1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bí ẩn Lục thập hoa giáp - Thời Hùng Vương: Phần 2

52 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp nội dung của phần 1 Tài liệu Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp, phần 2 giới thiệu tới người đọc các kiến thức: Lạc thư hoa giáp lý giải những vấn đề liên quan, niên đại tồn tại và cương vực nước Văn Lang dưới thời Hùng Vương. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 2

Như vậy qua hai đồ hình trên thì Lạc thư hoa giáp khác Lục thập hoa giáp ở sự đổi vị trí của hai hành Thủy và Hỏa Nhưng chính sự

đổi chỗ này đã tạo nên những khác nhau căn bản:

Kết cấu của đồ hình Lạc thư hoa giáp hợp lý và phù hợp theo

những nguyên tắc đã trình bày còn Lục thập hoa giáp không phản ánhmột qui luật nào Xin bạn đọc so sánh những điểm căn bản sau đây:

A) Mỗi giai đoạn 6 năm trong Lạc thư hoa giáp tức là một nửa

chu kỳ 12 năm Địa cầu cho một vòng sao Thái Tuế (Sao Mộc) quayquanh mặt Trời Chu kỳ sao Thái Tuế 12 năm được phân Âm Dương(tức là thay đổi tính chất), mỗi phần là 6 năm Điều này cũng giải thíchtại sao năm còn gọi là Tuế Đúng với nguyên tắc đã được lý giải ởtrên:

1) Từ Giáp Tý (Ngọ) đến Kỷ Tỵ (Hợi), 6 năm: Vận khí khắc

Thiên can, ứng với câu: “Bính hợp Tân hóa Thủy” và câu “Nhất lục cộng tông” (Giáp – 1; Kỷ – 6).

2) Từ Canh Ngọ (Tý) đến Ất Hợi (Tỵ), 6 năm: Vận khí sinh

Thiên can, ứng với câu: “Mậu hợp Quí hóa Hỏa” và câu “Nhị Thất đồng đạo” (Canh – 7; Ất – 2).

3) Từ Bính Tý (Ngọ) đến Tân Tỵ (Hợi), 6 năm: Vận khí hòa

Thiên can, ứng với câu: “Ất hợp Canh hóa Kim” và câu “Tam bát vi bằng” (Bính – 3; Tân – 8).

4) Từ Nhâm Ngọ (Tý) đến Đinh Hợi (Tỵ), 6 năm: Thiên can

dưỡng vận khí, ứng với câu: “Đinh hợp Nhâm hóa Mộc”và câu “Tứ Cửu vi hữu” (Nhâm – 9; Đinh – 4).

5) Từ Mậu Dần (Thân) đến Quí Mùi (Sửu), 6 năm: Thiên can

khắc vận khí, ứng với câu: “Giáp hợp Kỷ hóa Thổ” và câu “Ngũ thập đồng đồ” (Mậu – 5; Quí – 10).

Thí dụ:

Trong giai đoạn 1, tất cả Thiên can từ Giáp đến Kỷ thì vận khíđều khắc Thiên can Như: Kim khắc Giáp – Ất (Mộc); Thủy khắcBính Đinh (Hỏa); Mộc khắc Mậu Kỷ (Thổ) Phù hợp với câu “NhấtLục cộng tông”, nghĩa là: 1 – 6 cùng họ (Đồng tính với 2, 3, 4, 5).Chứng minh tương tự ở các trường hợp khác đã chú thích trên hình

Trang 3

Ngược lại trong Lục thập hoa giáp không thể hiện điều này.

B) Trong Lạc thư hoa giáp nguyên tắc “Cách bát sinh tử”û phù

hợp với một chu kỳ liên tục Thí dụ:

Nếu chúng ta bắt đầu từ Giáp Tý (Dương: Hải trung Kim – Kimsinh) đếm qua 8 năm đến Nhâm Thân (Dương: Kiếm phong Kim –Kim vượng); đếm qua 8 năm đến Canh Thìn (Dương: Bạch lạp Kim –Kim mộ) kết thúc chu kỳ sinh vượng mộ của hành Kim; đếm tiếp 8năm sau đến Mậu Tý (Dương: Trường lưu Thuỷ – Thuỷ Vượng Thuỷlà con do Kim sinh) … Cứ như thế tuần hoàn liên tục theo lý Ngũ hànhtương sinh

Ngược lại ở Lục thập hoa giáp, nguyên tắc này không thực hiệnđược

C) Trong Lạc thư hoa giáp tất cả các vận khí trong một giai

đoạn 6 năm (gồm 3 hành) đều theo lý tương sinh (lý tương sinh của Hàđồ) Thí dụ: ở giai đoạn 1 – Kim (năm Giáp Ất) sinh Thủy (năm BínhĐinh), Thủy sinh Mộc (năm Mậu Kỷ)

Trong Lục thập hoa giáp, lý tương sinh này không thể hiện được

vì mỗi giai đoạn đều có ít nhất một hành Thủy hoặc Hỏa ở vị trí sailệch

D) Trong Lạc thư hoa giáp ở cuối từng giai đoạn 6 năm, tức là

một nửa chu kỳ năm của sao Thái Tuế quay quanh mặt Trời; hay nóimột cách khác là: sự thay đổi tính chất tương tác Âm (hoặc Dương)của sao Thái Tuế (sao Mộc) với trái Đất, thì hành của năm cuối giaiđoạn trước bao giờ cũng khắc hành của năm đầu giai đoạn sau (lýtương khắc của Lạc thư)

Ngược lại trong Lục thập hoa giáp, qui luật này không thực hiệnđược với tính tuần hoàn theo chu kỳ liên tục (Thực ra, trong Lục thậphoa giáp không thể chia ra Ngũ vận Sự phân chia này chỉ để so sánh

với Lạc thư hoa giáp)

C) Trong hai đồ hình Lạc thư hoa giáp và Lục thập hoa giáp

Trang 4

bắt đầu từ hành Kim Đó cũng là lý tương sinh cho vận khí mỗi giai

đoạn trong Lạc thư hoa giáp.

Việc sửa đổi lại vị trí hai hành Thủy và Hỏa theo đồ hình của

Lạc thư hoa giáp, dẫn đến một vấn đề cần giải quyết: đó là tên gọi của

hành Thủy và Hỏa trong một Hoa giáp.Tên gọi của hai hành này có ba

giai đoạn của hai kỷ (60 năm) của Lục thập hoa giáp diễn đạt như sau:

Trên nguyên tắc nào người xưa đã đặt chu kỳ diễn biến của cáchành trong 60 năm như vậy? Người viết trong quá trình sưu tầm, tìmhiểu để thực hiện cuốn sách này đã được sự chỉ giáo của cụ Lê Gia –học giả, tác giả của nhiều bộ sách nghiên cứu về ngôn ngữ dân gian

Trang 5

ĐỒ HÌNH MIÊU TẢ SỰ THAY ĐỔI HÀNH THỦY SANG HỎA

Kỷ thứ I - Dương Kỷ thứ II - Âm

Quý Tỵ Tích Lịch HỏaLửa sấm sét Mậu NgọKỷ Mùi Đại Hải ThủyNước biển lớn

kỳ phát sinh, phát triển và hủy diệt của sự vật, sự việc Như vậy, têngọi của từng giai đoạn của hành chia làm hai chu kỳ nằm trong hai kỷ,mỗi chu kỳ ba giai đoạn là phản ánh nguyên tắc trên Xin được minhhọa rõ hơn 3 giai đoạn Sinh – Vượng – Mộ của hành Thủy trong Kỷthứ I :

Giai đoạn 1: Nước sương mù – Giản hạ Thủy – Thủy mới sinh.Giai đoạn 2: Nước trong suối – Tuyền trung Thủy – Thủy đangvượng

Giai đoạn 3: Nước sông dài – Trường lưu Thủy – Thủy bắt đầusuy

Mỗi giai đoạn cách nhau 8 năm trong Lạc thư hoa giáp (Cách

bát sinh tử) theo lý vận hành tương sinh của Hà đồ như đã trình bày ởtrên Khi diễn biến qua đủ 3 giai đoạn Sinh – Vượng – Mộ của mộthành khí thì “hành” tiếp theo là do “hành” trước sinh ra theo lý tươngsinh (con của “hành” trước) Bởi vậy, chúng ta chỉ việc đổi chỗ tên gọicủa hành Thủy và Hỏa tương đương theo hai bảng nói trên, nhằm địnhrõ hiện trạng của hành khí xuất hiện từng năm

Từ đó, ta có một bảng nạp âm Ngũ hành (tức vận khí diễn biến

từng năm) trong Lạc thư hoa giáp như sau:

Trang 6

LẠC THƯ HOA GIÁP - KỶ THỨ I

Trang 7

Giáp Ngọ Ất Mùi Bính Thân Đinh Dậu Mậu Tuất

Trang 8

Như vậy, với sự lý giải những tiền đề ở trên, người viết đã trìnhbày với bạn đọc một đồ hình hoàn chỉnh về vận khí của Ngũ hành vận

động trong Lạc thư hoa giáp Bạn đọc sẽ thấy một sự tương quan hợp

lý theo thuyết Âm Dương Ngũ hành Qua biểu đồ hình vuông của Lạcthư hoa giáp thể hiện đầy đủ lý sinh khắc của hành khí từng năm:

@ Nếu tính chéo từ trái sang phải và từ dưới lên là sự tươngkhắc của hành khí

@ Nếu tính chéo từ trái sang phải và từ trên xuống là chu kỳSinh, Vượng, Mộ của từng hành khí

@ Nếu tính thẳng từ dưới lên và từ trái qua phải, ta sẽ có lýtương sinh của Ngũ hành

Do đó, chỉ cần nhìn vào bảng trên bạn đọc sẽ nắm được lý sinhkhắc của hành thể hiện ở vận khí từng năm Cụ thể như: Dương liễuMộc khắc Thành đầu Thổ; Trường lưu Thủy khắc Sơn đầu Hỏa; hoặcTrường lưu Thủy dưỡng Tòng Bá Mộc và Dương liễu Mộc v.v… Trongbảng Lục thập hoa giáp, lý sinh khắc của hành khí phải học thuộc lòngvà không lý giải được

Tính chính xác của Lạc thư hoa giáp cần được chứng nghiệmtrên thực tế ứng dụng còn tồn tại của thuyết Âm Dương Ngũ hành như

y lý, lịch số…

Tuy nhiên, sẽ rất khiên cưỡng nếu cho rằng sự tương quan hợp lý của nguyên tắc nạp âm Âm Dương Ngũ hành trong Lạc thư hoa giáp chỉ là sự ngẫu nhiên trùng hợp do suy lý chủ quan Bởi vì với nhiều tiền đề bí ẩn đã tồn tại một cách rời rạc với thời gian hơn 2000 năm, không thể có một sự suy diễn chủ quan nào lại có thể tạo ra tính hợp lý trên tất cả những cái rời rạc có từ 2000 năm nay; nếu như nó không phải là một thực tế đã tồn tại.

Trang 9

PHẦN IV

LẠC THƯ HOA GIÁP LÝ GIẢI

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

SỰ LIÊN QUAN HÀNH CỦA CỤC SỐ TRONG TỬ VI VÀ VẬN KHÍ THEO LẠC THƯ HOA GIÁP

Sự thay đổi về hành trong vận khí hàng năm của một Hoa Giápsẽ dẫn đến việc thay đổi rất nhiều những vấn đề liên quan trong mọilĩnh vực thuộc phạm trù của thuyết Âm Dương Ngũ hành Sở dĩ từtrước đến nay sự sai lệch của hành Thủy và hành Hỏa khó nhận biếtvì:

@ Đây là hai hành tương khắc nhau cho nên khi đổi chỗ chonhau, chúng vẫn không thay đổi tính chất trong sự liên hệ tương quan

@ Trong sự liên hệ tương quan với các hành khác trong Ngũhành có nét gần giống nhau Thí dụ: Thủy sinh Mộc; nay đổi lại thìMộc lại sinh Hỏa

Đây cũng là một sự bí ẩn lớn nhất cho những vấn đề liên quanđến sự tương quan của Ngũ hành, tạo ra những sai lệch không lý giảiđược Việc đổi hành Thủy ra hành Hỏa sẽ dẫn đến sự hiệu chỉnh hàngloạt những môn cổ học Đông phương thuộc phạm trù của thuyết ÂmDương Ngũ hành Chúng ta bắt đầu từ khoa Tử vi

Hành của Cục trong khoa Tử Vi Đẩu Số.

Theo sách “Nguyên lý thời sinh học phương Đông” (Nxb Văn

hoá Thông tin 1996) của giáo sư Lê Văn Sửu và căn cứ theo Tử vi đẩu số phổ biến ở Việt Nam hiện nay, thì tương quan hành và độ số Cục

theo bảng trang sau

Trang 11

Hành của Cục trong lá số Tử vi liên quan đến vị trí của cungMệnh trong 12 cung của lá số Mười hai cung của lá số Tử vi được gọitheo tên Địa chi từ Tí đến Hợi Vị trí cung Mệnh đóng ở cung có tênĐịa chi nào thì hành của Cục chính là hành của tháng theo Địa chitrong năm sinh của Mệnh số đó Thí dụ:

Tuổi Kỷ Sửu, mệnh đóng ở cung Tỵ Tháng Tỵ (tức tháng 4 âmlịch) năm Kỷ Sửu là tháng Kỷ Tỵ Hành của tháng được coi là hànhcủa năm có cùng một Can chi Năm Kỷ Tỵ có hành là Mộc, do đótháng Kỷ Tỵ cũng là hành Mộc Vì vậy, người sinh năm Kỷ Sửu cóMệnh cung đóng ở cung Tỵ sẽ có Cục số là Mộc tam Cục Tương tựnhư vậy, sẽ có những lá số mang hành của Cục theo Ngũ hành tùy vịtrí cung Mệnh đóng ở cung nào trên lá số

Do đó, việc đổi lại hành Thủy và Hỏa trong Lục thập hoa giápthì hành của tháng cũng phải thay đổi theo hành của năm Bởi vậy,tính chất hành khí của hai cục Thuỷ, Hoả theo Lục thập hoa giáp cũngphải thay đổi Những người có cục Hỏa sẽ đổi thành cục Thủy và ngượclại

Việc đổi hành của cục trong Tử vi là một hệ quả tất yếu liênquan Nhưng hệ quả này lại minh chứng rõ nét cho tính hợp lý của Lạcthư hoa giáp, trong tất cả những vấn đề liên quan đến nó

Trước hết bạn đọc xem lại để so sánh sự tương quan giữa tuổitheo Thiên can và hành của cục theo Lục thập hoa giáp trước đâytrong khoa Tử Vi, đã được giáo sư Lê Văn Sửu công bố Bạn đọc sẽnhận thấy hành của tuổi sắp xếp theo cặp tương hợp của Thiên can tạonên một chiều Ngũ hành tương khắc từ phải sang trái So với hành củacục trong bảng Tử vi Đẩu số hiện hành thì không theo qui luật nào vàkhông có sự trùng khớp hợp lý

Ngược lại, với bảng thể hiện sự tương quan giữa tuổi theo Thiên

can và hành của cục theo Lạc thư hoa giáp hoàn toàn có sự phù hợp

cùng chiều Ngũ hành tương khắc với sự sắp xếp tuổi theo Thiên can.Xin bạn đọc xem hình sau đây (Trong bảng lập cục của Tử Vi theo

Trang 12

Chiều Ngũ hành tương khắc khi đổi lại hành theo Lạc thư Hoa giáp

Trang 13

Sự hợp lý này không phải chỉ dừng lại ở những cổ thư liên quanđến nó, mà ngay cả với những phát hiện mới nhất cũng tạo nên đượctính hợp lý như sau:

Theo cuốn Không gian Kinh Dịch với dự báo qua Bát Tự Hà Lạc

(Nxb Văn hoá Thông tin 1997 Bùi Biên Hòa Viện thông tin Khoa họcXã hội) thì:

Theo phó giáo sư, phó tiên sĩ Lê Thành Lân cách nạp âm cho các thời điểm không gian (TĐKG) và thời điểm thời gian (TĐTG) theo bảng sau là nhanh nhất mà chính xác như các nhà Dịch học xưa đề ra (Chú thích của tác giả Bùi Biên Hòa: Lê Thành Lân – “Một vài mô hình nạp Ngũ hành cho các cặp Can chi”, tạp chí Tin học và điều khiển học T12 Sl (1996) (47 – 56)

Qua bảng trên, bạn đọc sẽ nhận thấy rằng không có một quy luật

nào cho sự sắp xếp các hành Nhưng theo Lạc thư hoa giáp thì hành

Thủy phải đổi sang hành Hỏa Thay thế vào bảng trên, ta sẽ có mộtchiều Ngũ hành tương khắc ngược chiều với tuổi theo Thiên can (bởi

vì tuổi theo Địa chi đã đổi theo những cặp cung đối nghịch nhau) nhưsau:

Trang 14

Qua hình trên, hành khí được bố trí theo Lạc thư hoa giáp, chúng

ta lại nhận thấy một sự tương quan giữa hành khí và Thiên can qua ngũvận Điều này đã chúng tỏ tính quy luật thể hiện ở sự hợp lý trong mọitrường hợp liên quan

ĐỘ SỐ CỤC TRONG TỬ VI ĐẨU SỐ

& ĐỘ SỐ HÀ ĐỒ

Việc ứng dụng Lạc thư hoa giáp dẫn đến hệ quả tất yếu là thayđổi độ số cục liên quan trong khoa Tử vi Đẩu số, đã chứng tỏ tính hợplý nêu trên Sự thay đổi độ số cục liên quan đến hành khí trong khoaTử vi, lại chứng tỏ sự tương quan hợp lý với cục số của các hành khítrên Hà đồ Như phần trên đã chứng minh: Hà đồ chính là đồ hình cănbản cho tất cả những sự ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành,cho mọi lĩnh vực liên quan đến tự nhiên, xã hội và con người Bởi vậy,sự liên quan hợp lý giữa độ số cục trong khoa Tử vi với độ số Hà đồ, lạichứng tỏ tính hợp lý cho tất cả mọi vấn đề liên quan đến nó của Lạcthư hoa giáp

Chiều Ngũ hành tương khắc theo tuổi của Địa chi

Trang 15

Trên cơ sở độ số của hành trên Hà đồ so sánh với hành của cụctương ứng trong Lạc thư hoa giáp chúng ta sẽ thấy sự tương quan nhưsau:

Hỏa 2 cục ứng với độ số 2 Hỏa của Hà đồ.

Mộc 3 cục ứng với độ số 3 Mộc của Hà đồ.

Kim 4 cục ứng với độ số 4 Kim của Hà đồ.

Thổ 5 cục ứng với độ số 5 Thổ của Hà đồ.

Thủy 6 cục ứng với độ số 6 Thủy của Hà đồ.

Bạn đọc so sánh bảng sau để chứng tỏ điều này (trong bảng này

hành theo Lạc thư hoa giáp in nghiêng chữ đậm, hành cũ của Tử vi

Đẩu số theo Lục thập hoa giáp được ghi bằng chữ thường ở trong ngoặc):

Trang 17

Như những đoạn đã trích dẫn chứng minh với bạn đọc ở trên, chođến tận ngày hôm nay, Hà đồ vẫn còn là một đồ hình đầy bí ẩn qua cổthư chữ Hán Nhưng nền văn minh Lạc Việt, qua tranh thờ Ngũ hổHàng Trống, đã khẳng định: Hà đồ vốn là một đồ hình căn bản trongsự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành của lýhọc cổ Đông phương Có thể nói: đây là một vấn đề mà trải hơn haingàn năm chưa một cổ thư chữ Hán và ngay cả các công trình nghiêncứu mới nhất nói tới Mặc dù trên thực tế, dấu ấn của Hà đồ có trong sựứng dụng qua sách Lã thị Xuân thu; Lễ ký và Hoàng Đế nội kinh.Qua sự hợp lý giữa những vấn đề tương quan trong phạm trù củathuyết Âm Dương Ngũ hành đã chứng tỏ nhận định trên.

LẠC THƯ HOA GIÁP & VẬN KHÍ

TRONG HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN

Tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp, không chỉ giới hạn ở sự ứngdụng liên quan quan đến phương pháp luận của thuyết Âm DươngNgũ hành đối với các cổ thư chữ Hán được công bố sau thời Hán Ngaycả đối với cổ thư chữ Hán mà theo nội dung bản văn có từ trước Hán

cũng chứng tỏ tính hợp lý của nó Đó là cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn Qua đoạn trích dẫn ở trang 24 trong sách này (chứng tỏ sự ứng

dụng Can chi đã có từ thời Hoàng Đế), chúng ta lập được 5 bảng sau:

Trang 19

NHÂM NGỌ Thiếu âm

quân Hỏa Thái giác Mộc vận Dương minh

táo Kim

Quí Mùi Thái âm

thấp Thổ Thiếu chủyHỏa vận Thái dươnghàn Thủy

Giáp Thân Thiếu Dương

tướng Hỏa Thái cungThổ vận phong MộcQuyết âm

Ất Dậu Dương minh

táo Kim Thiếu thươngKim vận quân HỏaThiếu âm

Bính Tuất Thái dương

hàn Thủy Thủy vậnThái vũ thấp ThổThái âm

BÍNH TÍ Thiếu âm

quân Hỏa Thủy vận Thái vũ Dương minh

táo Kim

Đinh Sửu Thái âm

thấp Thổ Thiếu giácMộc vận Thái dươnghàn Thủy

Mậu Dần Thiếu dương

tướng Hỏa Thái chủyHỏa vận phong MộcQuyết âm

Kỷ Mão Dương minh

táo Kim Thiếu cungThổ vận quân HỏaThiếu âm

Trang 20

Qua 5 bảng trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:

@ Một “kỷ” gồm 30 năm trong một hoa giáp chính là bội sốchung nhỏ nhất của ngũ âm vận (Cung , thương, vũ , giác, chuỷ) và lụckhí

@ Trong một Kỷ được chia làm năm chu kỳ tuần hoàn của lụckhí, mỗi chu kỳ 6 năm Điều này hoàn toàn trùng khớp với Lạc thư hoagiáp Trong Lục thập hoa giáp được lưu truyền từ cổ thư chữ Hán,không thể chia một Kỷ thành Ngũ vận vì tính bất hợp lý của nó.Sự hợp lý của Lạc thư Hoa giáp tương ứng với chu kỳ vận khí của

Hoàng đế Nội kinh không thể coi là ngẫu nhiên, khi chúng cùng là hệ

quả của một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh là thuyết Âm DươngNgũ hành.( Cho dù sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hànhđược đặt vào bất cứ thời điểm nào của văn minh Hoa Hạ)

@ Đồ hình trên cũng lý giải bài phú truyền bí ẩn mà chính nhữngnhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa cũng lúng túng không giải thích

Trang 21

# Giáp hợp Kỷ hoá Thổ.

# Ất hợp Canh hoá Kim

# Bính hợp Tân hoá Thuỷ

# Nhâm hợp Đinh hoá Mộc

# Mậu hợp Quí hoá Hoả

Bạn đọc xem lại đồ hình trên, sẽ nhận thấy ngay rằng:

# Từ Giáp Tý đến Kỷ Tỵ (6 năm), Bắt đầu từ Thái Cung Thổ vận kết thúc ở Thiếu Cung Thổ vận Ứng với câu:

Giáp hợp Kỷ hoá Thổ.

# Từ Canh Ngọ đến Ất Hợi (6 năm) Bắt đầu từ Thái Thương Kim vận kết thúc ở Thiếu Thương Kim vận Ứng với câu:

Ất hợp Canh hoá Kim.

# Từ Bính Tý đến Tân Tỵ (6 năm) Bắt đầu từ Thái Vũ Thuỷ vận kết thúc ở Thiếu Vũ Thuỷ vận Ứng với câu:

Bính hợp Tân hoá Thuỷ.

# Từ Nhâm Ngọ đến Đinh Hợi (6 năm) Bắt đầu từ Thái Giác

Mộc vận kết thúc ở Thiếu Giác Mộc vận Ứng với câu:

Nhâm hợp Đinh hoá Mộc.

# Từ Mậu Tý đến Quý Tỵ (6 năm) Bắt đầu từ Thái Chuỷ Hoả vận kết thúc ở Thiếu Chuỷ Hoả vận Ứng với câu:

Mậu hợp Quý hoá Hoả.

Hiện tượng này chỉ có thể lý giải từ Lạc thư hoa giáp được phục

hồi từ văn minh Lạc Việt; bởi tính chất thể hiện Ngũ vận trong một

Kỷ của nó Trong bảng Hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán khôngthể nào thể hiện được điều này Do đó, người ta không thể nào có sựliên hệ so sánh Đó là nguyên nhân chính để các nhà nghiên cứu Lý

Trang 22

Như vậy, với sự chứng minh ở trên đã chứng tỏ rằng:

Tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp dựa trên nền tảng căn bản của nó là Lạc thư – Hà đồ và thuyết Âm Dương Ngũ hành đã chứng minh quan điểm cho rằng Lạc thư – Hà đồ là nền tảng của khoa Thiên văn cổ Văn Lang, hệ quả và sự phát triển của hệ thống vũ trụ quan Âm Dương Ngũ hành Từ đó, khẳng định tính nhất quán và hoàn chỉnh của học thuyết này đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội Đông phương cổ và cội nguồn của nó không thể bắt đầu từ nền văn minh Hoa Hạ Sự phục hồi và hiệu chỉnh từ những vấn đề có tính căn để của học thuyết này qua phương pháp ứng dụng từ văn minh Lạc Việt đã chứng tỏ rằng: Nền văn minh Văn Lang đã tồn tại huy hoàng gần 3000 năm Đó là một sự lý giải hợp lý cho thời gian hình thành, phát triển của một học thuyết tầm cỡ mà sự ứng dụng của nó bao trùm lên mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và con người một cách sâu sắc vi diệu.

Đây cũng là một sự chứng minh chủ nhân đích thực của ÂmDương lịch Đông phương thuộc về nền văn minh Văn Lang, khẳngđịnh câu ca dao của tổ tiên truyền lại và được dân gian trân trọng lưutruyền qua hàng thiên niên kỷ

Ai về nhắn họ Hy – Hòa Nhuận năm sao chẳng nhuận và trống canh.

LẠC THƯ HOA GIÁP

VÀ CỘI NGUỒN ÂM DƯƠNG LỊCH

Nguyên tắc nạp âm Ngũ hành trong Âm Dương lịch là một tiềnđề căn bản cho hầu hết những phương pháp ứng dụng của thuyết ÂmDương Ngũ hành Nhưng nguyên tắc đó và tất cả những vấn đề liênquan đến nó, đã là một bí ẩn trong các cổ thư chữ Hán đã trải hàngthiên niên kỷ Có thể nói sự bí ẩn này có ngay từ những bản văn đầutiên viết về những vần đề liên quan đến nạp âm Ngũ hành trong ÂmDương lịch Nếu đó chỉ là một khoảng trống lý thuyết thì người ta cóthể giải thích bằng sự thất truyền Nhưng ở đây không chỉ dừng lại ở sựthiếu vắng một nguyên lý căn bản mà còn là sự sai lệch và những mâuthuẫn trong sự tương quan giữa những vấn đề thuộc nội dung và lịch sửphát triển của nó Người ta không thể giải thích được nguyên nhân dẫn

Trang 23

đến sự thất truyền cho một nguyên lý căn bản trong lịch sử được coiphát triển liên tục của một học thuyết Tất nhiên, người ta càng khôngthể giải thích được những sai lệch có tính căn để bằng một sự thấttruyền trong một lịch sử phát triển được coi là liên tục của học thuyếtđó Vấn đề lại không chỉ nằm riêng trong Âm Dương lịch, những mâuthuẫn nội tại không thể lý giải còn nằm ngay trong những nguyên lýcăn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành và lịch sử hình thành của nólà tiền đề của Âm Dương lịch Tất cả những vấn đề đó, đã cho thấythuyết Âm Dương Ngũ hành không thể có cội nguồn từ văn minh HoaHạ.

Sự lý giải tính hợp lý trong tất cả những vấn đề liên quan củaLạc thư hoa giáp đã chứng minh: nạp âm Ngũ hành trong Âm Dươnglịch từ cổ thư chữ Hán bị sai lệch Hiện tượng này đã chứng tỏ rằng: tấtcả các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành dựatrên tiên đề của nó là Âm Dương lịch, không thể xuất phát từ văn minhHoa Ha, như: Tử vi đẩu số, dự đoán theo tứ trụ, phương pháp điều trịtheo Đông y cần đến yếu tố thời gian v.v… Người ta không thể có sựphát minh cái hợp lý từ một sự vô lý Do đó hoàn toàn có cơ sở để nhận

định rằng: tất cả những sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm

Dương Ngũ hành qua bản văn chữ Hán chỉ là sự phát hiện tiếp tục vềmột nền văn minh đã mất

Sự sai lệch ngay từ những nguyên lý có tính căn để của thuyếtÂm Dương Ngũ hành là nguyên nhân chính yếu để mọi cố gắng tìmhiểu những nguyên tắc căn bản của tất cả các phương pháp ứng dụnghọc thuyết này, trải trên hai thiên niên kỷ cho đến tận ngày hôm nay,đều bế tắc Điều này chứng tỏ những vấn đề có sự liên hệ nối tiếp sauđây:

@ Đồng thời với sự bế tắc trong hơn 2000 năm với mọi cố gắng

đi tìm những nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành,những cổ thư Trung Hoa trước thời Hán không hề ghi nhận sự tồn tạivà phát triển liên tục và tính hoàn chỉnh của học thuyết này, cũng nhưsự phát triển của những hệ luận liên hệ từ những nguyên lý căn bản

Trang 24

văn minh Đông phương.

@ Về hiện tượng thuyết Âm Dương Ngũ hành có tham vọng lýgiải từ sự hình thành vũ trụ đến mọi vấn đề liên quan đến con người,bao trùm lên mọi lĩnh vực của tự nhiên và cuộc sống, từ thiên văn, địalý, y lý, lịch số, kể cả dự đoán tương lai cho số phận mỗi con người

….Với thời gian hơn hai thiên niên kỷ trôi qua, người ta vẫn khôngphục hồi được hệ thống lý luận căn bản của học thuyết này Điều nàychứng tỏ rằng: sự phát minh ra thuyết Âm Dương Ngũ hành và nhữngphương pháp ứng dụng phổ biến rộng khắp trong mọi lĩnh vực của nó,chỉ có thể thực hiện được trong một xã hội ổn định, phát triển và tồn tạilâu dài với thời gian phải tính bằng thiên niên kỷ Không thể có một sựlý giải nào hợp lý hơn: Đó chính là nền văn minh Văn Lang tồn tạitrong khoảng trống của bản đồ Trung Hoa cổ nằm phía nam sông DươngTử, có từ năm 2879 tr.CN và kết thúc vào thế kỷ thứ 3 tr.CN, mà cổ sửViệt Nam đã nói tới Do đó, chỉ có nền văn minh Lạc Việt với những diấn của tổ tiên truyền lại mới có khả năng làm sáng tỏ những bí ẩn củanền văn minh Đông phương; đồng thời cũng là một sự minh chứng sắcsảo cho cội nguồn của học thuyết này Thời gian trên hai thiên niên kỷtồn tại của văn minh Văn Lang , chính là thời gian hợp lý để hìnhthành, hoàn chỉnh và phát triển học thuyết này trên mọi lĩnh vực.Tuy nhiên, nếu thời Hùng Vương chỉ được chứng minh là mộtthời đại có nền văn minh rực rỡ với một bằng chứng duy nhất là chủnhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì sẽ là một sự chứng minhchưa hoàn chỉnh với những vấn đề của lịch sử liên quan đến thời đạinày Do đó, phần tiếp theo đây người viết xin được trình bày với bạnđọc những vấn đề liên quan đến cương vực và niên đại của thời HùngVương

Trang 25

Phần V

NIÊN ĐẠI TỒN TẠI VÀ CƯƠNG VỰC

NƯỚC VĂN LANG DƯỚI THỜI HÙNG VƯƠNG

Với một niềm tin cho rằng: Thời Hùng Vương đã tồn tại gần

3000 năm, nền tảng của một nền văn hiến gần 5000 nămcủa nước Việt Nam Trải 1000 năm Bắc thuộc và sau đó là 1000 nămhưng quốc với bao thăng trầm của lịch sử, niềm tin này vẫn ăn sâu vàotâm khảm mỗi con người Việt Nam

Sự phát triển của tri thức khoa học hiện đại với những đòi hỏitính chính xác và hợp lý của nó đã đặt lại những vấn đề thuộc huyền sửthời Hùng Vương Sẽ là một hụt hẫng lớn, nếu không thể chứng minhđược những giá trị đã được gìn giữ trong tâm linh của người Lạc Việt.Gần đây đã có nhiều học giả nghiên cứu cho rằng: Thời Hùng Vươngchỉ tồn tại vào thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ III tr.CN và là một quốcgia lạc hậu, địa bàn cư trú không vượt ra khỏi vùng Trung du và đồngbằng Bắc bộ ở Việt Nam ?

Nhưng với một quan niệm như vậy sẽ không thể lý giải được

những hiện tượng liên quan Đó lại là điều kiện tiên quyết và là nguyên

tắc căn bản của một giả thuyết khoa học Một ý tưởng tương tự về

nguyên tắc trên, được giáo sư viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn phát biểu:

“Một lý thuyết toán học dù kỳ quặc đến đâu, nhưng về mặt lô gích mà đứng vững được thì nó phải chứa đựng tiềm ẩn bên trong nó một sự phù hợp với một thực tiễn nào đó mà loài người chưa biết, bởi lẽ nó phù hợp với lô gích không tự trên trời rơi xuống – lô gích chính là

Trang 26

nguyên tắc căn bản cho những giả thuyết khoa học nói chung, đó là:

“Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích được hầu hết mọi trường hợp liên quan tới nó”

Quan điểm mới cho rằng: thời Hùng Vương có niên đại khoảngthế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ III tr.CN, chỉ lý giải được những hiệntượng liên quan trực tiếp đến nó Hay nói một cách khác, đó là nhữngcái nhìn cụ thể từ những tư liệu, hiện vật tạo nên nội dung cho giảthuyết trên và chỉ liên quan đến những tư liệu, hiện vật trực tiếp tạonên nó Do đó, giả thuyết này không thể giải thích được những hiệntượng khác liên quan đến lịch sử đời Hùng Nhưng quan điểm nói trênlại được một học giả có uy tín là giáo sư Đào Duy Anh nói tới Trong

cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời (Nxb Thuận Hóa – Huế 1994).

Giáo sư Đào Duy Anh đã viết:

“Cái tên Bách Việt xuất hiện đầu tiên là trong sách Sử Ký của

Tư Mã Thiên, sách ấy chép rằng đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương

sai Bạch Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam. Bấy giờ đầu thế kỷ

thứ IV tr.CN Sách Hậu Hán thư – Địa lý chí chép rằng: “Từ Giao Chỉ

đến Cối Kê, trên bảy tám nghìn dặm, người Bách Việt ở xen nhau, đều có chủng tính.” Sách Lộ sử ở đời Tống chép rằng: Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thương Ngô, Man Dương, Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu, Quyên Tử, Sản Lý, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cầu, Tỷ Đái (sửa là Bắc Đái), Khu Ngô, gọi là Bách Việt” Trong những nhóm Bách Việt linh tinh ấy chúng ta thấy có những

nhóm như Dương Việt ở miền hạ lưu sông Dương Tử, nhóm Thượng

Ngô ở miền Nam tỉnh Quảng Tây, nhóm Sản Lý, tức là Sà Lý ở tận

miền Tây Nam tỉnh Vân Nam; còn Kê Từ, Bắc Đái là những huyện

thời Hán thuộc quận Giao Chỉ Có thể căn cứ vào những địa điểm ấy mà nói rằng sử sách Trung Quốc xưa gọi Bách Việt là những nhóm người Việt ở rải rác trên khắp miền Hoa Nam, phía Tây gồm cả đất Vân Nam, phía Nam gồm cả miền Bắc Việt Nam ta, sử sách thường gọi chung là miền Giang Nam và miền Lãnh Nam (miền Nam Ngũ Lĩnh) Trong những nhóm linh tinh ấy, các nhóm được chính sử Trung

Quốc (Sử ký và Tiền Hán thư) chép tương đối kỹ càng là: Đông Việt,

Mân Việt, Nam Việt, Tây Âu Theo Sử ký Đông Việt truyện thì chúng

ta biết rằng Đông Việt hay Đông Âu trong thời Tần Hán đóng đô ở

Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia là miền Triết Giang; Mân Việt thì ở đất Mân

Trung tức miền Phúc Kiến; Nam Việt đô ở Quảng Châu tức miền Quảng Đông; Tây Âu ở phía Nam sông Ly tức miền Quảng Tây; còn

nhóm Lạc Việt thì ở đâu? Theo Hậu Hán thư (Mã Viện truyện, Nhâm Duyên truyện), chúng ta biết rằng người các quận Giao Chỉ và Cửu

Ngày đăng: 13/05/2021, 19:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w