trong văn hóa dân gian truyền thống ở nước ta, văn xương là ông thần coi sóc về mặt văn chương khoa bảng, nếu được ông ấy cầm bút chấm tên thì trẻ em học hành thông minh đỗ đạt. vì thế các thí sinh muốn đậu cao đều có thờ văn xương trong nhà. mời các bạn cùng tìm hiểu những tháp văn xương chói lọi trên bầu trời nước việt qua phần 1 cuốn sách.
Trang 1PHONG THÙV
& Sự NGHIỆP HỌC HÀNH THI c ử
NGUYÊN
ỌC LIỆU
Trang 3BÍ MẬT THÁP VĂN XƯƠNG ' ■
Trang 5Sưu tầ m & Biên soạn: NGUYÊN PHƯƠNG & DSC
BÍ MẬT
THÁP VĂN XƯƠNG
BÍ QUYẾT ĐỂ CON THÔNG MINH HỌC GIỎI
NHÀ XUẤT BÁN LAO ĐỘNG -2009
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
T ấ t cả các bậc cha mẹ t r ê n thê gian n à y đều muốn con của m ình th ô n g m inh, học giỏi, k h ô n ngoan, khéo léo hơn mình, song điều này còn tùy thuộc vào r ấ t nhiều yếu tô' như
th ể chmt, h oàn c a n h xã hội, tâ m lý lứa tuổi Nếu b ạ n p h á t
h iện ra con bạn không đ ạ t được t h à n h tích học tậ p như b ạ n
bè chúng, xếp h ạ n g quá t h á p trong lớp, đáy quả là hồi chuông báo động lần thứ nliiít (lối với bạn T/ir nny, h ạ n phải tìm mọi cách để thay đổi t h à n h tích k ém cỏi của con bạn b ằ n g những bài giáo h u â n nghiêm khắc và sự k èm cặp giám s á t c h ặ t chẽ
nh ấ t Tuy n h iê n nhiều khi k ế t quả thu được chẳng cải th iệ n được bao nhiêuỉ Tại sao vậy?
Cuốn sách này cung cấp cho b ạ n m ột bí m ậ t vàng Đó là phương pháp thúc đẩy vận khí học h à n h của con cái, nhưng điều quan trọ n g hơn là th a y đối th ái độ học tậ p của con bạn Điều n à y tướng chừng quá vô lý với nhiều người, nhưng cũng
n ê n biết r ằ n g tục ngữ d â n ta có câu “thờ gì, được n ấ y ” Văn hóa phương Tây cũng từng p h á t h iệ n r a m ột bí mật Đó chính
là điều bí m ậ t cực kì quan trọ n g của sinh m ện h con người -
“quy luật lực ]|!Ì|J <lnn” Nói tóm tắt, khi người ta quan t â m cái
gì nhiều thì SIỈ co HỨC hút dôi v ớ i cái đ o Nêu b ạ n quan tâ m nhiều đến sức khỏe rồi sẽ có sức khỏe B ạn quan tâ m đến của cải thì phải có tín niệm và rồi sẽ có của cải Như vậy là b ạ n
đã t h à n h công vì đã biết khai thác tiề m n ă n g to lớn của sức
m ạ n h tin h th ần
Trang 8Trong v ă n h ó a d â n gian tru y ề n th ố n g ở nước ta , V ăn xương là ông t h ầ n coi sóc về m ặ t v ă n chương k hoa bảng, nếu
ai được ông ây cầm b ú t chấm vào tên , thì học h à n h th ô n g
m in h t ấ n tới Vì t h ế các thí sin h muốn đậu đ ạ t cao đều có thờ
t h ầ n V ăn Xương tro n g nhà
T a m khôi
C h ế độ thi cử ngày xưa chia r a ba nấc là th i hương, thi hội, th i đình, người đỗ đầu trong ba khoa thi n à y gọi là giải nguyên, hội nguyên và t r ạ n g nguyên Từ đời Minh quy định
lấ y b a người đậu đầu tro n g k hoa th i đ iện gọi là Tam khôi tro n g đó chia ra: T r ạ n g nguyên, b ả n g n h ã n , t h á m hoa Lịch sử
th i cử thời phong k iế n nước ta từng chọn ra được 49 vị trạng nguyên Đó là d a n h hiệu thuộc học vị Tiến sĩ của người đỗ cao
n h ấ t tro n g các khoa đình thời phong k iến ớ Việt Nam
T h á p văn MùniỊỉ
T r ê n đ ấ t nước Việt xưa, nhiều nơi từng dựng t h á p vãn xương, m an g ý n ghĩa cầu mong th ô n g m inh đỗ đạt Ai có ý nguyện thì góp tiề n xây th áp Vóc dáng t h á p văn xương thường làm bảy t ầ n g hay chín tầng Nếu ở trong n h à đ ặ t th á p văn xương đúng huyệt vị văn xương thì con người trở n ê n tỉn h táo,
n h a n h nh ẹ n , s á n g suôt hơn Nếu đ ặ t g ầ n b à n làm việc thì có lợi cho quan víin, hổ trợ cho họ làm viộc thông thoáng hơn Nếu đ ặ t t r ê n giá sách, thì con cái học h à n h tấ n tới hơn Ngoài
t h á p v ă n xương, nhiều gia đình còn sắ m th ê m bút văn xương
Đó là loại bút lông, linh v ậ t phong thủy Theo quan niệm xưa,
đ ỉn h v ă n chương được h ìn h dung cao và nhọn Vì vậy, nếu ở
g ầ n n h à có ngọn núi cao n h ọ n chọc lên trời, hoặc nhìn qua cửa sổ luôn t h â y m ộ t toà cao ôc thì học trò đó đều thông
m in h s á n g suô't và có ý chí p h ấ n đâu Ngòi bút lông cũng sắc
n h ọ n như vậy, cộn cán bút thì dài, n ê n được coi là biểu tượng
v ă n xương Trong chín ngôi sao tử bạch thì quẻ tôn là văn xương vì đó là trường mộc mà cán bút r â t hợp với biếu tượng này
Trang 9Ngoài ra nêu treo m ột hoạc bốn chiếc bút lông ở trong
v ă n phòng hay g ầ n b à n làm việc, thì trí tuệ thông m inh của chủ n h â n sẽ được t ă n g cường
Giai thoại về 10 vị t r ạ n g nguyên đ ấ t Việt ở p h ầ n đầu cuốn sách cho th â y đó là n hữ ng th á p v ă n xương chói lọi trê n bầu trời đ ấ t Việt, n ă m xưa Trước khi trở t h à n h những n h â n
t à i k i ệ t xuât, họ từ n g là n h ữ n g học trò th ô n g m in h xuât chúng hồi nhỏ Nhỏ tuổi n h ấ t là Nguyễn H iề n - đỗ t r ạ n g nguyên từ lúc mới có mười hai tuổi T r ạ n g Lường - Lương Thế Vinh nổi tiế n g với tà i n ă n g to án học Quyến Đại t h à n h toán
p h á p của ông từng được đưa vào chương t r ì n h thi cử suốt 450
n ă m trong lịch sử giáo dục Việt Nam Ông cũng được xem là ông tố b à n tín h gẩy cho người Việt Các truyề n m iệng dân gian đều k h ẳ n g địn h tà i n ă n g của ông được thế h iện từ tuổi còn c h ă n trâu, th á diều N h à toán học Lê Quý Đôn cũng vậy Khi còn bé, ông đã nổi tiế n g là t h ầ n đồng Nhiều sách chép tiếu sử của ông có ghi: n ă m tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đã học tin h thông sử sách
Qua các tru y ề n th u y ế t giai thoại này, có th ể k h ẳ n g định được r ằ n g tà i n ă n g chính là s ả n p h ẩ m của n ề n giáo dục hợp
lý M ột phương p h á p độc đáo về giáo dục, dạy con th ô n g
m inh học giỏi, chính là bí ẩ n tháp Văn Xương m à cuốn sách
n à y đề cập Tại sao các bậc cha mẹ chúng ta lại không thử
n g h iên cứu áp dụng cho gia đình mình
Mong cái* l>í)c ctiíi mẹ vận dụng Lliiinh công
Trang 12Tử khi bắt đầu mở khoa thi (1075) đến khi chấm dứt (khoa thi cuối cùng tổ chức năm 1919), tổng cộng có 184 khọa thi với 2785 vị đỗ đại khoa (đỗ tiến sĩ và tính cả phó bảng), trong đó có 56 Trạng nguyên (gốm 7 trong sô' 9 thủ khoa Đại Việt và 49 trạng nguyên).(Dựa theo công trình nghiên cứu
“C ác nhà khoa bảng Việt Nam ” "Q uốc triều hương khoa lục” )
Trạng nguyên là danh hiệu thuộc học vị Tiến sĩ
của người đỗ cao nhất trong các khoa đinh thời phong kiến ở Việt Nam, kể từ khi có danh hiệu Tam khỏi dành cho 3 vị trí dầu tiên Người đỗ Trạng nguyên nói riêng và đỗ tiến sĩ nói chung phải vượt qua 3 kỳ thi: thi hương, thi hội và thi đình.
Khoa thi đẩu tiên được mở ra dưới thời Lý năm
1075, nhưng người đỗ đầu khoa thi này là Lê Văn Thịnh chưa được gọi là Trạng nguyên Danh sách
cụ thể những người đỗ đầu các kỳ thi này xem bài Thủ khoa Đại Việt Phải đến khoa thi năm Thiên ứng Chính Bình thứ 16 đời vua Trần Thái Tông (1247) mới đặt ra định chế tam khôi (3 vị trí đỗ đầu có tên gọi thứ tự là: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) thì mới có danh hiệu Trạng nguyên
Đ ến thời nhà N guyễn thì không lấy danh hiệu Trạng nguyên nữa Do đó Trạng nguyên cuối cùng
là Trịnh Tuệ đô khoa Bính Thìn (1736) thời Lê- Trịnh .
Sau đây là giai thoại và cuộc đời vế 10 vị trạng nguyên - những tháp văn xưởng chói lọi trẽn bấu trời đất Việt xưa.
Trang 131 TIẾN SĨ LÊ VĂN THỊNH
Đây chính là vị t iế n sĩ đầu tiê n ở nước Việt Nam Vị thủ
k hoa n à y ngày sau làm đến chức Thái sư - m ột chức quan to vào bậc nhâ't trong triều N hưng ai có th ể ngờ rằng, vị Tiến sĩ
— T h á i sư n à v hơn h a i chục nãin sau bị m ắc tội “mưu làm
p h ả n ”, suýt nrta bị chém Sau đó ông bị nh ố t vào cũi, đi đày ở
m iền sơn cướ<
Các sá ch ch in h sử thời đó và nhiều triều đại sau đều chép chính thức sự k iệ n n à y và cho r ằ n g Lê V ăn T h ịn h mắc tội p h ả n nghịch là có thực, lẽ ra phải k h é p vào tội chết N hà
sử học Ngô Sĩ Lièn (thi đậu Tiến sĩ vào n ă m N h â m T uất -
1442, đời vua Lê T h á i Tông), cũng có lời bàn: “Người làm tôi địn h cướp ngôi g iế t vua m à được m iễ n tội chết, t h ế là sai
trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng P h ậ t giáo”, (sách “Đại Việt
sử ký to à n th ư ”)
Lý T ế Xuyên, tác giả “Việt điện u lin h ” cũng t h a n thở:
“Lê V ă n T h ịn h tội n ê n xử trả m , vua lại t h a m à chỉ p h ạ t lưu,
ch ín h h ì n h n hư t h ế t h ậ t là lầm lỗi” Vụ á n Thái SƯ Lê Văn
T h ịn h được các n h à chép sử ghi lại n h ư sau:
“T h á n g 3 n ă m Bính Tý (1096), n h â n dịp ngày xuân, vua
Lý N h â n Tông ngự ra hồ Dâm Đ àm (Hồ Tây), đi m ột chiếc
Trang 14Tượng thờ thái sư Lẻ Văn Thịnh (trái) và con rắn thấn bằng đá nguyên khối tương truyền gắn với huyén tích về Lê Văn Thịnh.
th u y ề n nhỏ xem đ á n h cá Chợt có m ây mù nổi lên, trong đám
mù nghe có t iế n g giáo chém Trong đá m m ây mù ẩ n hiện,
t r ê n th u y ề n có con hổ, h ế t t h ẩ y mọi người sợ tá i m ặ t đi, lắp bắp: “Nguy lắ m rồi!” N h a n h ta y người đ á n h cá tê n là Mục
T h ậ n liền q uă ng cái lưới trù m lên t r ê n con hổ Khi m ây mù
t a n dần, t ấ t cá n h ìn rõ kẻ tro n g tâ m lưới thì ra là Thái sư Lê
V ă n Thịnh
Triều đình nhà Lý đòi xử tội làm phép hóa hổ giết vua, Vua n g h ĩ Văn T h ịn h là đại t h ầ n có công giúp đờ, không nỡ
g iế t chê t, đày lẻn t r ạ i đầu ở sông Thao Thưởng cho Mục
T h ậ n quan chức và tài vật, lại cho đ ấ t Tây Hồ làm thực ấp Trước đây, V ăn T h ịn h có gia nô người nước Đại Lý (Vân
N am ) có p hép t h u ậ t kỳ dị, cho n ê n làm ra n h ư t h ế để định cướp ngôi giết vuu.” (Sách “Đại Việt sử ký toàn thư”)
Sách “Việt điện 11 lin h ” lại giải thích thêm : “Quan Thái
sư Lê Văn ThỊiili nuôi được m ộ t tôn giu I1Ô người Đại Lý (Ván Nam) có t h u ậ t lạ: đọc t h ầ n chú xong biến t h à n h hố báo Văn
T h ịn h cô dỗ đê dạy m ình th u ậ t ấy, học được t h u ậ t rồi liền
Trang 15ngôi.” Sau khi “quàng lưới chụp vào Ihuyền kia, b ắ t được hô
và n h ậ n ra là Lê V ăn Thịnh! N h à vua cá giận, sai lấy dây s ắ t xích lại, bỏ vào cũi, rồi đày lên m iề n Thao Giang (nay thuộc huyện T am Nông, tỉn h P hú Thọ) Vua k hen Mục Công (Mục
T h ậ n ) đã có công cứu vua, c ấ t làm Đô uý và sau th ă n g tới Phụ quốc tướng quân Khi m ất, tặ n g chức Thái uý Vua sai dựng đền tạc tượng th ờ ” (Sách “Đại Việt u lin h ”)
Các sá ch k h á c n h ư “V iệt sử lược”, “Cương m ục” , đều chép tương tự n hư vậy Lý do nào để xảy ra vụ á n Thái sư Lê
V ăn T h ịn h â m mưu p h ả n nghịch định g iế t vua, cướp ngôi?
N hiều n h à n g h iê n cứu sau này cho r ằ n g câu chuyện Lê Văn
T h ịn h đầy tín h c h ấ t hoang đường, tại sao vị tể tướng thông
t h á i n à y lại co phép t h ầ n th ô n g (lể đổi trời trong sáng th à n h sương mù, biên người t h à n h cọp? Giáo sư Hoàng Xuân H ã n cho vụ á n Lê Văn T h ịn h chỉ là m ột sự hiểu lầm đ áng tiếc và giải thích n h ư sau:
“Chuyện t r ê n đây tiêu biểu cho sự mê tín có ả n h hưởng lớn đến chính trị ớ triều Lý Sử còn cho biết nhiều chuyện nói r ằ n g vua N h â n Tông, cũng như các vua đời Lý sau, r ấ t tin
ảo t h u ậ t và dỏ cám xúc Cho nên, chỉ vì m ột việc xảy ra t h ấ t thường, m à V ản T h ịn h suýt bị chết, v ề thời tiế t lúc đó, một
t r ậ n mù t h ìn h lình tới bên hồ là m ột sự thường gặp Nhưng với tâ m t h ầ n hay bị xúc cảm của vua Lý khi th ấ y trời tôi mà
m ình còn ớ trê n m ặ t nước, thì vua đâm ra hoảng hốt Có lẽ
Lê V ăn T h ịn h cũng vì t h â y trời tối mà vội vả sai chèo thuyền gấp tới đê' hộ vua về Ngồi t r ê n thuyền bị tròng t r à n h không vững, V ăn T h ịn h phải ngồi khom minh, tay chống vào thuyền cho vững H ình d áng trô n g n h ư con hổ Một m ặ t khác, có lẽ Văn T h ịn h cũng tin vào các t h u ậ t và có tiếng s ẩ n là đã học được phép hoá hổ Cho nên, kẻ trô n g th ấ y con hố trong thuyền lại càng nghi cho ý muốn hại vua”
Trang 16Người t a đ ặ t v ấ n dề nghi v ấ n có th ế có hay không, câu chuyện Lê V ăn T h ịn h là m ộ t sự hiểu lầ m hay chĩ là m ột mưu
mô loại bỏ công t h ầ n của vua Lý, m ộ t h à n h vi đâu đá t r a n h giành quyền lực thường xảy ra tro n g các triề u đại phong kiến? Lần tr a n g sử cũ, ta t h â y có n hiều b ả n á n “h uyễ n ho ặ c ” tương
Lự, không biết Ltuu nhiêu n h ú n tài quốc gia bị triồu đìn h phong
k iế n huỷ diệt B ả n t h â n c h ế độ vua chúa vì m uốn giữ độc quyền th ố n g trị thường hay thù địch và h o ả n g sợ trước tà i năng T ầ n g lớp phong k iế n chỉ có t h ể lợi dụng n h ữ n g kẻ có
tà i trong thời gian n h ấ t định m à k h ô n g t ậ n dụng được tà i
n ă n g đó Trong các triều đại phong k iế n lịch sử cô kim t h ế giới, n h ữ n g đại công t h ầ n bị lưu đày, t à n s á t n h ư Lê V ăn
T h ịn h không hiếm H à n Tín, trước khi bị H á n Cao Tổ và Lưu Bang giết ở Vị vương cung, đã b i ế t r ằ n g kẻ dùng m ìn h sẽ không th a m ình khi đ ế n g h iệp h o à n t h à n h , n ê n từ n g th a n thơ: “Giao thổ chột, chó s ă n bị thịt, chim hế t, cung bị xếp xó”.Dim Uli Ium Nguyễn Du kliông phổi ngầu nhiên khi mở đầu Tniyộn Kiổu, mig (lã t h a n Lhở: “T r ă m nồm trong cõi người
ta C hữ tải chừ niộn/i khéo là g h é t n h a u ” Và khi sắp k ế t thúc tác phẩ m , ông lại thở th a n : “Có tài m à cậy chi tà i Chữ tài liền với chữ tai m ộ t v ầ n ” Nguyễn Du dã n h ìn th ấ y n hữ ng “tai
oan” của các n h â n tà i tro n g xã hội phong kiến, nhưng ông đã kín đáo đồ thừ a cho sô m ệnh Dưới c h ế độ phong kiến, m ột khi “t à i ” đó vượt lẻn “t à i ” của q uân vương là có th ể gặp nạn, nếu “sáng hơn ch ú a ” có khi là gặp nạn
Trớ lại vụ á n T h á i sư Lê Vãn Thịnh Từ khi Lê Văn
T h ịn h th i đỗ thủ khoa và được bổ dụng làm quan, ông đã đem
h ế t trí tuệ và tà i n ă n g của m ình để p hụng sự triều đình Ngay sau khi đậu thủ khoa n ă m 1075, Lê V ăn T h ịn h được vào hầu vua học (thực c h ấ t là dạy vua) Bởi vì lúc n à y vua Lý N h â n Tông mới kho ả n g 10 tuổi Lý N h â n Tông là con T h á i h ậ u Ỷ Lan, lên ngôi vua n ă m 1072, mới có 7 tuổi, có quan T h á i sư Lý Đạo T h à n h làm Phụ chính N ă m G iáp Tý (1084), Lê V ăn
Trang 17« w
-• Đển thờ Thành Hoàng Lê Văn Thịnh ử «ã Dinh Tổ.
• Mộ L9 van Thịnh nằm giữa dám sen thBn Đình T Ỉ
• Ban thâ Trạng nguyên
Le Văn Thịnh
Một số di tích về mộ, đền thờ Trạng nguyên Lê Văn Thịnh ở Đình Tổ.
T h ịn h lúc này đả làm Thị lang Bộ binh được vua giao đến t rạ i Vĩnh Bình để cùng với người Tống b à n việc cương giới.Trong việc hoạch định biên giới, n h à Tống t r ả cho n h à
Lý 6 huyện va 3 động Người Tống có lliư rằng: “N h â n th am
Giao Chỉ tượng, khước th ấ t Quảng Nguyên Kim” nghĩa là: “Vì
th a m voi Giao Chỉ, bỏ m ấ t vàng Quảng Nguyên” Việc hoạch định biên giới này, có công lao r ấ t lớn của Lê V ãn T h ịn h qua những lầ n hội đàm với n h à Tống N ă m  t Sửu (1085), Lê Văn Thịnh được phong chức T h á i sư - chức quan đại t h ầ n to n h ấ t trong triều Đ ấ t nước lúc n à y đang trong thời kỳ th á i bình,
d â n an, nước m ạ n h Nhiều chùa t h á p được xây dựng trong thời gian đó Lê-V ăn T h ịn h k hông những có công lớn trong
Trang 18lĩn h vực ngoại giao m à còn có nhiều đóng góp tro n g công việc xây dựng lu ậ t p h á p thời Lý Nhưng lịch sử t h ậ t t r ớ trê u , 11
n ă m sau (n ăm 1096), vị T h á i sư n à y lại m ắc p h ả i t r ọ n g tội t à y đình Sau n h ữ n g t h à n h công lớn lao của Lê V ă n T h ị n h cùng với tiế n g tă m lẫy lừng m à ông đ ạ t được, h ẳ n Lê V ã n T h ịn h
đã trở t h à n h m ộ t mối lo â u đối với vua quan bấy giờ Vua thì
sợ Lê V ă n T h ịn h ngày k ia có th ế là m nguy h ạ i ngôi báu của
m ình; quan thi lu sự Lê V ă n T h ị n h có b iệl tài, có quyền uy to lớn có t h ể là m phương h ạ i đ ế n địa vị m à họ đ a n g hưởng Vì vậy đã dựng n ê n “sự k iệ n hồ D â m Đ à m ” để loại t r ừ m ộ t đối
th ủ đ á n g n g ạ i Có lẽ vì th ê m à họ đã dựa vào sự m ê t í n trong
d â n chúng, tạo n ê n câu chuyện p h ả n nghịch để có cơ hội tẩy trừ m ộ t chông gai trước m ắt?
2 THIỀN SƯ HUYỀN QUANG
(1254 - 1334)
H u y ề n ( ¿ u u n g ( 1254-1334), Lên t h ậ t là L ý Đạo Tái, người
hương V ạn Tái, châu N a m Sách, lộ L ạ n g Giang N ay là làng
T h á i Bảo, Gia Bình, Bắc Ninh Học giỏi, đỗ cả th i hương, thi hội Ông đỗ đệ n h á t giáp tiế n sĩ ( tr ạ n g nguyên) k hoa thi n ăm
1272 (có tà i liệu ghi 1274) và được bố n h iệ m làm quan trong Viện Nội H à n triề u đình, tiếp sư Bắc triều, nổi tiế n g v ă n thơ Sau này từ chức di tu, theo T r ầ n N h â n Tông lê n Trúc Lám Là
m ột T h iề n sư V¡VL Nam , tổ th ứ ba dòng Trúc L âm Yên Tử Ông là m ột n h à thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại Cùng với Trúc L ám Đầu Đà T r ầ n N h â n Tông và P h á p Loa, ông được xem là m ột Đại th iề n sư cùa Việt N am và người ta xem ông và hai vị nêu t r ê n n g a n g h à n g với sáu vị tổ của
T h iề n tòng Trung Quốc hoặc 28 vị tổ của T h iề n A n Độ
Trang 19Khu di tích Yèn Từ noi Thiền sư Huyền Quang, lổ thứ ba dóng Truc Lãm Yẽi
Tử tùng tu hành.
1 Truyền thuyết xuất thân
Theo Tam tú thực lục, mẹ cùa Huyền Quang là Lê Th:
hay đôn chùa N^ụt' H oàng cấu nguyện vì tuối đá 30 mà chưc
cỏ con I>1111 nam lìiá p Dần 12.04, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàn§
la lluệ NkIũíi I I I ' I (háy “các tu à trong chùa ilòri chong sán§ rực, chư 1*1 lật lỏn nghiêm , Kim Cương Long T hẩn la liệt đỏnỄ đúc Đức P h ậ t chi Tôn giá A-nan-đà bảo: “Ngươi h ã y tái sinh làm p h á p khí Đỏng Độ và phải nhớ lại duyên xưa” N ă m ấ)
Lê Thị sinh Huyền Quang Lớn lên Sư dung mạo dị thường làm quan đến chức H à n Lâm
Một hôm, Sư cùng vua T r ầ n Anh Tông đến chùa Vĩrử
N ghiêm huyện Phượng N h ã n , nghe T h iề n sư P h á p Loa giảnỄ kinh, liền nhớ lại "duyên xưa”, xin xuất gia thụ giáu (có tà: liệu nói Sư thụ giáo với Bảo P hác ở chùa Vũ Ninh) Sư được
Trang 20cử làm thị giả của Trúc L âm Đầu Đà và được ban p h á p hiệu
là Huyền Quang
Smu, Sư thun lí»i phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa V ân Yên (nn.y là cliùi« I loa Yên) trfin núi Yên Tử Vì lia v ă n bác học, tin h Ihông (lạo lí n ê n lă n g chúng đua n h a u đ ế n học
N iên hiệu Đại K h á n h th ứ 4 (1317), Sư được P h á p Loa
t ru y ề n y của Trúc L âm và t â m kệ Sau khi P h á p Loa tịch (1330), Sư k ế th ừ a làm Tổ th ứ ba của th iề n phái Trúc Lâm nhưng vì tuổi đă cao n ê n Sư giao phó trá c h n h iệ m lại cho Quốc sư An Tâm
Sư đ ế n trụ trì T h a n h Mai Sơn sáu năm , sau dời sang Côn Sơn giáo hoá Ngày 23 th á n g 1 n ă m Giáp T uất (1334), Sư viên tịch, thọ 80 tuổi Vua T r ầ n M inh Tông sắc thuỵ là Trúc
L âm T h iề n Sư Đệ T am Đại, đặc phong Từ P h á p Huyền Quang Tôn Giả
2 Câu chuyện về 10 nén vàng
Vào thời n h à T rầ n , xứ Bắc có m ộ t người học trò nổi tiế n g hiếu học - Huyền Quang Trước kia ông tố chàng dã từng giữ chức H à n h khiển, ông nội từng làm đến Chuyển vận
sứ Đởi chu chảnK, tuy đã từng khoác áo cầm gưưm x u ấ t chinh, nhưng (lo “lập công mà chÁng được n ê n công”, p h ẫ n chí bỏ về nhà cày mộng VÍI chịu cảnh gia thê sa sút Niiy đến đời mình,
c hàng quy (ít tam nối lại nghiệp xưa
Khi đến tuổi trưởng th à n h , cha mẹ nghĩ con m ình giỏi giang, có th ể công t h à n h d a n h toại, b è n đ á n h bạo đi dạm hỏi cho chàng một đrim d a n h giá trong vùng N hà gái tỏ vế n h ậ n lời Nào ngờ, sau m ấy nă m đi lại phục dịch các công to việc lớn bên n h à bố vợ tương lai, đùng m ột cái, ông ta lại gả vị
hô n thê cho cháu m ột viên An phủ sứ
Trang 21Sau lần bẽ m ậ t này, cha mẹ chàng lại đi dạ m hỏi m ột
đ ám khác, cũng thuộc loại k h á giả, giàu có tro n g làng C hẳng ngờ, lầ n này còn tệ h ạ i hơn cả lần trước Khi cha mẹ chàng vừa mỏ lời đã bị họ từ chối t h ẳ n g thừng Tuy vậy, Huyền Quang c h ẳ n g n ả n lòng, v ẫ n ngày đêm tu chí học tập
Cuối cùng, H uyền Quang đã không phụ công cha mẹ -
đỗ đầu thi Hội, d â n gian v ẫ n tru y ề n tụ n g c h à n g đỗ T r ạ n g nguyên
B iêt tin m ộ t vị khôi nguyên trẻ tuổi còn th iế u “võng
n à n g ”, các vị phii ông trong vùng thi nhau băn tin muốn gả con gái, rim hữu I ho CH n h á cửa, lụa là, trâ u bò, ruộng nương Một vị qunn lơn ứ kinh đô cũng mời bằng được (ịLinn t â n khoa
về th á i ấ p của m ìn h dể xem rõ m ặ t “n à n g thục nữ yêu kiều tuổi mới trò n dôi t á m ”
Ngày c h à n g vào k in h n h ậ m chức, m ộ t v iên quan nội giám đến gặp riô n g nói:
- Hoàng hậu đang k é n phò mã cho n à n g công chúa th ứ
ba, nếu quan t r ạ n g ưng ý, n h ấ t định việc ây sẽ th à n h
Huyền Quang cung kính đáp lời từ chôi khéo N h â n tiệ n chàng đọc hai câu thơ:
“Khó k h ă n thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ T rạ n g chín nghìn n h â n d u y ê n ”.
Biết rõ thói h á m lợi h á m danh của người đời, khi t h a m
dự vào đ ám quan trường, Huyền Quang chẳng những không hứng thú gì m à càng ngày càng tỏ ra c h á n ngán Được vài năm , chàng xin từ chức đi tu Đó cũng là ý nguyện của chàng
từ lúc còn đang (li học N hà vua t h ấ y vậy khen chàng là m ột người khiíc thưừiiK và hảo:
- Kó này oí con m ất dạo, có thế trở l.liành p h á p khí, dũng là bậc t h á n h tăng
Trang 22Từ đó, Huyện Quang tu r ấ t chăm chĩ C h ắ n g bao lảu sau, với học v ấ n tà i cao, chàng th ô n g thuộc t ấ t cả các k in h sách của n h à P h ậ t thời bấy giờ Các t ă n g ni, p h ậ t tứ đều yêu m én chàng N h à vua và hoà n g tộc cũng vị nể chàng Lúc ây, đạo
P h ậ t cũng chưa đốn dộ suy vi, v ẫ n còn tò a á n h hào quạng lảp lán h , tuy không báng giai đoạn trước của hai vị tô Điêu Ngự (Trần Nil/ill Tónn> và P h á p Loa Lúc (ló, mille n h à (lang cân
có m ột vị I Ị U Ó I ' HtI, inột người dứng đầu Trúc lâm viện đê cai
q uản các tftng ni p h ậ t tử và t h ế là vị T rạ n g nguyên trẻ tuôi được xung vào chức vụ này
T r ầ n Anh Tông là m ộ t vị vua trẻ tuối, vừa mới dăng quang chưa lâu Nghe triề u t h ầ n dèm pha Huyền Quang còn quá tr ẻ , chắc gì là m ột vị ch â n tu, n h à vua ngẫm nghĩ mấy ngày, sau đó cho thi h à n h một m ậ t k ế đế th ử xem nhà sư như
t h ế nào
N h â n lúc h o à n g h ậ u bị se mình, n h à vua hạ chỉ triệu
H uyền Quang vào cung làm lễ cầu m át Công việc xong xuôi,
n h à vua đã ban cho Huyền Quang mười lạng vàng Thiền sư
kh ô n g tiệ n từ chối, đ à n h phải r ậ p đầu tạ ơn rồi ra về Nào ngờ đó là n hữ ng n é n v à n g đã được đ á n h dấu riêng
Sau đó T r ầ n Anh Tông sai m ột cung nữ có tà i thơ văn là Điếm Bích vốn h ế t sức xinh đẹp, tìm cách lung lạc đường diệt dục khố h ạ n h cua vị th iề n sư trê tuổi này
Điểm Bích vốn là con m ột người đ à n bà h à n h k h ấ t quẽ
ở huyện Dường llào, Hái Dương Không chồng »là chửa, sinh con dược mấy nguy, bà ta «lem cho m ột gia đinh ííiíìu có nhưng
hi ốm hoi ú trnnn vung nuôi, s.íc dẹp và Lài n ă n g vôn không chọn hoàn cánh, càng lớn Điếm Bích càng lộng lẫy, xinh đẹp, lại n h a n h n h ẹ n và r ấ t s á n g dạ và có tà i làm thơ phú
Khi được chọn mỹ nừ tiế n cung, Điếm Bích là m ột trong những người (lâu tiên được trú n g tuyên Vào cung, n à n g được vua T râ n Anh Tỏng yêu m ên cả sắc lần tài, lại (lược tin dùng
Trang 23và thường được ca ngợi là “nữ t h ầ n đồng”.
N h à vua giao h ẹ n với Điểm Bích phải lây được ít n h â t
m ột n é n v àng tro n g số v à n g n h à vua đã t ặ n g Huyền Quang
để làm b ằ n g chứng
Khi Huyền Quang rời h oà ng cung trở về nơi tu h à n h ,
m ấy ngày sau, Điểm Bích cũng lên đường trong t ra n g phục
m ột thôn nữ qué mùa
Hôm ây, H uyền Q uang (lang ngồi đọc kinh t ạ i t h iề n
trui Diiy In nj.(òi nhà nhỏ lAp m ình sau lau trúc I*fit tin h m ịch
mà nlui vua H1Ú ( IIL l è n (1(1 t h i ề n s ư ng h ỉ n^ơi r i ê n g ở v i ệ n
Trúc lâm Và» klioáng chập tối, bỗng chú tiểu vào báo ông hay r ằ n g có m ộ t người con gái lạ h é t sức hoảng hôt và xống
áo tơi tả gõ cửa n h à chùa Chú tiếu thưa:
- Bạch thầy Người n à y bị cướp đuối vừa chạy vừa kêu Con đã chạy ra và d ẫ n cô ta vào đây
Nhìn cô gái đang khóc sướt mướt, kể lại sự tìn h và xin nhà chùa cho nghi lại đêm nay, Huyền Quang vốn lòng độ lượng, chăng nỡ chối từ Vả lại, trời đả tôi, xung quanh lại vắng vẻ, cô gái b iế t đi đâu bây giờ Ỏng b è n bảo chú tiểu sắp xếp cho cô gái m ộ t chỗ nghỉ ở gian bếp bên cạnh t h iề n trai.Đêm ấy, như thường lệ, Huyền Quang vẫn ngồi đọc kinh niệm P h ậ t, m ãi tới khuya, ơ gian t rá i nhà , khi chú tiểu đã
lên giường và cất tiế n g ngáy nhè nhẹ như mọi lần, cùng là lúc
ở bên ngoài t h iề n tra i xuất h iện tiế n g cô gái rên rỉ Tiếng kêu khóc mỗi lúc mỗi to k h iế n Huyền Quang phái bò quyển kinh xuống lắng nghe, rồi đi sang gian trá i, đ á n h thức chú tiêu dậy Một lúc HHU, chú tiêu về báo rằng, cô gái sợ m a và
ko cướp I11H UùiiI) linh lẻn đôn, n ê n không 8JI0 ngii dược B ất đắc di, Huyền Cỉiumg phái (lunịị ý cho cô gái vào phòng k hách nghi tạm
Trang 24T h iề n tra i được xây dựng r ấ t đơn giản Đó là ngôi n h à
tr a n h , híii gian Imi t rá i M ột trá i đựng dụng cụ, đồ đạc, m ột
t r á i chu liểu ở, r ò n hai giun chính, m ộ t là trui phòng của Huyền Qunng và một là phòng án, chỗ tiếp khá c h P h ò n g này
n ă m ở chính giừa
Sau khi đã sắ p xếp lại chỗ nghỉ mới cho cô gái đáng thương, Huyền Quang thôi k hông đọc k in h nữa, chuẩn bị đi nằm N ằm chưa được m ột lát, ông lại nghe v ắ n g ra lời cầu cứu
k h ẩ n t h iê t của người con gái Cực c h ắ n g đã, Huyền Quang đứng dậy th ắ p n ê n và bước r a khỏi tra i phòng Vừa mở cửa, qua á n h n ế n le lói, ông th ấy ngay người con gái ă n m ặc lả lơi,
t r ê n người khong con m á n h vái Ỏng h ê t sức sợ h ả i vội quay
m ặ t đi, lùi lại tra i phòng B ất t h ìn h lình, cô gái b ậ t dậy, chạy vào theo níu áo ông với vẻ khêu gợi loă lồ Hiểu được ý định của cô ta, Huyền Quang n ghiêm n é t m ặ t lại, hỏi:
- A di đà P hậ t! N à n g là ai? Tại sao đêm hôm d á m đường đột vào đây để qúấy rối kẻ tu h à n h ? Nếu k h ô n g mau m au cải
t à quy chính, ta sẽ hô h o á n lên, chú tiểu sẽ cầm lá d ắ t tay ra khỏi đây ngay bây giờ
Sau m ột hồi giằng co, b iế t không thế lung lạc dược th iề n
sư, cô gái đã Uín (láo sửa lại t r a n g phục và đối ngay sang thái
độ khác Nànn voi vàng qùy xuống rồi khóc lóc như mưa, vừa
k h ó c Vưu k ể lụi nguồn cơn “g ia c ả n h ” cùa m ìn h
C ha n à n g làm quan ở m ột huyện vùng (luyẽn hải Tháng
n ă m vừa qua, khi di thu t h u ế được ba n g à n quan, cho lính tải
về kinh, nhưng dọc đường ông bị bọn cướp đón đường cướp sạch Quan trô n Ihương tìn h cho ông k h ấ t lại đến cuối năm
H iệ n nay, gia đình n à n g đã b á n h ế t tư tr a n g điồn sá n nhưng mới bù được m ột nửa, sô còn lại phải chia ra mỗi người mỗi nơi đi quyên góp cho đủ
Tiếng khóc cùa n à n g càng làm cho câu chuyện kê th ê m
p h ầ n lâm ly, th ô n g thiết Huyền Quang lắng nghe rồi t r á lời:
Trang 25- Thôi n à n g đừng khóc nữa Ngày mai t a sẽ vào triều,
t â u lại với n h à vua, xin th a tội cho cha nàng
K hông ngờ câu chuyện không đi theo hướng m ìn h đã định, cô gái vội vàng khóc to th êm , rồi vừa lạy vừa xin:
- Bạch hòa thượng! Bạch hòa thượng! Xin hòa thượng chớ vội lên kinh Chỉ sợ đến tai hoàng thượng, chẳng những việc k hông t h à n h m à có khi còn liên lụy đ ế n cả quan t r ê n của cha th iế p nữa T h iế p chỉ xin hòa thượng rủ lòng thương, cho cha th iê p ít tiền bạc đê lo tiếp công việc mà thôi ạ
Chợl nhíf C(I mười n é n v à n g nhà vua clio chưa b iết để làin gì, Huyền Qunug bèn lấy rồi đưa cá cho cô gái:
- Ta hiếu Ta hiểu Không có b ằng chứng rõ ràng, khó xin n h à vua lắm Thôi t a gửi biêu cha n à n g sô v àng này Mong cha con n à n g sớm được tai qua n ạ n khỏi
H ế t sức mừng rỡ, cô gái cúi đầu tạ ơn, rồi cầm lấy túi vàng, quay ra phòng khách
Ba ngày sau, Điểm Bích trở về cung, nộp mười n é n vàng
và tâu với n h à vua m ìn h đã h oàn t h à n h sứ m ệnh Đê n h à vua tin, n à n g còn đọc m ột bài thơ nói là của Huyền Quang làm
tặ n g m ình trước khi p h á giới
“Vàng vặc trăng m ai á nh nước
H iu hiu g ió 'trú c ngâm sênh.
Người vừa tươi tốt, cảnh vừa lạ
M âu Thích ca nào chẳng h ữ u tình".
Nghc> xong câu chuyện, lại n h ậ n được mười nén vàng có ghi (láu l.rơớc khi lă n g Huy ồn Quang, n h à vua buồn bã lấc đáu: “Di.m 1’h ậ t mà các vị tiên vương, các vị hoàng t h â n quôc thích tưnn sùng mụ, nay đã đ ế n (lộ suy vi rồi HÍÌO?”
Trang 26Ilion ý, InộI viên quan liền ghé tai nhà vua h iến kẽ:
- Tâu bệ hạ Xin bệ hạ cho lập m ột lê cúng P h ậ t dọn
to à n cỗ m ặ n , rồi mời t h ầ y về là m lễ Nếu quá lả t h â y còn tro n g sạch, chư P h ậ t sẽ độ cho cồ m ặ n h ó a chay, còn nhược
b ằ n g th â y đã hư hỏng rồi, c h ẳ n g bao giờ P h ậ t cho độ được nữa
N h à vua cho là phải, b è n h ạ chỉ cho vời H uyền Q uang về
k in h làm chủ t ế trong lễ t r ọ n g th ế vào dịp r ằ m t h á n g Bảy
sắ p tới Đó là n gày m à d â n chúng v ầ n gọi la lè “xá tội vong
n h â n ”
T r á i h ẳ n với tục lệ h à n g n ă m , theo lệ n h n h à vua, cỗ chính cúng r ằ m t h á n g Bảy n ă m ấy k hông bày tiệc chay, mà lại g iế t trâ u , bò, lợn, gà đế bày Kỳ lạ hơn, xung quanh lễ đài, n h à vua còn sai căng to à n lụa vàng
Khi bước tới lễ đài, H uyền Quang đã hiếu ngay nhà vua
cô ý h ạ nhục m ình: Chỗ n à o cũng lụa v à n g (hoàng quyến), lại
c h ẳ n g căng cao, cho lòa xòa q u ệ t cả m ặ t đấ t C h ằ n g cần phải
là đại khoa, ngHv cri những người chút ít chữ nghĩa cùng thừa
b iế t “lioàiig quyôn" là “huyổn q u á n g ”, tức là “lluvồn Quang có nhuốm Hiie” Mội lùi buộc tội t h ậ t rô ràng Ildn nừa, khi bước vào lỗ dài Ih ăm lỏ vật, H uyền Quang cliắng lluíy cỗ chay đâu
m à t o à n là tiệc m ặn Đ ây lại là m ộ t sự phĩ báng nữa t h ậ t phũ
p h à n g
H uyền Quang th o á n g ngh iêm n é t m ặt, nhưng lập tức lại
t h ả n n h iê n n h ư thường, bảo đệ tử th ắ p hương, rồi lớn tiếng
k h â n :
- A (li đà P hậ t! Xin Trời, P h ậ t chứng giám, phù hộ độ trì Kẻ đệ tử n à y có điều gì b á t chính, xin chư P h ậ t cho đày xuô'ng â m ty địa ngục, còn nêu không, xin cho lụa v à n g bay đi
và n hữ ng cỗ m ặ n kia hóa t h à n h cỗ chay
Trang 27Lạ thay, khi ông vừa dứt lời, tự nhiên trời đ ấ t tối sầm
cả lại, m ột t r ậ n cuồng phong dữ dội nôi lên P h ú t chốc, đèn
n ế n p h ụ t t ắ t, t ấ t cả lụa quấn quanh lễ đài rách n á t tả tơi, rồi theo gió cuốn tuiiK bay đi khííp nơi
Mội lúc HMD, khi gió lốc tan đi, đèn nên đuực t h ắ p sáng lại, t ấ t cá mọi Iifiuiií có m ộ t đều vô cùng ngạc nhiên, Lất cả cỗ tiệc m ậ n đã biến I h à n h cỗ chay và Huyền Quang vẫn dứng uy nghi giữa lễ đài, tựa như m ột vị Bồ t á t h iế n hiện Thê rồi, vị
Bồ t á t ây lại tiêp tục đọc kin h rồi lễ tạ Trời P h ậ t Sau đó, ông thong th ả rời khỏi lễ đài
Dân chúng và quân lính có m ặ t đã chứng kiến toàn bộ
sự việc, bèn n h a y lên reo hò, gõ trống, phách liên hồi làm vang rlộng k h ă p cá kin h th à n h
Đang ngồi tro n g phủ trướng, vua T r ầ n Anh Tông được tin vội xa giá tới chỗ Huyền Quang h à n h lễ đế nói lời tạ lỗi Sau đó, n h à vua lệnh b ắ t ngay cung nữ Điểm Bích tống ngục, giao cho th á i giám x é t hỏi M ây ngày sau, Điểm Bích phải cung khai toàn bộ sự việc đã diễn ra ở th iề n tra i như t h ế nào Khi lời cung được th ĩn h đến tai n h à vua, ngài nổi giận k hép
n à n g vào tội chôt Biết tin, Huyền Quang lại vào cung, xin nhà vua th a tội cho nàng T rầ n Anh Tông thừa hiểu lỗi chính trong việc này là do m ình, nhưng đế giữ thê diện và cũng là
n ể lời thiồn sư, nên đà giáng Điốm Bích xuông hàng nữ tỳ, cho IhíMi lililí II chun trong cung C á n h Linh
Iỉni thơ "(¡mi nhân lứt' sự”, (lầu (1ề chư IIiin nhưng nội
dung lại là chừ Nòm m à Điểm Bích nói Huyền Quang tặ n g cùng là vấn đề cần được bình luận Hoặc là bài thơ của Điểm Bích, vì n à n g cũng thuộc loại giỏi chữ nghĩa, “nữ t h ầ n đồng” hay cùa người nào đó, cũng khá tà i hoa, có thế từng đọc thơ Huyền Quang làm chăng Cùng có thê’ là bài thơ của Huyền Quang đã làm thẠt Vì dêm đó, Điểm Bích đã ơ trong phòng khách Nêu đêm đó có đèn nên, n à n g sẽ biết ngay chỗ đê các
Trang 28tậ p thơ của Huyền Quang! Hoặc giả, nếu không có đèn nên, sáng hôm sau n àng cũng có th ể có đủ thời gian đê tìm hiêu.Xem xét kỹ, bài thơ ấy cũng k h á “đa n ghĩa ” Một nghĩa
có thế hiểu ở khía cạnh t r ầ n trục, ở sự khêu gợi dục tình:
Trăng, gió, nước đều khêu gợi, cảnh thì lạ, người thì ở trạng
th á i khá “tự n h iê n ” - tươi tốt Câu cuối chẳng những h ạ thâp Huyền Quang mà còn hạ thâ'p cả đạo Phật: Mâu Thích ca nào chẳng hữu tình? Có nghĩa là bản t h â n Mâu Thích ca cũng bị cám (lồ Nốu hiểu (i nghĩa trầ n tục này, khó có thê chấp nhận được đó lñ bài lim của Huyền Quang khi ông ilã là vị Thiền sư của bậc CIIII nliAl!
Một nghĩa khác rộng hơn: Bài thơ muốn đ ạ t tới một cái dẹp tuyệt đối, m ột sự hòa hợp tuyệt đôi! T răng, gió, nước, cảnh v ậ t vừa khêu gợi vừa tuyệt đẹp; còn con người tươi tốt không n h ấ t t h iế t cứ phải là con người đẹp ã n mặc hớ hênh
mà còn là con người đẹp nhưng ă n mặc không hớ hênh Câu cuối cùng trong bải thơ cũng có t h ể hiểu: Người sáng lập đạo
P h ậ t và những người theo đạo P h ậ t chẳng bao giờ vô tình trước cái đẹp, cái đẹp của th iê n nhiên cũng như cái đẹp của con người Đó là một sự t h ậ t hiển nhiên, bởi trong lịch sử thơ
ca có khá nhiều tác giả thi ca về th iê n nhiên, con người là các
vị th iề n sư đắc đạo
Từ đó cho thây, ở đây con người và thiên nhiên là vô cùng hòa hợp, m ột cái đẹp t h ậ t lý tưởng Những người theo đạo P h ậ t chỉ chủ trương diệt dục và không có quan hệ giới tính chứ chưa bao giờ từ bỏ cái đẹp, từ bỏ mỹ cám Căn cứ theo ý nghĩa này, có th ể cho rằng, Huyền Quang đã làm bài thư n à y và đó lồ bài thơ tuyệt tác, xứng (láng với một vị Thiền SƯ <1ụi lilimi có hy vọng bậc nhât!
l)iốm lại nliơng ctặc điểm nội dung chinli ciia tậ p “Ngọc Tiên”, có thê thây Huyền Quang chưa một lần quan trọng hóa địa vị và công việc của mình, trái lại, đã có lúc ông còn tự
Trang 29trà o về địa vị và công việc đó nữa Ông đ á n h giá tâ m tư tình
cảm con người ở khía cạnh “người” chứ không phải ở sự thuyết
pháp Sự Ưu tư, nỗi day dứt của ông trước con người b ấ t h ạ n h
và những th ă n g trn m n h â n thê là xuất p h á t từ con tim, khối
óc của con người đã từng chịu đựng, đã từng nghiền ngẫm, dã từng vượt qua, theo cái đích hướng thiện của m ột đại tri thức
và của m ột đại tín đồ đạo P h ậ t T hiên n h iê n trong thơ Huyền Quang không những đẹp, tin h tế, m à luôn luôn có hồn và gắn
bó m ậ t t h iế t với con người
Nêu x é t m ột cách hệ thống ở Huyền Quang từ h à n h vi, ứng xử, đên thơ ca, đều có m ột sự thông n h ấ t không th ể chia cách và theo một định hướng rõ r à n g đến cái tuyệt đối Những cái đó đều thuộc loại “ngoại cỡ” trong thời kỳ cua ông và có lẽ không chi trong thởi (lại cùa riêng ông!
Tư a m nịíiíói ong nảy sinh khá nhiều truyền thuyết, huyền thoại, khdng cil) 1,1011g dân gian mà Cii trong giới có học, đỗ
đ ạ t cao và n ắ m giữ các chức vụ lớn trong xã hội trước kia Tầm vóc tin h t h ầ n và bản lĩnh của ông đến nay v ẫ n còn là đề
tà i đê mọi người suy ngẫm và lý giải, mặc dù đã bảy t h ế kỷ trôi qua
Trang 303 NGUYỄN HIỀN - ÔNG TRẠNG
B ính Ngọ thời vúa T h á i T ôn n h à T r ầ n , đ ế n n ă m sau thi đình
đỗ T rạ n g Lúc mới lên sáu, bảy tuổi, ông đi học n h à sư ở chùa, n h à sư mồi buổi dạy mười tờ giấy, Nguyễn Hiền học qua là thuộc làu
The» sách ‘‘Nam Hải I)ị N h â n ” của P h a n Kế Bính, một hòm nhỉì HƯ tụng kin h vừa xong vào phòng nằm nghỉ, mơ thấy
P h ậ t girinK xuôniỊ l>áo rằng:
“N h à sư sao không bảo Trạng, cứ để cho lên chùa lờn
với P h ậ t ? ”
N h à sư tỉnh dậy, soi đèn xem các tượng P h ậ t thì thấy sau lưng mỗi tượng có chữ đề “P h ạ t 30 trư ợng” và sau mình
h a i tượng hộ p h á p thì có chữ “P h ạ t 60 trượng”
N h ậ n ra n é t chữ thì chính chữ Nguyễn Miền, n h à sư quở
m ắ n g Nguyễn lliồii, b á t p h ả i lây nước tẩy đi
Nguyễn H iền học các sách, qua m ắ t m ột lượt là nhớ ngay Thơ từ phú sách, nói ra tức là v ă n chương N ă m mười
m ộ t tuổi đã nối tiêng t h ầ n đông, bây giờ có người học trò ở
Trang 31Kinh Bắc tê n là Dộng Tính, tự thị tài mình hơn cả đời Nghe tiế n g Hà Dương có t h ầ n đồng đến chơi t ậ n nhà , thử xem tài học ra lùm sau Khi đôn ru m ột bài phú:
“Ph ụ n g hoàng sào vu A cát Kì lân du vu Ưvển hựu”Nghĩa là: Chim phụng hoàng làm tô trê n A cát, con Kì
lâ n chơi ở vườn U y ê n hựu.
Nguyễn H iề n đọc ngay bốn câu dịch nghĩa như sau:
Không p h ả i con rùa ở sông Lạc T h ú y
Không p h ả i con rồng ở sông M ạnh Hà
Ấ y kia ìiiỉór Hữu hừ n g (hùng là COII gâu)
D o n ị ị đ ô ớ Trác l ộ c ( l ộ c n g h ĩ a l à COII hươu).
(Hon câu I l l ' l l , câu nào cũng có tôn cam thú cho nên hay) Đặng Tính mới nghe được bôn câu, đã lăc (lầu lè lười nói rằng:
- T h iê n tài xin nhường bậc trẻ tuổi này !
Trang 32N ăm ấy thi đỗ thủ khoa N ă m sau vào thi đình, vua ra bài phúc “ấ p từ từ kê m ẫu phi h ồ ” nghĩa là con vịt từ giã mẹ
gà về hồ Văn Nguyên H iền hay n h ấ t, vua cấy lên đô T r ạ n g Nguyên, bấy giờ mới mười hai tuổi
T rụ n g vào bái m ạ n g vua trong s â n rồng, vua t h ấ y còn bé loi choi, lấy làm lạ hỏi rằng:
- T r ạ n g nguyên học ai ở nhà?
T r ạ n g thưa rằng:
- Tâu bệ hạ, tôi sinh ra đã b iết ngay, còn chỗ nào không
b iê t th ì h ỏi n hà SƯ m ột v à i chữ m à th ôi.
Vua th ấ y T r ạ n g ứng đối, chưa biết lễ phép, ă n nói không được k h iê m tốn, mới cho về học lễ phép, quá ba n ă m mới dùng lảm quail
Nguyên lliAn về n h à ở không được bao làu có sứ Tầu
đem m ộ t l)ài Lhơ ngụ ngôn Hang th ử n h â n tài nưcíc Nam Thơ rằng:
Lưỡng nhật bình đ ầ u nhật,
T ú sơn điên đảo sơn.
Lưỡng vương tranh n h ấ t quốc,
T ứ kh ẩ u tung hoành gian.
Vua hỏi các quân t h ầ n thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao P h ả i sai hai quan văn võ đến n h à ông Nguyễn Hiền mời vào triều đế’ hỏi Hai quan sứ đến làng Hà Dương, gặp một đứa trẻ tro n g n h à hàng, m ặ t mũi phương phi Sứ giả hỏi gì đứa trê ây không th è m đáp lại Mới đọc m ột câu đô'i nôm rằng: “Tự là chữ, câ't giằng đầu chữ tử là con, con ai con ấy?”Đứa trẻ đôi ứng khẩu ngay:
“Vu là chưng, bỏ ngang lưng chữ đinh là đứa, đứa nào đứa nà y ? ”
Trang 33g a iüiée d u a t r ẻ a y ià i r ạ n g H iề n , m ớ i h ö i th ă m đ ế n
t ậ n n h à thì t h ấ y T r ạ n g đang lúi cúi ở dưới bêp, n h â n dọc một câu rằng:
“N^ô văn (|uân từ viễn bao trù; h à tu nự áo”
Ngliiu là: T()i nghe quân tử xa chỗ bếp nước, lọ là phải
n ịn h vua bếp
T r ạ n g ứng k hẩu đối rằng:
“Ngã b ả n hữu quan cư đinh nại; k h ả ta m điêu ca n h ”
N ghĩa là: ta cốt có chức làm được Tế tướng, nhưng còn
t ạ m n â u nồi canh N âu canh l ạ t m ặ n tại tay cũng n hư chức làm tướng
Sứ giri t h â t ứng đối n h a n h n h ẩ u và có ý cao, chịu là giỏi, mới bầy k ế ý vua xin mời vào Kinh
T r ạ n g nói rằng:
- T h iê n tử trước k ia b ả o t a chưa b iết lễ phép, nhưng
c hẳng n hữ ng là T r ạ n g chưa b iế t lễ phép, cả đ ế n T h iê n tử cũng chưa b iết lễ phép
Nói t h ế rồi n h ấ t dịnh không chịu đi
Sứ giả về tâ u lại với vua, vua phải đem xe ngựa và đồ lễ đến đón, bấy giờ T r ạ n g mới đi
Khi đến kinh, vua đưa bài thơ của T ầu r a hỏi T rạ n g Hiền Cílm bút viốt, ra m ộ t chữ và giải rằng:
- Càu thií Ihứ n h ấ t nghĩa là chữ n h ậ t, ngược suôi bằng
đẩu nhau; th ứ nhì là bốn chữ san, ngược xuôi cũng là chữ san cả; th ứ ba hai chữ vương t r a n h nhau ở tro n g m ột nước, thứ tư
là bốn chữ k h ẩ u ngang dọc đều là khf a cả Tóm lại chỉ là m ột chữ điều.
Giải xong, đưa cho sứ Tầu xem, sứ Tầu phải chịu, Vì t h ế ngay sau đó vua cử Nguyễn H iền làm Kim tử vĩnh lộc đại phu; sau làm đến Công bộ thượng thư, không được bao lâu thì ông
m ấ t
Trang 34Vua Ih ấy người đ ạ i t à i n h ư th ê m à k h ò n g được thọ, thương tiếc vô cùng H uyện ông ấ y nguyên tê n là huyện Thượng
H iền, vua mới k iê n g t ê n ông ấy, dối r a gọi là Thượng Nguyên Lại cấp cho n ă m m ẫu ruộng tư điền, b ắ t d á n làng ấ y phải lập miêu thờ
4 MẠC ĐĨNH CHI - NGƯỜI
GIỎI ỨNG ĐỐI
(1280 • 1346)
L ư ỡ n g q u ố c T r ạ n g n g u y ê n - trạng nguyên hai nước,
m ột danh hiệu xưng t ặ n g cho m ộ t vài t r ạ n g nguyên Việt Nam Tuy k h ô n g chínli thức đỗ t r ạ n g nguyên ờ m ộ t nước khác, nhưng học vân của họ được công n h ậ n n h ư m ột t r ạ n g nguyên cùa nước đó - đều là Trung Quốc Trong 49 vị t r ạ n g nguyên của V iệt Nam , có ba người được xưng t ặ n g là “Lường quôc
T rạ n g nguyên”, dó là:
- Mạc Đĩnh Chi triề u vua T r ầ n Anh Tông
- Nguyễn Trực triều vua Lê T h á i Tông
- Nguyễn Đ ăng Đạo triề u vua Lê Hy Tông
Mạc Đĩnh Chi (1280- 1346) đỗ t r ạ n g nguyên n ăm 1304 dời vua T r ầ n Anh Tông Từ nhỏ, Mạc Đĩnh Chi tuy bé người, xấu xí nhưng lại r ấ t h a m học và có đầu óc th ô n g m inh sáng láng, n ê n “học m ột b iế t mười” và tà i ứng đối vô cùng nhanh nhạy Khi trướng th à n h , ông vào cung thi Đình Tuy nhà vua (thời vun T r ầ n Anli Tông) thấy v ă n chương của ỏng không ai
bì kịp, lại nglii' nliững lời (tối đáp của ông vô cùng sắc sảo, thông m inh, nhưng khi n h ìn vào m ặ t ông th à y hình dung cô
Trang 35N ăm 1308, Mạc Đĩnh Chi
đi sứ nhà Nguyên Trung Quốc, đối đáp thông tuệ, học vấn uyên thâm Trong một phiên chầu, sứ
Tháp Hoà Phong ở Chùa Dãu, g iả nước n g o à i d â n g vua N g u y ê n Thuận Thành, Bấc Ninh mới trùng m ộ t ch iế c q u ạ t q uý V u a sa i các
Mạc Đinh Chi (In n h a n h chóng làm m ột bài thít r ấ t hay, có khí phách lớn và chữ n ghĩa đôi nhau r ấ t tài tình Nguyên
T h à n h Tổ xem xong r ấ t k h e n ngợi Ỏng ta dã phê vào bài thơ
4 chữ Lưỡng quốc T r ạ n g nguyên và tự tay trao cho Mạc Đĩnh
Chi N hững giai thoại sau được dân gian truyền tụng lại r ấ t chi tiết
quái xâu xí lòng díi không muốn cho được đỏ đầu B ié t ý, Mạc Đĩnh Chi bèn làm ngay m ột bài phú “Hoa sen giên g ngọc” đê
d â n g lên n h à vua “ngự” (đọc) Trong bài phú, tuy ông chỉ nói
đ ế n m ột loài hoa cao qúy m à phải sống trong bùn, nhưng n h à vua cùng hiểu ý òng định nói gì
Vì vậy, n h à vua đã bỏ qua th à n h kiến ban đầu mà phong T rạ n g cho ông
1 Tài ứng đối thứ nhất
N ă m 1308 Mạc Đĩnh Chi di sứ n h à Nguyên, đến cửa
k hẩu sai hẹn, quân Nguyên canh gác b ắ t phải chờ đến sáng hôm sau T hấy sứ bộ Đại Việt cứ biện bạch măi, viên quan phụ trá c h canh cứa ải t h ả từ trê n lầu cao xuông m ột câu đối,
th ứ th ác h sứ bộ Đại Việt nếu đôi được thì họ sẽ mở cửa Câu dối có nội dung như sau:
Trang 36Quá quan tri, quan quan bế, nguyện quá k h á c h quá quan
(nghĩa là: Tới cửa ải tr ễ , cửa quan đóng, mời k h á c h qua đường cứ qua)
Một v ế (lôi hóc búa đ ế n 4 chữ quan và 3 chữ quá? Mạc
Đ ĩnh Chi th â y khó, nhưng ông đã n h a n h t r í (lùng mẹo để đối như sau:
Tiên dối dị, (lối đối nan, thình T iên sinh tiên đối
(nghĩa là: Ha câu đôi dễ, đỗi cầu đôi khó, xin mời Tiên
s inh đối trước)
Vê đối cùa ông có 4 chữ đối và 3 chữ tiên, đúng với yêu
cầu câu đối của viên q u a n ấy Tưởng lâ m vào th ế bí, h ó a ra lại tìm được vế đối hay, k h iế n người Nguyên phải phục và liền
mở cửa ải để đoàn sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi qua biên giới
2 Tài ứng đối thứ hai
Tói k in h đô, Mạc Đĩnh Chi được vời vào tiếp kiến hoàng
đ ế n h à Nguyên Nguyên hoà n g đ ế dọc m ộ t câu đôi đòi ông
p hải đôi lại:
N hật: hỏa; vân: yên; bạc/i đ á n tliiêu tàn ngọc thỏ.
Nguyệt: cung; tinh: dạn; lioàng h ôn xạ lạc k im ô.
(nghĩa là: T ră n g là cung, sao là tên; chiều tối bấn rơi
m ặ t trời).
Trang 37Vế đối r ấ t chuẩn và tỏ rõ sự cứng r ắ n của người d â n nước Việt, k hông run sợ và s ẵ n sàng giáng tr ả và làm t h ấ t bại mọi đe doạ cùa ké thù phương Bắc.
Có th u y ê t nói r ằ n g vì câu đối này của Mạc Đĩnh Chi, người phương Bắc đoán con cháu ông sau này sẽ là m việc
th o á n đ o ạ t (ứng với h à n h động cưdp ngôi của Mạc Đ ăng Dung)
3 T ài ứng đối thứ ba
Có lầ n Mạc Đình Chi sang sứ đúng vào dịp người hậu phi của vua Nguyên m ât Lúc tê lễ, người Nguyên dưa cho
C h á n h sứ An N am bài điếu v ă n viết sẵn, báo đọc Khi Mạc
Đ inh Chi mơ >>iấy ra thì chi th â y viết có 4 chữ “N h ấ t ” (là một) Ong ehrtnK hề lúng túng, vừa nghĩ vừa đọc t h à n h bài điéu vím:
Thanh tlnờii Iiliât clóa vân
l lồ n g lô nhất đ iể m tuyết
Ngọc uyên n h ấ t chi hoa
Dao trì nhát p h iế n nguyệt Y!
Văn tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!
T ạm dịch:
M ột đ á m m ả y giữa trời xanh
M ột bông tuyết trong lò lứa
Một bông hoa giữa vườn thượng uyển
M ột vầng trăng trên m ặ t nước hồ
Ôi! m ả y tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng ìiliuyết!
Bài văn điếu r ấ t xuất sắc kh iến người Nguyên hôm dó
r ấ t k h á m phục
Trang 384 Tài ứng đối thứ tư
Mụl, lần Mlle Đình Chi đến th ă m phủ Thừa tướng nhà Nguyên Trong I)lUi t r a n g h o à n g lộng lẫy, giứa phòng có treo
m ột bức trướng Lu hìn h con chim sẻ đậu Irên cà n h trúc trông
r ấ t th ậ t Mạc Đĩnh Chi ngỡ là chim sẻ t h ậ t đậu ngoài cửa sổ
n ê n chạy đến chụp th ì mới vờ lẽ đó chỉ là bức hoạ Thừa tướng và các quan q uân n h à Nguyên đều phá lên cười và có ý châm chọc Mạc Dĩnh Chi vội lấy bức họa xuống và xé toạc
t h à n h nhiều m ánh Mọi người đều k in h ngạc Bấy giờ ông mới n ghiêm m ặ t giái thích:
“Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, cliủ chưa thấy vẽ cliim sẻ dậ u cành trúc bao giờ N a y trong bức trướng của tể tướng lại thêu cành trúc với chim sẽ Trúc là bậc quân
tủ, chim sẻ là ké tiếu nhân T ê tướng thêu n h ư uậy là đ ế tiểu
n h â n trên quăn tử, sợ răng đạo của tiểu n h ã n sẽ m ạ n h , dạo của quản tử sẽ si/y Tôi vì th á n h triều m à trừ g iú p bọn tiểu nhản.
Mội hôm Mạc Đ ĩnh Chi cùng với phái bộ triều Nguyên
đi chơi Tới gần một cái cầu, c h ẳ n g may T r ạ n g Việt N am bị sa
hô, phái hộ đốu chạy lại đê đờ ông dậy Dế đùa vui, họ r a cho
ô n g một, vô cAu d ô i:
Cun mộc, hoànìi cừ, lục giá tương n h ư lự itợo
(Nghĩa là: Gỏ th ắ n g , cầu ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng)
Cái khó của câu này là ỏ chỗ dùng toàn tôn người ghép lại Theo đó, can mộc là Đoàn Can Mộc - m ột n h â n v ậ t đời
C hiến quốc, H oành Cừ: tê n hiệu của Trương Tái - m ột triết gia đời Băc Tống, Lục Giả: người nước Sở, gioi biện luận, theo giúp Hán Cao Tổ, tương như: Lạn Tương Như, m ột n h â n vật nôi tiêng đời C hiến Quốc, tự đạo: Giả Tự Đạo, người đời nhà Tông, m ột quyền t h ầ n chuyên chế
Trang 39Mạc Đĩnh Chi nh ìn quanh nom thây ở bên kia sông có cái đình dưới chân núi, n h â n thê chỉ tay th ẳ n g đình mà đối:
Dụi dinh, anh thạch, vọng chi nghiễm nhược Thai sơn
(Nghĩa là: Đình to, đá vững, nhác nom như thế’ ThiênThai)
Câu n à y cùng dùng toàn tê n người ghép lại như ớ câu
t r ê n m à lại có ý khoáng (lạt hơn nhiều, theo đó Đại Đình là
m ột biộl hiệu CIIM 'Phần Nông, an thạch tức Vương An Thạch
thừa t,ơ('/ng đời Miíc Tống, Vọng Chí là người (lời Hán, làm phụ cliínli cho ] lán Nguyôn ílế (hai từ “ngliiêrn nhược” và
“Thai sơn”, các nhà n g h iên cứu chu biết chưa Ira cứu ra là ai).Một lần nữa, người Nguyên lại phái khâm phục tài văn học của Mạc Đĩnh Chi
5 Lưỡng quốc Trạng nguyên
Lại m ột lần khác, Mạc Đĩnh Chi cùng với sứ t h ầ n m ột
sô nước ra m ắ t vua Nguyên N h â n có nước chư hầu nào đó dâng chiếc quạt, vua Nguyên b ắ t sứ t h ầ n Đại Việt và sứ t h ầ n Triều Tiên dề thơ Giữa lúc Mạc Đĩnh Chi còn tìm tứ thơ, thì
sứ Triều Tiên đã viết liến thoắng Ồng liếc nhìn theo quản bút đọc th ấy sứ T riều Tiên viết hai câu chữ Hán, dịch nghĩa như sau:
“Nóng nực oi ả, thì như Y Doãn, Chu Công” (là những người được vua trọ n g dụng)
“Rét buốt lạnh lùng, thì như Bá Di, Thúc T ề ” (là những người bị ruồng bó)
Với Hự nhanh Lrí kì lạ, Mạc Dinh Chi liền phát triển hai cáu thơ ln*n th à n h mội bái xuñt sác, mô tá ciliée quạt:
L iỉii him thiíóc thạch, thiên vị dịu lô, nhì ư tư /kì /lề, Y Chu cự nho.
Trang 40Bắc p h o n g kỳ lương, vũ tuyết tái dồ, n h ĩ ư tư thì hề, Di
6 Chùa Dâu - công trình từ một giấc mờ lạ
Chìm Dâu ớ T h u ậ n T h à n h Bắc N in h có k iế n trúc độc đáo, m ột báu v ậ t P h ậ t giáo được sử sách ghi n h ậ n do Mạc
Đ ĩnh Chi đứng ra t h i ê t kê và xây dựng Câu chuyện về ý tương dựng chùa Dâu được d â n gian lưu tru y ề n n h ư sau
Khi Mạc Đĩnh Chi cùng đoàn sứ bộ đ ang rong ruổi ớ xứ người thì ơ n h à , bà vợ và người h ầ u gái của ông đều bị ốm chết Khi về đến chợ H oàn Dương, ông nghi đêm ở đó, nằm
mơ th ấ y người hầu gái đến gặp vừa khóc vừa nói:
- Phu n h à n dã m ất, h iệ n đ ang bị giam giừ trong ngục tối của Diêm vương Lhfjt là khỏ cực, xin ông den đỏ cứu cho
Ong hỏi: