CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 1.1 Thông tin chung về Bảo tàng dân tộc học Việt Nam Tên gọi: Bảo tàng dân tộc học Việt Nam Thành lập: 24101995 Điện thoại: (04) 35762192 Địa chỉ: Đường Nguyễn Văn Huyên, Quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam. Fax: (04) 338360531 Website: http:www.vme.org.vn Giá vé vào cửa: 40.000 đồngngười, giảm giá cho học sinh, sinh viên và người già trên 60 tuổi ( 10.000 đồnghọc sinh; 15.000 đồngsinh viên; 20.000 đồngngười trên 60 tuổi), miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi và người bị khuyết tật nặng. Giờ mở cửa từ 8h30 – 17h30, từ thứ Ba đến Chủ nhật hàng tuần. 1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam Bảo tàng DTHVN chính thức thành lập ngày 24101995 và khu trưng bày đầu tiên (trưng bày Các dân tộc Việt Nam) được khánh thành vào ngày 12111997. Quá trình hình thành Bảo tàng DTHVN diễn ra trong thời gian dài, những ý tưởng về thành lập Bảo tàng đã được nảy nở và thúc đẩy mạnh mẽ từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, xuất phát từ những nhà dân tộc học ở Viện Dân tộc học. Qua thực tiễn những năm tháng nghiên cứu dân tộc học, nhất là điền dã dân tộc học, họ nhận thấy một đất nước đa dân tộc và việc thực thi một chính sách bình đẳng, đoàn kết các dân tộc của nhà nước Việt Nam không thể không có bảo tàng dân tộc học. Phần lớn những nhà dân tộc học nói trên đều có cơ hội được đào tạo và tu nghiệp ở Liên Xô hồi cuối những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Họ được trang bị lý luận dân tộc học Xôviết, được tận mắt thấy Bảo tàng dân tộc học ở Lêningrat (nay là St. Peterburg). Cùng với kinh nghiệm thực tiễn tại Việt Nam, còn có một tác nhân là lời khuyến nghị của giáo sư G. Condominas người Pháp trong buổi thuyết trình tại Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đầu những năm 70 về sự cần thiết của bảo tàng dân tộc học. Tất cả những tác động ấy đã trở thành động lực thôi thúc họ đề xuất thành lập bảo tàng dân tộc học ở Hà Nội. Về mặt hành chính, có thể coi dấu mốc đặt cơ sở đầu tiên cho việc hình thành Bảo tàng DTHVN là công văn số 1388V4 ngày 2041981của Thủ tướng Chính phủ cho phép Viện Dân tộc học xúc tiến lập luận chứng kinh tế kỹ thuật về công trình Bảo tàng Dân tộc học. Bảo tàng DTHVN được thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu, gìn giữ và phổ biến các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của tất cả các dân tộc Việt Nam. Năm 1986, Bảo tàng chính thức được cấp vốn đầu tư xây dựng. Ngày 1361989, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra công văn số 1846CVUB đồng ý để Viện Dân tộc học xây dựng bảo tàng tại xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, Hà Nội (nay là quận Cầu Giấy, Hà nội). Ngày 3171990, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 273CT về việc giao 3,27 ha đất để xây dựng Bảo tàng DTHVN. Công trình được triển khai xây dựng từ cuối năm 1989, nhưng do sự đầu tư thiếu tập trung nên tiến độ xây dựng đã bị chậm lại. Khi mới thành lập, Bảo tàng DTHVN có 18 cán bộ và đều từ Viện Dân tộc học chuyển sang, trong đó có 15 cán bộ nghiên cứu. Lớp cán bộ này có thế mạnh trong việc nghiên cứu, sưu tầm hiện vật dân tộc học phục vụ cho
Trang 1CHƯƠNG 1 - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
1.1Thông tin chung về Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
Tên gọi: Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
CHƯƠNG 1 Giờ mở cửa từ 8h30 – 17h30, từ thứ Ba đến Chủ nhật hàngtuần
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
Bảo tàng DTHVN chính thức thành lập ngày 24/10/1995 và khu trưngbày đầu tiên (trưng bày Các dân tộc Việt Nam) được khánh thành vào ngày12/11/1997 Quá trình hình thành Bảo tàng DTHVN diễn ra trong thời giandài, những ý tưởng về thành lập Bảo tàng đã được nảy nở và thúc đẩy mạnh
mẽ từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, xuất phát từ những nhà dân tộchọc ở Viện Dân tộc học Qua thực tiễn những năm tháng nghiên cứu dân tộchọc, nhất là điền dã dân tộc học, họ nhận thấy một đất nước đa dân tộc và việcthực thi một chính sách bình đẳng, đoàn kết các dân tộc của nhà nước ViệtNam không thể không có bảo tàng dân tộc học Phần lớn những nhà dân tộchọc nói trên đều có cơ hội được đào tạo và tu nghiệp ở Liên Xô hồi cuối
Trang 2luận dân tộc học Xôviết, được tận mắt thấy Bảo tàng dân tộc học ở Lêningrat(nay là St Peterburg) Cùng với kinh nghiệm thực tiễn tại Việt Nam, còn cómột tác nhân là lời khuyến nghị của giáo sư G Condominas người Pháp trongbuổi thuyết trình tại Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâmKhoa học xã hội Việt Nam) đầu những năm 70 về sự cần thiết của bảo tàngdân tộc học Tất cả những tác động ấy đã trở thành động lực thôi thúc họ đềxuất thành lập bảo tàng dân tộc học ở Hà Nội.
Về mặt hành chính, có thể coi dấu mốc đặt cơ sở đầu tiên cho việc hìnhthành Bảo tàng DTHVN là công văn số 1388/V4 ngày 20/4/1981của Thủtướng Chính phủ cho phép Viện Dân tộc học xúc tiến lập luận chứng kinh tế
kỹ thuật về công trình Bảo tàng Dân tộc học Bảo tàng DTHVN được thànhlập với nhiệm vụ nghiên cứu, gìn giữ và phổ biến các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể của tất cả các dân tộc Việt Nam Năm 1986, Bảo tàng chínhthức được cấp vốn đầu tư xây dựng Ngày 13/6/1989, Ủy ban nhân dân thànhphố Hà Nội ra công văn số 1846/CVUB đồng ý để Viện Dân tộc học xâydựng bảo tàng tại xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, Hà Nội (nay là quận CầuGiấy, Hà nội) Ngày 31/7/1990, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số273/CT về việc giao 3,27 ha đất để xây dựng Bảo tàng DTHVN Công trìnhđược triển khai xây dựng từ cuối năm 1989, nhưng do sự đầu tư thiếu tậptrung nên tiến độ xây dựng đã bị chậm lại
Khi mới thành lập, Bảo tàng DTHVN có 18 cán bộ và đều từ Viện Dântộc học chuyển sang, trong đó có 15 cán bộ nghiên cứu Lớp cán bộ này cóthế mạnh trong việc nghiên cứu, sưu tầm hiện vật dân tộc học phục vụ chocông tác trưng bày của Bảo tàng Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, chủ yếu
là hơn một năm kể từ ngày chính thức thành lập (24/10/1995), lớp cán bộ đầutiên này đóng vai trò chủ công trong việc sưu tầm được gần 7.000 hiện vậtcủa đủ 54 dân tộc, thuộc địa bàn gần 40 tỉnh thành trong cả nước Nhìn nhận
về thời kỳ đầu ấy, TS Lưu Hùng (nguyên PGĐ) cho rằng: “Việc 18 cán bộ từViện Dân tộc học chuyển sang là một thuận lợi lớn cho Bảo tàng DTHVN.Nếu không phải là những nhà dân tộc học từ Viện chuyển sang đợt ấy, mà chỉ
Trang 3có cán bộ chuyên môn bảo tàng, không có hiểu biết về dân tộc học, thì khôngthể có Bảo tàng DTHVN ra đời năm 1997 Chỉ có những người rất am hiểu vàsẵn có kiến thức về văn hóa các dân tộc thì mới có thể sưu tầm được một khốilượng lớn hiện vật trong một thời gian ngắn như vậy” Dần từng bước, độingũ cán bộ thuộc các lĩnh vực công tác khác nhau được tăng cường Lớptrước và lớp sau kết hợp với nhau, các nhà dân tộc học và các nhà bảo tànghọc trở thành hai lực lượng chính đảm đương toàn bộ các công tác chuyênmôn của Bảo tàng DTHVN Hiện nay bảo tàng gồm 3 khu trưng bày chính:
Khu trưng bày Các dân tộc Việt Nam (tòa nhà Trống đồng)
Khu trưng bày Các dân tộc Việt Nam là phần trưng bày đầu tiên của
Bảo tàng DTHVN, được mở cửa từ ngày 12/11/1997, nhân dịp Hội nghịthượng đỉnh các nước có sử dụng tiếng Pháp họp tại Hà Nội Suốt nhiều năm,khu trưng bày thường xuyên này cũng được xác định là phần quan trọng nhấtcủa Bảo tàng Tất cả 54 dân tộc ở Việt Nam được giới thiệu theo nhóm ngônngữ - tộc người kết hợp với yếu tố địa lý, cụ thể gồm 12 không gian nối tiếpnhau theo một lộ trình tham quan như sau:
Trang 41 Giới thiệu chung
7 Nhóm Tạng - Miến
2 Người Việt 8 Nhóm Môn - Khơme miền
Bắc
3 Các dân tộc Mường, Thổ, Chứt.
9 Nhóm Môn - Khơme Trường Sơn - Tây Nguyên.
4 Nhóm Tày Thái
-10 Nhóm Nam Đảo
5 Nhóm Kađai 11 Các dân tộc Chăm, Hoa,
Khơme
6 Nhóm Hmông Dao
-12 Sự giao lưu văn hóa và biến đổi
Trong tòa nhà hai tầng có tên gọi Trống đồng, 54 dân tộc Việt Namđược giới thiệu thông qua hệ thống hiện vật trưng bày và các không gian táitạo, cho công chúng tham quan thấy được từ địa bàn cư trú đến đời sống sinhhoạt hằng ngày, các phong tục tập quán đặc trưng, tôn giáo - tín ngưỡng,…Các hiện vật khá phong phú Đó là hiện vật đồ vải của các dân tộc như: khố,váy, khăn, tấm đắp… được trang trí bằng các kỹ thuật truyền thống khácnhau; đồ đan, nhất là các loại gùi, giỏ, mâm; những nhạc cụ bằng tre, vỏ bầukhô; vũ khí như: nỏ, giáo; các hiện vật trong nghi lễ… Các khu tái tạo theotừng chủ đề như: đám ma Mường, lễ lẩu then của người Tày, lễ cấp sắc củangười Dao, phiên chợ vùng cao… Cùng với các hiện vật và những không gian
Trang 5tái tạo, trong các phòng trưng bày còn có ảnh và phim tư liệu, hệ thống bàiviết phản ánh những khía cạnh văn hóa vật thể và phi vật thể, giới thiệu đờisống và sự sáng tạo văn hóa của các tộc người Thông tin trong các bài viếtcũng như các chú thích đều được thể hiện bằng 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếngPháp và tiếng Anh, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách tham quan trong
và ngoài nước nghiên cứu, tìm hiểu
Ngoài các nội dung trưng bày thường xuyên như vừa nêu trên, Bảo tàngcòn dành hai không gian nhỏ hơn ở khu vực tầng 1 và tầng 2 của tòa nhà để tổchức những cuộc trưng bày chuyên đề (trưng bày nhất thời) Chẳng hạn, hiệnnay ở khu trưng bày chuyên đề tầng 1 đang diễn ra trưng bày Tây Nguyênnhững năm 50 của thế kỷ XX Thông qua trưng bày, cuộc sống thường ngày,trang phục, nghề thủ công, các nghi lễ tôn giáo và không gian cư trú củangười Tây Nguyên hồi những năm 50 của thế kỷ trước được tái hiện một cáchchân thực qua tư liệu ảnh của Jean- Marie Duchange, một nhân viên y tếngười Pháp Trên tầng 2, đang có một trưng bày chuyên đề khác: “Chi Lê nơimảnh đất để lại dấu ấn” cung cấp cho người xem những cảm nhận về đấtnước Chi Lê xa xôi với nhiều nét văn hóa khác biệt thông qua góc nhìn củamột nhiếp ảnh gia là ông George Munro
Vườn kiến trúc (khu trưng bày ngoài trời)
Tham quan Vườn kiến trúc của Bảo tàng DTHVN, người ta thấy được
sự đa dạng trong văn hóa của các dân tộc Đa dạng về loại hình kiến trúc: cónhà sàn, nhà nửa sàn nửa trệt, nhà trệt Đa dạng về vật liệu xây dựng: có nhàlàm bằng gỗ, nhà đắp bằng đất, nhà làm bằng tre, nhà xây bằng gạch; có nhàlợp ngói, nhà lợp cỏ tranh, gỗ tấm, lá cọ Đa dạng về chức năng: nhà ở, nhàcông cộng, nhà mồ, nhà kho Kèm theo đó là không gian sinh hoạt văn hóakhác nhau của mỗi dân tộc, như: nơi thờ cúng tổ tiên, nơi tiếp khách, chỗ ngủcủa các thành viên trong gia đình, bếp, kho thóc… Đó còn là lịch sử ngôi nhàvới hoàn cảnh sinh tồn, các thế hệ sinh ra và lớn lên ở ngôi đó, tập tục sinh
Trang 6 Bảo tàng Đông Nam Á (tòa nhà Cánh diều)
Việt Nam và các nước Đông Nam Á có mối quan hệ lịch sử, văn hóa từ
xa xưa Nhiều dân tộc ở nước ta có quan hệ đồng tộc hoặc gần gũi với cư dân
ở nước khác trong khu vực, như với các cư dân nam Trung Quốc, Lào,Campuchia, Thái Lan hay các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo ở Indonesia,Malaysia Từ năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệphội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Các quan hệ chính trị, xã hội, kinh
tế, văn hóa giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á ngày càng đóng vai tròquan trọng trong khu vực Tuy nhiên, sự hiểu biết của chúng ta về Đông Nam
Á còn rất hạn chế Trong bối cảnh như vậy, việc xây dựng tại Bảo tàngDTHVN một tòa bảo tàng để trưng bày, giới thiệu về các dân tộc ở Đông Nam
Á là cần thiết, rất có ý nghĩa về văn hóa và chính trị Ngày 30/11/ 2013, tòanhà Cánh diều được được khánh thành và khai trương phần trưng bày đầu tiênnhằm phục vụ mục đích này Hiện nay, trong tòa nhà Cánh diều đã có cáctrưng bày ở tầng một và tầng hai
Khu trưng bày tầng 1 dành cho trưng bày Văn hóa Đông Nam
Á Đây là một trưng bày thường xuyên, giới thiệu khái quát vềvăn hóa các dân tộc ở Đông Nam Á thông qua các chủ đề: đồvải, sinh hoạt thường ngày, nghệ thuật biểu diễn, đời sống xã hội
và tôn giáo - tín ngưỡng Với chủ đề đồ vải, Bảo tàng giới thiệucác kỹ thuật dệt (ikat - Campuchia, batik - Indonesia, bổ sungsợi ngang - Lào); chất liệu dệt (sợi dứa, sợi chuối - Philippines,sợi tơ tằm - Indonesia) và một số loại sản phẩm dệt truyền thốngcủa cư dân Đông Nam Á Trong nội dung về cuộc sống hằngngày, có nhiều nghề thủ công nổi tiếng của các quốc gia đượcgiới thiệu như: nghề kim hoàn ở Malaysia và Singapore, nghềsơn mài ở Myanmar, điêu khắc gỗ ở Brunei Kiến trúc nhà ởtruyền thống, các tập quán liên quan tới ma chay, cưới xin, giớithiệu về chữ viết… của cư dân Đông Nam Á bản địa được giới
Trang 7thiệu thông qua hệ thống các bài viết và hiện vật trong chủ đề vềđời sống xã hội Riêng lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, Bảo tànggiới thiệu về rối bóng - một loại hình nghệ thuật nổi tiếng củaIndonesia Một số tôn giáo như Phật giáo, Hindu giáo… ở ĐôngNam Á cũng được đề cập tới trong trưng bày này.
Khu trưng bày tầng 2 bố trí 3 nội dung: Tranh kính Indonesia,
Một thoáng châu Á, và Vòng quanh thế giới Đây là 3 bộ sưu tập hiện
vật của 3 cá nhân đã hiến tặng cho Bảo tàng DTHVN Trưng bày Tranhkính Indonesia được xây dựng từ bộ sưu tập của TS Rosalia Sciortino(Văn phòng Quỹ Rockefeller tại Băng cốc, Thái Lan) tặng cho Bảotàng năm 2006, giới thiệu nghệ thuật làm tranh kính và các chủ đề củatranh kính Indonesia (cuộc sống hằng ngày, sử thi, tôn giáo - tínngưỡng) Trưng bày Một thoáng châu Á giới thiệu sưu tập hiện vật củagiáo sư người Nhật Bản là Kaneko Kazushige, người sáng lập Viện Dântộc học loại hình và Văn hóa châu Á Năm 2005, ông đã hiến tặng choBảo tàng DTHVN 560 hiện vật, phần lớn về các cư dân châu Á Vớitrưng bày này, Bảo tàng đem đến cho công chúng một cái nhìn đa dạng
về văn hóa châu Á qua nhiều nhóm chủ đề như: diều (Trung Quốc);gốm, sơn mài (Nhật Bản); sơn mài (Myanmar); đồ vải (Trung Quốc)…Cuối cùng, trưng bày Vòng quanh thế giới được tổ chức trên cơ sở sưutập hiện vật của GS Lê Thành Khôi, một Việt kiều ở Pháp
1.3 Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng DTHVN
1.3.1 Mô hình và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng DTHVN
Bảo tàng Dân tộc Việt Nam có chức năng nghiên cứu khoa học, sưutầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế hiện vật và tư liệu về các dân tộc; tổ chứctrưng bày,trình diễn và những hình thức hoạt động khác nhằm giới thiệu, phổbiến và giáo dục về các giá trị lịch sử, văn hoá của các dân tộc trong và ngoàinước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc cho các ngành; đào tạo cán
Trang 8pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, hoạtđộng từ ngân sách nhà nước và nguồn thu sự nghiệp; là đơn vị kế hoạch tàichính của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; có trụ sở chính đặt tạiThành phố Hà Nội và tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh: Vietnam Museum
of Ethnology, viết tắt là VME Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm,kiểm kê, bảo quản, phục chế, trưng bày, trình diễn để giới thiệu và giáo dục vềnhững giá trị lịch sử - văn hóa của các dân tộc trong và ngoài nước, cung cấp
tư liệu nghiên cứu về dân tộc, đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ quản lýNhân học Bảo tàng học
Nghiên cứu văn hóa Nước ngoài
Kiểm kê
và bảo quản
Trưng bày Giáo dục
Bảo tàng ngoài trời Quản lý khoa và
hợp tác Quốc tế
Thông tin thư viện
Biên tập trị sự
Trang 9Là tổ chức sự nghiệp trực thuộc Viện hàn lâm Khoa học và xã hội ViệtNam, Bảo tàng DTHVN có cơ cấu tổ chức gồm Ban giám đốc và các phòngchức năng.
- Ban giám đốc gồm 01 giám đốc và 01 phó giám đốc:
(4) Phòng Giáo dục(5) Phòng Bảo tàng ngoài trời(6) Phòng Phim và âm nhạc dân tộc(7) Phòng truyền thông và công chúng(8) Phòng thông tin – thư viện
(9) Phòng quản lý khoa học và hợp tác quốc tế(10) Phòng tổ chức hành chính
(11) Phòng trưng bày(12) Phòng biên tập – trị sự
1.3.2 Chức năng của từng bộ phận
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng có nhiều phòng ban khác nhưphòng giáo dục, phòng trưng bày, phòng bảo quản, thư viện, phòng hànhchính tổng hợp… mỗi phòng có chức năng và nhiệm vụ riêng:
Phòng nghiên cứu văn hóa Việt Nam: nghiên cứu, sưu tầm Vănhóa Việt Nam
Phòng nghiên cứu văn hóa nước ngoài: nghiên cứu,sưu tầmvăn hóa của các nước Hiện nay,trong bảo tàng đã cho xây dựng tòa nhà
Trang 10“Đông Nam Á”, hay còn gọi là “ Nhà Cánh Diều” để trưng bày cáchiện vạt, các nét đặc sắc của các dân tộc trong khu vực Đông Nam Á.
Phòng truyền thông và công chúng: xây dựng, tổ chức các sựkiện của Bảo tàng
Phòng nghe nhìn và lưu trữ phim ảnh: lưu trữ các tư liệu nghenhìn,phim ảnh, băng…
Phòng quản lí đào tạo và hợp tác quốc tế: phụ trách về mảnghọc tập, đào tạo của nhân viên Bảo tàng và các chương trình hợp tácvới Quốc tế
Phòng giáo dục: thuyết minh, tổ chức các chương trình giáodục thường xuyên, chuyên đề, sự kiện của Bảo tàng
Phòng trưng bày: phòng này chuyên nghiên cứu, xây dựng nộidung, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống trưng bàythường xuyên, kế hoạch tổng thể và tổ chức thực hiện các trưng bàychuyên đề, triển lãm lưu động
Phòng bảo quản: phòng nghiên cứu để hoàn thiện bổ sung hồ
sơ pháp lý, hồ sơ khoa học cho từng loại hiện vật hoặc từng sưu tầmhiện vật, thực hiện công tác bảo quản các tài liệu, hiện vật, các giảipháp bảo quản phòng ngừa
Phòng thư viện: lưu trữ sách báo, ấn phẩm, tài liệu của bảotàng, các tài liệu viết về bảo tàng
Phòng hành chính tổng hợp: phụ trách các vấn đề liên quanđến nhân sự, các công tác hành chính chung của Bảo tàng ( văn bản, tàichính …)
Phòng bảo tàng ngoài trời: trưng bày, giới thiệu mô hình cácngôi nhà của các dân tộc Tổ chức trưng bày chuyên đề cố định vàchuyên đề thường xuyên, sự kiện của bảo tàng Quá trình xây dựng khutrưng bày ngoài trời kéo dài trong nhiều năm, nhưng bảo tàng thực hiệnphương châm được đến đâu đưa vào phục vụ du khách đến đó Trongnhiều năm cứ có một công trình nào được hoàn thành ra mắt công
Trang 11chúng lại có thêm một nhân viên được cử ra đó để trông coi và phục vụtham quan Từ tháng 10/2003, bảo tàng thành lập tổ trưng bày ngoàitrời ban đầu có 9 thành viên sau đó số lượng tăng lên do có thêm côngtrình được hoàn thành.
Ngày 30/5/2005, theo quyết định số 956/QĐ/KHXH của Chủ tịch việnKHXH Việt Nam về việc ban hành quy định chức năng, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam phòng bảo tàng ngoài trời đượcthành lập với nhiệm vụ quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục tại các ngôi nhà
và không gian thuộc khu trưng bày ngoài trời khi đó phòng có tất cả 11 thànhviên trong đó có 10 người thay phiên trực tại các ngôi nhà hay các cụm côngtrình: nhà Chăm, nhà Việt, nhà Tày, nhà Dao, nhà Hmông, nhà Hà Nhì, nhàdài Êđê, nhà Rông Bana và nhà mồ được giao cho người trực nhà dài Êđêquản lý
1.4 Kết quả hoạt động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
1.4.1 Thị trường khách của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Hiện nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có hai nhóm khách thamquan chính:
Nhóm khách tham quan cá nhân (Bao gồm du khách Việt Nam và khách nước ngoài)
Nhóm khách tham quan là sinh viên,cán bộ nghiên cứu giảng dạy tạicác trường đại học, các nhà khoa học: Đây là đối tượng khách tham quan cótrình độ học vấn cao về lĩnh vực dân tộc học và các lĩnh vực khác, mục đíchtới bảo tàng là để tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực mà họ quantâm Họ đến bảo tàng thường xuyên, xem xét kĩ lưỡng quá trình bảo tồn, lưugiữ hiện vật, giá trị văn hóa tiêu biểu ở các hiện vật và các vấn đề thuộcchuyên môn bảo tàng Tuy nhiên nhóm khách này chiêm số ít
Nhóm khách tham quan là những người dân bình thường với trình độhiểu biết về dân tộc học không chuyên sâu, bao gồm: công nhân, nông dân,
Trang 12học sinh, sinh viên, Họ đến với bảo tàng nhằm mục đích tìm hiểu truyềnthống dân tộc, và để vui chơi, thư giãn.
Đối với khách tham quan cá nhân là người nước ngoài: Họ đến bảotàng để tìm hiểu về văn hóa các dân tộc Việt Nam Nhóm khách này tuy ítnhưng khả năng thu nhận thông tin cao, họ luon có rất nhiều thắc mắc muốnđược giải đáp và nhu cầu được giải đáp
Nhóm khách tham quan là những tổ chức bao gồm:
Trường học: Đối tượng chính là các giáo viên, lãnh đạo nhà trường.Ởnhóm đối tượng này, gioá viên thường xem xét dựa trên lợi ích của học sinh,buổi tham quan có bổ ích, lý thú không? Có đạt được mục tiêu của nhà trườnghay không?
Các công ty du lịch: Đối tượng chính là hướng dẫn viên Thường là cácđoàn khách Pháp, Mỹ và khách quốc tế đi cùng gia đình Hướng dẫn viênthường xem xét, cân nhắc để thực hiện tour du lịch sao cho hiệu quả
Các cơ quan thông tấn báo chí: đối tượng chính là phóng viên, cán bộtruyền hình
Khách nướcngoài (người)
Khách trongnước (người)
Trang 132015 349.758 131.150 211.508
Nguồn: Lấy từ báo cáo thống kê của phòng bán vé.
Biểu đồ 1.4.2.1: Biểu đồ thống kê và so sánh sự thay đổi lượng khách trong giai đoạn từ năm 1998 – 2014.
Tính đến ngày 4 tháng 12 năm 2014
Trong tám năm đầu mở cửa, Bảo tàng đã có gần 530.000 lượt kháchquốc tế đến từ hơn 69 quốc gia và vùng lãnh thổ tới tham quan Số du kháchđến Bảo tàng ngày càng tăng Cụ thể là giai đoạn 1998 – 2005, số lượngkhách tăng đều từ gần 50 nghìn lượt khách lên hơn 163 nghìn; giai đoạn2005- 2008, lượng khách tăng nhanh từ 163 nghìn lên hơn 400 nghìn lượtkhách; từ 2008 – 2012 số lượng khách tăng chậm; năm 2013 và năm 2014 số
Trang 14lượng khách có xu hướng giảm nhưng không nhiều, trong đó lượt khách trongnước có xu hướng giảm còn lượt khách nước ngoài giảm không đáng kể.
Theo thông kê từ đầu năm 2015 đến hết tháng 11/2015, có 349.758 lượtkhách trong đó 211.508 khách nước ngoài và 131.150 lượt khách trong nước.Lượng khách quốc tế tăng 15% so với năm 2014 ( 183.920 luợt khách) vàlượng khách trong nước có xu hướng giảm Điều này có thể thấy, Bảo tàngDân tộc học Việt Nam luôn là điểm thu hút đối với du khách quốc tế, đặc biệt
là khách Pháp và Mỹ Bên cạnh đó cũng đặt ra thách thức cho Bảo tàng trongcông cuộc đổi mới làm sao để thu hút du khách trong nước đến với những giátrị văn hóa truyền thống của các dân tộc
Với những hoạt động tái hiện không gian văn hóa,trò chơi dân gian, vàcác tập tục của các dân tộc trong ngày lễ, chỉ trong 4 ngày khai hội vui XuânBính Thân 2016 (11/02/2016 – 14/02/2016) BTDTHVN đã thu hút trên25.000 lượt khách, Đặc Biệt 2 ngày chính hội ( mùng 6 và mùng 7 âm) có hơn20.000 lượt khách tham quan Ngay cả ngày 16/2/2016 là ngày đã kết thúc lễhội, Bảo tàng đã đón gần 900 khách Điều này cho thấy, với phương hướngphát triển cùng quan điểm mới, Bảo tàng DTHVN sẽ ngày càng phát triển vàthu hút nhiều du khách hơn nữa, đặc biệt là khách quốc tế
1.4.3 Kết quả hoạt động
Thành lập ngày 24/10/1995, đến nay Bảo tàng DTHVN đã có 20 năm
mở cửa phục vụ công chúng Có thể nói, Bảo tàng DTHVN là một trung tâmtrưng bày và lưu giữ quí giá về văn hoá của đủ 54 dân tộc Tính đến năm 2000
đã tích luỹ được 15.000 hiện vật, 42.000 phim (kèm ảnh màu), 2190 phimdương bản, 273 băng ghi âm các cuộc phỏng vấn, âm nhạc, 373 băng video và
25 đĩa CDRom Đồng thời, đây là một trung tâm nghiên cứu dân tộc học vớinhững chuyên gia về các dân tộc, các lĩnh vực chuyên ngành Người ta đếnđây không chỉ để tham quan, giải trí, mà còn để tìm hiểu, nghiên cứu về cácdân tộc, các sắc thái văn hoá đa dạng và đặc sắc của từng tộc, từng vùng cũngnhư những giá trị truyền thống chung của các dân tộc Vì vậy, từ nhân dân
Trang 15khắp các miền trong nước đến khách nước ngoài, từ học sinh, sinh viên đếnnhà khoa học đều có thể tìm thấy sự hấp dẫn ở đây.
Bảo tàng DTHVN là một trung tâm bảo tồn di sản văn hóa vật thể vàphi vật thể của các dân tộc Bên cạnh việc xây dựng cơ sở vật chất và trangthiết bị cần thiết, Bảo tàng DTHVN đã tích cực sưu tầm hiện vật ở trong nước
và ngoài nước Hai mươi năm qua, Bảo tàng tiến hành gần 300 chuyến sưutầm hiện vật, trong đó có 18 chuyến sưu tầm ở các nước Đông Nam Á Bảotàng đã sưu tầm được hơn 29.000 hiện vật; trong đó có khoảng 25.000 hiệnvật về các dân tộc ở Việt Nam, hơn 2000 hiện vật về các dân tộc Đông Nam Á
và gần 900 hiện vật về các nước khác
Qua 20 năm mở cửa đón khách tham quan, sức thu hút và hiệu quả xãhội của Bảo tàng DTHVN ngày càng tăng Bảo tàng đã đón tiếp hơn 3,2 triệulượt khách trong và ngoài nước, trong đó có trên 1 triệu lượt khách ngườinước ngoài, đến từ hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ
Bảo tàng DTHVN là bảo tàng tiên phong ở Việt Nam tiếp cận nhữngquan niệm mới về bảo tàng, về trưng bày, thực hiện đa dạng hóa hoạt độngbảo tàng Tính đến nay, Bảo tàng DTHVN đã tổ chức và phối hợp tổ chức 100cuộc trưng bày và trình diễn; tổ chức khoảng 50 đợt tập huấn chuyên mônnghiệp vụ về nghiên cứu – sưu tầm, trưng bày, bảo quản, giáo dục, xây dựng
cơ sở dữ liệu, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học trong vàngoài nước; đồng thời tổ chức hàng chục buổi sinh hoạt chuyên đề khoahọc
Bảo tàng DTHVN đã tiến hành nâng cấp và hiện đại hoá khu trưng bàythường xuyên trong toà nhà Trống đồng Toà nhà được sơn mới lại, đổi mớitoàn bộ phòng dẫn nhập, bao gồm ảnh chân dung 54 dân tộc, bản đồ Việt Nam
và Đông Nam Á…Tất cả đã tạo nên bộ mặt mới, gây ấn tượng đối với côngchúng tham quan Bảo tàng
Trang 16Bảo tàng DTHVN đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu khoahọc Cùng với và gắn liền với hoạt động sưu tầm, Bảo tàng DTHVN thực hiện
có hiệu quả công tác nghiên cứu cơ bản phục vụ trực tiếp cho các hoạt động
đa dạng của mình; đồng thời, Bảo tàng đã tiến hành có kết quả nhiều đề tàinghiên cứu khoa học cấp Bộ và hợp tác quốc tế về dân tộc học/nhân học vàbảo tàng học
Từ kết quả hoạt động nghiên cứu 20 năm qua, Bảo tàng DTHVN đãcông bố, xuất bản hàng chục cuốn sách có giá trị khoa học, thu hút sự quantâm của độc giả trong và ngoài nước dưới các dạng khác nhau: chuyên khảo,
kỷ yếu, sách giới thiệu trưng bày Ngoài ra, phải kể đến hàng trăm bài báotrên những tạp chí khoa học chuyên ngành, mà các tác giả là người của Bảotàng DTHVN Cán bộ của Bảo tàng còn tham gia nhiều hội thảo khoa họcquốc gia và quốc tế ở trong và ngoài nước
Trang 17Nguồn nhân lực của Bảo tàng DTHVN không ngừng được nâng cao vềtrình độ chuyên môn - nghiệp vụ Từ 18 người được điều chuyển từ Viện Dântộc học sang cuối năm 1995, tính đến tháng 10 năm 2012, Bảo tàng có 82thành viên trong đó có 2 PGS.TS, 8 TS, 14 ThS, 50 CN.
Bảo tàng DTHVN không ngừng mở rộng và tăng cường hợp tác quốc
tế Ngay từ khi mới thành lập, hoạt động đối ngoại là mảng công tác đượcBảo tàng DTHVN đặc biệt chú ý Ngoài hợp tác có hiệu quả với Cộng hòaPháp trong thời gian từ 1995 đến nay, Bảo tàng đã dần mở rộng quan hệ hợptác với các bảo tàng của các nước như Mỹ, Nhật, Hà Lan, Canađa, Ý, Bỉ, HànQuốc, Trung Quốc…
CHƯƠNG 2 - HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG BẢO TÀNG NGOÀI TRỜI TẠI BẢO TÀNG DTHVN
2.1 Khái quát về phòng Bảo tàng ngoài trời thuộc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
2.1.1 Tổng quan về phòng Bảo tàng ngoài trời ( Vườn kiến trúc)
Tháng 11/1987, bảo tàng khai trương khu trưng bày thường xuyên vềcác dân tộc Việt Nam trong khu nhà “Trống Đồng”, sau đó bắt tay vào xâydựng khu trưng bày ngoài trời Ý tưởng về khu trưng bày ngoài trời – nay có
Trang 18tàng DTHVN hồi đầu những năm 80 của thế kỷ trước Việc biến ý tưởng đóthành hiện thực là một quá trình lâu dài, với bao suy nghĩ, trăn trở, học hỏi,thực thi và đúc rút kinh nghiệm Theo quy hoạch ban đầu, khu trưng bày nàygồm có 8 ngôi nhà hoặc cụm kiến trúc của các dân tộc, được lựa chọn ởnhững vùng miền khác nhau Đó là các kiểu dạng kiến trúc khác nhau của 8dân tộc: Chăm, Việt, Bana, Êđê, Tày, Hmông, Dao và Hà Nhì Tuy nhiên,trong quá trình triển khai xây dựng, đã có sự bổ sung thêm một số hạng mụckiến trúc như: nhà mồ Giarai, nhà mồ Cơtu Vườn kiến trúc của Bảo tàngDTHVN được hình thành từng bước trong thời gian từ năm 1998 đến năm
2006 Khu trưng bày này bổ sung và kết hợp với phần trưng bày trong tòa nhàTrống đồng, tạo cho Bảo tàng một hệ thống trưng bày hoàn chỉnh, tạo lập mộtkhông gian văn hóa sinh động, hấp dẫn về các dân tộc ở Việt Nam
Sau 8 năm xây dựng, khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng DTHVNhoàn tất vào năm 2006 Đây là Bảo tàng ngoài trời đầu tiên ở nước ta giớithiệu về các dân tộc Theo danh sách chính thức của Nhà nước, Việt Nam có
54 dân tộc, tuy nhiên với một diện tích đất hạn chế (hơn 2ha), trong Vườnkiến trúc của Bảo tàng DTHVN chỉ có thể lựa chọn trưng bày một số côngtrình kiến trúc dân gian: một khuôn viên của người Chăm ở Ninh Thuận, mộtkhuôn viên của người Việt ở Thanh Hóa, ngôi nhà rông của người Bana, ngôinhà sàn dài của người Êđê, nhà mồ người Giarai, nhà mồ người Cơtu, nhà sànlợp lá cọ của người Tày, nhà nửa sàn nửa trệt của người Dao, nhà trệt lợp gỗpơmu của người Hmông và nhà trình tường của người Hà Nhì Bên cạnh đó,còn có một số hạng mục khác như: ghe ngo của người Khơme, thủy đình phục
vụ trình diễn rối nước của người Việt, lò rèn của người Nùng, lò đúc gang củangười Hmông, cối giã gạo dùng sức nước của người Dao Các hạng mụctrưng bày ở đây phản ánh sự đa dạng, phong phú về kiến trúc dân gian: từ loạihình, công năng, chất liệu đến kỹ thuật và tri thức bản địa của các chủ nhânvăn hóa khác nhau, nhằm đạt mục đích: “Giới thiệu ở đó các loại hình kiếntrúc của các dân tộc thích ứng với môi trường sinh thái khác nhau” Ý tưởng