Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng loài của một số kiểu quần xã thực vật rừng, đưa ra các đặc điểm về cấu trúc của một số loài thuộc quần xã để tạo môi trường sống quần xã phù hợp và tính đa dạng của từng loài đối với quần xã thực vật tại Khu BTTN Bát Đại Sơn
Trang 1Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng loài của một số kiểu quần xã thực vật rừng tại Khu
BTTN Bát Đại Sơn
Trang 2Trong những năm qua cùng với công cuộc xây dựng và phát triển xã hội củavùng, việc khai thác rừng bừa bãi, tập quán đốt nương làm rẫy, phương thức sửdụng đất không hợp lý và săn bắt các loài động thực vật của cộng đồng dân cư sốngtrong Khu BTTN Bát Đại Sơn đã và đang làm cho HST rừng bị suy thoái nghiêmtrọng Chính điều đó đã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và ảnh hưởng trực tiếpđến đời sống cộng đồng người dân trong khu vực đó, đặc biệt là sự suy thoái nguồngene các loài động thực vật vv
Sự mất rừng sẽ làm suy giảm tính đa dạng sinh vật & suy giảm nguồnnước, giảm hiệu lực phòng hộ trong mùa mưa, giảm khả năng cung cấp nước tướitrong mùa khô Sự mất rừng còn làm tăng nhiệt độ trong vùng, giảm năng suất cácquần xã và HST
Tính đa dạng loài là trung tâm và là cơ sở nghiên cứu tính đa dạng sinh vật
Do tính khác chất về các nhân tố sinh thái và sự can thiệp của con người ở mức độkhác nhau theo thời gian và không gian mà phát sinh hiện tượng sai khác rõ rệt vềtính đa dạng loài thực vật trong cảnh quan rừng Nắm vững động thái theo thời gian
và không gian của tính đa dạng loài thực vật không chỉ có ý nghĩa lý luận quantrọng đối với việc lý giải sự hình thành và duy trì cơ chế của tính đa dạng loài tạiKBTTN, mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc thực thi các biện pháp bảo tồn vàkinh doanh tính đa dạng thực vật
Hiện nay cũng đã có một số các công trình nghiên cứu về các lĩnh vực như;quản lý bảo vệ và sử dụng các loại tài nguyên như TN động thực vật, TN nước, TNđất v.v…, hiểu quả của QLBV rừng đặc dụng trọng bảo vệ và phát triển lâm sản
Trang 3ngoài gỗ, trong phát triển KT-XH tại khu vực Khu BTTN.Tuy vậy, Nghiên cứu vềkết cấu không gian và tính đa dạng loài của một số quần xã thực vật rừng tại khuvực này là hầu như chưa có.
Cho nên để bổ sung thêm các dự liệu cho khu vực và phần nào giải quyết các
tồn tại đã nêu trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng loài của một số kiểu quần xã thực vật rừng tại Khu BTTN Bát Đại Sơn ”.
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tinh hình nghiên cứu ở trên thế giới.
1.1.1 Nghiên cứu về phân loại quần xã thực vật rừng
(1) Khái niệm về kiểu rừng
“Kiểu rừng là một khu rừng hoặc là một tập hợp các mảnh rừng có đặc điểmchung về điều kiện thực vật rừng (đất và khí hậu), thành phần loài cây, số tầng thứ,
hệ động vật và có cùng yêu cầu các biện pháp kinh doanh như nhau trong các điềukiện kinh tế xã hội giống nhau” V.N Sucasep, 1964
(2) Khái niệm Kiểu thảm thực vật (kiểu rừng-vegetation type) là tập hợp
các cây cỏ lớn đem lại một hình dáng đặc biệt cho cảnh quan, bao gồm những cây
cỏ khác loài nhưng cùng chung một dạng sống ưu thế Nó là những thực thể sinh vậttồn tại khách quan và phổ biến trong tự nhiên Định nghĩa này được thông qua ở Hộinghi quốc tế thực vật học lần thứ VII tại Paris (1957)
(3) Tiến triển nghiên cứu về phân loại rừng
Vấn đề phân loại rừng là một ván đề còn rất nhiều tranh luận, đặc biệt là đốivới rừng nhiệt đới Đối với Quốc gia và khu vực khác nhau sẽ có đối tượng nghiêncứu khác nhau và phương pháp nghiên cứu đối với mỗi quần xã cụ thể cũng khônggiống nhau, nguyên tắc và phương pháp phân loại QXTVR cũng có sự sai kháctương đối lớn, thậm chí trở thành các học phái khác nhau và có thể xuất hiện họcphái rất quan trọng đặc sắc
Các phương pháp phân loại quần xã hiện nay rất nhiều quan điểmkhác nhau và có thể phân thành hai hướng chính:
+ Thứ nhất là ở thời kỳ đầu có các nhà sinh thái học thực vật như ở Nga cóV.N Sucasep (1910,) nước Pháp có Braun – Blanquet (1913), Học giả nước Mỹ F.EClements (1916)… họ đã cho rằng quần xã là một đơn vị tự nhiên, có sẵn biên giới
rõ ràng và giữa các quần xã có vùng đêm, có thể phân chia Vì vậy, có thể dựa vàoloài cây giống nhau để tiến hành phân loại Quan điểm này được gọi là “Lý luận
Trang 5đơn vị quần hợp” (association unit theory) (Ghi chú: Trong vùng đêm có hiệntượng hiệu ứng, nên số loài sẽ nhiều hơn so với các quần xã lân cận, nếu giống bênnào nhiều hơn thì thuộc về quần xã đó)
+ Quan điểm thứ hai là quan điểm cá thể luận (individual theory), Họ chorằng quần xã có tính liên tục, không có biên giới rõ ràng, nó là một tổ hợp các quầnthể khác nhau, mà quần thể là độc lập Họ cho rằng phân loại quần xã ở thời kỳ đầuđều là lựa chọn các ÔTC điển hình có tính đại biểu cho quần xã, nếu như khôngđiển hình thì sẽ phát hiện đa số các quần xã là vùng đêm - trung gian hay ở giaiđoạn quá độ Tình hình gián đoạn không liên tục gần như phát sinh ở sinh cảnhkhông liên tục Thí dụ như sự cải biến về điều kiện địa hình, đá mẹ, thổ nhưỡng; sựcan thiệp của con người; cháy rừng; sâu bệnh động vật gây hại v.v…Còn ở dướiđiều kiện khác thì sinh cảnh và quần xã đều liên tục Ví thế họ cho rằng nên sử dụngphương pháp phân tích thang bậc sinh cảnh, tức là theo thứ tự (ordination) đểnghiên cứu sự biến đổi quần xã, mà không nên sử dụng phương pháp phân loại.(Kiểu như vẽ bản đồ đất trên thực địa)
Thực tế chứng minh, sự tồn tại của QXTVR có tính hai mặt: Một là có tínhliên tục, mặt khác là có tính gián đoạn- tính không liên tục,.Tuy nhiên phương phápnghiên cứu biến đổi dần theo thang bậc (tuần tự) thích hợp đối với quần xã có tínhliên tục; Còn phân loại thì thích hợp đối với quần xã có tính gián đoạn rõ ràng,nhưng nếu như kết quả của phương pháp tuần tự tạo thành một số điểm tập trung thìcũng có thể đạt đến mục đích phân loại; Đồng thời, nếu như phân loại trùng lặp,cũng có thể phản ảnh tính liên tục của quần xã Vì vậy 2 phương pháp của hai quanđiểm trên gần giống nhau, đều có thể phản ảnh tính liên tục và tính gián đoạn củaquần xã, chỉ là nghiêng về 1 phía nào đó, nếu như kết hợp sử dụng cả hai phươngpháp trên thì hiệu quả sẽ càng tốt hơn
Công tác phân loại quần xã có thể phân chia theo điều kiện tự nhiên và theocon người, Trong nghiên cứu sinh thái học thì phân loại theo điều kiện tự nhiên,Trong hệ thống phân loại tự nhiên có nhiều học giả, họ phân loại trên cơ sở khácnhau, có người lấy tổ thành khu hệ thực vật làm cơ sở phân loại, có người lấy ngoại
Trang 6mạo sinh thái làm cơ sở, cũng có người dựa vào đặc trưng động thái làm cơ sở,nhưng họ đều không không theo 1 hệ thông phân loại nào cả, họ đều phải dựa vàođặc trưng của bản thân quần xã thực vật để làm căn cứ phân loại, và họ cũng rất chú
ý đến quan hệ sinh thái của quần xã, bởi vì phân loại theo đặc trưng của bản thânđối tượng nghiên cứu so với các phân loại khác nó càng có tính tự nhiên hơn
Từ những năm 30 của thế kỷ 20 Ramenssky đã đề xuất khái niệm về thứ tựsắp xếp và đã phát triển thành 1 loại phương pháp sắp xếp trật tự đơn giản Đến saunhững năm 50 phương pháp này đã trở thành phương pháp sắp xếp đa dạng phổbiến và phạm vi áp dụng rộng rãi hơn trong nghiên cứu thực bì, như phương phápbình quân gia quyền, phương pháp phân tích trực tiếp, phương pháp bình quântương hỗ v.v
Theo Schmitthusen (1959), ở châu Âu có hệ thống phân loại thảmthực vật chủ yếu là hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun – Blanquet(1928), được thực hiện chủ yếu bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp
và hệ thống phân loại các quần thể thực vật được thực hiện bởi những nhà địa thựcvật của Đức (ghi theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [ 26 ]
Ở Phần Lan, Caiande A.K chủ trương phân loại rừng dựa vào thựcvật thảm tươi Ông cho rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi khôngchỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thànhloài cây gỗ của lâm phần Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tínhđồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vậtrừng Tuy thế, điều này đã không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năngchỉ thị nhưng không có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kịên lập địa Ngoài racác yếu tố bên ngoài như: lửa rừng, khai thác… cũng ảnh hưởng lên thảm tươi (ghitheo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [12 ]
Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax)của Colleman Phân loại theo Climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quátrình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hìnhthành từ lâu Khí hậu là nhân tố để xác định Climax Ngoài khái niệm Climax, các
Trang 7nhà lâm học Hoa kỳ còn đưa ra khái nịêm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực,
đa đỉnh cực (ghi theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [ 29 ]
Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng (1978), có lẽ Schimper (1918)
là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới (ghi theoThái Văn Trừng 1978) [ 14 ] Trong hệ thống này Schimper đã phân chia thảm thựcvật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi Trong quần hệkhí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: Rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừnggai; ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là: Thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới
Rubel, Ilinski, Burt, Aubréville chỉ căn cứ vào độ tán che trên mặtđất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành: Rừng thưa
và trảng chuông (ghi theo Thái Văn Trừng 1978) [15 ]
Schmithusen (1959), thảm thực vật trái đất được chia thành 9 lớpquần hệ là: Lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ sa- van và đồng cỏ,lớp quần hệ đồng cỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ thực vật sống 1 năm, lớp quần hệhoang mạc, lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quần hệ thực vật biển (ghitheo Thái Văn Trừng 1978) [ 15 ]
Gần đây, các nhà sinh thái và địa thực vật Đức đã phân chia thảm thựcvật thành 16 kiểu quần hệ: Rừng mưa nhiệt đới, rừng mưa Á nhiệt đới, rừng mưalạnh ôn đới, rừng xanh mưa mùa, rừng lá rộng xanh mùa hè, rừng lá kim rộng ônđới, kiểu quần hệ cây gỗ có gai, kiểu cây gỗ có lá rộng, kiểu thảo nguyên rừng, kiểutrảng cỏ nhiệt đới, kiểu thảo nguyên ôn đới, kiểu đầm lầy, kiểu hoang mạc nóng vàkiểu hoang mạc khô lạnh (ghi theo Thái Văn Trừng 1978) [ 2 ]
UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thếgiới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ 1:2.000.000 Đây là khung phân loại hiện nay được sử dụng phổ biến phục vụ chocông tác bảo tồn trên toàn thế giới và đã được Phan Kế Lộc (1985), Nguyễn NghĩaThìn (1997, 2004, 2005) áp dụng (ghi theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005)
Năm 1980 Hill và Gauch đã đề xuất phương phá phân tích đối ứng xuthế (Detrended Correspondence Analysis, DCA), đây là do phương pháp bình quân
Trang 8tương hỗ (reciprocal averaging, RA) chỉnh sửa mà thành Có thể dùng DCA để phântích hôi qui, kết hợp ứng dụng phương pháp phân tích tương quan, đồng thời nó làphương pháp thông dụng hơn làm cho phương pháp DCA được áp dụng nhiều hơntrong nghiên cứu sinh thái rừng Phương pháp phân loại theo số lượng thực bì là 1loại phương pháp phân loại được ứng dụng trong phạm vi rộng, Bao gồm phươngpháp phân tích mối quan hệ và phân tích thông tin Sự phát triển của nó cùng với sựphát triển của máy vi tính, phương pháp phân tích đa nguyên, phương pháp cá thểgần nhất, phương pháp hình tròn, phương pháp tổ bình quân v.v Trong đó họ chorằng phương pháp tổ bình quân được coi là phương pháp mãn nguyện nhất
Năm 1975 Hill và các tác giả khác đã phân tích một số loại chỉ tiêu và hìnhthành phương pháp phân tích chỉ thị hai chiều gọi là phương pháp TWINSPAN, nó
là cơ sở lý luận để phân loại thực vật Kết quả phân loại cho thấy phù hợp với quiluật phân bố tự nhiên của thực bì rừng, đồng thời nó có trình tự thông dụng củaquốc tế Vì vậy mà nó đã trở thành phương pháp phân tích đa nguyên thông dụngnhất hiện nay Những năm gần đây vừa xuất hiện 1 số phương pháp phân loại mới,Nhưng phương pháp TWINSPAN vẫn gữi được địa vị chính trong phân loại thực bì
1.1.2 Về hệ thực vật.
Việc nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới đã có từ lâu, tuy nhiên nhữngcông trình nghiên cứu có giá trị lại chủ yếu xuất hiện vào thế kỷ XIX – XX như:Thực vật trí HongKong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật trí rừngTây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật trí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thựcvật trí Miến Điện (1877), Thực vật trí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật trí HảiNam (1972 – 1977), Thực vật trí Vân Nam (1977)
Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳnghiên cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachop A.I cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên mộtdiện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không
có sự phân hoá mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể Tolmachop đã đưa ramột nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là
Trang 91500 – 2000 loài.
Các nhà sinh vật học Nga tập chung các nghiên cứu vào việc xác địnhdiện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê được đầy đủ nhất số loài của từng hệthực vật cụ thể Việc xác định diện tích biểu hiện gồm các giai đoạn sau:
1 Kiểm kê số loài trên diện tích hạn chế nhất định
2 Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên đểthấy mức độ tăng số lượng loài
3 Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểuhiện tối thiểu
1.1.3 Tiến triển nghiên cứu về cấu trúc rừng
* Về cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Sự phong phú của hệ thực vật rừng mưa nhiệt đới được nhiều nhà khoa học ghinhận Theo Schimper (1935) ở rừng Bắc Mỹ, trên diện tích 0,5 ha có đến 25 ÷ 30 loàicây gỗ lớn; Brown (1941) cũng cho biết ở rừng mưa châu Âu hoặc Bắc Mỹ trongtrường hợp cực đoan, rừng có thể bao gồm 20 ÷ 25 loài cây gỗ
Theo Richards P.W (1952) trong rừng mưa nhiệt đới trong mỗi hecta không cómấy khi ít hơn 40 loài cây gỗ lớn, mà có trường hợp còn đến trên 100 loài Nhiều loàicây gỗ lớn sinh trưởng hỗn hợp với nhau theo tỷ lệ khá bằng nhau, nhưng cũng có khichỉ có một hoặc hai loài chiếm ưu thế
Ở châu Á, trong rừng thứ sinh nhiệt đới vùng Shanxin - Trung Quốc, Zeng
và cộng sự (1998) đã thống kê khoảng 280 loài cây dược liệu, 80 loài cây có dầu và
20 loài cây có sợi cũng như một số loài cây gỗ có giá trị khác (dẫn theo Zaizhi Z)
* Nghiên cứu về tổ thành lớp cây tái sinh rừng
Theo quan điểm của các nhà lâm học, hiệu quả của tái sinh rừng được xácđịnh bởi mật độ, tổ thành loài cây, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Vai tròcủa tái sinh rừng hết sức quan trọng, nó quyết định sự tồn tại của thảm thực vật, táisinh rừng là tiền đề cho quá trình diễn thế rừng đảm bảo rừng luôn trong kiểu vận
Trang 10động Do vậy có thể nói những nghiên cứu về tái sinh rừng đã góp phần làm sáng tỏcác quy luật tồn tại và phát triển của rừng cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít đượcnghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉtập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến
đổi Van steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa
nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của cácloài cây ưa sáng
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy tầng cây và tầngcây bụi qua quá trình sinh trưởng, thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ ảnhhưởng đến cây tái sinh Những lâm phần thưa bị khai thác nhiều, tạo ra nhiềukhoảng trống lớn, tạo điều kiện cho cây bụi, thảm tươi phát triển mạnh Trong điềukiện đó chúng là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của các cây táisinh Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng cây bụi thảm tươi phát triểnchậm tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn lên (Xannikow 1967; Vipper 1973) ( dẫntheo Nguyễn Văn Thêm (1992) ) (3)
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấymẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích ô đo đếm thôngthường từ 1 đến 4 m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng sốlượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm sai sốtrong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp
"điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giaiđoạn phát triển của cây tái sinh ở các kiểu rừng khác nhau (7)
1.1.4 Nghiên cứu về tính đa dạng loài trong các qxtv rừng
Loài là do cơ thể sinh vật tiến hóa mà thành, do nó chiếm được 1 không giannhất định, quần thể loài có sẵn số lượng cá thể nhất định trong thực tế hoặc bị thay đổikhi cách ly
Tính đa dạng loài là hình thức biểu hiện của tính đa dạng sinh vật chung, nó là
Trang 11độ lượng về tính phức tạp của cấu trúc và chức năng quần xã, no bao gồm có mấy hàm
ý như sau:
Tính đa dạng loài của 1 khu vực địa lý nhất định là tính đa dạng loài nghiên cứutrong phạm vi khu vực đó; Là tổng số loài trong khu vực, chủ yếu theo góc độ phânloại học, hệ thống học và địa lý học đối với việc nghiên cứu tình hình loài động, thựcvật trong 1 khu vực Cũng còn được gọi là tính đa dạng loài khu vực
Tính đa dạng loài động thực vật của quần xã - Là nghiên cứu cấu trúc theo chiềunằm ngang - theo góc độ sinh thái học; Ở đây chú trọng ý nghĩa sinh thái học của tính
đa dạng loài; Là chỉ trình độ đồng đều về sự phân bố các loài trên phương diện sinhthái học Thường được nghiên cứu trên một bộ phận diện tích của quần xã hoặc trêncác OTC, ôdb Tính đa dạng loài cũng còn được gọi là tính đa dạng sinh thái hoặc tính
đa dạng quần xã
Từ năm 1943, Wilianms đã đề xuất khái niệm về “Tính đa dạng loài vật“ vàFisher đề xuất khái niệm về chỉ số tính đa dạng loài, cho đến nay cũng đã không ngừngđược hoàn thiện thêm về phương pháp xác định tính đa dạng loài của quần xã Đối vớiphương pháp xác định không chỉ có phương pháp Magurran - được đánh giá là tươngđối tỷ mỉ và chính xác, mà còn có phương pháp của Whitaker - Xác định tính đa dạngloài của quần xã hoặc tính đa dạng HST,; Theo ông ta thì nên phân ra tính đa dạng α-,tính đa dạng β- , tính đa dạng γ và các chỉ số của nó
Tính đa dạng loài của 1 hệ tiến hóa hoặc của 1 không gian tiến hóa nhất định, từgóc độ diễn hóa của sinh vật để xem xét thì qui luật biến hóa về tính đa dạng loài cũngtùy theo thời gian và không gian khác nhau mà có sự biến hóa không giống nhau,không chỉ bản thân loài vật, mà còn có cả nguồn gốc, sự phát triển, quá trình thoái hóa
và tiêu vong chính là qui luật diễn hóa của một chỉnh thể tính đa dạng loài vật và nócũng có đặc thù riêng
Xác định các chỉ số tính đa dạng loài sinh vật cũng tùy theo tính chất mà có thểphân thành 4 loại chỉ số sau:
Chỉ số độ phong phú loài
Chỉ số tính đa dạng loài
Trang 12Chỉ số độ đồng đều
Chỉ số độ phong phú loài chủ yếu là xác định mức độ phong phú về loài sinh vậtđược biển hiện về mặt số lượng loài vật trong một phạm vi không gian nhất định.Thường sử dung có các chỉ số như: Chỉ số Patrick, Chỉ số Margalef và Chỉ sốMenhinick
Chỉ số tính đa dạng loài sẽ là hàm số của sự kết hợp giữa độ nhiều loài và độphong phú loài sinh vật mà thành Trong đó thường sử dụng Chỉ số Shannon- Weinerr,Chỉ số Simpson và chỉ số Pielou
Chỉ số độ đồng đều loài là sự kết hợp giữa độ phong phú và độ đồng đều màthành một lượng thông kê đơn nhất Số loài trong quần xã nghiên cứu và tổng số cá thể,khi số lượng cá thể bình quân của các loài, quần xã có sẵn tính đa dạng cao nhất - cựcđại Chỉ số độ đồng đều thường được dùng là: Chỉ số Hurlrrt, chỉ số pielou E1, chỉ sốSheldon E2, chỏ số Heip E3, chỉ số Hill E4 và chỉ số Hill E5) Trong đó có chỉ sốPielous và chỉ số Âlatalo là ứng dụng có hiệu quả tương đối tốt (theo Alatalo) Chỉ số
độ ưu thế sinh thái là do ứng dụng kết hợp với chỉ số khác mà thành, có người sử dụngbằng cách so sánh tương đối
Hiện nay vấn đề ĐDSH và bảo tồn ĐDSH đã trở thành một chiến lược toàncầu, có nhiều tổ chức ra đời để giúp đỡ, hướng dẫn và tổ chức đánh giá, bảo tồn, pháttriển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới: Hiệp hội tổ chức Quốc tế bảo vệthiên nhiên (IUCN), chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP), Quỹ bảo tồn vàbảo vệ thiên nhiên (WWF)…Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của chúng ta phụ thuộcvào tài nguyên của trái đất, nếu nguồn tài nguyên đó giảm sút thì cuộc sống của nhânloại sẽ bị đe doạ Để tránh hiểm họa đó chúng ta phải tôn trọng tài nguyên của trái đất,mọi sự phát triển đều phải theo hướng phát triển bền vững Theo hội nghị thưởng đỉnhbàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh học tổ chức tại Rio de Janerio (Brazil -1992), 150 nước đã ký công ước về đa dạng và bảo vệ chúng Năm 1990 WWF đã xuấtbản quấn sách nói về tầm quan trọng của ĐDSH, IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiếnlược bảo tồn thế giới…tất cả các quấn sách đó đều nhằm hướng dẫn và đề ra cácphương pháp bảo tồn ĐDSH, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và nền tảng trong
Trang 13tương lai (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn).
Ở vùng nhiệt đới, có lẽ Schimper (1918) là người đầu tiên đưa ra hệthống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Trong hệ thống này Schimper đã phânchia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi.Trong quần hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: Rừng thưa, rừng gió mùa,rừng trảng, rừng gai; ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là: Thảo nguyên nhiệt đới vàhoang mạc nhiệt đới (theo Thái Văn Trừng)
Rubel, Ilinski, Burt, Aubreville chỉ căn cứ vào độ tán che trên mặtđất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành: Rừng thưa
và trảng chuông (dẫn theo Thái Văn Trừng 1978)
Theo WWF(1989), đã định nghĩa về ĐDSH: “Đa dạng sinh học là sựphồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật,
là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùngtồn tại trong môi trường”
Việc nghiên cứu các hệ thực vật và thảm thực vật trên thế giới với nhiều
bộ thực vật chí của các nước đã hoàn thành, những công trình nghiên cứu có giá trịxuất hiện vào đầu thế kỷ XIX - XX như: Thực vật chí Hồng Kông (1981); Thực vật chíAustralia (1866); Thực vật chí Ấn Độ (1872-1897); Thực vật chí Miễn Điện (1877);Thực vật chí Malayxia (1892-1925) Đây là những đóng góp quan trọng để đánh giátính đa dạng sinh học của hệ thực vật trên thế giới
Bên cạnh đó có nhiều công trình khoa học khác nhau ra đời và hàngngàn cuộc hội thảo được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp luận vàthông báo các kết quả đã đạt được ở khắp nơi trên toàn thế giới
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
1.2.1 Nghiên cứu về phân loại rừng
Vấn đề phân loại rừng Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ 20 đã được nhiềutác giả Việt Nam và nước ngoài nghiên cứu (A.Chevalie, 1918; P.Maurand, 1943,1953; B Rôlét, Lý Văn Hội và Neang Sam Oil, 1952; Dương Hàm My (Trung Quốc)
Trang 141956; J Vidal, 1958; B Rôlét, 1960; Thái Văn Trừng, 1960, 1963, 1964, 1970; M.Schmid, 1962; Trần Ngũ Phương, 1970, ) Trong các hệ thống phân loại nói trên, hệthống Thái Văn Trừng đang được chú ý vì những nguyên tắc, đơn vị và tiêu chuẩnphân loại được nêu lên với những căn cứ rõ ràng, khoa học và được thừa nhận rộng rãi.
* Phương pháp phân loại rừng tự nhiên hỗn giao của Thái Văn Trừng
[1970,1978]
Căn cứ vào những tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật rừng củaGS.TSKH.Thái Văn Trừng (1978) ⌠14⌡ để phân chia kiểu rừng tự nhiên hỗn giaotại khu vực nghiên cứu:
a Đơn vị phân loại: Dựa theo phương pháp của Thái Văn Trừng, tức là
dùng “Thảm thực vật’’ làm đơn vị phân loại Kiểu thảm thực vật (kiểu rừng) là tập
hợp các cây cỏ lớn đem lại một hình dáng đặc biệt cho cảnh quan bao gồm những
cây cỏ khác loài nhưng cùng chung một dạng sống ưu thế Nó là những thực thể
sinh vật tồn tại khách quan và phổ biến trong tự nhiên
Trong một kiểu thảm thực vật, do tổ thành loài cây khác nhau sẽ xuấthiện các Phức hợp (xã hợp) thực vật khác nhau
Tuỳ theo mức độ ưu thế của các loài trong quần xá mà hình thành nênquần hợp thực vật; ưu hợp thực vật và phức hợp thực vật
Tại các vùng nhiệt đới khác, ở rừng hỗn giao tự nhiên không thấy xuất hiệnquần hợp và ưu hợp thực vật, mà chỉ thấy xuất hiện các phức hợp thực vật khácnhau, tức là loài ưu thế không rõ rệt
b.Căn cứ phân loại:
- Dựa vào 5 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh thảm thực vật rừng
- Dựa vào 4 tiêu chuẩn là: Dạng sống, độ tàn che, hình thái lá & trạng mùa
- Dựa vào các đặc trưng QXTVR để tiến hành phân loại thực bì rừng:
1- Tổ thành loài thực vật của QXTVR
2- Ngoại mạo và cấu trúc của QXTVR
Trang 153- Đặc trưng địa lý sinh thái.
4- Đặc trưng động thái diễn thế của QXTVR
Giữa các đặc trưng này có liên hệ mật thiết và có quan hệ tương quanvới các đặc trưng môi trường của quần xã Vì vậy, nguyên tắc lấy đặc trưng tổnghợp của QXTV làm cơ sở, đồng thời đã chú ý đến quan hệ sinh thái của quần xã đểtiến hành phân loại họp lý
Căn cứ vào nguyên tắc trên để phân loại QXTVR thành hệ thống 3 cấp vịsau:
Cấp 1 - Cấp cao: Kiểu thảm thực bì rừng - Kiểu rừng (Vegetation).Cấp 2 - Cấp trung: Kiểu phụ rừng (Subvegetation)
Cấp 3 - Cấp cơ bản: Phức hợp (hay xã hợp) - Association)
1 Kiểu rừng- Là đơn vị phân loại cấp cao trong hệ thống phân loại của Thái
Văn Trừng: Là liên hợp những quần xã thực vật có dạng sống của nhóm loài lập
quần (hay nhóm loài ưu thế) giống nhau, mà chúng có quan hệ sinh thái thống nhấtvới điều kiện nhiệt ẩm, như “Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núitháp”, “Rừng kín lá rộng rụng lá mưa mùa nhiệt đới núi trung bình” Kiểu rừng cókết cấu, tính chất sinh thái và có quá trình phát sinh và phát triển giống nhau Do đó
mà nó có sẵn quá trinh trao đổi năng lượng và vật chất giống nhau
2 Kiểu phụ (vegetation Subtype): Là đơn vị Cấp trung: Là trong kiểu rừng
có sự khác nhau về kết cấu tầng phiến ưu thế hoặc tầng phiến chỉ thị, Sự khác nhau
về tổ thành loài cây ưu thế, nó là do sự khác nhau về đá mẹ thổ nhưỡng, địa hình,
về mức độ tác động dẫn đến hình thành các kiểu phụ, như kiểu phụ thổ nhưỡnghoặc kiểu phụ nhân tác
Nhưng nếu căn cứ vào kết cấu quần xã thì có thể thấy rừng ở khu vực này là
Rừng hỗn giao nhiều loài cây, tổ thành loài tương đối phức tạp, loài ưu thế không rõràng, tức là còn tồn tại các xã hợp hay phức hợp trong các kiểu phụ Cho nên chúngtôi thấy cần thiết phải phân chia thêm các cấp vị phân loại nhỏ hơn để tiện cho việc
bảo tồn – Đó là các phức hợp
3 Phức hợp hay xã hợp - Cấp thấp, là đơn vị cơ bản của hệ thống phân loại
Trang 16rừng Là trong mỗi kiểu phụ có sự khác nhau về nhóm loài cây ưu thế.
1.2.2 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
1.2.2.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam trên quan điểm hệ sinhthái, Thái Văn Trừng (1963, 1978, 1999)⌠14⌡ đã dựa trên số lượng và sinh khối nhómloài ưu thế trong rừng nhiệt đới ẩm Việt Nam để phân tích các “ưu hợp” và “phứchợp” Nhóm loài ưu thế trong các ưu hợp đề nghị không quá 10 loài, tỷ lệ cá thể củamỗi loài ưu thế chiếm 5 % và tổng số cá thể của 10 loài ưu thế đó phải chiếm 40 ÷ 50
% tổng số cá thể cây của các tầng lập quần trong quần thể trên đơn vị diện tích điều tra.Trường hợp độ ưu thế của các loài cây không rõ ràng gọi là các phức hợp (9)
Trong rừng tự nhiên hỗn loài ở Việt Nam, hiếm khi chỉ có một loài ưuthế duy nhất tạo thành các quần hợp như vùng ôn đới Theo Nguyễn Hồng Quân(1982), trong rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng, trên diện tích một ha có khoảng 60 loài,nhưng các loài có tổ thành lớn nhất cũng không vượt quá 10% Nguyễn Văn Tương(1983), cho rằng trong rừng tự nhiên hỗn loài, chỉ tính loài cây gỗ từ kiểu sào trở lêncũng có đến ba bốn chục loài trên một ha, nhưng trong đó loài cây gỗ lớn có thể vươnđến chiều cao 30 m chỉ từ 10÷20 % Nguyễn Ngọc Lung (1991), qua điều tra các dạngrừng khí hậu ở Hương Sơn, Kon Hà Nừng và một số địa phương khác, cũng cho biếttrên ô tiêu chuẩn diện tích một ha thường có từ 23÷ 25 loài, với số cây thấp nhất cũngđạt 317 cây và cao nhất đến 859 cây trên một ha
1.2.2.2 Về cấu trúc tổ thành cây tái sinh rừng
Thái Văn Trừng (1963, 1978) đã nêu hai cách TSTN của các xã hợpthực vật rừng nhiệt đới nguyên sinh hay thứ sinh là tái sinh liên tục dưới tán kín rậmcủa những loài chịu bóng và tái sinh theo vệt để hàn gắn các lỗ trống đầu tiên với cácloài cây tiên phong Qua đó tác giả cũng khẳng định ánh sáng là nhân tố sinh thái đãkhống chế và điều khiển quá trình TSTN
Về ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng đến quá trình tái sinh, theo NguyễnHồng Quân (1984) do những cây có đường kính 12 ÷ 30 cm với chiều cao khoảng 11 ÷
20 m, tạo nên tầng tán chính của rừng, tầng này không bị tác động qua khai thác, gây
Trang 17nên sự ứ đọng tán, không cho ánh sáng lọt xuống gây ảnh hưởng đến tái sinh của loàicây ưa sáng.
Theo Vũ Tiến Hinh (1991) trong rừng tự nhiên thứ sinh hỗn loài kháctuổi ở lâm trường Hoành Bồ - Quảng Ninh, cây rừng tái sinh liên tục và càng ở tuổinhỏ số cây càng nhiều; hệ số tổ thành của tầng tái sinh và tầng cây cao có mối liên hệchặt chẽ Vũ Văn Nhâm (1992) qua nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên ở vùng ĐôngBắc thấy rằng trên các lâm phần có diễn thế rừng ổn định, hệ số tổ thành tầng cây cao
và tầng cây tái sinh thống nhất, còn ở lâm phần có diễn thế không ổn định thì có sự saikhác rõ rệt
Nguyễn Vạn Thường (1991) đã tổng kết và đưa ra kết luận về tình hình tái sinh
tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái sinh dưới tánrừng của những loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ Sự phân bốcây tái sinh rất không đồng đều, số cây mạ chiếm ưu thế rõ rệt so với số cây ở cấp tuổikhác
Trần Ngũ Phương (1970) khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lárộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khaithác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hìnhthành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó pháttriển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên nhữngdạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khíhậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”
1.2.2.3 Về tính đa dạng thực vật rừng
1 Về thảm thực vật.
Thảm thực vật (Vegetation) là lớp phủ trên toàn bộ bề mặt trái đất (mặt đất,trong nước) hay một điểm cụ thể nào đó với nhiều quần thể khác nhau Mỗi quầnthể thực vật có hình dạng, cấu trúc, thành phần, ranh giới, trạng mùa, động thái,vùng phân bố,…khác nhau Thảm thực vật thường được chia thành các kiểu chính
và kiểu phụ thảm thực vật