo hộ tốt lành trở về.)

(Nam Ninh chu thứ cảm hoài)

Như vậy, sự tự tin, niềm tự hào kiêu hãnh của tác giả khởi nguồn từ tinh thần dân tộc, tình yêu nước, yêu quê hương Những cảm xúc đó tạo nên vẻ riêng trong thơ đi sứ thế kỉ XVIII nói chung, thơ Ngô Thì Nhậm nói riêng.

Tinh thần lạc quan

Các tác phẩm thơ nói chung, thơ đi sứ nói riêng là tấm gương phản ánh tinh thần của thời đại Mỗi thời đại có những quan điểm khác nhau về tư tưởng, thẩm mỹ Mỗi tư tưởng thẩm mỹ sẽ chi phối những sắc thái cảm xúc khác nhau Cuối thế kỉ XVIII, triều đại Tây Sơn đã để lại một âm vang của những chiến thắng dẹp thù trong, diệt giặc ngoài Nhân dân khắp nơi tưng bừng hân hoan khi đất nước thống nhất, chấm dứt tình trạng 1 lãnh thổ 3 chính quyền, điều đó

đã truyền cho thơ đi sứ một nguồn cảm hứng mới Cảm

Trang 13

hứng thời kì này tạo nên tinh thần lạc quan dân tộc ở mỗi sứ

thần Sứ thần Ngô Thì Nhậm sáng tác tác phẩm Hoàng hoa

đồ phả là tiêu biểu cho tinh thần ấy Tinh thần lạc quan của

ông thể hiện qua phong thái ung dung, tự tại và cảm xúc tích cực hướng về tương lai.

Phong thái ung dung, tự tại

Tinh thần lạc quan với phong thái ung dung tự tại của sứ thần được gửi gắm qua cảm xúc tích cực, chắc chắn ngay từ khi ông tự xác định con đường phục vụ cho triều đại Tây Sơn, một triều đại được xác lập dựa trên những cuộc đấu tranh của phong trào nông dân Cho nên ngay sau khi thành lập triều đại Tây Sơn, vua Quang Trung và các triều thần đã xây dựng triều đại trên nền tảng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết Các triều thần khi phụng sự cho Tây Sơn đều là những nhà nho có bản lĩnh và khí phách Vua Quang Trung là vị vua anh minh, đi lên từ phong trào đấu tranh của nông dân Trước hết ông thấu hiểu nỗi khổ của dân, thương dân mà giảm thuế cho dân nên hình ảnh vua Quang Trung cuối thế

kỉ XVIII là đức vua của nhân dân lao động, với những chính sách ưu việt thuận lòng dân Ngô Thì Nhậm tin tưởng vào triều đình để tận tâm cống hiến; yêu nước, kính vua để

Trang 14

một lòng trung thành, nên tác giả càng lạc quan tin tưởng vào tương lai của triều đình Tây Sơn.

“ Đãng bình vương, đạo tuân vô trắc,

Trinh cố thần tâm lợi khắc gian Bất dụng lâm kì châm biệt tửu, Chư quân tằng thử cận thiều hoàn.”

(Đạo vương bằng phẳng, noi theo không hề thiên lệch,

Lòng tôi trinh chính, bền vững vượt được khó khăn.

Lúc chia tay chẳng cần rót chén biệt ly,

Nơi đây các bạn đã từng cưỡi xe sứ trở về.) (Quá quan lưu tặng Phan Ngự Sử, Vũ Công Bộ, Ngô

Hiệp Trấn Chư Công)

Phong thái ung dung, tự tại của kẻ làm trai, người đi sứ phải luôn xác định trọng trách của mình là một sứ thần: giữ vững chủ quyền dân tộc, thể hiện lòng tự tôn dân tộc, noi gương các sứ thần – trung thần xưa.

Trang 15

“Tứ phương hồ thỉ thị vi nam, Kiều bộ thiên thê khởi bất kham.

Thắng địa khan hoa xuân cửu thập,

Tu trình phát bộ nguyệt sơ tam.”

(Bốn phương “hồ thỉ” là chí nam nhi,

Ta há không gắng sức bước lên thang mây? Đất danh thắng xem hoa, mùa xuân chín chục, Con đường dài khởi hành vào đầu tháng ba)

(Quá quan lưu tặng Phan Ngự Sử, Vũ Công Bộ, Ngô

Hiệp Trấn Chư Công)

Tác giả có phong thái ung dung tự tại với cái nhìn khỏe khoắn Cho nên ông làm thơ đề tặng danh nhân lịch sử xưa của nước bạn, khẳng định vẻ đẹp của những danh nhân cần lao hi sinh vì dân, vì nước Nhưng sau đấy, ông cũng tỏ tấm lòng trinh chính, tự thề với lòng mình, quyết vượt bao khó khăn hiểm nguy cống hiến sức lực, trí tuệ cho đất nước, triều đình.

“Ngân xà ổn phiếm xuất Ninh Minh,

Trang 16

Đẩu diệu hoàng hoàng chiếu sứ tinh.

Phong phạm Thái, Kiều thiên nhận trĩ, Khâm hoài Giang, Hán bách xuyên thanh”

(Bè bạc thả êm ả, từ Ninh Minh ra đi, Ánh sao Đẩu rực rỡ soi cờ sứ.

Phong thái ông như Thái Sơn, Kiều Mộc cao vút nghìn trượng,

Lòng dạ ông như sông Giang, sông Hán trong suốt trăm sông.)

(Tống Đoản Tống Lý Hiến Kiều hồi Ninh Minh)

Tinh thần lạc quan của tác giả được khắc họa bởi niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước, quê hương Đại Việt Niềm tin đó hòa cùng bản lĩnh và khí phách của một

sứ thần chân chính được khẳng định qua tấm lòng nhu thuận theo tự nhiên, theo hoàn cảnh, lấy mục tiêu đại cục (mục tiêu lớn) làm đầu Đối với sứ thần mục tiêu lớn nhất là cùng triều đình phụng sự cho triều đại, cho nhân dân được hưởng cuộc sống thái bình, no ấm Để làm được điều đó mỗi sứ thần chân chính nói chung, Ngô Thì Nhậm nói

Trang 17

riêng: phải xác định được kim chỉ nam hành động của mình

là phải trung thành với triều đình, tận tụy với công việc, xây dựng đất nước, xây dựng nền tảng chính trị cho triều đại cấp tiến lúc bấy giờ - triều đại Tây Sơn.

“Tâm thủy bàn trung hảo bồng lai,

Hành ngô tố vị sảng ngô hoài.

Quân bất kiến: Quách phần dương trượng trung tín an nghĩa mệnh,

Tuy cô thần tẩu biến bát cực, thùy hà tai.”

(Làm theo phận sự của ta, lòng ta sảng khoái Người chẳng thấy,

Quách Phần Dương giữ gìn trung tín, an tâm với nghĩa và mệnh,

Tuy một thân đi khắp trời đất mà nào có việc

gì đâu!)

(Trường đoản cú ngâm)

Ngô Thì Nhậm muốn khẳng định phong thái ung dung của sứ thần có bản lĩnh và khí phách trên hành trình đi sứ Người sứ thần cần phải luôn luôn giữ khí phách, sự đoàn

Trang 18

kết hòa hiếu Mỗi người sứ thần, kẻ làm quan ăn lộc nước, phải ở cương vị là các triều thần tận trung, tận tụy với công việc.

“Tự lai, tam kỉ cách từ nhan,

Du tử như kim phát dĩ ban.

Thiên lý chỉ kham chiêm nhật nguyệt, Nhất na đắc súc quan san.”

(Từ ấy lại đây đã ba kỉ xa cách từ nhan,

Kẻ du tử đến nay tóc đã lốm đốm.

Ngoài nghìn dặm chỉ có thể ngửa trông nhật nguyệt,

Có một thìa canh khôn dễ rút ngắn quan san.)

(Nam Ninh chu thứ cảm hoài)

Phong thái ung dung, tự tại đó được ông khắc họa sâu sắc, cụ thể cùng hình ảnh người sứ thần ở góc độ đời tư Người sứ thần là khách du tử ra đi vì nghĩa lớn, tóc nay đã pha sương (mái đầu đã bạc) Thân anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất, đã quyết chí thì làm đến cùng

Trang 19

“ Cửu tiêu tuyên chỉ thôi triều sứ,

Mã sậu xa trì chỉ Đẩu tiêu.

Thiên thự tinh thần khai huyến lạn, Địa di nham lĩnh thất thiều nghiêu.”

(Cửu trùng xuống chiếu giục giã sứ giả vào chầu,

Ngựa ruổi xe bon nhắm hướng chuôi sao đẩu, Trời sáng các vì sao chói lọi.

Đất bằng phẳng hết núi non nhấp nhô.)

(Dạ hành)

Tâm hồn luôn hướng tới tương lai

Ngô Thì Nhậm rất tin tưởng vào tương lai Ông cầu mong cho tương lai được tốt lành để trở về Người sứ thần trở về là lúc nhiệm vụ hoàn thành, được trở về với quê hương đất nước, với người thân thương Điều đó là nguồn động lực tiếp thêm sức mạnh cho các sứ thần vượt qua mọi khó khăn gian khó.

“ Tầm giang khâm đái loan ao xứ,

Trang 20

Thanh miếu y thường mộng mị gian.

Cảnh ngưỡng Nhân Phần tùng bách mậu, Thực bằng tiên ấm bảo khang hoàn.”

(Ở trên bến sông, bờ bãi quanh co bao bọc,

Mơ màng như mặc áo xiêm tế lễ nơi thanh miếu.

Trông ngóng Nhân Phần tùng bách tươi tốt, Thực nhờ tiên ấm bảo hộ tốt lành trở về.)

(Nam Ninh chu thứ cảm hoài)

Hướng tới ngày trở về hân hoan vui vẻ như vậy, Ngô Thì nhậm với ý chí của người sứ thần luôn luôn vững chí bền lòng, vượt qua mọi khó khăn thử thách Ông đặt niềm tin vào tương lai

“ Hữu chí nguy trung nãi bất nguy,

Úy đồ thuận hiểm quí thao trì.

Hàn lưu tẩm thạch uyên vô để, Tiễu bích lâm uyên thạch tự chi.

Trang 21

Thập cấp hành nhân tương tiếu ngữ, Thê sào u điểu khước si trì.

Bộ vô tranh tiến gian chung cát,

Hà xứ cao thâm bất thản di.”

(Trong chốn rất nguy hiểm mà lại không nguy, Gặp con đường nguy hiểm cốt ở chỗ giữ mình. Dòng nước lạnh ngấm đá, vực sâu không đáy,

Vách núi cao kề vực, đá trơn như mỡ

Người đi lần bậc, cùng nhau nói cười, Chim đậu trong tổ, lên xuống nhảy nhót

Không tranh nhau bước, thì khó khăn rồi cuối cùngcũng tốt,

Nơi nào dù cao sâu mà chẳng thành bằng phẳng.)

(Bích sơn lộ)

Trang 22

Ông đặt niềm tin vào tương lai, nên tin tưởng vào việc đi sứ sẽthành công, ông khắc họa cảnh thái bình yên ấm Đó cũng chính là

vẻ đẹp trong con người sứ thần Ngô Thì Nhậm Lòng tự tin, kiêuhãnh của ông tạo nên phong thái ung dung, tự tại, tạo nên tinh thầnlạc quan trong các tình huống Ông đi qua vùng cao Việt Tây, thấycảnh thanh bình yên vui, khiến ông xúc động

“Khúc khúc hồi khê điệp thạch kiều,

Thái bình chế độ bất thăng miêu.

Tam biên thú tốt hoạch đao kiếm, Vạn lý hành nhân thông túc tiêu.

Tùng diệp ấm cùng trường bản khách, Mai hoa sáp tận đại đê kiều

Thanh minh thời hội chân nan đắc, Chỉ dục y thường kiến thọ Nghiêu.”

(Khe chạy vòng quanh, cầu đá trùng điệp, Chế độ đời thái bình không thể mô tả hết

Lính thú tam biên không mang đao kiếm,Hành khách muôn dặm đi suốt ngày đêm

Bóng lá cây tùng che mát cả khách trên cầu dài,

Trang 23

Các cô gái ở trên đê lớn đầu dắt đầy hoa mai.

Buổi thanh bình này thật là khó gặp, Muốn thấy vua Nghiêu trường thọ rủ xiêm áo trị vị.)

(Việt Tây thượng lộ)

Người sứ thần có bản lĩnh và khí phách sẽ vượt qua thực tạigian khó để hướng đến tương lai, để phân biệt được đúng sai, thật,giả Để từ đó mỗi người đi sứ nên hành động theo lẽ phải: thươngngười trung nghĩa và lên án kẻ bạc bẽo, lỗi hẹn

“ Ứng Sơn tức nhập Hà Nam giới, Kim, Tống tương tranh thử địa đầu.

Sất mã quân vương an tích nhưỡng, Lục long tướng sĩ thống Thần Châu.

Đới thiên cộng nạp thù nhân vũ, Thỉnh địa đồ lao lãng tử mưu

Vãng sự dĩ tùy nhân vật biến, Thê thê cổ điệp điểu thanh thâu.”

(Qua Ứng Sơn là vào địa giới Hà Nam, Nơi địa đầu này ngày xưa Kim Và Tống tranh giànhnhau

Trang 24

Ông vua “cỗ ngựa” yên thân nơi hẻo lánh, Tướng sĩ Lục Long đau xót đất Thần Châu.

Cùng đội trời chung để chịu sự khinh nhờn của kẻthù,

Xin đất luống chỉ uổng công mưu mô của lãng tử Chuyện cũ đã biến đổi cùng cảnh vật,

Trên bức tường xưa buồn bã chỉ còn tiếng chim kêu.)

( Hà Nam hoài

cổ)

Khi tin tưởng vào tương lai phía trước, người sứ thần sẽ một

lòng trung tín với triều đình, với đức vua Ông xác định trung tín là:

trung với vua, làm việc có uy tín với dân với triều đình, tận trung

báo quốc

“Chi phụng thiên chương xuất Phượng Thành,

Phong quang lịch lịch hướng lai trình.

Hồi đầu bắc địa sơn xuyên tú, Thức mục nam thiên nhật nguyệt minh.

Huyền thỉ hoạch thù nam tử chí.

Huống cung ngưỡng trượng đại quân linh

Trang 25

Thập bằng thượng hựu phù tiên triệu, Chiến ngã qui biền hữu phúc tinh.”

(Kính mang chiếu chỉ nhà vua từ Phượng Thành ra đi, Phong quang trải khắp trên con đường đi trước kia

Ngoái đầu đất Bắc, non sông tươi đẹp,

Nghển mắt trời Nam, nhật nguyệt sáng ngời

“Treo tên” được thỏa chí nam nhi,

“Cho cung” nhớ ơn linh thiêng của quỷ thần

Phúc lộc “thập bằng” được trên ban xuống, hợp với điềmlành trước kia,

Có ngôi sao phúc chiếu rọi con đường về của ta)

(Hồi trình hỷ phú)

Có tin tưởng vào tương lai, sứ thần sẽ làm việc hết mình, kể cảkhi về già, lúc lâm bệnh

“Nô độn niên lai hứa quốc thân,

Trì khu dạ dạ khởi hiềm tần.

Gian trinh phi phạp tân cam tễ, Cát lợi toàn bằng phú dữ quân.

Trang 26

Súc hữu lý thời tu dưỡng chính, Tổn phùng ích xứ tiện hồi xuân.

Tòng lai cứu tật hằng sinh tuệ, Tỗn tiết thanh tu thị bảo chân.”

(Thân hèn này đã hiến dâng cho nước từ bấy nay,Rong ruổi ngày đêm há quản tần phiền

Trong gian nan không thiếu tễ thuốc cay ngọt, Điều tốt lành toàn nhờ trời ban cho

Lúc quẻ “Súc” gặp quẻ “Lý” thì nên giữ đạo chính, Khi quẻ “Tổn” gặp quẻ “Ích” thì xuân liền trở về Xưa nay trong đau khổ thường sinh sáng suốt, Kiêng khem, thanh đạm đó là bài thuốc giữ gìn sứckhỏe.)

( Bệnh

thuật)

Mặc dù khi bị bệnh, ông vẫn phơi phới lạc quan nghĩ về tương

lai Đó là những cảm xúc tích cực mà người đọc thấy được trongthơ Ngô Thì Nhậm So với thơ đi sứ Nguyễn Du Trong bài thơ

“Ngẫu đề”, Nguyễn Du nhận mình là người hay sầu mộng Trên

hành trình đi sứ, Nguyễn Du không phản ánh niềm vui, tinh thần lạc

Trang 27

quan hay niềm tin vào tương lai Cảm xúc của ông luôn đau đớn, tủihờn.

So với các sứ thần cùng thế kỉ như Nguyễn Công Hãng,Nguyễn Huy Oánh, Đoàn Nguyễn Thục ….chủ yếu là những ghichép lịch sử tỉ mỉ những tư liệu thu thập được khi các tác giả đi sứ

“Cấp công tham lộ mỗi huy qua,

Lạ cho ả Hằng Nga cũng hiểu được ý người,

Từ bên trời đẩy ra chiếc xe trăng…)

( Chinh thiều đới nguyệt, Nguyễn

Huy Oánh)

Qua đó ta có thể thấy nổi bật trong thơ Ngô Thì Nhậm là hìnhảnh một sứ thần có lòng kiêu hãnh, lạc quan Khởi nguồn nét đẹptinh thần đó chính là lòng trung tín mà ông dành cho vua QuangTrung, tự hào về đức vua Phong thái ung dung lạc quan, với niềm

tự hào về thời đại mà mình đang sống sẽ chắp cánh cho hồn thơNgô Thì Nhậm bay bổng, thăng hoa

Trang 28

Tinh thần hòa hiếu

Trong các bài thơ đi sứ của Ngô Thì Nhậm, tinh thần hòa hiếuđược thể hiện tập trung chủ yếu qua những vần thơ xướng họa, đềtặng Khi xướng họa tác giả không đơn thuần là nói với chình mình,với độc giả mà đang đối thoại trực tiếp với vua, quan lại, sứ thầnTrung Quốc Khi người sáng tác xướng họa nội dung được truyềntải phong phú Trong kiểu xướng họa này, người đọc xác định đượcngười hỏi - người đáp, người xướng - người họa, giữa chủ - khách;tính chất giao lưu, phô diễn thể hiện rất rõ ràng Khảo sát tập thơchúng tôi thấy có 13 bài thơ xướng họa(13%), trong đó: có 2/13(15,3%) bài cảm tạ, 4/13 (30,7%) bài tặng, 7/13 (53,8%) bài xướnghọa, ứng đối

Trước hết Ngô Thì Nhậm vừa cảm tạ, đề tặng Vũ Công Bộ

-Vũ Huy Tấn, người đã từng hai lần đón ông, dẫn đường cho ông.Tác giả trân trọng phong thái ung dung, thảnh thơi, lối sống giản dịnơi thiền viện của Vũ Công Bộ

“Học quan mang lý yết,

Thiền viện tịch trung huyên.

Tĩnh độ sắc phi sắc, Trần tâm phiên bất phiên.

Tam thừa đắc thường trú,

Tứ đại chân thâm ân.

Trang 29

Tuy vị phùng tăng thoại,

Cố nhân thi tại môn./…”

(Vị học quan thảnh thơi trong bận rộn, Nơi thiền viện huyên náo trong tĩnh mịch

Cõi phật “sắc” mà “không”, Lòng trần “động” mà “bất động”

Được thường chú ở chỗ tam thừa

Thật quả ân sâu của Tứ đại

Tuy chưa gặp sư nói chuyện,

Đã thấy thơ cố nhân trên cửa.)

(Vạn niên am họa “Nhất Thủy” Vũ Công Bộ chỉ

tác).

Ngoài ra, tác giả hành trình đi sứ qua nhà, phủ của những danhnhân lịch sử, hay một vị quan nào đó Ông cảm tác và đề tặng, khicảm hoài trước công lao của những vị quan tiền nhân đó với triềuđình

“Thánh chúa ân vinh tư cực hĩ,

Nguyên thần đức nghiệp định hà như?

Thượng nhân quân tử đề kiên thạch,

Trang 30

Nguyên đán thiên thu hữu giản thư.”

(Ân vinh của thánh chúa như thế là cùng cực,Đức nghiệp bậc nguyên thần phẩm định thế nào? Thượng nhân quân tử đề bài trên bia đá,

Lời phẩm bình nghìn năm đã chép trong sử xanh.)

(Thư cung phó Trần Văn Cung môn biểu)

Có khi, ông thể hiện mối thương cảm những bậc tiền nhân trong lịch sử Trung Quốc bằng việc khẳng định vẻ đẹp ở những bậc tiền nhân này như Giả Nghị, Gia Cát Lượng Họ có lòng trung thành, tận tụy với triều đình mà lại xấu số, thiện phận, không gặp thời

“Đỉnh phân vô lực tranh thương hiệu,

Miếu tự hà tâm ý bích không.

Tùng bách y hi khuynh cái nhật, Hành Dương thu thủy chiếu cô trung.”

(Thế chia chân vạc không đủ sức tranh với trời xanh, Lòng nào còn muốn đền cao vòi vọi nơi vòm biếc.Cây tùng cây bách như phảng phất những ngàynghiêng lọng,

Trang 31

Dòng nước thu ở Hành Dương soi sáng lòng côtrung.)

( Gia Cát vũ hầu

miếu)

Mối giao tình, hòa hiếu đó ở bất cứ đâu, càng được tác giảkhẳng định, ái mộ với những con người tài năng, trung nghĩa

“Đế mộng luân khôi đắc “Mã Lương”,

Trạng nguyên tín tức đích phi thường.

Tính danh nhị tự tiêu kim thạch,

Sự nghiệp thiên thu ký đễ tương.”

(Trong mộng, nhà vua chọn bậc khôi nguyên được

“Mã Lương”

Tiếng đồn Trạng nguyên thật là người phi thường

Họ tên hai chữ nêu trên bảng vàng bia đá

Sự nghiệp nghìn năm ghi vào sử sách.)

(Quá Tống Trạng Nguyên Phùng Kinh cố Trạch).

Mối giao tình, hòa hiếu đó gắn với những câu chuyện lịch sử

mà Ngô Thì Nhậm luôn băn khoăn trong lòng Ông nhắc lại nhữngcâu chuyện xưa cũ để nhắn nhủ với tất cả hãy trân trọng và giữ gìnnền hòa bình, thịnh trị Có thể đó là những địa danh xưa đã từng

Ngày đăng: 16/05/2021, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w