1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thuyết và huyền thoại Thời Hùng Vương: Phần 2

142 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Truyền Thuyết Trầu Cau
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 4,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chửụng I: TRUYỀN THUYẾT BÁNH CHƯNG BÁNH DẦY & THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH Bánh chưng bánh dầy - Biểu tượng của thuyết Âm Dương Ngũ hành (1)
  • Chửụng II: TRUYỀN THUYẾT CON RỒNG CHÁU TIÊN & LẠC THƯ HÀ ĐỒ Lạc thư - Hà đồ tiền đề của khoa thiên văn học thời Hùng Vương (15)
  • Chửụng IV: TRUYEÀN THUYEÁT TRAÀU CAU Huyền thoại trầu cau và nền văn hiến thời Hùng Vương (23)
  • Chửụng V: SỰ TÍCH DƯA HẤU Vấn đề nội dung Sự tích dưa hấu (95)
  • Chửụng VI: SỰ TÍCH ĐẦM NHẤT DẠ Sự hình thành tín ngưỡng và y phục của dân tộc Lạc Việt (128)
  • Chửụng VIII: SÔN TINH THUÛY TINH Lời bình của sử gia Văn Lang về nguyên nhân kết thúc thời đại Hùng Vương (0)
  • Chửụng IX: LỜI KẾT (135)
  • Tài liệu tham khảo (138)

Nội dung

Nối tiếp nội dung của phần 1 Tài liệu Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, phần 2 giới thiệu tới người đọc các nội dung: Truyền thuyết trầu cau, sự tích dưa hấu, sự tích đầm nhất dạ, văn học nghệ thuật thời Hùng Vương, Sơn Tinh Thủy Tinh. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

TRUYỀN THUYẾT BÁNH CHƯNG BÁNH DẦY & THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH Bánh chưng bánh dầy - Biểu tượng của thuyết Âm Dương Ngũ hành

“Miếng trầu là đầu câu chuyện”

VÀ NỀN VĂN HIẾN THỜI HÙNG VƯƠNG

Truyền thuyết liên quan đến thời Hùng Vương, đặc biệt là “Truyền thuyết Trầu Cau”, thường nhắc đến sự hiện diện của vua Hùng, cho thấy sự quan trọng của trầu cau trong văn hóa Việt Nam Mặc dù niên đại của truyền thuyết này thuộc thời thượng cổ, nhưng nó khẳng định rằng trầu cau đã tồn tại trước và sau thời Hùng Vương thứ VI và thứ I Nghi thức dùng trầu cau trong giao tiếp của người Việt thời Hùng Vương không chỉ có ý nghĩa văn hóa mà còn là một phần không thể thiếu trong các lễ cưới truyền thống hiện nay, thể hiện tình cảm và sự gắn kết giữa con người Cùng với “bánh Chưng bánh Dầy”, “Truyền thuyết Trầu Cau” vẫn sống mãi trong đời sống văn hóa của người Việt.

Xã hội Văn Lang đã phát triển với những mối quan hệ xã hội phức tạp, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhu cầu về hình thái ý thức trong các mối quan hệ này.

Những hình thái ý thức trong quan hệ xã hội được thể hiện qua các giá trị đạo đức, nghi lễ và thứ bậc trong gia đình, xã hội, cùng với phong tục tập quán mang bản sắc văn hóa thời Hùng Vương, như được phản ánh trong “Truyền thuyết Trầu Cau” Truyền thuyết này chứa đựng nhiều chi tiết quan trọng liên quan đến các vấn đề xã hội cần chứng minh Để giúp độc giả dễ dàng theo dõi, bài viết sẽ trình bày toàn bộ nội dung của truyền thuyết này, nhằm minh chứng thực trạng xã hội Văn Lang.

“Truyền thuyết Trầu Cau” được chép sau đây trích từ trong cuốn

Lĩnh Nam Chích Quái (sách đã dẫn) – có kèm theo phần chú thích của dịch giả.

Thời thượng cổ, có một vị quan lang tên là Cao, nổi bật với sức vóc cao lớn Ông có hai người con trai, Tân và Lang, hai anh em giống nhau như đúc Khi họ bước vào tuổi 17-18, cha mẹ qua đời, hai anh em quyết định theo học đạo sĩ Lưu Huyền.

Nhà họ Lưu có người con gái tên là Liên, tuổi cũng khoảng 17 –

Hai anh em đều cảm mến nàng và muốn kết hôn Nàng chưa biết ai là anh, nên chỉ bày một khay cháo và đũa cho cả hai Người em nhường anh ăn trước, từ đó nàng nhận ra ai là anh, ai là em Cuối cùng, nàng về nhà xin cha mẹ cho phép làm vợ người anh.

Khi sống cùng nhau, người anh đôi lúc tỏ ra lạnh nhạt với em, khiến em cảm thấy tủi hổ và nghĩ rằng anh đã quên mình sau khi lấy vợ Không nói lời từ biệt, em quyết định trở về quê Trên đường đi, em gặp một dòng suối sâu không có thuyền để qua, đau đớn khóc than và cuối cùng đã chết, hóa thành một cây bên bờ sông.

Người anh không thấy em gái nên đã đi tìm, và khi đến nơi, anh gieo mình chết bên gốc cây, hóa thành phiến đá ôm gốc cây Vợ anh cũng tìm chồng, đến đây và ôm phiến đá mà chết, biến thành một cây leo thơm cay quấn quanh phiến đá Cha mẹ nàng họ Lưu đau xót đi tìm con và đã lập miếu thờ tại chỗ đó.

Người trong vùng hương quả thờ cúng, ca tụng anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa

Vào khoảng tháng Bảy, tháng Tám, khi thời tiết vẫn còn oi ả, Hùng Vương đã dừng chân nghỉ mát trước một ngôi miếu Tại đây, ông thấy cây cối xum xuê và dây leo chằng chịt, khiến ông cảm thấy thú vị Sau khi hỏi thăm và biết được câu chuyện, ông đã thử nếm quả và lá dây leo, phát hiện ra có màu đỏ và mùi vị thơm ngon Nhà vua quyết định nung đá để lấy vôi, kết hợp với quả và lá, tạo ra một món ăn hấp dẫn với hương vị đặc biệt Nhận ra đây là một loại thực phẩm quý giá, ông đã quyết định mang về.

Cây cau, cây trầu và cây vôi hiện nay được trồng phổ biến khắp nơi Tại Việt Nam, trong các dịp cưới hỏi và lễ tết, trầu cau trở thành biểu tượng quan trọng Đây chính là nguồn gốc và ý nghĩa của cây cau trong văn hóa Việt.

Trong thời Hồng Bàng, con trai của vua được gọi là "quan lang" Theo sách "Việt sử thông giám cương mục" và "Tiền biên", họ Hồng Bàng đã bắt đầu thiết lập các chức quan, trong đó tướng văn được gọi là lạc hầu, tướng võ là lạc tướng, và hữu tư là bồ chính.

(2) Hai chữ Tân và Lang ghép lại có nghĩa là cây cau

(3) Bản A 2107 chép là Lưu Đạo Huyền

Bản A 1572 ghi lại câu chuyện về một cô gái 17, 18 tuổi trong gia đình họ Lưu, người đã cảm mến hai chàng trai và mong muốn kết duyên với một trong hai người Tuy nhiên, cô không biết ai là anh và ai là em, vì vậy cô đã quyết định mời họ dùng một bát cháo và một đôi đũa để tạo cơ hội cho sự lựa chọn của mình.

Cha mẹ nàng Lưu đau đớn khi tìm thấy chốn xưa, lập miếu thờ để cúng bái Trong giấc mộng, hai anh em xuất hiện và bày tỏ tình huynh đệ, mong cha mẹ không trách móc Người con gái cũng xin lỗi vì chưa báo đáp công ơn nuôi dưỡng và cầu xin tha thứ vì nghĩa vợ chồng Họ Lưu hiểu rằng tình huynh đệ và nghĩa vợ chồng đã trọn vẹn, nên không còn giận dỗi, chỉ còn lại nỗi sầu thương cho cuộc đời đã qua.

Truyền thuyết Trầu Cau được chia thành hai phần chính Phần đầu khám phá nguồn gốc huyền thoại của cây trầu và quả cau, trong khi phần hai nhấn mạnh sự ấn chứng của vua Hùng trong việc sử dụng trầu cau như một nghi lễ trong hôn nhân và các mối quan hệ xã hội Mặc dù “Lĩnh Nam Chích Quái” không ghi nhận quyết định này của Hùng Vương, nhưng nó phản ánh giá trị đạo lý và quan hệ xã hội dưới thời Hùng, cho thấy tầm quan trọng của trầu cau trong văn hóa và phong tục tập quán Việt Nam.

Tình người và những hình thái ý thức trong quan hệ gia đình qua nghi lễ trầu cau của người Lạc Việt

Trong bài viết, hình ảnh huyền thoại về gia đình Tân và Lang thể hiện tình yêu thương vĩnh cửu, khi họ hóa thân thành cây và đá để mãi bên nhau Điều này phản ánh giá trị đạo lý thời Hùng Vương, nhấn mạnh sự hòa nhập tâm hồn và tình đồng cảm giữa con người, thể hiện tính nhân bản sâu sắc Chất lãng mạn của tình người được khắc họa rõ nét trong các tác phẩm văn học như Chuyện tình Trọng Thủy - Mỵ Châu và Thạch Sanh, minh chứng cho những giá trị tình cảm cao đẹp.

Mối quan hệ con người trong huyền thoại Trầu Cau, được vua Hùng ghi nhận, đã tồn tại qua hàng thiên niên kỷ Cụm từ “nồng thắm” thể hiện trạng thái tốt đẹp nhất trong các mối quan hệ, phản ánh văn hóa Việt Nam Hình ảnh này có lẽ bắt nguồn từ tình người kết tinh qua quệt vôi, lá trầu, và quả cau, ghi dấu ấn sâu sắc trong tâm linh suốt gần 5000 năm lịch sử.

Với một tình người được tôn trọng và đề cao, thì dù Âm Dương cách biệt vẫn còn tưởng nhớ đến

TRUYỀN THUYẾT CON RỒNG CHÁU TIÊN & LẠC THƯ HÀ ĐỒ Lạc thư - Hà đồ tiền đề của khoa thiên văn học thời Hùng Vương

VẤN ĐỀ NỘI DUNG CỦA “SỰ TÍCH DƯA HẤU”

Truyền thuyết về “Quả Dưa Hấu” khác hẳn “Sự tích Trầu

Trong truyền thuyết “Trầu Cau”, miếng trầu và quả cau là di sản văn hóa hiện thực, phản ánh xã hội Văn Lang xưa Tương tự, truyền thuyết “Bánh Chưng, bánh Dầy” mặc dù có sự chứng thực từ vua Hùng Vương thứ VI, nhưng nội dung của nó không liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành Ngược lại, truyền thuyết “Quả Dưa Hấu” không thể hiện ý nghĩa rõ ràng nào, khiến cho việc hiểu những ý tưởng của ông cha trở nên khó khăn Sự tam sao thất bản qua 2000 năm lịch sử đã gây cản trở lớn cho việc khám phá nội dung của truyền thuyết này, dẫn đến việc ông cha đã xây dựng một kết cấu một chiều cho truyền thuyết “Quả Dưa Hấu” trong dân gian.

Vì vậy, trước khi tìm hiểu hàm nghĩa câu truyện, xin được tóm tắt truyền thuyết “Quả Dưa Hấu” như sau:

@ Bắt đầu từ một nhận định của Mai An Tiêm thể hiện nhân sinh quan của chàng, khiến vua Hùng nổi giận đày An Tiêm ra đảo.

@ Ở hoang đảo, An Tiêm đã chứng tỏ trên thực tế nhận định của mình.

@ Vua Hùng gián tiếp thừa nhận quan điểm của Mai An Tiêm, nên đã tha tội cho chàng.

Vấn đề khởi nguồn từ nhận định của Mai An Tiêm, phản ánh nhân sinh quan của nhân vật, đây là điểm cốt lõi của sự việc So sánh với “Sự tích Dưa Hấu” được ghi chép trong cuốn sách cổ nhất, ta thấy những giá trị văn hóa và triết lý sống được truyền tải.

Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ) và cuốn Hợp tuyển truyện cổ tích Việt Nam (HTTCTVN) xuất bản năm 1996 đã ghi lại sự tích của Mai An Tiêm, trong đó câu nói của nhân vật này đã dẫn đến những diễn biến hoàn toàn khác cho câu chuyện.

Theo LNCQ thì câu nói của Mai An Tiêm là: Đó là do tiền thân của ta, đâu phải ân chúa!

Theo HTTCTVN thì câu nói của Mai An Tiêm là:

Của được là của lo, của cho là của nợ

Thái độ của vua Hùng với cả hai câu nói có nội dung khác nhau này đều là:

Ngài cho Mai An Tiêm là kẻ vô ơn và trừng phạt chàng, thể hiện tội lỗi của Mai An Tiêm thuộc về phạm trù đạo đức Điều này dẫn đến một kết cấu vô lý, khi việc tìm ra quả dưa hấu và sự phú túc của chàng trên hoang đảo lại được xem là chứng minh cho việc chàng không vô ơn Những ý tưởng này xa lạ với các giá trị nhân bản được đề cao dưới thời Hùng Vương, điều này sẽ được minh chứng qua các chương sau.

Cấu trúc câu chuyện trong hai cuốn sách trên thật khó hiểu và có phần phi lý Vì vậy, có thể khẳng định rằng cả hai tác phẩm này chưa phản ánh chính xác câu nói nguyên thủy của Mai An Tiêm trong truyền thuyết.

Trong tác phẩm LNCQ, cụm từ "tiền thân" ám chỉ kiếp trước và nghiệp báo, thể hiện rõ tư tưởng Phật giáo Sách LNCQ không chỉ một lần truyền tải những quan niệm này, mà còn nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiệp và sự liên kết giữa các kiếp sống.

"Nhất Dạ Trạch" ghi lại rằng "Đồng Tử trở về, giảng lại đạo Phật" Lịch sử Phật giáo cho thấy rằng dấu ấn của Phật giáo tại Việt Nam đã xuất hiện từ đầu thế kỷ II sau Công Nguyên.

Câu nói của Mai An Tiêm thể hiện sự khác biệt về ý tưởng giữa hai thời điểm: trước khi nói về tiền thân (kiếp trước) và sau khi nhấn mạnh ý trời Câu trước phản ánh sự kết nối với quá khứ, trong khi câu sau thể hiện niềm tin vào định mệnh và sự an bài của trời.

Tiêm trong LNTQ là do đời sau thêm vào.

Câu tục ngữ "Của được là của lo, của cho là của nợ" đã được lưu truyền từ lâu trong dân gian, mang ý nghĩa sâu sắc về sự liên quan giữa tài sản và trách nhiệm Vế đầu tiên "Của được là của lo" nhấn mạnh rằng để có được của cải và sự thịnh vượng, con người cần phải lo lắng và nỗ lực Ngược lại, vế thứ hai cho thấy rằng những gì được cho thường đi kèm với những nghĩa vụ và nợ nần.

Câu nói “Của cho là của nợ” nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng biết ơn đối với những người đã tặng cho mình của cải Điều này ám chỉ rằng khi nhận được điều gì đó mà không rõ nguyên nhân, ta có thể cảm thấy mình đang nợ người cho Tuy nhiên, thông điệp chính của câu nói khuyên rằng không nên gánh chịu những lo âu và nợ nần từ việc nhận quà tặng.

Mai An Tiêm, tác giả của câu tục ngữ Việt Nam, lẽ ra nên từ chối của cải mà vua Hùng ban tặng Tuy nhiên, mối quan hệ của chàng với vua Hùng không chỉ là cá nhân mà còn thể hiện trách nhiệm đối với đất nước mà vua Hùng đại diện Nếu coi Mai An Tiêm là người ngoại quốc, vẫn cần có giá trị đạo lý về tình người và nghĩa vụ với quốc gia đã tiếp nhận mình Vua Hùng đã dành nhiều ân sủng cho Mai An Tiêm, chứng tỏ rằng câu nói của chàng trong HTTCTVN là một sự nhầm lẫn do cách hiểu sai về nội dung và truyền thuyết.

Sự sửa chữa của đời sau cho thấy truyền thuyết “Sự tích Dưa Hấu” và các truyền thuyết thời Hùng Vương đã tồn tại lâu dài trong văn hóa dân gian Việt Nam Điều này chứng tỏ rằng chúng không phải là những câu chuyện mới được sáng tạo trong thế kỷ XIV, mà đã được các học giả sưu tầm và nghiên cứu từ trước đó Nếu là sản phẩm mới, câu chuyện sẽ có tính nhất quán hơn về nội dung, bất kể ở trình độ nào.

Nhưng, câu nói thực sự của Mai An Tiêm trong truyền thuyết nguyên thủy về “Quả Dưa Hấu” là gì?

Cả hai câu trong cuốn sách cổ và mới đều không phải là nguyên văn của Mai An Tiêm, nhưng chúng phản ánh triết lý nhân sinh quan của ông Điều này cho thấy có thể đây là sự thay thế không chính xác cho câu nói gốc Quan điểm của Mai An Tiêm được xác nhận qua diễn biến tiếp theo, khi vua Hùng đã gián tiếp thừa nhận bằng cách tha tội cho chàng Do đó, nội dung của đoạn sau có thể giúp suy luận về câu nói của Mai An Tiêm ở đoạn trước.

Mai An Tiêm và gia đình bị đày ra một hòn đảo hoang, nhưng chàng vẫn kiên cường chấp nhận số phận và sẵn sàng xây dựng cuộc sống mới Hành động này thể hiện sự tự khẳng định mạnh mẽ của chàng trong hoàn cảnh khó khăn.

Mai An Tiêm đã gặp may mắn khi có một con chim trắng từ phương Tây mang đến cho gia đình anh những hạt giống dưa Sự may mắn này, theo cách nói của người xưa, được coi là do trời ban Tuy nhiên, nếu Mai An Tiêm không biết tận dụng cơ hội này, thì may mắn sẽ không mang lại giá trị gì.

An Tiêm không tự khẳng định mình bằng sự cố gắng của con người thì không có sự may mắn đó.

TRUYEÀN THUYEÁT TRAÀU CAU Huyền thoại trầu cau và nền văn hiến thời Hùng Vương

SỰ TÍCH ĐẦM NHẤT DẠ

SỰ HÌNH THÀNH TÍN NGƯỠNG

VÀ Y PHỤC CỦA NGƯỜI LẠC VIỆT

Vấn đề nội dung truyền thuyết “ Đầm Nhất Dạ“

Truyền thuyết Đầm Nhất Dạ kể về một trong bốn vị thần hộ quốc bất tử trong thần thoại Việt Nam, bao gồm Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Tản Viên Sơn Thánh và Công chúa Liễu Hạnh Trong đó, ba vị thần nam có nguồn gốc từ thời Hùng Vương Truyền thuyết về Chử Đồng Tử không chỉ nhằm giải thích nguồn gốc của cái đầm ở Hải Dương mà còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn Để có cái nhìn toàn diện về truyền thuyết này, cần lược bỏ những yếu tố được thêm vào sau này và trở về với nội dung gốc Độc giả nên tham khảo toàn bộ truyền thuyết “Nhất Dạ Trạch” trong Lĩnh Nam chích quái để hiểu rõ hơn.

Vào đời Hùng Vương thứ XVIII, Tiên Dung – Mỵ Nương, con gái của vua, đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp ở tuổi 18 Cô không có ý định kết hôn mà chỉ muốn vui chơi và khám phá khắp nơi Nhà vua không ngăn cản cô, và mỗi năm vào tháng hai, tháng ba, Tiên Dung lại chuẩn bị thuyền bè để chèo ra biển, tận hưởng những ngày tháng vui vẻ quên trở về.

Ở làng Chử Xá bên sông lớn, có người tên Chử Vi Vân, cha của Chử Đồng Tử, người con trai ở bến sông Gia đình họ gặp hỏa hoạn, mất hết của cải, chỉ còn lại một khố vải để cha con thay nhau mặc Khi cha già ốm, ông đã dặn dò con mình.

“Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con” là lời nhắn nhủ của Đồng Tử, nhưng anh không nỡ làm theo và đã dùng khố để liệm bố Trong cảnh nghèo khó, Đồng Tử phải chịu đựng đói rét, đứng bên sông nhìn thuyền buôn qua lại, đôi khi phải ăn xin và câu cá để sống Một ngày, bất ngờ thuyền Tiên Dung xuất hiện với âm thanh chiêng trống, đông đảo người hầu khiến Đồng Tử cảm thấy kinh sợ.

Trên bãi cát có khóm lau sậy, Đồng Tử nấp trong đó, phủ cát lên mình Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi và ra lệnh tắm ở khóm lau Khi Tiên Dung vào màn cởi áo, thấy Đồng Tử, cô kinh sợ và nói: “Ta không muốn lấy chồng, nhưng gặp người này là do trời xui.” Tiên Dung mời Đồng Tử tắm rửa và ban cho quần áo, sau đó cùng nhau xuống thuyền ăn mừng Mọi người trên thuyền cho rằng đây là cuộc giai ngộ hiếm có Đồng Tử băn khoăn về việc nấp, nhưng Tiên Dung khẳng định đây là duyên trời, không thể chối từ.

Người theo hầu nhanh chóng trở về báo cáo với vua Hùng Vương Ông bày tỏ sự thất vọng về Tiên Dung, cho rằng cô không còn quan tâm đến danh tiết và của cải của vua, mà chỉ thích lang thang bên ngoài và hạ mình bên kẻ nghèo khó Vua cảm thấy xấu hổ và không biết phải đối diện với cô như thế nào.

Tiên Dung, vì sợ hãi không dám về, đã cùng Đồng Tử mở bến chợ và lập phố xá, từ đó hình thành một chợ lớn, hiện nay được gọi là chợ Thám hay chợ Hà Lương Nơi đây thu hút nhiều phú thương ngoại quốc đến buôn bán và tôn thờ Tiên Dung, Đồng Tử như những vị chúa Một trong những thương nhân giàu có đã khẳng định rằng

“Quí nhân đã bỏ ra một dật vàng để mua vật quý ngoài biển, và sang năm có thể thu về mười dật Tiên Dung vui mừng nói với Đồng Tử rằng: 'Vợ chồng chúng ta được trời định, mọi thứ cần thiết đều do trời ban, hãy mang vàng cùng phú thương ra hải ngoại để buôn bán'.”

Núi Quỳnh Viên nổi bật với một am nhỏ, nơi các lái buôn thường ghé thuyền để lấy nước ngọt Đồng Tử thường lên am chơi và gặp một tiểu tăng tại đây.

Ngưỡng Quang truyền phép cho Đồng Tử Đồng Tử lưu học ở đó, giao hàng cho lái buôn mua hàng Sau lái buôn quay lại am chở Đồng Tử về

Sư tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón, khẳng định rằng chúng mang linh thiêng Đồng Tử trở về giảng đạo Phật, cùng Tiên Dung từ bỏ cuộc sống phồn hoa để tìm thầy học đạo Trên đường đi, họ tạm nghỉ giữa chừng, cắm trượng và che nón để trú thân Đến canh ba, họ thấy hiện ra thành quách lộng lẫy, với vàng bạc châu báu và nhiều người hầu Sáng hôm sau, mọi người đến dâng hương hoa, thức ăn và xin làm bầy tôi, tạo nên một quốc gia mới với văn võ bá quan.

Hùng Vương nghe tin con gái gây rối, lập tức sai quân đánh dẹp Quần thần xin đem quân ra phân chia lực lượng chống giữ Tiên Dung cười và nói: “Ta không muốn làm điều đó, mọi chuyện do trời định, sinh tử nằm trong tay trời, không dám chống lại cha, chỉ xin tuân theo lẽ chính, mặc cho đao kiếm che phủ.”

Khi quân đội đến, những người mới tới đều hoang mang và rời đi, chỉ còn lại những cư dân cũ Quân lính đóng trại tại châu Tự Nhiên, nhưng không thể vượt sông lớn vì trời đã tối.

Vào nửa đêm, gió mạnh thổi bay cát và nhổ cây, khiến quan quân hỗn loạn Tiên Dung cùng thủ hạ và thành quách bỗng chốc bay lên trời, để lại một cái chằm lớn Người dân đã lập miếu thờ và tổ chức cúng tế quanh năm, gọi chằm là chằm Nhất Dạ Trạch (chằm một đêm), bãi là bãi Mạn Trù (bãi Màn Trướng), và chợ là chợ Thám hay chợ Hà Lương.

Sau khi vua Hậu Lương, Diễn sai Trần Bá Tiên, xâm lược phương Nam, Lý Nam Đế đã cử Triệu Quang Phục làm tướng chỉ huy chống lại quân xâm lược Quang Phục đã cho quân đội ẩn nấp ở chằm, một vùng đất sâu và lầy lội, khiến cho việc tiến quân trở nên khó khăn Ông đã sử dụng thuyền độc mộc để bất ngờ tấn công và cướp lương thực của quân địch, giữ vững thế trận trong nhiều năm, khiến quân giặc mệt mỏi và không dám giao tranh Trần Bá Tiên đã phải thốt lên rằng: “Ngày xưa đây là chằm một đêm bay về trời, nay lại là chằm một đêm cướp một người”.

Trong bối cảnh loạn Hầu Cảnh dưới triều đại nhà Lương, vua đã triệu hồi Bá Tiên và giao phó nhiệm vụ cho tướng Dương Sằn chỉ huy quân đội Quang Phục thực hiện nghi lễ cúng tế giữa đầm, khi đó bỗng nhiên xuất hiện một thần nhân cưỡi rồng, báo cho Quang Phục rằng: “Hiển linh vẫn còn, người có thể cầu cứu để dẹp loạn” Sau đó, thần nhân đã đưa cho Quang Phục một vuốt rồng, dặn rằng đeo lên mũ sẽ giúp tiêu diệt quân thù, rồi bay lên trời biến mất.

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w