Ở Hà Nội, hoạt động du lịch bảo tàng cũng khá phổ biến với du khách nước ngoài, đặc biệt, du khách không thể bỏ qua bảo tàng là Bảo tàng Dân tộc học. Khi đến bảo tàng, du khách có thể tìm hiểu được lịch sử của nước ta và nền văn hóa của 54 dân tộc anh em. Tuy nhiên, bảo tàng trên mới chủ yếu tập trung vào tổ chức các hoạt động, sự kiện cho người Việt, vẫn chưa có nhiều sự kiện cho khách nước ngoài. Do vậy, chúng ta cần tìm hiểu thêm để nắm bắt được nhu cầu của khách, đặc biệt là khách du lịch Pháp – nhóm khách đến bảo tàng nhiều nhất.
Trang 1Mục lục
Chương 1: Lời mở đầu 3
1.1.Lý do chọn đề tài 3
1.2.Tổng quan tài liệu 4
1.3.Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 5
1.5.Nhiệm vụ nghiên cứu 6
1.6.Phạm vi nghiên cứu 6
1.7.Phương pháp dự định nghiên cứu 7
1.8.Giả thiết nghiên cứu 8
1.9.Bố cục báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài 9
Chương 2: Tổng quan lý luận về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 10
2.1 Khái niệm “Khách du lịch Pháp” 10
2.2.Giới thiệu chung về bảo tàng dân tộc học Việt Nam 11
2.3 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với du lịch văn hoá………13
2.3.1 Vai trò của Bảo tàng đối với nền văn hoá xã hội của Quốc gia………… 13
2.3.2 Bảo tàng Dân tộc học – một địa chỉ mới cho du khách………16
Chương 3: Phân tích và đánh giá kết quả khảo sát 19
3.1 Câu hỏi khảo sát 20
3.2 Kết quả khảo sát 22
3.3 Phân tích và đánh giá kết quả khảo sát 24
Chương 4: Một vài đề xuất 26
Trang 24.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC TRONG THỜI GIAN
Tài liệu tham khảo 33Phụ lục 34
Trang 3Chương 1: Lời mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, du lịch đang là một xu hướng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới
Du lịch không chỉ mang lại nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế, tạo ra nhiều việclàm cho người lao động, kết nối các ngành dịch vụ, phát triển cơ sở hạ tầng, làphương tiện thúc đẩy hoà bình, giao lưu văn hoá giữa các nước mà còn tạo ranhững giá trị vô hình bền chặt Với những giá trị to lớn ấy, ngành công nghiệp nàynhận được sự quan tâm sâu sắc của tất cả các quốc gia Ngành du lịch của ViệtNam trong những năm gần đây cũng được chú trọng không ngừng để phát triểnnhư một ngành công nghiệp mạnh - “ngành công nghiệp không khói” Phát triển dulịch là tạo ra một tương lai rộng mở cho đất nước tiến vào kỷ nguyên mới, gópphần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước, làm giàu cho các vùng có điểm dulịch, mở rộng giao lưu quốc tế, khích thích đầu tư thúc đẩy hợp tác trong các lĩnhvực
Du lịch văn hóa ở Việt Nam cũng góp phần vào việc phát triển ngành “côngnghiệp không khói” này Du lịch văn hóa đã thu hút một lượng lớn khách quốc tếđến với nước ta Họ không chỉ để thăm quan danh lam - thắng cảnh mà còn đến đểtìm hiểu văn hóa của Việt Nam Và để tiếp cận với nền văn hóa đó thì họ có thểđến thăm quan các di tích lịch sử, lễ hội, tiếp xúc với người bản địa, và trong số
đó cách nhanh chóng, dễ dàng nhất là đến thăm quan bảo tàng – nơi trưng bày cáchiện vật, lưu giữ giá trị của một nền văn hóa Các bảo tàng ở nước ta đã góp phầnvào việc thu hút một lượng lớn khách quốc tế đến với Việt Nam, đặc biệt là khách
du lịch Châu Âu Họ đến với bảo tàng không những biết thêm được lịch sử, vănhóa, cuộc sống ở nơi đó mà còn có thể tham gia vào các trò chơi, hoạt động mà cóthể giúp họ hiểu được đời sống sinh hoạt của người dân như khu trưng bày ngoàitrời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội
Trang 4Ở Hà Nội, hoạt động du lịch bảo tàng cũng khá phổ biến với du khách nướcngoài, đặc biệt, du khách không thể bỏ qua bảo tàng là Bảo tàng Dân tộc học Khiđến bảo tàng, du khách có thể tìm hiểu được lịch sử của nước ta và nền văn hóacủa 54 dân tộc anh em Tuy nhiên, bảo tàng trên mới chủ yếu tập trung vào tổ chứccác hoạt động, sự kiện cho người Việt, vẫn chưa có nhiều sự kiện cho khách nướcngoài Do vậy, chúng ta cần tìm hiểu thêm để nắm bắt được nhu cầu của khách,đặc biệt là khách du lịch Pháp – nhóm khách đến bảo tàng nhiều nhất Từ nhữngthông tin đã khảo sát được này, chúng ta có thể tìm ra những hoạt động, sự kiệnphù hợp nhất với họ Thông qua đó, ta có thể làm tăng hứng thú của khách du lịch,
do vậy họ sẽ muốn quay lại với đất nước ta Chính vì vậy, để tìm hiểu mong muốncủa khách du lịch và nâng cao hơn nữa số lượng khách đến cũng như quay lại với
Việt Nam, tác giả xin lựa chọn đề tài “Khảo sát nhu cầu và mong muốn của khách tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”.
1.2 Tổng quan tài liệu
Trong bài “ Đa dạng hóa các hoạt động của bảo tàng hiện đại ( Từ kinh
nghiệm của bảo tàng Dân tộc học Việt Nam)” của PGS.TS Nguyễn Văn Huy đăng
trên Tạp chí Di sản văn hóa số 6 năm 2004, tác giả đã đưa ra định nghĩa của “Đadạng hóa các hoạt động bảo tàng” và tầm quan trọng của việc đó, đồng thời tác giảcũng đưa ra ưu điểm, nhược điểm và nêu sơ qua cách khắc phục vấn đề của bảotàng Theo tác giả, trước đây, mục đích của bảo tàng thiên về mục đích tuyêntruyền thuần túy, đơn giản nên khô khan, kém hấp dẫn, vì vậy, bảo tàng cần phải
có những hoạt động khác đi kèm như tọa đàm, trình diễn, chiếu phim, hội thảo,
và việc bổ sung những hoạt động đi kèm đó gọi là “ Đa dạng hóa các hoạt độngbảo tàng” Hiện nay, công chúng không còn dễ dãi với bất kỳ hoạt động nào cùabảo tàng, vì mục đích sống còn nên bảo tàng bắt buộc phải đa dạng hóa các hoạtđộng của mình Tuy nhiên, bảo tàng ở Hà Nội cũng có những thuận lợi trong côngcuộc này là do lượng khách quốc tế đến Hà Nội tăng và họ có thói quen đi bảo
Trang 5tàng Ngoài ra tác giả còn đề xuất một số giải pháp đa dạng hóa hoạt động của bảotàng, tuy nhiên, những biện pháp được đưa ra vẫn còn chung chung và chưa cụ thể
và chủ yếu là những biện pháp đưa ra nhằm thu hút khách nội địa và phát triển bảotàng là chủ yếu, tác giả không đề cập đến những biện pháp dành riêng để thu hútkhách quốc tế mặc dù đây là đối tượng khách chính của bảo tàng
Trong bài “Bảo tàng cho tương lai và tương lai của bảo tàng” của PGS.TS
Đặng Văn Bài đăng trên Tạp chí Di sản văn hóa số 8 năm 2004 có đưa thực trạng
và nhược điểm của các bảo tàng ở Việt Nam Theo tác giả, các bảo tàng ở ViệtNam chỉ chú trọng vào giới thiệu quá khứ mà không giới thiệu nhiều về cuộc sốngđời thường đang diễn ra hàng ngày, thậm chí, trong phần giới thiệu về quá khứcũng không đề cập đến những nội dung mà công chúng quan tâm Tác giả có đưa
ra quan điểm: “ Hoạt động của các bảo tàng mới chỉ đổi mới ở bề rộng và ở hìnhthức mà chưa có sự cách tân theo chiều sâu; đặc biệt là ở nội dung trưng bày” Saukhi đưa ra nêu ra nhược điểm của bảo tàng ở Việt Nam, tác giả đã đề ra những biệnpháp cụ thể để giải quyết vấn đề này, những biện pháp được đề ra khá rõ ràng và
cụ thể, tuy nhiên những biện pháp này cũng như biện pháp PGS.TS Nguyễn Văn
Huy đưa ra trong bài “ Đa dạng hóa các hoạt động của bảo tàng hiện đại” chủ yếu
để phát triển bảo tàng trong lĩnh vực giáo dục công chúng trong nước hơn là thuhút, quảng bá văn hóa Việt Nam đến với công chúng quốc tế
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, tôi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào:
- Thực trạng khách du khách Pháp đến Bảo tàng Dân tộc học Việt Namtrong những năm gần đây
- Đánh giá, nhu cầu và mong muốn của khách quốc tế khi tới bảo tàng ở
Hà Nội
Trang 61.4 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
Với mục đích chính của đề tài là tìm hiểu mong muốn và nhu cầu của dukhách Pháp khi tới Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp đểphát triển hoạt động du lịch cho bảo tàng để thu hút thêm khách quốc tế đến vớibảo tàng ở Hà Nội, bài nghiên cứu bao gồm những mục tiêu sau:
- Biết được nhu cầu và mong muốn của khách du lịch quốc tế khi tớithăm quan Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
- Tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động và dịch
vụ của các bảo tàng ở Hà Nội
- Làm cơ sở dữ liệu cho các nhà hoạt động du lịch tìm ra các giải pháp
để thu hút thêm khách quốc tế tới Hà Nội
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan lý luận về chất lượng các hoạt động và dịch vụ của Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam
- Tổng quan về nhu cầu và mong muốn của khách Pháp khi đến Bảotàng Dân tộc học Việt Nam
1.6 Phạm vi nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, với vốn kiến thức còn rất hạn hẹp củamột sinh viên và những thông tin, kiến thức tham khảo được từ các nguồn khácnhau như sách báo, internet,…nên bài nghiên cứu của tôi chỉ giới hạn trong phạm
vi sau:
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trong phạm vi thành phố Hà
Nội, khảo sát thực tế tại bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội nằm trongtop 25 bảo tàng thu hút khách nhất Châu Á theo đánh giá của trangTripadvisor, một trang web du lịch lớn nhất thế giới
Trang 7- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu sử dụng các số liệu, tài liệu được thu
thập từ thời điểm 2004 đến nay và các định hướng thu hút khách du lịch củaBảo tàng Dân tộc học Việt Nam và các giải pháp cho thời gian tới
1.7 Phương pháp dự định nghiên cứu
Phương pháp khảo sát thực địa: với bài nghiên cứu này, tôi sẽ tiến
hành khảo sát tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Từ đó có thể thu thậpđược những đánh giá của khách quốc tế đối với bảo tàng hiện nay, đồng thời
có thể tìm hiểu được nhu cầu và mong muốn của khách quốc tế khi tới thăm
Phương pháp thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu: tiến hành thu thập
và nghiên cứu thông tin trong những nghiên cứu của tác giả đi trước, trongnhững bài báo chuyên nghành về hoạt động của bảo tàng, sau đó đánh giá độtin cậy của thông tin và tiến hành xử lý thông tin đó Từ đó thấy được thựctrạng các hoạt động của bảo tàng, phương hướng hoạt động của bảo tàngtrong thời gian tới để có được cái nhìn tổng quát về hoạt động du lịch củaBảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Phương pháp khảo sát qua mạng: do khách Pháp đến bảo tàng ở Hà
Nội thường đi theo đoàn nên điều kiện tiếp cận được với nhiều ý kiến vàđánh giá khác nhau của khách Pháp khá khó khăn, vì vậy, tôi sử dụng thêmcông cụ internet là google survey để tiếp cận những khách quốc tế khác đã
Trang 8từng thăm quan Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Từ đó thấy được ý kiếnđánh giá của du khách đối với các hoạt động, sự kiện và chương trình du lịchtại bảo tàng mà các du khách đã được tham gia.
Phương pháp tổng hợp, thống kê, đối chiếu xử lý thông tin: Sau khi có
được số liệu từ khảo sát thực địa và khảo sát qua mạng, tôi sẽ dùng các phầnmềm như Excel để phân tích số liệu, so sánh sự tương quan giữa các đốitượng để có thể thấy rõ được đánh giá, nhu cầu và mong muốn của kháchPháp về các hoạt động, chương trình và dịch vụ của Bảo tàng Dân tộc họcViệt Nam
1.8 Giả thiết nghiên cứu
Với bài nghiên cứu của mình, tôi sẽ đặt ra một số câu hỏi nghiêncứu sau:
a) Thái độ, đánh giá của khách du lịch Pháp đối với một số hoạtđộng du lịch của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam như thế nào?
b) Hoạt động du lịch của bảo tàng có đóng góp gì du lịch văn hóa
Với câu hỏi a, tôi xin đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu như sau:
Khách du lịch hài lòng với một số hoạt động du lịch của Bảotàng Dân tộc học Việt Nam
Để chứng minh giả thuyết này, tôi xin sử dụng luận cứ sau:Theo số liệu công bố vào tháng 6 năm 2013 của trangTripadvisor, một trang web du lịch có uy tín, đưa ra, Việt Nam có
3 bảo tàng lọt top 25 hấp dẫn nhất Châu Á, trong đó có Bảo tàng
Trang 9Dân tộc học Việt Nam Điều này chứng tỏ rằng, các hoạt động dulịch của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đang ngày càng pháttriển, thu hút được nhiều khách du lịch và đồng thời cũng làm hàilòng họ
Với câu hỏi b, tôi xin đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu như sau:
Hoạt động du lịch của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cóđóng góp khá lớn với du lịch văn hóa của Hà Nội
Để chứng minh giả thuyết này, tôi xin sử dụng một số luận
Với câu hỏi c, tôi xin đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu như sau:
- Đến thăm bảo tàng là thói quen của khách du lịch Pháp
- Cách trưng bày sáng tạo gây ấn tượng tốt với khách
- Các hoạt động và chương trình mang đậm dấu ấn ViệtNam
- Có các hoạt động, trò chơi mang tính tương tác khiến dukhách thích thú
- Các phần giải thích bằng tiếng Pháp chính xác và đưanhiều thông tin
Với câu hỏi nghiên cứu d, tôi xin đưa ra giả thuyết nghiên cứu sau:
Trang 10- Khách tới bảo tàng đi đông thường gây ồn, làm ảnhhưởng đến các khách khách.
- Hoạt động du lịch sáng tạo, nhưng lại không đa dạng
- Quần bán đồ lưu niệm không đặc sắc, sản phẩm khôngmang dấu ấn, chủ đề của bảo tàng
- Dịch vụ ăn uống, quầy ăn vẫn chưa phát triển, kháchquốc tế không có nơi dừng chân để nghỉ sau khi thăm quan bảotàng
1.9 Bố cục báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài
Bài nghiên cứu của tôi gồm 5 phần:
- Chương 1: Mở đầu Phần này đưa ra lí do nghiên cứu đề tài, đối tượng
nghiên cứu, mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nhiệm vụ nghiêncứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Chương 2: Tổng quan lý luận về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Ở
chương này, tôi xin đưa ra một số khái niệm làm rõ nghĩa của các cụm từ cótrong bài như “khách du lịch quốc tế” Đồng thời, trong chương này, tôicũng giới thiệu về lịch sử phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vànhững đóng góp, tầm quan trọng của bảo tàng đối với ngành du lịch của HàNội nói riêng và đối với ngành du lịch Việt Nam nói chung
- Chương 3: Phân tích và đánh giá kết quả khảo sát Qua quá
trình khảo sát thực tế và khảo sát trên mạng, cùng với việc tham khảomột số tài liệu trên internet, tôi xin đưa ra trong chương này nhữngđánh giá về ưu điểm, nhược điểm của các hoạt động, sự kiện, chươngtrình du lịch đó; đồng thời cũng nêu ra những đóng góp của các hoạt
Trang 11động, sự kiện, chương trình đó trong việc thu hút khách du lịch quốc
tế và phát triển du lịch văn hóa ở Hà Nội
- Chương 4: Một vài đề xuất.
- Tài liệu tham khảo.
Trang 12Chương 2: Tổng quan lý luận về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
2.1 Khái niệm “Khách du lịch Pháp”
Khái niệm “ Khách du lịch” có nhiều quan điểm nghiên cứu khác nhaudựa trên các góc độ tiếp cận khác nhau Ví dụ, theo Luật du lịch ban hành năm
2005 có đưa ra định nghĩa “khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.”,
hoặc theo định nghĩa về khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội
nghị Roma do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1963 có nói “ khách du lịch quốc tế
là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của
họ trong thời gian 24 giờ hay hơn.”
Tuy nhiên, trong đề tài này, “khách du lịch” được định nghĩa “ Khách
du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở
đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình.” ( theo định nghĩa của Hội nghị
Du lịch quốc tế tại Hà Lan năm 1989)
Như vậy, “ Khách du lịch Pháp” trong đề tài này được hiểu là khách dulịch là người mang quốc tịch Pháp, đến Việt Nam với mục đích thăm quan, giải trí,nghỉ ngơi trong một thời gian ngắn, chứ không phải ở lại trong thời gian dài vớimục đích nghiên cứu, làm việc, kiếm tiền “ Khách du lịch Pháp tại Bảo tàng Dântộc học Việt Nam” là khách du lịch Pháp tới Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vớimục đích tham quan, tìm hiểu, chứ không phải tới bảo tàng với mục đích nghiêncứu, điều tra
Trang 132.2 Giới thiệu chung về bảo tàng dân tộc học Việt Nam
Bảo tàng dân tộc học Việt Nam là bảo tàng thuộc về lĩnh vực dân tộchọc của Việt Nam trực thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam Chức năng của bảotàng là nghiên cứu khoa học về các dân tộc Việt Nam, sưu tầm, phân loại, đánhgiá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu và khai thác những giá trị lịch sử -văn hóa của các dân tộc, đồng thời cung cấp tư liệu dân tộc học và đào tạo cán bộ
Ý định xây dựng bảo tàng đường hình thành từ năm 1981 Ngày 14tháng 12 năm 1987, công trình Bảo tàng dân tộc học Việt Nam được chính thứcphê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật và được nhà nước cấp đất để xây dựng năm
1987 là 2.500m2, năm 1988 là 9.500 m2 và năm 1990 thủ tướng chính phủ có quyếtđịnh giao toàn bộ 3,27 ha Ngày 24 tháng 10 năm 1995, Viện bảo tàng dân tộc họcViệt Nam chính thức được thành lập Bảo tàng khánh thành vào ngày 12 tháng 11năm 1997
Bảo tàng dân tộc học Việt Nam do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh thiết kế.Nội thất công trình do bà kiến trúc sư người Pháp Ve’ronique Dollfus thiết kế Bảo tàng gồm hai khu vực chính: Trong nhà và ngoài trời Khu vực trong nhàbao gồm các khối nhà: Nhà trưng bày, cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống khobảo quản, các bộ phận kỹ thuật, hội trường, Các khối nhà này liên hoàn với nhau
có các lối đi được thiết kế hợp lý Khu vực ngoài trời giới thiệu một số công trìnhkiến trúc của một số dân tộc như: nhà người Chăm, nhà người Việt, Thủy đình, nhàcủa người Ê đê, nhà mồ Gia Rai, nhà mồ Cơ Tu, nhà người Dao, nhà người Hà Nhì
và nhà người Tày Tổng diện tích xây dựng là 2.480 m2, trong đó 750 m2 dành chobảo quản hiện vật Hàng năm, bảo tàng đón tiếp 60.000 khách tới tham quan Bảo tàng dân tộc học là trung tâm trưng bày và lưu giữ những giá trịvăn hóa vật thể và phi vật thể của 54 dân tộc Việt Nam Tính đến năm 2000 bảotàng đã tích lũy được 15.000 hiện vật, 42.000 phim (kèm ảnh màu), 2190 phimdương bản, 273 băng ghi âm các cuộc phỏng vấn, âm nhạc, 373 băng video và 25
Trang 14đĩa CDRom Với số lượng hiện vật đó bảo tàng có thể hình thành nhiều bộ sưu tậpkhác nhau như các bộ sưu tập về trang phục, vũ khí, đồ dung sản xuất, đồ vải vàcác loại trang phục dân tộc, đồ dung sinh hoạt gia đình, phương tiện vận chuyển,nghi lễ tôn giáo, đồ trang sức,
Từ các hoạt động sưu tầm, trưng bày và lưu giữ nhằm giới thiệu cho dukhách các nền văn hóa của các dân tộc để góp phần tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau
và giúp cho khách có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về các giá trị văn hóa củamột dân tộc, một quốc gia hay một cộng đồng Bảo tàng đã là một dạng học đườngđặc biệt và là một sân chơi vổ ích, chính vì thế mà hàng năm có hàng chục ngànngười đến bảo tàng để học tập, nghiên cứu và vui chơi
Lượng khách đến với bảo tàng ngày một đông Năm 2007, tính đếnngày 20 tháng 12, bảo tàng dân tộc học Việt Nam đã đón hơn 327.000 lượt khách(không kể khách miễn phí vé), trong đó hơn 188.000 khách trong nước (57,5%) và139.000 người nước ngoài (42,5%) Bảo tàng dân tộc học đã góp một phần lớn vàophát triển du lịch văn hóa và du lịch cũng góp phần vào sự phát triển của bảo tàng.Đây là tác động 2 chiều giữa ngành du lịch và bảo tàng Ngành du lịch càng pháttriển bao nhiêu thì hoạt động bảo tàng càng phát triển bấy nhiêu Và ngược lại, bảotàng dân tộc góp phần lớn vào phát triển du lịch văn hóa Việt Nam
Bảo tàng dân tộc học Việt Nam vừa là một cơ sở khoa học vừa là mộttrung tâm văn hóa có tính khoa học và tính xã hội rộng lớn Bảo tàng cũng là mộtđịa chỉ du lịch văn hóa hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế, đóng góp vào
sự phát triển của du lịch Việt Nam Tất cả những điều đó đều được thể hiện trongchức năng và lượng khách ngày càng một đông của bảo tàng
2.3 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với du lịch văn hoá.
2.3.1.Vai trò của bảo tàng đối với nền văn hoá xã hội của Quốc Gia
Được nhiều nước quan tâm từ rất sớm thông qua các hoạt động sưu tầm cáchiện vật nghiên cứu, chỉnh lý và công bố các tư liệu về di sản văn hoá Cho đến
Trang 15thời gian gần đây các nhà khoa học mới quan tâm đến vấn đề lý thuyết của việcbảo tồn các di sản văn hoá Qua đó vấn đề bảo tồn các di sản đó lâu dài và vĩnhviễn Đến thập kỷ 60 vấn đề bảo tồn các di sản văn hoá nó đã mang tính chất quốctế.
Hàng năm trên thế giới có hàng triệu người đến thăm quan bảo tàng và sốlượng các bảo tàng cũng ngày một gia tăng Đến những năm 70 của thế kỷ này, thếgiới có chừng hơn 20.000 bảo tàng, trong số đó một nửa ở Châu Âu, một nửa ở Mỹ
và những nước còn lại Không một đất nước nào lại không có bảo tàng Có thể nóimột dân tộc không có bảo tàng là một dân tộc không có truyền thống được giữ gìn
và không có lịch sử Một dân tộc như thế sẽ không có khả năng để phát triển bởithiếu những kho tàng sáng tạo của nhân dân mình để mở ra những bản sắc mới trênnền tảng vững chắc của truyền thống dân tộc và văn hoá nghệ thuật từ quá khứ.Bảo tàng ra đời không phải là ngẫu nhiên hay ý muốn chủ quan của những cánhân Bảo tàng chỉ xuất hiện khi sự phát triển kinh tế văn hóa đạt đến một trình độnhất định của lịch sử nhân loại Bảo tàng chỉ thực sự ra đời khi xã hội có giai cấp
và nhà nước được hình thành
Theo định nghĩa của hội đồng quốc tế các đền đài và di chỉ (ICom) đã đề ra:Bảo tàng là một tổ chức không có lợi nhuận, tồn tại lâu dài để phục vụ cho sự pháttriển xã hội, mở rộng đón công chúng Bảo tàng thu nhận, bảo quản, nghiên cứu,trưng bày và tuyên truyền nhằm mục đích giáo dục, học tập và thưởng thức Bảotàng là một bằng chứng vật chất xác thực về con người và môi trường xung quanhcon người
Như vậy bảo tàng có vai trò rất lớn đối với bất cứ cộng đồng quốc gia nào,dân tộc nào Bằng những nhận định của mình trong quá trình tìm hiểu tại bảo tàngtác giả xin đưa ra một số quan điểm về vai trò, lợi ích to lớn về mặt văn hóa xã hộichủ bảo tàng như sau:
Trang 16Các bảo tàng tạo ra lợi ích to lớn về mặt văn hoá xã hội cho các địa phương,trước hết các bảo tàng đảm nhận việc bảo quản và bảo tồn các di sản tự nhiên vàvăn hoá của cộng đồng Với xu hướng ngày càng đánh giá cao hơn tầm quan trọngcủa bản sắc dân tộc, bản sắc vùng và địa phương –nơi các bảo tàng hoạt động và đểphản ánh một cách khách quan sự đổi thay và tính kế thừa của những giá trị vănhoá truyền thống cùng với sự phát triển của đất nước.
Các bảo tàng có trọng trách to lớn là cung cấp cho khách tham quan nhữnghiểu biết về bản sắc một địa danh, một cộng đồng nào đó Trong tình hình nền vănhoá ở nhiều nước đổi thay một cách nhanh chóng toàn diện thì các bảo tàng đóngvai trò là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là kho tàng để tìm hiểu về đời sống vănhoá, cội nguồn của các dân tộc, bên cạnh đó các bảo tàng còn hỗ trợ cho các tổchức giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động và sự kiện văn hoá, làcông cụ giáo dục tư tưởng, giáo dục chính trị thông qua phương pháp trực quansinh động
Ví dụ: Khi tham quan Bảo tàng Dân tộc học người xem có thể hiểurằng đất nước Việt Nam có nền văn hoá đa dạng với 54 dân tộc thiểu số ởViệt Nam Đến với Bảo tàng Lịch Sử người xem có thể hiểu rằng đất nướcViệt Nam có nền văn hóa từ lâu đời và dân tộc Việt Nam có truyền thốngyêu nước dựng nước từ rất sớm
Hoạt động văn hoá của một quốc gia cũng không thể tách khỏi hoạt động củabảo tàng bởi đây là nơi lưu giữ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, thể hiện bảnsắc những nét độc đáo trong nền văn hoá của mỗi nước, tạo nên sự khác biệt giữacác dân tộc Dân tộc nào có nền văn hoá phong phú, mang đậm bản sắc thì bảotàng ở đó càng khẳng định được vị thế của mình và có sức hấp dẫn với người xem.Theo một ý nghĩa nào đó thì các bảo tàng còn nâng cao chất lượng sống củacon người và có thể đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát triển bản sắctại những khu vực mà bảo tàng định vị Chất lượng sống của con người không chỉ
Trang 17là sự no đủ về đời sống vật chất mà còn là sự thoả mãn về đời sống tinh thần Mộtquốc gia đạt đến trình độ phát triển cao thì nhu cầu này càng lớn và trở nên cấpthiết hơn bao giờ hết Nếu hệ thống bảo tàng càng đa dạng, phong phú thì conngười sẽ có nhiều cơ hội hơn để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.Ngượclại những quốc gia đang phát triển, đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đạihoá lại dễ dàng bỏ quên hay làm mất đi giá trị văn hoá của riêng mình trong đó cóbảo tàng Bảo tàng chưa được đánh giá đúng vai trò của mình do các điều kiệnkinh tế chi phối.
Mặc dù theo định nghĩa của ICom “ Bảo tàng là một tổ chức không có lợinhuận” nhưng nó vẫn mang lại lợi ích kinh tế cho từng quốc gia
Ví dụ: Khi khách du lịch đến Pháp, họ không thể không tham quan bảotàng ở Paris như bảo tàng Lourve hàng năm thu hút hơn 10 triệu khách vớigiá vé 6USD/ người Từ đó sẽ kéo theo nhu cầu của khách về các dịch vụkhác thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển Một lợi ích kinh tếkhác mà bảo tàng có thể đóng góp cho các địa phương là tạo công ăn việclàm tăng tỷ lệ nhân công Bản thân bảo tàng là một nơi thu hút nhân công vàmỗi công việc mới trong bảo tàng sẽ có một tác động kinh tế nhất định đốivới địa phương – nơi bảo tàng xây dựng Từ đó bảo tàng có tác dụng giúpcho sự phát triển và giữ vững thế mạnh kinh tế của địa phương
Như vậy đối với bất kỳ dân tộc nào bảo tàng là thành tố không thể thiếu đểduy trì bản sắc văn hoá của dân tộc mình, làm cơ sở cho sự phát triển kế tiếp
2.3.2 Bảo tàng Dân tộc học – một địa chỉ mới cho du khách .
Trong thời đại mới, dân tộc và văn hoá ngày càng trở thành hai vấn đề mangtính chiến lược, thời sự trong mỗi con người, mỗi đất nước và toàn xã hội Đặc biệttrước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, xu thế giao lưu hội nhậpđang mở ra cho xã hội loài người những thời cơ và thách thức mới Nhu cầu của họkhông còn dừng lại ở việc ăn, mặc, ở Vì thế du lịch đã trở thành một hoạt động
Trang 18thiết yếu đối với họ Mục đích của chuyến đi không chỉ đơn thuần là dịp để nghỉdưỡng mà qua đó họ có nhu cầu tìm hiểu văn hoá truyền thống của các dân tộc.Trong 225 quốc gia và các vùng du lịch trên thế giới thì bảo tàng cũng lànhững điểm đến quan trọng và hấp dẫn của mỗi địa phương bên cạnh các khu dulịch, trung tâm giải trí Đối với Việt Nam - điểm du lịch mới còn yếu kém về cơ sở
hạ tầng, nghèo nàn về dịch vụ giải trí thì thế mạnh nổi lên là các danh lam thắngcảnh, di tích lịch sử, lễ hội, bảo tàng, vì thế vai trò của bảo tàng Việt Nam nóichung và Bảo tàng Dân tộc học nói riêng là một thành tố không thể thiếu được củahoạt động du lịch văn hoá
Theo số liệu của tạp chí du lịch và nghỉ dưỡng, thị hiếu du lịch văn hoá và bảotàng của khách du lịch Âu – Mỹ trong hai thập niên 80 và 90 tăng nhanh gấp đôitrong khi nhu cầu về thú vui xa hoa đã giảm sút
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được đánh giá là một trong những bảo tànghoạt động hiệu quả nhất Việt Nam Góp phần vào thành công đó phải kể đếnnhững hoạt động thực tiễn mà trong những năm qua bảo tàng đã tiến hành: Hoạtđộng sưu tầm nghiên cứu hiện vật, hoạt động trưng bày, hoạt động giáo dục, hoạtđộng trình diễn, hoạt động marketing…Hiện nay
Bảo tàng Dân tộc học được đánh giá là một điểm du lịch văn hoá hấp dẫn ởViệt Nam bởi những thế mạnh sau:
Sức sống của một bảo tàng là hiện vật, sức sống của Bảo tàng Dân tộc họcViệt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Bảo tàng Dân tộc học là trung tâmtrưng bày và lưu giữ những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của 54 dân tộcViệt Nam Tính đến năm 2000 bảo tàng đã tích luỹđược 15000 hiện vật, 42000phim (kèm ảnh màu), 2190 phim dương bản, 273 băng ghi âm các cuộc phỏng vấn,
âm nhạc, 373 băng video và 25 đĩa CDRom Với số lượng hiện vật đó bảo tàng cóthể hình thành nhiều bộ sưu tập khác nhau như các bộ sưu tập về trang phục, vũ