1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO KHẢO SÁT THỰC TẾ CỦA NHÓM ĐẾN BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

18 190 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 3,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nằm trên đường Nguyễn Văn Huyên, Phường Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, cách thủ đô Hà Nội 8Km. Tuy hơi xa trung tâm thủ đô nhưng hiện nay đã có rất nhiều tuyến xe bus đến bảo tàng. Đối diện với Bảo tàng Dân tộc học là khu công viên Nghĩa đô khá mát mẻ, sạch sẽ. Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một trong những điểm đến không thể thiếu của du khách khi tới Hà Nội.

Trang 1

BÁO CÁO KHẢO SÁT THỰC TẾ CỦA NHÓM

ĐẾN BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

Địa điểm: Đường Nguyễn Văn Huyên , Quận Cầu Giấy, Hà Nội

Vị trí của Bảo tàng:

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nằm trên đường Nguyễn Văn Huyên, Phường Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, cách thủ đô Hà Nội 8Km Tuy hơi xa trung tâm thủ

đô nhưng hiện nay đã có rất nhiều tuyến xe bus đến bảo tàng Đối diện với Bảo tàng Dân tộc học là khu công viên Nghĩa đô khá mát mẻ, sạch sẽ Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một trong những điểm đến không thể thiếu của du khách khi tới Hà Nội

I Lịch sử hình thành Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Ý định xây dựng bảo tàng được hình thành từ năm 1981 Đến tháng 12/1987 công trình xây dựng bảo tàng chính thức phê duyệt với diện tích 2500 m2 Năm

1988, diện tích xây dựng được nâng lên 9500 m2 và đến năm 1990 thì diện tích xây dựng được phê duyệt là 3,2 ha

Từ khi có quyết định xây dựng, Ban quản lý công trình Bảo tàng và Phòng Bảo tàng là một bộ phận của Viện Dân tộc học Ngày 24/10/1995, Thủ tướng Chính

Trang 2

phủ ra quyết định thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trực thuộc Trung tâm

xã hội và nhân văn quốc gia, nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Ngày 12/11/1997, Bỏa tàng Dân tộc học Việt Nam được khánh thành

II Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Từ khi thành lập năm 1997 – 2010, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được cơ cấu như sau:

- Ban giám đốc: - 01 Giám đốc

- 01 Phó giám đốc

- Các phòng nghiệp vụ gồm:

+ Phòng Hành chính – Tổng hợp

+ Bộ phận kế toán

+ Bộ phận Văn thư

+ Bộ phận Bảo vệ

+ Bộ phận Bán vé

- Phòng thư viện

- Phòng Giáo dục

- Phòng Bảo tàng Ngoài trời

- Phòng Quản lý dự án

- Phòng Đối ngoại

- Phòng Trưng bày

- Các phòng nghiên cứu

- Phòng Trường sơn - Tây Nguyên

- Phòng Đồng bằng và biển

- Phòng Miền núi phía Bắc

- Phòng Đông Nam Á

- Phòng Kho và Bảo quản

- Phòng Nghe nhìn (phim dân tộc học)

- Phòng Kỹ thuật, lưu trữ

Trang 3

Từ 2010 đến nay nhằm tinh giảm, tạo sự gọn nhẹ và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam hoạt động tốt hơn, Bảo tàng đã kiện toàn lại toàn bộ khâu tổ chức Nay Bảo tàng chỉ còn 10 phòng, ban gồm:

- Ban giám đốc: - 01 Giám đốc

- 02 Phó giám đốc

- Phòng chuyên môn, nghiệp vụ:

+ Phòng Hành chính – Tổng hợp gồm các bộ:

 Bộ phận kế toán

 Bộ phận Bảo vệ

 Bộ phận văn thư, lưu trữ

+ Phòng Giáo dục

+ Phòng Bảo tàng Ngoài trời

+ Phòng Thư viện

+ Phòng Quản lý khoa học và đối ngoại

+ Phòng Trưng bày

+ Phòng Kho và Bảo quản

+ Phòng Truyền thông và công chúng

- Phòng Nghiên cứu

+ Phòng Nghiên cứu trong nước

+ Phòng Nghiên cứu nước ngoài

Từ khi thành lập năm 1997 đến năm 2010 cơ cấu tổ chức còn cồng kềnh và chưa phát huy hết năng lực của từng phòng ban nên hoạt động của Bảo tàng vẫn chưa đạt được những kết quả như mong muốn Nhận thức được điều đó Ban lãnh đạo Bảo tàng đã tiến hành cải tổ các phòng ban, sát nhập và nâng cấp các phòng ban khác để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của tình hình hoạt động mới của Bảo tàng

Từ khi cải tổ đến nay các phòng ban đã phát huy tối đa chuyên môn, nghiệp của mình, tạo sự gọn nhẹ và hợp lý hơn thúc đẩy Bảo tàng đã hoạt động rất tốt Điều này được thể hiện qua công tác nghiên cứu, sưu tầm vẫn được duy trì, bên cạnh đó

Trang 4

các chương trình tổ chức sự kiện về giới thiệu trình diễn về văn hóa, nghệ thuật các dân tộc được tiến hành với quy mô, chất lượng cao hơn Lượng khách thăm quan Bảo tàng tăng đều theo từng năm, đặc biệt các chương trình, sự kiện được tổ chức vận hành rất tốt nhất là từ khi có phòng Truyền thông và Công chúng, đây là phòng trực tiếp tổ chức sự kiện, đảm nhận công tác marketing, giao lưu và tiếp xúc với công chúng nhằm giới thiệu các chương trình (sản phẩm), dịch vụ, các trưng bày đến công chúng nhanh nhất và tiện lợi hơn

III Chức năng, nhiệm vụ.

Chức năng :

Bảo tàng Dân tộc Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnam Museum of Ethnology,

viết tắt là VME) có chức năng nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản,

phục chế, trưng bày,trình diễn để giới thiệu và giáo dục về các giá trị lịch sử, văn hoá của các dân tộc trong và ngoài nước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc cho các ngành; đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học bảo tàng và bảo tàng dân tộc học

Nhiệm vụ :

1 Trình Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam chiến lược, quy hoạch, kế hoạch 5 năm và hàng năm và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt

2 Nghiên cứu cơ bản về văn hoá của các dân tộc; tổ chức thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn về các dân tộc

3 Tổ chức thực hiện việc nghiên cứu, điều tra, sưu tầm, lưu giữ các hiện vật và tài liệu về văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc; tổ chức thực hiện việc quản lý hiện vật và hồ sơ hiện vật, bảo quản và phục chế những hiện vật sưu tầm được cùng các tư liệu khác

4 Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong thực hiện đào tạo trong lĩnh vực: nhân học bảo tàng và bảo tàng dân tộc học, thực hiện đào tạo sau đại học theo quy định của pháp luật, tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam và các cơ quan khác

Trang 5

5 Theo chức năng, tổ chức thẩm định và tham gia thẩm định về mặt khoa học các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội ở các Bộ, ngành, địa phương theo sự phân công của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Thực hiện các tư vấn khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bảo tàng

6 Tổ chức hợp tác quốc tế về nghiên cứu, đào tạo nghiệp vụ và trao đổi trưng bày bảo tàng theo quy định hiện hành

7 Trao đổi thông tin khoa học với các cơ quan trong nước và nước ngoài theo qui định của pháp luật; quản lý tư liệu, thư viện của Bảo tàng xuất bản các ấn phẩm khoa học, phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học, truyền bá các kiến thức khoa học tới quảng đại quần chúng dưới các hình thức trưng bày, trình diễn, băng đĩa hình; cung ứng các dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách tham quan

8 Quản lý tổ chức, bộ máy, biên chế, tài sản và kinh phí của Bảo tàng theo các quy định, chế độ của Nhà nước và của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

9 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam

IV HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC.

- Hiện vật trưng bày: Tính đến năm 2008, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đang lưu giữ 25.000 hiện vật (trong đó có trên 2000 hieenj vật về các dân tộc nước ngoài, 15.000 ảnh đen trắng, 95.000 phim ấn phẩm, 3.200 phim bản dương, 1.600 băng hình, 700 băng catsette và 400 đĩa CD, VCD, DVD phản ánh mội mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán của 54 dân rộc Việt Nam

- Trong khoảng hơn một chục năm qua, Bảo tàng có 3 khu vực chính:

Khu một bao gồm nhà trưng bày, văn phòng và cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ

thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường Các khối nhà liên hoàn với nhau, có tổng diện tích 2.480m2, trong đó 750 m2 dùng làm kho bảo quản hiện vật

Khu trưng bày trong nhà, trưng bày nhiều thứ rất bình thường trong đời sống hàng ngày của người dân như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể và phi vật thể của cộng

Trang 6

đồng dân cư, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và mọi sáng tạo văn hoá của

họ Bởi vậy, trong Bảo tàng này, hiện vật rất phong phú, có thể hình thành được nhiều sưu tập theo các tiêu chí khác nhau Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc, như: về người Thái, về người Hmông, về người Gia Rai Phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về

vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ Lại có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác Trên cơ

sở đó, Bảo tàng tổ chức trưng bày và xuất bản sách ảnh theo các dạng thức sưu tập khác nhau, bổ ích và lý thú đối với mọi đối tượng, mọi trình độ học vấn

Khu trưng bày trong nhà gồm hai tầng và được chia làm 8 phần:

Giới thiệu chung

Giới thiệu về dân tộc Kinh

Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày, Thái, Kadai

Các dân tộc nhóm ngôn ngữ H’Mông, Dao, Tạng, Sán, Dìu, Ngái

Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer

Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo

Các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer

Giao lưu, hội nhập giữa các dân tộc

Khu thứ 2 là khu trưng bày ngoài trời, rộng khoảng 2 ha, bắt đầu xây dựng

năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bày cuối cùng trong năm 2006

Khu trưng bày ngoài trời, Bảo tàng dựng 9 công trình kiến trúc dân gian cùng một số hiện vật lớn như:

Xen giữa các công trình kiến trúc dân gian đó là cây xanh các loại, các lối đi ngoằn ngoèo và cả con suối uốn khúc chảy suốt 4 mùa, có cầu bắc nối đôi bờ

Khu thứ ba, từ giữa năm 2007 đến nay đang xây dựng và sắp hoàn thiện một

tòa nhà 4 tầng, mang tên “nhà Cánh diều”, để giới thiệu về văn hóa các dân tộc nước ngoài, chủ yếu là các dân tộc ở Đông Nam Á

Trang 7

- Từ năm 2007 đến nay Bảo tàng thường xuyên tổ chức các chương trình hoạt động trình diễn, cuộc trưng bày hướng đến các đề tài đương đại, những vấn đề có tính thời sự để tạo ra sự gần gũi và thu hút nhiều đối tượng công chúng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ngoài trưng bày thương xuyên, còn tổ chức những trưng bày theo chuyên đề, để trưng bày trưng chủ đề mang tính thời sự, những vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều hơn như: Trưng bày thời bao cấp ở Hà Nội, 20 năm HIV ở Việt Nam, câu chuyện Mêkông, thách thức và cơ hội của đường 9, Thực tế những trưng bày và chương trình diễn tạo cho Bảo tàng luôn có điểm mới, tạo sự sự tò mò, thích thú cho nhiều đối tượng công chúng khác nhau đến với Bảo tàng Ngoài những hoạt động thường niên vào ngày tết cổ truyền – chương trình Vui xuân, trung thu và ngày quốc tế thiếu nhi Bên cạnh đó Bảo tàng còn tổ chức những cuộc tọa đàm khoa học về những vấn đề gắn với Bảo tàng và văn hóa Việt Nam như Biến đổi văn hóa của người Dao thông qua biến đổi trong ngôi nhà, biến đổi văn hóa của người Chăm, hay chủ đề nhận thức của giới trẻ với việc bảo tồn văn hóa tộc Ngoài ra, Bảo tàng còn mời các phường rối dân gian đến trình diễn

và tổ chức giao lưu, trình diễn với các nghệ sĩ ca trù Những chương trình này được diễn vào các ngày cuối tuần để thu hút công chúng đến tham quan Bảo tàng Việc mời các đoàn nghệ thuật dân gian đến trình diễn có một ý nghĩa thiết thực vừa hỗ trợ các phường rối dân gian giữ được bảo tồn nghề và góp phần thu hút công chúng đến thăm quan và tham gia xem trình diễn rối nước và ca trù Thực tế cho thấy những chương trình giới thiệu trình diễn này thu hút một lượng công chúng khá đông đảo đến với đến với Bảo tàng nhất là khác nước ngoài, chính vì vậy những ngày cuối tuần Bảo tàng thường đông khách hơn rất nhiều

Bảo tàng Dân tộc học luôn chú trọng, quan tâm để đầu tư cho các hoạt động trình diễn, nhất là các chương trình lớn như trung thu, vui xuân, chương trình 1/6

và tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm về các vấn đề được nhiều người quan tâm Bảo tàng luôn xem trọng tạo ra sản phẩm, dịch vụ văn hóa mới để thu hút công chúng đến tham gia Những hoạt động trình diễn, tọa đàm và giao lưu văn hóa với các nước là một bản sắc riêng của Bảo tàng trong hệ thống bảo tàng ở Việt Nam

Trang 8

và cả bảo tàng trên thế giới (ICOM) Ngay trong các chương trình hoạt đồng trình diễn Bảo tàng cũng luôn hướng đến các đề tài, nội dung của các chương trình luôn được thay đổi cả chủ đề và nội dung, đặc biệt ưu tiên cho những hoạt động, trò chơi, trình diễn mới, hướng đến các dân tộc ít được quan tâm

V THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC

Trong bối cảnh hiện nay, khi ngành công nghiệp dịch vụ, vui chơi giải trí đang ngày càng phát triển, các loại hình vui chơi giải trí như rạp chiếu phim, khu vui chơi… đang thu hút rất đông đảo du khách đến thì bảo tàng đứng trước khó khăn

về lượng du khách đến thăm quan ngày càng ít dần Có thể nói, đây là ,khó khăn chung của hầu hết các bảo tàng trong hệ thống bảo tàng của nước ta

Tuy nhiên, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã có nhiều chính sách, cách thức mới nhằm cải thiện những khó khăn mà hệ thống bảo tàng trong nước đang gặp phải Hiện nay Bảo tàng Dân tộc hóc Việt Nam được đánh giá là một trong những bảo tàng hoạt động hiệu quả nhất trong hệ thống bảo tàng Việt Nam

Bảo tàng DTHVN đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Cùng với và gắn liền với hoạt động sưu tầm, Bảo tàng DTHVN thực hiện có hiệu quả công tác nghiên cứu cơ bản phục vụ trực tiếp cho các hoạt động đa dạng của mình; đồng thời, Bảo tàng đã tiến hành có kết quả nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và hợp tác quốc tế về dân tộc học/nhân học và bảo tàng học

Từ kết quả hoạt động nghiên cứu 18 năm qua, Bảo tàng DTHVN đã công bố, xuất bản hàng chục cuốn sách có giá trị khoa học, thu hút sự quan tâm của độc giả trong và ngoài nước dưới các dạng khác nhau: chuyên khảo, kỷ yếu, sách giới thiệu trưng bày Ngoài ra, phải kể đến hàng trăm bài báo trên những tạp chí khoa học chuyên ngành, mà các tác giả là người của Bảo tàng DTHVN Cán bộ của Bảo tàng còn tham gia nhiều hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế ở trong và ngoài nước

Nguồn nhân lực của Bảo tàng DTHVN không ngừng được nâng cao về trình

độ chuyên môn - nghiệp vụ Từ 18 người được điều chuyển từ Viện Dân tộc học

Trang 9

sang cuối năm 1995, tính đến tháng 10 năm 2012, Bảo tàng có 82 thành viên trong

đó có 2 PGS.TS, 8 TS, 14 ThS, 50 CN Đặc biệt đội ngũ hướng dẫn viên của bảo tàng có thể hướng dẫn cho khách du lịch quốc tế bằng tiếng Anh và tiếng Pháp Đây là điều mà không phải bảo tàng trung ương nào cũng có thể thực hiện được Bảo tàng DTHVN không ngừng mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế Ngay

từ khi mới thành lập, hoạt động đối ngoại là mảng công tác được Bảo tàng DTHVN đặc biệt chú ý Ngoài hợp tác có hiệu quả với Cộng hòa Pháp trong thời gian từ 1995 đến nay, Bảo tàng đã dần mở rộng quan hệ hợp tác với các bảo tàng của các nước như Mỹ, Nhật, Hà Lan, Canađa, Ý, Bỉ, Hàn Quốc, Trung Quốc… Mới đây, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam xếp thứ 6 trong 25 bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á, bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn chặt chẽ của quốc tế về chất lượng Theo bình chọn của trang web du lịch uy tín trên thế giới – Trip Advisor, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được 500 phiếu đánh giá xuất sắc,

357 phiếu đánh giá tốt; đạt mức 4,5 sao, được du khách đánh giá là điêm đến hấp dẫn nhất thành phố Hà Nội và đứng thứ 6 trong danh sách 25 bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á Năm 2010, bảo tàng được trao chứng chỉ xuất sắc với 4,5 sao và xếp

số 1 trên 67 điểm đến hấp dẫn du khách tại Hà Nội năm 2013

Theo thống kê 6 tháng năm 2013, số khách thăm quan Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là 243.826 lượt người, tăng 6% so với cùng ký năm trước Trong số đó,

có 195.076 lượt khách Việt Nam, 48.750 lượt khách quốc tế đến từ 59 quốc gia và vùng lãnh thổ

IV ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP

- Vị trí địa lý: Đường Nguyễn Văn Huyên là tuyến đường rộng, thuận tiện cho giao thông với những tuyến xe bus 13, 38, 07, 39 Đây cũng là vị trí gần nhiều trường đại học, cao đẳng; Đối diện với công viên Nghĩa Đô, cảnh quan môi trường thoáng mát

- Phương pháp bài trí nội dung trưng bày hiện vật:

Trang 10

+ BTDTHVN được triển khai theo nhiều quan niệm mới phù hợp với sự tiến

bộ khoa học và kỹ thuật Trước hết đó là quan niệm Bảo tàng dành cho tất cả mọi người Quan niệm này được thể hiện trong cả kiến trúc lẫn trong kỹ thuật trưng bày Bảo tàng có lối đi riêng thích hợp cho thương binh hay những người khuyết tật phải di chuyển bằng xe đẩy và có thang máy để họ lên xem tầng hai Các bậc lên xuống đều có tay vịn cho người già yếu tiện đi lại Trong trưng bày, kế thừa kinh nghiệm của nhiều bảo tàng trên thế giới, BTDTHVN đã không chọn chữ in

mà chọn chữ viết thường cho tất cả các bài viết để người xem ở các lứa tuổi có thể đọc dễ dàng và không mỏi mắt Các tấm pa nô cũng được treo ở tầm cao có tính toán phù hợp với cả lứa tuổi thiếu nhi Phần trưng bày của Bảo tàng có hiện vật,

có ảnh, bài viết, có băng hình, có các tư liệu tham khảo mà người xem tuỳ trình

độ và nhu cầu khác nhau có thể khai thác nhiều hay ít Bảo tàng lấy hiện vật làm trung tâm vì hiện vật phản ánh những sinh hoạt đời thường của nhân dân các dân tộc Vậy nên một quan điểm xuyên suốt là: trang trí thật đơn giản, không cầu kỳ, để người xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của mỗi hiện vật rất bình dị, đời thường Trong Bảo tàng không có tranh minh hoạ Nếu cần minh chứng cho những sinh hoạt nào đó thì Bảo tàng chỉ dùng ảnh hay băng hình phản ánh cuộc sống thực của các dân tộc

+ Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày của Bảo tàng là kết hợp giữa cộng đồng ngôn ngữ và vùng lãnh thổ Hầu hết hiện vật trưng bày là hiện vật gốc, được lựa chọn và chủ yếu phô bày trong 97 tủ kính lớn nhỏ khác nhau: có loại tủ 1 mặt, có loại 4 mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật, có tủ chỉ đặt 1 hoặc vài ba hiện vật Trong số đó, hơn 50 tủ có bài viết giới thiệu kèm theo Mỗi hiện vật đều có phụ đề ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho biết dân tộc và xứ sở sản sinh ra nó Bảo tàng cũng sử dụng manơcanh, bản đồ, biểu đồ, sách cứng, ảnh, phim video, băng

âm thanh, một số mô hình và 33 pa nô trong trưng bày Mặc dù diện tích không lớn, nhưng trong nhà vẫn có một số điểm nhấn được trưng bày theo hình thức tái tạo về một tập tục hay một nét văn hoá nào đó Người xem có thể hiểu được nội dung tái tạo không chỉ thông qua hệ thống hiện vật, mà còn có cả phim video nữa

Ngày đăng: 13/05/2021, 08:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w