1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm NGHỆ THUẬT của tác PHẨM HOÀNG HOA đồ PHẢ

42 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 56,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các phương diện nổi bật trong hình thức nghệ thuật tập thơ đi sứ Hoàng hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm: thời gian và không gi

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM HOÀNG

HOA ĐỒ PHẢ

Thời gian và không gian nghệ thuật

Nội dung và nghệ thuật là yếu tố cơ bản của một văn bản nghệ thuật Chúng là hai mặt của một vấn đề Nội dung

và nghệ thuật có mối quan hệ biện chứng với nhau Nội dung nhờ nghệ thuật để diễn đạt, để bộc lộ Ngược lại nghệ thuật được nội dung khẳng định để làm sáng tỏ Không có nội dung nghệ thuật nào nằm ngoài hình thức Mỗi tác phẩm văn học, hình thức nghệ thuật bộc lộ rõ nhất nội dung,

là phương tiện cấu thành nội dung và làm nên giá trị độc đáo của một tác phẩm văn học

Với khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các phương diện nổi bật trong hình thức nghệ

thuật tập thơ đi sứ Hoàng hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm:

thời gian và không gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu.

Đó cũng là những nét chính để giúp người đọc hiểu được bút pháp, phong cách của Ngô Thì Nhậm.

Thời gian nghệ thuật

Trang 2

Thời gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của chủ thể sáng tác, thông qua đó tác giả gửi gắm ý tình, tâm trạng của mình Sản phẩm đó thể hiện qua các yếu tố mang thời gian,

sự tổ chức thời gian và các hình thức thời gian Nghiên cứu

thời gian trong tập Hoàng hoa đồ phả chúng tôi thấy tác giả

chủ yếu sử dụng dòng thời gian hiện tại, thời gian quá khứ, thời gian sinh hoạt, với nhịp độ thời gian qua nhanh.

Trước hết, thời gian hiện tại luôn xuất hiện song hành trong mỗi hình ảnh thơ Trong tập thơ của tác giả, dòng thời gian hiện tại đã khắc họa được cảnh vật thiên nhiên và cảnh vật cuộc sống thực tại, bộc lộ hết những khó khăn gian nan của đoàn đi sứ phải vượt qua Thời gian hiện tại gắn với không gian núi non đó gắn với sự xuất hiện trập trùng những dãy núi hiểm trở như thử thách người đi sứ, hay như

để thử lòng trung, nghị lực người hành nhân ở những nơi như núi Hùng Bi.

“Trấn thú hùng bi ma tử phủ, Nhân gia kê khuyển bạn ngân hồng.

Đăng cao phú tựu tam canh nguyệt, Khước tiếu thôi xao tả bất công.”

(Đồn thú hùng bi sát với cõi tiên,

Trang 3

Nhà dân gà chó liền với cầu vồng.

Lên cao lúc trăng canh ba làm xong bài thơ, Lại cười mình giũa gọt mãi mà vẫn không tả nổi cảnh đẹp.)

(Dạ độ Hùng Bi lĩnh)

Thời gian hiện tại được trần thuật lại gắn chủ yếu vào dòng thời gian theo ngày Ở tiểu loại thời gian này với các tác giả khác của giai đoạn văn học trung đại chủ yếu là dòng thời gian gắn với tâm trạng, những tâm sự buồn Còn trong thơ Ngô Thì Nhậm thì lại đặc biệt nổi bật bởi dòng thời gian hiện tại trần thuật gắn với cảnh lao động của nhân dân, cảnh làng quê, cảnh con người sinh hoạt với làn khói bếp đầm ấm, với tiếng nói cười vô tư, sảng khoái của nhân dân các dân tộc Nùng, Choang của một số địa danh

“Nhân đồ nông xá kình ngư vĩ, Ngân điểm thôn trang sáp mã tông.

Xứ kiệu xuyền lai tương chỉ cố, Hoa hân thủ điểm ngữ nan thông.”

(Chái nhà nông trát bùn đất chìa ra hình đuôi cá,

Trang 4

Cô gái quê cài trâm bạc trên búi tóc hình bờm ngựa.

Kiệu sứ đến, các cô chỉ trỏ cho nhau, Vui mừng gật đầu chào, nhưng nói không hiểu.)

(Côn Lôn đạo)

So với dòng thời gian hiện tại trên hành trình đi sứ trong thơ Nguyễn Du là dòng thời gian gợi lên tâm trạng buồn bởi cảnh chia ly của đôi lứa Còn dòng thời gian hiện tại trên hành trình trong thơ Ngô Thì Nhậm là dòng thời gian được trần thuật với tâm thế tự hào, lạc quan Ngô Thì Nhậm hướng về tương lai, lạc quan và tin tưởng vào nền hòa bình mà hai dân tộc đang xây dựng, giữ gìn.

“Tấn, Sở tranh hành kỳ cục tán, Tống, Nguyên thắng phụ tửu bôi lan.

Kim phùng bất bế vi công nhật, Vạn lý hành nhân tự phản hoàn.”

(Tấn, Sở tranh giành nhau, cuộc cờ nay đã tàn, Tống Nguyên được thua như chén rượu cạn rồi.

Trang 5

Nay gặp thuở thiên hạ là của công, cổng không cần đóng.

Người đi đường muôn dặm tự do đi lại.)

(Vũ Thắng Quan)

Ngoài ra, thời gian quá khứ cũng được ông nhắc đến cùng với những câu chuyện lịch sử và nhân vật lịch sử đã qua, gắn với tâm sự về sự thay đổi sơn hà, sự hưng phế, thịnh suy của xã hội.

“Trần giới tam thiên thử nhất thiên,

Phong sa đáo xứ loạn vân yên.

Thiều thiều lãng đạo nghi xa chiến, Mạc mạc bình nguyên khả tỉnh điền.

Lưu, Thạch huân chưng thành khoáng hoãn, Liêu, Kim xâm nhiễm quán tinh chiên.

Kỷ đa danh lý đề kiên thạch, Cực mục thê lương khái cổ hiền.”

(Ba nghìn thế giới, cõi trần đây là một nghìn, Đến đâu gió cát cũng mù mịt như mây khói Đường phẳng, xa tít tắp thích hợp với chiến trận bằng xe,

Trang 6

Đồng bằng, rộng mênh mông có thể làm “tỉnh điền”.

Họ Lưu, họ Thạch un đúc thành thói hung dữ, Nước Liêu, nước Kim tiêm nhiễm nên tục tanh hôi.

Biết bao làng nổi tiếng còn đề trên bia đá, Đầy mắt cảnh thê lương, khiến cảm nghĩ đến người hiền xưa!)

(Hà Bắc đạo trung)

Dòng thời gian quá khứ này cùng gắn với lịch sử loài người, xã hội, phủ nhận những gì trái với đạo lý, trái với lẽ luân thường Đồng thời, tác giả cũng như khẳng định giá trị bất biến của đạo lý con người và lịch sử là cuộc sống tự do, hòa bình, người sống với người cần phải yêu thương, thân thiện, quý mến nhau.

So với dòng thời gian quá khứ trong thơ Đoàn Nguyễn

Tuấn ở bài Quá Nhị Hà, quan bắc binh cố lũy là dòng thời

gian quá khứ với những hoài niệm, mang đầy sát khí

(Sát khí xông ra từ vạn bếp,

Nay trơ lũy đổ ở bên sông.

Cỏ cây sống lại hương thơm ngát,

Trang 7

Binh lửa gây nên khổ mấy trùng)

(dịch thơ:Miễn Trai)

Dòng thời gian quá khứ trong thơ Ngô Thì Nhậm là dòng thời gian phủ định chiến tranh, gắn với niềm tự hào, ngợi ca cảnh thái bình tự do

Tập thơ Hoàng hoa đồ phả, dòng thời gian hiện tại và

dòng thời gian sinh hoạt theo hành trình người đi sứ được khắc họa hòa cùng với không gian qua từng địa danh Trong

đó thời gian sinh hoạt trên đường đi được tác giả khắc họa

rõ nét nhất, theo từng cung đường, từng địa danh, mỗi dòng thời gian sinh hoạt đó như đan quyện với không gian địa danh, như đường Lạc Dung, đường Côn Lôn, đường từ Tương Âm, đường Ba Lăng… Dòng thời gian sinh hoạt trên các chặng hành trình, sứ trình này tác giả vịnh cảnh, tỏ lòng

Trang 8

“Xà tẩu kim bàn sơn khuất khúc, Thiền liên ngọc xích thủy huyền thằng.

Tùng lâm ám ảnh sổ thanh địch, Trúc ổ hoàng hôn kỷ điểm đăng.

Nhiệt nhãn thị thành liêu khách cửu,

Di tình thặng hỉ ngọc hồ băng.”

(Núi khuất khúc như rắn lượn trên mâm đồng, Nước cheo leo như ve bám vào thước ngọc Vài tiếng sáo văng vẳng dưới bóng rợp trong rừng tùng,

Mấy ngọn đèn thấp thoáng lúc hoàng hôn trong lũy trúc.

Cảnh náo nhiệt chốn thị thành quấy rầy khách

đã lâu.

Hãy còn mừng là lòng như một mảnh băng trong bầu ngọc.)

(Ba Lăng đạo trung)

Tác giả khắc họa dòng thời gian sinh hoạt đó, là dòng thời gian sinh hoạt cá nhân, từ các ngôi nhà hai bên đường

đi, lầu đài nơi bến sông…

Trang 9

“Nam Ninh tục hiệu “Tiểu Nam Kinh”

(Nam Ninh kí kiến)

Bên cạnh đó, Ngô Thì Nhậm khắc họa dòng thời gian sinh hoạt chi tiết ở từng giấc ngủ, bữa ăn của sứ thần.

“Khẩn hành thụy, thụy thù mang,

Trang 10

Ngọc lậu vị ương thôi xuyết chúc, Kim chinh cập cán cận truyền xan.”

(Ăn trong lúc đi vội, ăn càng khó ăn, Đêm ngày giong ruổi không dám trễ nải.

Đồng hồ chưa cạn, đêm đã giục ăn cháo, Tiếng chiêng điểm, xế bóng mới báo ăn cơm.)

(Khẩn hành thực nan)

Ở tiểu loại thời gian này, ta thấy tác giả khắc họa với nhịp độ thời gian nhanh theo từng hành động, là dòng thời gian ngắn, gấp Điều đó minh chứng cho chính bản thân người đi sứ là người một lòng với công việc, say mê công việc, dốc lòng, dốc sức vì công việc mà có thể quên đi những tình cảm riêng cá nhân, hay sự hưởng thụ những thú vui bình thường như đánh cờ, uống rượu….Trong giấc ngủ cũng trăn trở lo âu

Như vậy trong tập thơ của tác giả, thông qua các tiểu loại thời gian: thời gian hiện tại, thời gian quá khứ, thời gian sinh hoạt, cho thấy vẻ đẹp tài năng, nội tâm và cách nhìn cuộc sống của Ngô Thì Nhậm Dòng thời gian nghệ

thuật này trong tập thơ Hoàng hoa đồ phả ta bắt gặp ở đó

Trang 11

một con người tự tin, kiêu hãnh, tiếp nhận dòng thời gian theo hướng tích cực

Không gian nghệ thuật

Song hành với thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật cũng là yếu tố nghệ thuật mang đậm dấu ấn chủ quan của người sáng tác Yếu tố không gian nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm có khả năng bộc lộ rất rõ tâm trạng nhân vật trữ tình Trong mỗi tác phẩm, không gian nghệ thuật sẽ phản ánh nội tâm của tác giả về vũ trụ, con người, mối quan hệ đa chiều của con người với thiên nhiên vạn vật Trong thơ đi sứ của Ngô Thì Nhậm hình tượng không gian mang tính biểu trưng và thể hiện quan niệm chủ quan của tác giả về thế giới, lịch sử đổi thay, cuộc sống con người trên lãnh thổ Trung Quốc Qua các tác phẩm trong tập

Hoàng hoa đồ phả, chúng tôi thấy có nhiều loại hình không

gian: loại hình không gian vũ trụ; không gian sinh hoạt; loại hình không gian xa lạ; loại hình không gian làm việc; loại hình không gian điểm; không gian tuyến Với phạm vi của

đề tài, chúng tôi tập trung vào không gian vũ trụ và không gian sinh hoạt làm hai hướng chính để khai thác Từ đó làm nổi bật phần nào vẻ đẹp về nghệ thuật thơ đi sứ Ngô Thì Nhậm.

Trang 12

Với không gian vũ trụ, tác giả tái hiện qua một số hình ảnh nổi bật như bầu trời, đường đi, núi non, sông hồ, cửa ải, lầu miếu… Tỉ lệ xuất hiện của không gian vũ trụ trong thơ ông, cụ thể là: Không gian núi non xuất hiện 10 lần (10%); không gian đường đi 22 lần (22%); không gian quan ải 5 lần (5%); không gian bến sông 10 lần (10%); không gian phủ, miếu 13 lần (13%); không gian trạm dịch 1 lần (1%); không gian siêu thoát 1 lần (1%) Hình ảnh núi non, sông,

hồ, ghềnh núi, cửa ải trong sự miêu tả của Ngô Thì Nhậm là những hình ảnh không gian cheo leo, nguy hiểm, trập trùng Nhưng đó đều là không gian khoáng đạt, sống động, ấm áp

và tràn đầy sức sống mà tác giả khẳng định ý chí, lòng kiên định của kẻ đi sứ, sự sáng tạo độc đáo, khác lạ so với nhiều tác giả cùng thời

Với không gian vũ trụ, tác giả tự cảm thấy mình như một khách thể trong vũ trụ, nhìn mình từ bên ngoài mà tự ý thức được bản thân Cho nên không gian vũ trụ trong thơ Ngô Thì Nhậm được khắc họa tỉ mỉ đến từng chi tiết, từng hình ảnh: chỉ riêng không gian trên đường được khắc họa chi tiết theo từng địa danh: Lạng Sơn, Tân Ninh, Nam Ninh, Lai Tân , Quế Lâm….; từng hình ảnh: biên ải, núi, đường,

Trang 13

bến, sông… Mỗi hình ảnh không gian đều chất chứa một

ý tình, một tâm trạng của ông.

Trong thơ Ngô Thì Nhậm, không gian vũ trụ liên tục có

sự thay đổi theo từng địa danh trên đường sứ trình, mật độ không gian địa danh (92 lượt - 92%) được trần thuật dày đặc Mỗi bài thơ của tác giả có không gian địa danh riêng qua từng tỉnh thành, từng phủ miếu trên đường đi, từng cửa

ải, từng ngọn núi, từng con sông, từng bến Các hình ảnh không gian núi, sông, đường, bến, trạm, đền, phủ, miếu được tác giả miêu tả theo từng diễn tiến hành trình hàng ngày Sự đan xen đó đem lại cho thơ đi sứ Ngô Thì Nhậm chiều sâu và độ cao, sự rộng lớn của không gian Đây cũng

là những sáng tạo độc đáo của Ngô Thì Nhậm thể hiện cái nhìn vui tươi về cuộc đời, cái nhìn đa chiều về nhân sinh cuộc sống

Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, xuất hiện hình ảnh không gian bến sông, không gian quan ải, nhưng những không gian này đều là không gian của kẻ tha hương, đó là một không gian rợn ngợp đáng sợ lấn át cả chủ thể nhân vật trữ tình Trong thơ Ngô Thì Nhậm, lại chủ yếu xuất hiện hình ảnh đường trình với núi non, sông hồ với những khó khăn thử thách ý chí người đi sứ

Trang 14

Ở tập thơ Hoàng hoa đồ phả, chúng tôi thấy không gian

vũ trụ, không gian đời thường xuất hiện cũng ngang bằng

như nhau Không gian đời thường được tác giả sử dụng cụ thể, chi tiết và có những nét đặc biệt Nét đặc biệt đó xuất hiện cả trong không gian nhỏ nhất như: giấc ngủ, bữa ăn thường ngày của người đi sứ Đó là những hình ảnh không gian quen thuộc, dung dị thể hiện rõ được nếp sinh hoạt đời thường với sự tận tụy của con người công việc, sự vất vả gian nan khi đi sứ Đó là hình ảnh không gian hiếm gặp trong thơ trung đại khi viết về sinh hoạt đời tư Nó minh chứng cho tâm hồn lạc quan, đặt niềm tin rất lớn vào triều đình Tây Sơn, vào những điểm ưu việt của chế độ ở hai đất nước Đại Việt và Trung Quốc.

Trong tập thơ này của Ngô Thì Nhậm, không gian đời thường xuất hiện nhiều với không gian thôn quê Nơi thôn quê đều là những nơi yên bình, có những con người hiếu khách với những sinh hoạt đời tư rất gần gũi thân thương.

“Ngũ lý huyền nhai thập lý đường,

Thôn lư thác lạc ẩn tùng hoàng.

Mộ xuân mật thụ văn đề điểu,

Cổ độ hàn ky kiến ký phường.

Trang 15

Đấu trạo hô đoàn nhiêu Ngạn, Lý, Mại sài hoán mễ bán Nùng, Choang.

Lệ giang thủy cấp thừa lan khoái, Nghi thị Ngân xà phiếm đẩu quang.”

(Năm dặm đường đèo, mười dặm đường đê, Nhà thôn thấp thoáng ẩn trong bụi tre.

Cuối xuân cây rậm rạp, nghe lũ chim kêu, Bến xưa ghềnh vắng vẻ, thấy đàn cá úi.

Đua nhau hô chèo đò, tiếng Ngạn, tiếng Lý, Chợ đổi chác gạo củi, người Nùng, người Choang,

Sông Lệ nước chảy xiết, thuyền cưỡi sóng lướt nhanh.

Ngỡ là bè trên dòng Ngân dưới ánh sao Đẩu.)

(Lệ Giang nhàn vịnh)

Không gian trong thơ Ngô Thì Nhậm có nét riêng so với không gian văn học trung đại nói chung Với tác giả

không có sự đối lập tiểu loại không gian cố hương và không

gian tha hương, mà hai dạng không gian này đều có mối

quan hệ gần gũi Cả hai loại không gian không có sự phân

Trang 16

biệt mà đều thứ tự lớp lang theo từng vùng, miền mà đoàn

sứ đi qua, đều là không gian yên bình với nếp sinh hoạt giản

dị

Bên cạnh đó, tiểu loại không gian tuyến gắn với những

con người, nhân vật lịch sử cũng được phản ánh trong tác phẩm Tiểu loại không gian này gắn với không gian phủ miếu, cùng với tên tuổi, chức vị những con người của lịch

sử Trung Quốc Bên cạnh đó không gian tuyến được phản ánh qua tiểu loại không gian lịch sử, gắn với những con người lịch sử Trung Quốc mà tác giả coi như những người bạn hiền: Lý Hiến Kiều; có những con người của lịch sử Trung Quốc để lại tiếng thơm muôn đời khiến cho tác giả ái

mộ như vua Nghiêu, vua Thuấn, Nhạc Phi, Âu Dương Tu.

Có thể khẳng định rằng những hình ảnh không gian

trong tập thơ đi sứ Hoàng hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm,

đã phản ánh rất rõ tư tưởng của thi nhân về nhân sinh thế

sự Khắc họa không gian vũ trụ như núi non, sông hồ, thành

ải, tác giả luôn ở tâm thế minh chứng cho lòng trung thành,

ý chí sắt son với triều đình, nhân dân; lòng tự hào, kiêu hãnh về dân tộc Từ đó con người tác giả trong không gian

vũ trụ như sánh ngang tầm với thiên nhiên, giao hòa với thiên nhiên Từ đó chúng tôi thấy thơ đi sứ Ngô Thì Nhậm

Trang 17

mang một vẻ đẹp giản dị mà có chiều sâu, có nét độc đáo riêng bộc lộ một nội lực sống mãnh liệt kiên cường Cho dù không gian sinh hoạt thay đổi thường xuyên qua mỗi địa danh khác nhau, nhưng tác giả đều bộc lộ một niềm tự hào,

tự tin, lạc quan Ông nhìn cuộc đời, thế sự bằng niềm tự tin,

mê say Cho nên không gian trong những bức tranh đời sống của tác giả rất sống động, mang nhiều màu sắc thế sự phản ánh rất rõ hiện thực cuộc sống, nét văn hóa riêng của từng vùng, từng dân tộc của Trung Quốc lúc bấy giờ Ở không gian nghệ thuật đó phản ánh rõ nét vẻ đẹp của tâm hồn nhà thơ: một tâm hồn tự tin kiêu hãnh, yêu đời Tâm hồn thơ và cảm xúc của ông được gắn với niềm tin vào triều đại Tây Sơn, vào lòng tự hào dân tộc.

Thể thơ

Chúng tôi thống kê trong tổng số 99 tác phẩm của tập

Hoàng Hoa Đồ Phả có 85 tác phẩm thuộc thể thất ngôn bát

cú, chiếm 85%; 5 tác phẩm thuộc thể ngũ ngôn, chiếm 5%; thể phú có 3 tác phẩm, chiếm 3%; thể từ 2 tác phẩm, chiếm 2%; thất ngôn cổ có 1 tác phẩm, chiếm 1%; thể thơ dài có 1 tác phẩm, chiếm 1%; thể khúc ngâm 1 tác phẩm, chiếm 1%; thể văn xuôi 1 tác phẩm, chiếm 1%

Trang 18

Thểphú

Thểtừ

Thấtngôncổ

Vănxuôi

Thơdài

Số

lượn

g bài

Từ bảng thống kê trên ta có thể thấy: tác phẩm Hoàng hoa đồ

phả được tác giả sáng tác chủ yếu là thơ thất ngôn bát cú, thể thơ

này chiếm ưu thế vì nó được coi là thể sử dụng tính chất ước lệ, làthể thơ hoàn chỉnh và mang tính đại diện cho mô hình nghệ thuật

Thể thất ngôn bát cú

Thơ thất ngôn bát cú (mỗi bài thơ có 8 câu thơ, mỗi dòng thơ

có 7 chữ) là thể thơ chiếm số lượng nhiều nhất trong toàn tập

Hoàng hoa đồ phả, chiếm tỉ lệ 85% Đây là thể thơ được coi là hoàn

chỉnh và mang tính đại diện cho mô hình nghệ thuật của Đường thi,

về mặt hình thức thể thơ này được tác giả vận dụng chặt chẽ vềniêm, luật, vần, đối Tác giả sử dụng thể thơ này trong quá trìnhhướng tới biểu đạt: trình bày, bàn luận, khẳng định và kết luận bằngnhững nhận thức, suy tư của bản thân mình Khi vận dụng thể loạinày, chủ yếu vận dụng trong hành trình đi sứ để biểu đạt những chủ

đề, những cảm hứng khác nhau khi sử dụng thể thất ngôn bát cú:viết về thiên nhiên, về lịch sử, với cảm hứng ngợi ca khẳng định vẻđẹp cảnh thiên nhiên Ngô Thì Nhậm khẳng định vẻ đẹp của nhữngcon người trung nghĩa, của đất nước Trung Quốc Đặc biệt trong thểthơ thất ngôn bát cú mà tác giả vận dụng ở tập Hoàng Hoa Đồ Phả

là lối họa vận, dùng chủ yếu ở những bài thơ xướng họa

Trang 19

Ngô Thì Nhậm sáng tác các tác phẩm thơ, văn không chỉ vớihình thức bộc lộ cảm xúc Đằng sau hình thức đó là những bài học

về đấu tranh khẳng định giá trị của hòa bình, độc lập, nhân dân sốngcuộc sống ấm no, hạnh phúc Thông qua những hình thức dùng chữ,dùng điển, dùng những câu chuyện lịch sử, tác giả thể hiện nội tâm,

ý muốn kết giao tình bằng hữu, tình bang giao giữa hai nước

Trong những tác phẩm thơ đi sứ của tác giả, thể thơ thất ngônbát cú đã tạo ra sợi dây gắn kết giữa những sứ thần Các bài xướnghọa mà ông đề tặng không chỉ phải đáp ứng theo những qui địnhchặt chẽ về niêm, luật, vần mà về nội dung cần phải tuân thủ theonhững yêu cầu: hoặc là đồng tình hay phản đối tư tưởng được đề ra

ở bài xướng, nằm trong chủ đề bài xướng đã nêu Hình thức của thểthơ: phải tuân thủ đúng những từ cuối cùng ở các dòng 1,2,4,6,8theo đúng thứ tự từ trên xuống hoặc ngược từ dưới lên, không đượcđảo lộn trật tự các chữ, đồng thời cũng có thể có những hình thứcxướng họa khác nữa; có loại chỉ cần gieo vần và không bắt buộcdùng chữ y hệt; có loại chỉ cần xướng họa theo ý nghĩa chứ khôngtheo cách gieo vần Tác giả sáng tác các bài thơ xướng họa, ứng đốiđều phải sáng tác theo lối trực tiếp dựa vào hoàn cảnh thời gian,không gian, sự việc, con người, thế sự để ứng khẩu thành thơ

Từ thực tế gian nan của kẻ đi sứ, Ngô Thì Nhậm đã vận dụngthể thất ngôn bát cú với niêm, luật, vần, đối chặt chẽ họa lại theo

các vần đã định Cả hai bài thơ Khẩn hành thụy nan và khẩn hành

thực nan của tác giả đều có sự đăng đối hài hòa giữa các câu thơ và

giữa phần vần trong toàn bộ bài thơ: Câu 3 và 4 đối; câu 5 và 6 đối;

Trang 20

câu 2 và 6 giống nhau về thanh điệu; câu 4 khác về thanh điệu vớicâu 2 và câu 6.

Tác giả đã vận dụng khéo léo uyển chuyển không có sự khiêncưỡng, gò ép hay ngôn ngữ sáo ngữ vốn có mà xuyên suốt cả 85 bài

thơ thể bát cú của cả tập thơ Hoàng hoa đồ phả được thể hiện một

cách nhuần nhuyễn đan xen các nội dung: phong thái tự tin, kiêuhãnh, tinh thần hòa hiếu giữa Đại Việt và Trung Quốc, cảm hứng vềthiên nhiên, con người, đất nước Trung Quốc

Về đối, trong thể thất ngôn bát cú hai câu thực và hai câu luận

đối nhau cả về ý và thanh điệu Qua bài Qua Yển Thành Ức Nhạc

Vũ Mục, hai câu thực đối nhau về ý và thanh điệu.

Gian/ tặc/ tự/ tòng/ thù/ quốc/ đáo

B/ T/ T/ B/ B/ T/ T

Hôn/ quân/ thực/ phạ/ trưởng/ công/ hồi

B/ B/ T/ T/ T/ B/ B Thi nhân đã sử dụng khéo léo tài tình nghệ thuật thể loại thơthất ngôn bát cú để truyền tải cảm xúc Điều đó cũng khẳng địnhphong cách, bản lĩnh trong sáng tác của tác giả

Thể ngũ ngôn

Trong tập Hoàng Hoa Đồ Phả, Ngô Thì Nhậm sáng tác 5 tác

phẩm thuộc thể loại ngũ ngôn Cả 5 tác phẩm này của ông đều

thuộc thể: Hoán vận/ tràng thiên/ ngũ ngôn, khi hoán vận câu đầu

có thể gieo vận hay không gieo vận Bài “Hoản nhĩ ngâm”, từ

“thành” cuối câu 1 không gieo vận, nhưng bắt đầu từ từ “khẩu” cuối

Trang 21

câu 2 gieo vận cho đến các từ “Sấu, cấu, hậu, hậu, tấu, mậu, nhân,

lậu, tâm, hậu…” 20 vần của cả bài đã được tác giả sử dụng đầy đủ,

khéo léo, trang nhã Tác giả trước là vịnh cảnh thiên nhiên TrungQuốc, sau là khẳng định vẻ đẹp riêng của văn hóa từng miền, từngvùng

“Thu thủy tối trừng ngưng

Thu sơn diệc thanh sấu Trường không vô vân yên.”

Hay như:

“Kê noãn bình phấn ngoa

Nam nữ tam nhất mậu

Di, Hạ âm dương phân, Thử ngôn thái thiển lâu.”

Những câu đầu của bài, tác giả chủ yếu sử dụng vần “âu” để

gieo vần, khắc họa cảnh thiên nhiên Trung Quốc với thời gian sáng,tối của mùa thu (Thời gian lịch sử) chi phối cùng không gian địadanh (Nam Ninh, bến Tam Giang); không gian sông, núi; chiếm 3/4

số câu (30 câu còn lại) Trong tổng số 5 bài thuộc thể ngũ ngôn, có

4 bài vịnh cảnh thiên nhiên Trung Quốc (Hoản nhĩ ngâm; Tiêu

tương tình phiếm; Vạn niên am họa “nhất thủy” Vũ Công bộ chi tác; Hàm đan ký du) Còn 01 bài hướng mượn triết lí thiền học

“Hàm Ninh đãi dịch vãn” Có điểm đặc biệt là 4/5 tác phẩm của tác

giả thuộc thể thơ ngũ ngôn, mang nét chung về nội dung, đó là tínhhoài sử và một tâm trạng man mác buồn Điều đó cho thấy, cảnh xứ

Ngày đăng: 16/05/2021, 17:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w