1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rút gọn ứng dụng của bảng phân loại thập tiến Dewey: Phần 1

224 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 11,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Khung phân loại thập phân Dewey là một trong ba công cụ quan trọng mang tính quốc tế về truy cập và trao đổi thông tin trong các hoạt động thư viện và dịch vụ thông tin được hơn 200.000 thư viện tại 138 quốc gia đang sử dụng. Mời các bạn cùng tham khảo phần 1 tài liệu Rút gọn ứng dụng của bảng phân loại thập tiến Dewey được chia sẻ dưới đây.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN

BẢNG PHÂN LOẠI THẬP TIÊN DEWEY

RÚT GỌN ÚNG DỤNG

(Lưu hành nội bộ)

HÀ NỘI - 2002

Trang 2

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

ThS Nguyễn Huy Chưong

Ưỷ viên thư ký

Ưỷ viên

Uỷ viên

Trang 3

M ỤC LỤC

Giải thích nội dung bảng rút gọn 100 mục 30

C ác bảng trợ kí hiệu

Bảng 3 Tiểu phân mục văn học (xếp ngay sau lớp 800)

Bảng 4 Tiểu phân mục ngôn ngữ (xếp ngay sau lớp 400)

500 Các khoa học tự nhiên và toán học 180

Trang 4

CÁC BẢNG PHÂN LOẠI Một sô nét đại cương

Việc tạo lập ra một bảng phân loại dùng cho việc tìm kiếm tài liệu đặt ra những vấn đề phức tạp ớ đây chúng tôi trình bày một cách ngắn gọn những nguyên tắc chung về biên soạn và những đặc tính của các bảng phân loại dùng cho việc sắp xếp tối ưu những cuốn sách trên giá Trong trường hợp này cách giải quyết phù họp là dung hoà được những đòi hỏi sắp xếp trình tự về mặt nội dung trí tuệ - phải được trình bày một cách logic và có mối liên kết chặt chẽ - và sắp xếp trình tự về mặt vật chất kèm theo những giải pháp cụ thể đáp ứng yêu cầu của độc giả

hệ thống phân loại của Auguste Comte, cũng như vậy với ông Henry Bliss người Anh là tác giả của hệ thống các khoa học và một bảng phân loại dành cho việc sắp xếp sách gọi là "phân loại thư mục"

• Một số bảng khác ngược lại, trước hết lại tính đến những vấn đề

cụ thể để sắp xếp sách không dựa vào một phân loại triết học của các lĩnh vực tri thức nào cả, đó là trường hợp Thư viện Quốc hội Washington Dù bảng phân loại này phái sinh từ bảng Cutter, song được tạo ra theo thực

tế tài liệu có ở thư viện từ đầu thế kỷ XX và mở rộng cho tương lai Tầm

quan trọng và vị trí mỗi lớp không theo logic mà theo vốn tài liệu của thư viện, trong 23 lớp cơ bản có 2 lớp dành cho lịch sử nước Mỹ và một lóp dành cho Châu Âu

Các hệ thống này tuy nhiên đều có những đặc tính chung là chúng đều có cấu trúc đẳng cấp Mỗi ngành tri thức phù hợp với một lớp, mỗi lớp tiếp theo lại chia ra các lớp con, mỗi lớp con lại chia nhỏ ra tuỳ theo mức độ cần thiết của việc thể hiện đầy đủ khái niệm Trong mỗi bậc phân chia, có một dấu hiệu được ghép vào thuật ngữ chính Hệ thống này được giới thiệu bằng một biểu đồ như một cây phả hệ Ví dụ, từ lóp cơ bản cuả một ngành khoa học chính xác có các lóp con là Toán học, Vật

lí, Hoá học, v.v và từ lớp con Toán học có các mục Đại số, Giải tích, Hình học, v.v

Trang 5

Nhưng dù là bảng phân loại Dewey, UDC hay phân loại Thư viện Ọuốc hội Mỹ, hoặc bảng phân loại Bliss thì không một hệ thống phân loại bách khoa nào thoát khỏi những nhược điểm khó tránh:

- Trên thực tế không một bảng phân loại nào có thể có được sự ủng

hộ hoàn toàn của đồng nghiệp và những người sử dụng: phân loại là tạo

ra những trật tự trong các tri thức và gán một vị trí nhất định trong một hệ thống định trước cho một khái niệm hiện có Dù là các ngành khoa học,

kỹ thuật và đặc biệt có thể là các ngành khoa học xã hội, thì tính chất liên ngành đã có từ mấy chục năm nay Trong một số trường hợp việc lựa chọn người phân loại cũng có thể rất tuỳ tiện

- Tiếp theo, tất các bảng phân loại đều không tránh khỏi bị cũ bởi

vì nó được sinh ra trong một trình độ khoa học ở một thời điểm nhất

định, như trong bảng phân loại Brunet, không có một lớp phân loại nào

có thể dự trữ đủ chỗ cho các ngành khoa học xếp chung với các ngành kỹ thuật trong vị trí thứ ba Trong bảng phân loại Dewey coi Tâm lý học chỉ

là một đề mục của Triết học, ngày nay nó là một bộ môn khoa học hoàn toàn độc lập Sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực tri thức trong vài chục năm gần đây làm xuất hiện các ngành khoa học kỹ thuật mới, ví

dụ như Hàng khỗng vũ trụ, Tin học Một số bộ môn khoa học đã có những thay đổi như sự xuất hiện của Toán học hiện đại đã làm đảo lộn cơ bản lĩnh vực toán học, mặt khác ngày nay không thể nghiên cứu văn học

mà không tính đến sự đóng góp của ngôn ngữ Để phản ánh sự tiến triển không ngừng của tổng thể các lĩnh vực tri thức, các tác giả của các bảng phân loại lớn buộc phải thường xuyên xem xét lại các hệ thống phân loại của họ Việc hiệu đính các bảng phân loại luôn có sự kết hợp với các chuyên gia và các nhà chuyên môn

- Cuối cùng, mỗi bảng phân loại phản ánh - chắc là không tránh khỏi - một nền văn minh hoặc một hệ tư tưởng Bảng phân loại Dewey cũng như bảng phân loại UDC đều mang dấu ấn của xã hội tư bản Phương Tây; các lĩnh vực Triết học, Tôn giáo, Ngôn ngữ, Văn học không

Trang 6

phải của các nước Phương Tây chiếm một vị trí rất hạn chế Ngược lại, có

cả một lớp riêng dành cho Thuyết thần bí tronc hệ thống phân loại Raganathan Ân Độ, cũng như Thần học trong phân loại của Brunet hoặc Chủ nghĩa Mác-Lênin đứng ở vị trí đầu tiên trong BBK

Cũng cần phải nói rằng đặc tính tuyến tính và đẳng cấp của các hệ thống phân loại này theo logic cổ điển và ngày nay đang được xem xét lại hoàn toàn: Theo Jean Paget "Hệ thống các khoa học thể hiện một cấu trúc theo trật tự chu kỳ cần thiết và bất khả quy đối với dạng tuyến tính" (trích trong cuốn " Logic và tri thức khoa học ", Paris, Nhà xuất bản Gallimard, trang 1172)

2 HỆ THỐNG KÍ HIỆU

Những sơ đồ của một hệ phân loại, có nghĩa là tổng thể các lóp, các cấp phân chia (đề mục) tiếp theo, các tiểu mục tạo ra hệ thống phân loại đó lại không đủ để nêu đặc trưng của cấu trúc phân loại nói trên Hệ thống ký hiệu, những ký hiệu định trước để thể hiện những yếu tố trên, cũng rất quan trọng Người ta gọi tổng thể các ký hiệu tươne ứng với một khái niệm hoặc một chủ đề là các chỉ số hay ký hiệu Những ký hiệu này phải phổ dụng Hệ thống ký hiệu có thể là chữ cái như trong bảng "Phân loại thư mục" của Bliss hoặc bảng phân loại Cutter, có thể là số như trong bảng phân loại thập tiến Dewey hoặc UDC Cũng tổn tại hệ thống ký hiệu phân loại hỗn hợp như bảng phân loại Thư viện Quốc hội Washington dùng chữ cái latinh thể hiện các lớp cơ bản và lớp tiếp theo, sau đó dùng số cho các tiểu đề mục Các dấu hiệu khác cũng có thể được dùng như chữ cái Hy Lạp trong hệ thống Ranganathan, chữ cái Kinn trong hệ thống BBK Xô viết

Vấn đề đặt ra với hệ thống ký hiệu không phải là thứ yếu Thực tế

hệ thống ký hiệu quy định số lượng các lớp cơ bản và các lớp con Một bảng phàn loại dùng hệ thống ký hiệu chữ cái có thể có tới 26 lớp cơ bản trong khi đó hệ thống ký hiệu thập phân chỉ có thể có nhiều nhất 10 lóp

Hệ thống ký hiệu trong một số bảng phân loại dùng chữ cái, ví dụ như Thư viện Quốc hội Mỹ có một số chữ cái không đủ sử dụng, họ để dành chỗ cho các bộ môn khoa học và các chủ đề trong tương lai, đủ quan trọng để xây dựng một lớp

Cuối cùng thì một hệ thống phân loại cần có những ưu điểm gì? Một khung cơ bản kết cấu chặt chẽ tới mức có thể, mặc dù rất khó khăn như chúng tối đã nhấn mạnh, cần một sự mềm dẻo tương đối để khi có những chủ đề mới cần bổ sung không làm đảo lộn logic hệ thống, cần một hệ thống ký hiệu rõ ràng và ngắn gọn, tránh quá dài, mỗi ký hiệu phải tương ứng với một khái niệm cụ thể

Trang 7

3 GIỚI TH IỆU CỤ TH Ể BẢNG PHÂN LOẠI

Mỗi bảng phân loại dùng để phân loại sách, gồm có nhiều phần:

Các bản? chính trình bày các lớp, các lớp tiếp theo và các lớp con theo trình tự ký hiệu

Một bảng tra chữ cái cho từng thuật ngữ cho biết ký hiệu tương ứng

- Các bảng trợ ký hiệu để ghép với ký hiệu chính cho phép mở rộng chính xác hoá ký hiệu chính Đó là các bảng tiểu phân mục chung,

về quan điểm (ví dụ triết học của vấn đề), hoặc kí hiệu hình thức (từ

điển), hệ thống kí hiệu lịch sử và địa lí (chủ đề được nghiên cứu ở thời

đại nào hoặc ở nước nào)

BẢNG PHÂN LOẠI THẬP TIÊN DEW EY (DDC)

1 MELVIL DEWEY VÀ CÁC LAN XUẤT BẢN DDC

Sinh năm 1851 tại New York, Melvil Dewey đã giữ vai trò hàng

đẩu trong nền thư viện học Mỹ và thế giới Khi còn là một cán bộ thư

viện trẻ ử trường Amherst lần đầu ông đã công bố phiên bản đầu tiên của

bảng phân loại từ năm 1876; ông tham gia sáng lập Tạp chí nghiệp vụ

đầu tiên: "Tạp chí thư viện" (Library Journal) là thư ký và sau đó trở

thành chủ tịch Hội thư viện Mv

Đây là một con người tha thiết với sự đơn giản hoá và chuẩn hoá

Ngoài các hoạt động nghề nghiệp, ông luôn đấu tranh tích cực nhằm cải

cách chính tả (ồng đã rút ngắn tên ông từ Melville thành Melvil và các

lời tựa của ông bằng lối chính tả đơn giản hoá thật khó đọc đối với những

người không am hiểu), cũng tương tự như vậy để áp dụng vào hệ âm luật

ở Mỹ Ông hiểu được lợi ích và sự cần thiết để cho các thư viện tuyển lựa

những người có trình độ và ông đã sáng lập ra trường đào tạo nghề

nghiệp đầu tiên tại Đại học Columbia năm 1887

Tên ông lưu lại đặc biệt với hệ phân loại thập phân (viết tắt là DDC

hoặc tiếng Pháp là CDD) Ông đã xuất bản 12 lần trước khi qua đời vào

năm 1931 Từ năm 1924 ồng giao cho Câu lạc bộ Lake Placid, một tổ

chức phi lợi nhuận đảm nhận việc khai thác Một u ỷ ban về chính sách

xuất bản DDC được thành lập năm 1937 chịu trách nhiệm về xuất bản

DDC Hợp tác với Ưỷ bcin này là Phòng phân loại thập phân của Thư viện

Quốc hội W ashington, nơi phải phân loại hàng năm 100.000 tài liệu Nhà

xuất bản Forest Press do Câu lạc bộ Lake Placid thành lập để xuất bản và

thương mại hoá DDC, từ năm 1988 là một bộ phận của OCLC (Online

Computer Library Center) nơi truyền bá các dịch vụ cho khoảng 8.000

thư viện ở Châu Mỹ, Châu Á và Châu Âu

Trang 8

Lần xuất bản thứ 18 của DDC ra đời năm 1971 Bản dịch đầy đủ

do các cán bộ thư viện Pháp ngữ thực hiện theo sáng kiến và dưới sự chỉ đạo của Generiere Guilien, nguyên là quản trị hành chính và cán bộ thư viện thành phố Lyon phối hợp với cán bộ thư viện Canada thuộc trường Saint-Anne-de-la Pocatière Lần xuất bản thứ 19 vào năm 1979, lần xuất bản thứ 20 được giới thiệu tại Hội nghị IFLA Paris năm 1989 Hiệp hội thúc đẩy khoa học và kỹ thuật tư liệu Montrial năm 1995 đưa ra ý kiến xuất bản bảng DDC cỡ trung bình bằng tiếng Pháp và hợp tác với Thư viện Pháp hiện đang chuẩn bị một bản mới đầy đủ bằng tiếng Pháp

2 BẢNG PHÂN LOẠI DEWEY: KHUNG VÀ HỆ TH ốN G KÝ HIỆU

Trước Melvil Dewey, có nhà thư viện học khác người Mỹ là William Torrv Harris, cũn? đã dựa trên hệ thống khoa học của Bacon (The Advancement of Leaning, 1608) để xây dựng một bảng phân loại Ông đã chia tri thức ra 10 lớp cơ bản, mỗi lớp lại có một số lớp tiếp theo

Lần xuất bản đầu tiên của hệ thống này vào năm 1876 có tên là "A Classification and Subject Index for Cataloging and Arranging the Books and Pamphlets of a Library" Dewey đã dùng lại bảng phân loại của Harris là khung phản ánh đúng đắn thực trạng khoa học cuối thế kỷ XIX Mười lớp định trước tương ứng với chín bộ môn cơ bản: Triết học, Tôn giáo, Các khoa học xã hội, Ngôn ngữ, Các khoa học chính xác, Kỹ thuật, Nghệ thuật và giải trí, Văn học, Địa lí và Lịch sử đại cương, và ghép thêm một lớp Tổng quát (các vấn đề chung)

Tuy nhiên việc áp dụng hệ thống kí hiệu thập phân là thành công lớn của hệ thống phân loại của ông: Tổng thể tri thức nhân loại được thể hiện bằng ký hiệu con số 1 Mỗi lớp mà chúng tôi vừa dẫn đều được đánh

900 Địa lý Lịch sử đại cương

Mỗi lớp lại chia ra nhiều nhất là 10 lớp cấp dưới , phân chia giống hệt nhau: 100, 110, 120 190; 200,210, 220 290;

Trang 9

Mỗi lớp nhỏ lại chia thành 10 lớp cấp dưới nhỏ hơn nữa: 110, 111, 112, 119.

Như vậy, lần xuất bản năm 1876 có 1000 kí hiệu chính 3 con số Sau này Dewey đã phát triển hệ thống của mình: lần xuất bản thứ 2 năm

1885 khối lượng đã tăng lên 7 lần so vói lần đầu Do hiệu quả sử dụng bảng phân loại này ở nhiều nước và sự gia tăng rất nhanh các lĩnh vực tri thức và kỹ thuật ở thế kỷ XX mà hệ thống kí hiệu của bảng phân loại ngày càng được bổ sung thêm nhiều và hoàn hảo: lần xuất bản gần đây nhất của Mỹ vào năm 1996 bảng phân loại bao gồm hơn 20.000 kí hiệu, thậm chí còn nhiều hơn nếu ta tính đến khả năng cấu tạo kí hiệu bằng cách sử dụng các bảng trợ kí hiệu

3 GIỚI THIỆU HỆ THỐNG KÍ HIỆU

Mỗi kí hiệu không thể ít hơn 3 số; cụ thể là số đầu tiên bên trái là lớp cơ bản, số thứ hai ở giữa là lớp tiếp theo và số thứ ba ở bên phải là lớp con Ví dụ: kí hiệu 538 (từ học): 5 = Khoa học chính xác, 53 = Vật lí (lớp tiếp theo của lớp cơ bản Các khoa học chính xác), 538 = Từ học (lớp

C011 của Vật lí)

SỐ 0 luôn thể hiện những vấn đề chung: 500 = Những vấn đề chung về khoa học chính xác, 530 = Những vấn đề chung về Vật lí Những kí hiệu trên 3 con số luôn cần có dấu chấm ngăn cách 3 số đầu với các số sau: 538.2 (Nam châm và sự cảm ứng từ) Nhưng nếu kí hiệu vượt quá 6 số thì nói chung phải để khoảng cách giữa số thứ sáu và thứ bảy: 944.081 6 (Lịch sử nước Pháp từ 1939-1945) không có dấu chấm giữa số thứ sáu và thứ bảy

Trên nhãn dán ở gáy sách cũng như ở phía trái các phiếu mục lục

có thể ghi kí hiệu trên nhiều dòng để có thể nhìn rõ:

944 PAXTON (Robert).- La France de Vichy:

081 6 1940-1944/ Robert O Paxton -Paris: Ed.

PAX du seuil, 1972.- 375 p.; 21cm.-(L'univers

historique)

Cuối cùng , ta lưu ý rằng cấu trúc đẳng cấp của bảng phân loại thể hiện rõ trong hệ thống kí hiệu: khái niệm càng sâu thì kí hiệu càng dài

Trang 10

Cây cam quýt

4 u u NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỆ TH ốN G KÍ HIỆU THẬP PHÂN

Nếu bảng phân loại Dewey đã thành công rực rỡ tại Mỹ và tiếp theo ở các nước khác thì chắc chắn là nhờ hệ thống kí hiệu Ưu điểm đầu tiên của hệ thống ký hiệu là cấu trúc sáng sủa, dễ đọc Một nhóm các con

số nối liền thành một khối dễ thuộc hơn nhiều so với nhóm chữ cái, hơn nữa con số sử dụng phổ biến khắp nơi trong khi có nhiều vần chữ cái trên thế giới Còn ưu điểm nữa là nó có thể mở rộng: Hệ thống thập phân cho phép mỗi lần xuất bản mới có thể bổ sung thêm kí hiệu mới (chỉ được ghép thêm một số vào kí hiệu tương ứng với khái niệm chung hơn), ví dụ phân tâm (150.195) chiếm một chỗ trong tâm lí học Ta có thể sử dụng kí hiệu chi tiết nhiều hay ít tuỳ theo từng thư viện, hoặc ngay trong cùng một thư viện thì người ta cũng có thể định tỷ lệ độ dài kí hiệu theo số lượng tài liệu dự kiến nhiều hay ít cho từng lĩnh vực Tuy nhiên cũng phải

dè chừng kí hiệu quá ngắn, nó sẽ nhanh chóng không thích ứng với sự tăng nhanh của tài liệu, song cũng không nên lấy kí hiệu quá dài dể dự trữ cho việc phân loại chi tiết tài liệu

Nguyên tắc thập phân chỉ chia 10 trong mỗi lớp, như vậy mỗi bộ môn khoa học sẽ có nhiều nhất là 10 nhánh chuyên khoa Như lóp 200 (Tôn giáo), lớp 600 (Kỹ thuật) chỉ có 10 lớp tiếp theo, trong khi các lĩnh vực mà nó bao quát lại rộng hơn nhiều và luôn luôn phát triển, người ta bắt buộc phải tạo ra kí hiệu rất dài nhưng đủ để có thể chia nhỏ tiếp tục (621.381: Điện tử; 791.43: Điện ảnh, v.v.)

5 KHÁI NIỆM VỀ NGÀNH KHOA HỌC VÀ BẢNG TRA

Như chúng tôi đã nêu ở trên, Dewey đã chia tri thức nhân loại ra

Trang 11

10 ngành khoa học cơ bản Để hiểu hệ thống của ông, chủ yếu cần phải chấp nhận việc phân chia theo ngành khoa học chứ không phải theo chủ

đề Không có một kí hiệu phân loại dự kiến nào dành cho một chủ đề Nhưng có nhiều quan điểm theo đó chủ đề được xem xét, ví dụ chủ đề

"trẻ em" tương ứng với kí hiệu về Tâm lí học: 155.4; kí hiệu về Xã hội học: 305.23; kí hiệu về Y tế: 618.92; kí hiệu về Khoa nuôi dạy trẻ em: 649

Điều không thể chối cãi là hệ thống này làm phân tán sách, gây bối rối cho một số bạn đọc quan tâm đến một chủ đề ở tất cả các khía cạnh Ngược lại, có những bạn đọc nghiệp dư hay chuyên nghiệp trong một lĩnh vực cụ thể, ví dụ như Lịch sử, Xã hội học, Thể thao thích thú được xem trên giá những cuốn sách của một ngành được tập trung vào một chỗ Như vậy 2 cách sắp xếp theo ngành hoặc theo chủ để không thể dung hoà nhau Bởi vậy, cần phải để bạn đọc sử dụng một mục lục xếp theo chữ cái các chủ đề, bổ sung cho cách sắp xếp sách trên giá theo phân loại, giúp tập hợp tài liệu theo chủ đề, các phiếu mô tả tương ứng với những cuốn sách xếp phân tán trên giá

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tác giả của bảng phân loại dự kiến rằng các tài liệu về một chủ đề có thể được sắp xếp theo một ký hiệu

ưu tiên, ví dụ: 665.5 dành cho nghiên cứu về dầu mỏ ở mọi khía cạnh,

260 về nhà thờ Cơ đốc giáo nói chung

Bảng tra của một khung phân loại, rất chi tiết trong phiên bản đầy

đủ dùng để chỉ dẫn cho cán bộ thư viện trong việc tìm kí hiệu tương ứng với một chủ đề, quả thực nó liệt kê dưới mỗi thuật ngữ mọi quan điểm và mỗi quan điểm một kí hiệu tương ứng

Ví dụ:

P hụ nữ - Luật pháp 346.013

-G iáo dục 371.822 -T â m lí học 155.633

- Xã hội học 305.4

- Lao động 331.4(Trong nguyên bản các quan điểm được xếp theo vần chữ cái nhưng khi dịch sang tiếng Việt vần bị đảo lộn (ng dịch)

6 CÁC BẢNG TRỢ KÍ HIỆU

Như trên, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng trong một số trường hợp cần quan tâm tới việc làm rõ thêm kí hiệu chính bằng hệ thống trợ kí hiệu Hệ thống trợ kí hiệu bổ sung thêm các khía cạnh địa lí hoặc lịch sử của chủ đề chính, hoặc thể hiện hình thức của tài liệu (từ điển, ấn phẩm định kỳ, ) Lần xuất bản mới nhất của bảng phân loại có 7 bảng trợ kí

Trang 12

hiệu: Tiểu phân mục chung, bảng kí hiệu địa lý, kí hiệu ngôn ngữ (dùng cho các kí hiệu chính từ 420 đến 499), kí hiệu dành cho các nhóm dân tộc, chủng tộc, các nhóm ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật, kí hiệu cho các nhân vật.

Các trợ kí hiệu không bao giờ được sử dụng độc lập, nó bổ sung

và làm sáng tỏ các kí hiệu của bảng chính, bởi vậy có dấu gạch ngang đứng trước chúng trong các bảng kí hiệu này

Chúng ta sẽ gặp lại (trang 43-48) cách sử dụng các bảng phụ ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật chỉ liên quan tới các lĩnh vực cụ thể này

Ngược lại, chúng ta sẽ thường xuyên dùng đến các bảng tiểu phân mục chung và bảng kí hiệu địa lý

Tiểu phân mục chung

Tiểu phân mục chung bao giờ cũng có -0 đứng trước để thể hiện hình thức tài liệu (-03 = từ điển, -05 = xuất bản phẩm định kỳ) không kể nội dung là gì, thể hiện quan điểm được xem xét của chủ đề (-01 = Triết học và lí thuyết, -09 = Lịch sử và địa lý) Nhiều đề mục của bảng này tương ứng với kí hiệu chính (phần lớn ở lớp 000 Tổng loại)

Tiểu phân mục chung K í hiệu chính

Trang 13

Có 3 ngoại lệ:

- Lớp 000 không tương ứng với một bộ môn khoa học nào đặc biệt nhưng cùng để phân loại những vấn đề thuộc tri thức chung và là công cụ nhận thức (bách khoa thư, xuất bản phẩm nhiều kỳ, các tổ chức, báo chí,

x u ấ t b ản,v V.)

- Lớp 300 (các khoa học xã hội) có các kí hiệu 301-309 dành cho

xã hội học Để tạo kí hiệu về triết học, từ điển, về khoa học xã hội cần phải nhờ đến kí hiệu 300.1 -300.9

- Lớp 200 (Tôn giáo), ở đây kí hiệu 201-209 cho đến lần xuất bản thứ 21 vẫn dành cho những vấn đề chung về Cơ đốc giáo Tôn giáo nói chung sử dụng kí hiệu 200.1-200.9 Ta cũng có thể ghép thêm trợ kí hiệu chung vào kí hiệu chính, ví dụ như:

61(0) = Y học 610.9 = Lịch sử y học

Ở đây lại cũng có ngoại lệ về quy tắc đối với đề mục luật Ví dụ340.9 đã được dùng để chỉ vấn đề sự tranh chấp thẩm quyền pháp luật

Đề mục 340 được đưa vào 2 số không: 340.09 (Lịch sử luật pháp)

Các kí hiệu có đuôi là l,2,3, .9 thì các trợ ký hiệu sẽ ghép với kí lìiệu chính như sau:

3 3 1 = Việc làm 331.09 = Lịch sử việc làm791.43 = Điện ảnh 791.4309 = Lịch sử điện ảnh

Có thể có một số ngoại lệ dùng 2 số 0 đối với các kí hiệu phát triển nhanh

371 = Trường học 371.009 = Lịch sử trường họcBảng địa lý

Ký hiệu địa lí thể hiện bằng các con số từ -1 đến -9 và được chia nhỏ, cần bao nhiêu, chia bấy nhiêu

-1 tương ứng các vùng lãnh thổ, các khu vực được sắp xếp theo tiêu chuẩn địa lí tự nhiên (khí hậu, lục địa và đại cương, thảm thực vật), phát triển kinh tế, xu hướng chính trị (khối Tây Phương, khối Cộng sản, khối Không liên kết, .)

-3 Tương ứng với các khu vực, các nước cổ đại (cho đến năm 500 sau công nguyên)

-4 -9 tương ứng với các lục địa, các nước, các khu vực thế giói hiện đại (-4 = Châu Âu; -5 = Châu Á; -6 = Châu Phi; -7 = Bắc Mỹ; -8 = Nam Mỹ; -9 = Các phần còn lại của thế giới)

Ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy chúng có cùng hệ thống kí hiệu đẳng cấp như trong bảng chính:

Trang 14

Những kí hiệu này đôi khi được ghép với các con số biểu trưng cho

một số lớp và lóp con để hình thành ra kí hiệu chính, ví dụ, Số 4 luôn

luôn thể hiện nước Pháp

V í dụ:

034 = Bách khoa thư Pháp

074 = Báo chí Pháp

440 = Ngôn ngữ Pháp554.4 = Địa chất Pháp

840 = Văn học Pháp914.4 = Địa lí Pháp

944 = Lịch sử PhápTuy nhiên số 4 không chỉ thể hiện nước Pháp (lớp cơ bản 400 là

ngôn ngữ, trong trợ kí hiệu văn học số 4 là Tiểu luận, v.v.)

Trong phần lớn các trường hợp trợ kí hiệu chung -09 cần phải được

đặt giữa kí hiệu chính và trợ kí hiệu địa lý

V í dụ:

Điện ảnh = 7 9 1 4 3Lịch sử điện ảnh = 7 9 1 4 3 0 9Lịch sử điện ảnh Pháp = 791.430 944Nhưng ở đây còn có ngoại lệ cho quy tắc này, đặc biệt trong lớp

700 (Nghệ thuật): V í dụ, Lịch sử nghệ thuật Pháp: 709.44, nhưng lịch sử

hội hoạ Pháp lại là 759.4, Lịch sử chạm khắc của Pháp : 769.944

Cũng cần ghi nhớ rằng ta có thể ghép vào trợ kí hiệu thứ nhất một

trợ kí hiệu lấy từ m ột bảng trợ kí hiệu khác, cụ thể là:

- Với trợ kí hiệu -025 (Bảng 1): Danh mục các nhân vật và các tổ chức Ta có thể ghép trực tiếp trợ kí hiệu địa lý Danh mục các cơ quan

quản lí hành chính Pháp: 351.025 44

Trang 15

- Với trợ kí hiệu -089, trợ kí hiệu này thể hiện các nhóm dân tộc, chủng tộc, ta có thể ghép vói các kí hiệu của bảng 5: Âm nhạc Ả rập :

780.89 927

Trên đây là một số quan sát về cách sử dụng các trợ kí hiệu chung

và trợ kí hiệu địa lí chứng tỏ rằng ta có nhiều thuận lợi để kiểm soát một

cách hệ thống bảng phân loại, để không gặp phải có một trường hợp đặc

biệt nào khi cấu trúc kí hiệu Quả thực nên lưu ý người sử dụng bảng

phân loại đối với một số trường hợp khó nhằm hạn chế quyết định sai

lầm Ta cũng cần nêu ra các nhược điểm đôi khi vấp phải : Trường hợp

bản thân kí hiệu chính đã dài (ví dụ 791.43 = Điện ảnh), khi ghép thêm

trợ kí hiệu lịch sử và địa lí tạo ra 10 dấu hiệu là quá nhiều (ví dụ, Lịch sử

điện ảnh Pháp : 791.430 944)

7 CẢI TẠO VÀ BỔ SUNG BẢNG PHÂN LOẠI DEWEY

Từ lần xuất bản thứ 15 năm 1951 Forest Press đã tái bản cứ 6, 7

hoặc 10 năm 1 lần: lần xuất bản thứ 16 năm 1958, lần xuất bản thứ 17

năm 1965, lần xuất bản thứ 18 năm 1971, lần xuất bản thứ 19 năm

1979, lần xuất bản thứ 20 năm 1989 và lần xuất bản thứ 21 năm 1996

Trong những lần xuất bản mới này một số kí hiệu được bỏ trống bởi vì

nội dung của nó đã chuyển sang các đề mục chung hcm, trong khi đó các

ký hiệu khác tương ứng với các khái niệm mới được đưa vào (khoảng

2500 đề mục trong lần xuất bản thứ 19) M ột số phần hoàn toàn cải tạo

lại, ví dụ toán học, luật học, trong lần xuất bản thứ 18; xã hội học và các

đảng phái chính trị trong lần xuất bản thứ 19; tin học và âm nhạc trong

lần xuất bản thứ 20; quản lí hành chính, giáo dục, các khoa học về đời

sống trong lần xuất bản thứ 21

Những thay đổi này dĩ nhiên là tạo ra những khó khăn cho cán bộ

thư viện, đó là sự cảm nhận mâu thuẫn, băn khoăn, nỗi lo phải sắp xếp lại

kho theo hệ thống mới cập nhật hơn và nỗi buồn phải định kỳ sắp xếp lại

một phần kho tài liệu với khối lượng công việc khổng lổ m à có thể tưởng

như phí công vô ích

Có lẽ nên theo dõi sự tiến triển của bảng phân loại Dewey, mà những thay đổi gần đây được đánh giá cao bởi vì chúng gần như phù hợp một cách chính xác với các chủ đề của sách mới, giải quyết những băn khoăn về jnặt logic và chính xác Những thay đổi khá nhanh tài liệu tập trung trong các thư viện đều được giải quyết một cách dễ dàng

Vậy còn những tiến triển nào khác rõ nét hơn?

Trước hết xem xét chủ yếu việc sắp xếp sách kho mở Bảng phân loại phải được mở rộng để có thể phân loại tài liệu chuyên sâu nhờ các quá trình sau:

- Mở rộng kí hiệu chính (Sân khấu = 792; Sân khấu nghiệp dư =

Trang 16

792.022 2; 616.97: Các bệnh thuộc hệ miễn dịch; 616.979 = Thiểu năng

hệ thống miễn dịch; 616.9792 = Sida; 384 = Thông tin liên lạc viễn thông; 384.3 = Viễn tin; 384.35 = Videotex)

- Mở rộng các bảng trợ kí hiệu và khả năng kết hợp nhiều trợ kí hiệu (trong bảng 1 -08 = Lịch sử và mô tả một chủ đề thuộc các loại nhân vật khác nhau; -089 = Lịch sử và mô tả chủ đề thuộc các nhóm dân tộc và chủng tộc khác nhau: ta có thể ghép vào -089 các kí hiệu của Bảng

5 (nhóm các dân tộc và chủng tộc) từ đó có:

Chủ đề về người Trung Quốc = -089.951

Chủ đề về người Trung Quốc sống ở Mỹ = -089.951 073

- Khả năng kết hợp các kí hiệu chính (Thư mục học chuvên neành

= 016; Văn học Pháp = 840; Thư mục văn học Pháp = 016.84 hoặc 840.16

Cần nhớ rằng trong số kí hiệu mới có lên quan tới âm nhạc (780),

từ nay có thể phân loại tài liệu mà nội dung là "mối quan hệ của âm nhạc với các lĩnh vực hoặc chủ đề khác" bằng cách ghép 780.0 vào con số thể hiện lĩnh vực thứ hai: chẳng hạn như mối quan hệ của âm nhạc với vãn học được thể hiện kí hiệu là 780.08

Ngoài việc xây dựng DDC như một bảng phân loại tư liệu, mỗi lần xuất bản mới lại có thêm những khái niệm mới bổ sung để phân loại tài liệu vừa chính xác, vừa mềm dẻo, những người có trách nhiệm với DDC cũng quan tâm tạo ra một bảng phân loại thực sự mang tính quốc tế

"Dewey: Một triển vọng quốc tế" đó là chủ đề một hội thảo trong hội nghị IFLA năm 1989 tại Paris và như vậy là việc quốc tế hoá DDC đã bắt đầu từ lần xuất bản thứ 18 nhưng việc kết hợp với OCLC của nhà xuất bản Forest Press, nơi xuất bản DDC cần thúc đẩy nhanh quá trình này

Trước khi đạt tới trình độ quốc tế hoá thì những người chịu trách nhiệm xuất bản DDC còn phải quan tâm lâu dài như vậy là do bảng phân loại chính của thế giới tiếng Anh trở nên quốc tế hoá Từ mấy chục năm nay đã có sự hợp tác giữa các uỷ ban DDC thuộc Hiệp hội thư viện Anh, Canada và Ôxtrâylia để bổ sung sửa chữa DDC cho mỗi lần xuất bản, chẳng hạn như kí hiệu địa lí về các đảo của Anh, của Nam Phi, Côlômbia thuộc Anh Tất cả các chi tiết này đều được từng nước liên quan chuẩn bị

và đưa trình lên u ỷ ban biên tập để xem xét thông qua

Lần xuất bản thứ 20 đã thể hiện những dấu ấn rõ ràng về những

nỗ lực quốc tế hoá như: mở rộng kí hiệu về lịch sử và địa lí nhiều nước Châu Âu, Nhật Bản, Châu Phi; đưa thêm vào các trợ kí hiệu mới về ngôn ngữ Châu Phi, cải tạo kí hiệu 324 (các Đảng phái chính trị) để phân loại tài liệu các Đảng chính trị của tất cả các nước chứ không phải chỉ có nước Mỹ; đặc biệt là kết cấu lại hoàn toàn lớp 780 do Ưỷ ban nước Anh tạo lập nhằm áp dụng cho âm nhạc của tất cả các nước và tất cả các nền văn hoá

Trang 17

Chắc chắn rằng để thực hiện tốt một chính sách đã định trước, những người chịu trách nhiệm xuất bản DDC đã biểu hiện một tinh thần cởi mở thực sự: Họ chấp nhận các phương án áp dụng thích nghi ở các nước miễn là ấn bản bằng tiếng Anh vẫn là bản tham khảo hướng dẫn, vàcũng như vậy đối với bảng xuất bản bane tiếng Ả rập năm 1984 tại Koweit Những phương án sửa lỗi thích nghi đáng kể đã được thực hiện trong các lĩnh vực Triết học, Nghệ thuật, Luật pháp và đặc biệt là Tôn giáo Ngoài ra dưới con mắt họ thì phân loại sao cho đúng nhất, những người chịu trách nhiệm xuất bản DDC đã thừa nhận phương án "lựa chọn" để trong ngoặc đơn Ví dụ như những vấn đề liên quan tới kí hiệu 921-928 (tốt hơn là dùng trợ kí hiệu -092 tiếp sau các kí hiệu thích hợp Dùng 540.92 hơn là dùng 925.4 để thể hiện tiểu sử một nhà hoá học).

Tất nhiên là bảng phân loại Dewey được áp dụng đầu tiên tại Mỹ, hiện nay hầu hết các thư viện trường học Mỹ và 98% thư viện công cộng đều sử dụng bảng này Kí hiệu của bảng phân loại DDC không chỉ thể hiện trên các biểu ghi thư mục của Thư viện Quốc hội Washington mà hầu hết các thư viện Mỹ đã tận dụng sao chép các biểu ghi này mà còn được thể hiên trên các bản thư mục, các mục lục của Anh và của Mỹ như Publish's W eekly, American Book Publishing Record, British National Bibliography và các tài liệu khác

Bên ngoài nước Mỹ và Canada bảng phân loại này được áp dụng tại hàng trăm nước nhưng đặc biệt là ở Anh, Liên bang ứ c, Nam Mỹ, Nauy, Hy Lạp, các nước Á rập và Đông Nam Á

ở Pháp, Việc áp dụng DDC được Vụ thư viện và đọc sách công cộng cũ đề nghị sử dụng cho tất cả các thư viên trung tâm cho mượn sách

và cho các kho mượn của các thư viện thành phố Nhiều thư viện tư nhân cho mượn và các Trung tâm thông tin và tư liệu của các trường trung học, cao đẳng cũng sử dụng DDC Nhưng việc sử dụng bảng này đã vượt ra khỏi lĩnh vực đọc công cộng theo một văn bản chính thức ban hành năm

1988 Các thư viện đại học và thư viện Pháp cũng đã quyết định áp dụng DDC để sắp xếp sách và phân loại tài liệu phục vụ tìm tin tự động hoá, phối hợp với hệ thống định chủ đề chữ cái RAMEAU

Tóm lại, DDC đã có mặt tại hơn 135 nước và đã được dịch ra 30 thứ tiếng DDC được sử dụng tại hơn 200.000 thư viện trên thế giới

9 PHÂN LOẠI DEWEY VÀ ƯDC

Cũng cần phải nói đến bảng phân loại UDC trong số bảng phân loại có nguồn gốc từ bảng phân loại Melvil Dewey

Trang 18

9.1 Giới thiệu UDC

Năm 1895 Viện thư mục quốc tế được thành lập tại Bruxel với nhiệm vụ đầy tham vọng: xây dựng một thư mục bằng phiếu tất cả sách

từ khi bắt đầu có sách in bằng tất cả các thứ tiếng và mọi lĩnh vực Để làm việc này cần có một bảng phân loại để sắp xếp bản thư mục đó Hai ông Paul Otlet và Henri La Fontaine người Bỉ đã được Dewey cho phép dùng bảng phân loại của ông, tại thời điểm đó, lần xuất bản thứ 5 của DDC vừa xuất hiện, cũng như quyền được áp dụng thích nghi hay sửa đổi DDC theo các tiêu chuẩn riêng của họ Lần xuất bản đầu tiên của UDC xuất hiện vào năm 1905 với tên "Tài liệu hướng dẫn làm danh mục thư mục Do thiếu phương tiện tài chính Bảng danh mục thư mục đã không thể hoàn thiện như mong muốn, nhưng Bảng phân loại UDC thì đã đạt được những thành tựu nhất định Nó được áp dụng rộng rãi ở Bỉ, Hà Lan

và các nước Scandinavơ : Các bảng đầy đủ và các bảng rút gọn được xuất bản bằng tiếng Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, tiếng Anh, Hungari, Tiệp và tiếng Nga Nó hầu như không được sử dụng ở Mỹ, nơi mà DDC và bảng phân loại Thư viện Quốc hội chiếm địa vị thống trị như chúng ta đã thấy Hiện nay Liên đoàn tư liệu quốc tế (FID) trước đây là Viện thư mục quốc

tế, chịu trách nhiệm chuẩn bị và xuất bản các ấn bản UDC mới, trụ sở tại

La Hay

9.2 Sự khác nhau giữa DDC và UDC

Bảng phân loại Dewey là cơ sở để biên soạn UDC Mặc dù có một

số điểm khác nhau trong nội dung các đề mục, khung cơ bản là thống nhất UDC có một số điểm thay đổi:

- Như tên gọi bảng phân loại đã thể hiện, trước hết nó có tham

vọng sử dụng toàn cầu để có thể sử dụng ở bất kỳ nước nào với kho tài liệu bách khoa hoặc kho chuyên ngành

- Đây là một bảng phân loại tư liệu, nó không chỉ dùng để sắp xếp sách trên giá mà còn phân loại các công trình chuyên ngành hẹp, các bài viết ở các ấn phẩm định kỳ Trên thực tế, có các lần xuất bản riêng của một số lớp được chia rất chi tiết

- Khung cơ bản đã thay đổi từ năm 1962 : lớp 4 (Ngôn ngữ) bỏ trống và chuyển Ngôn ngữ đến đầu lớp 8 (Văn học) Các chuyên gia của FID phải nghiên cứu và sắp xếp lại lớp 4, nhưng cho đến nay vẫn chưa có

gì mới

- UDC cho phép tạo ra các kí hiệu tổ hợp bằng cách liên kết các kí

Trang 19

hiệu chính dùng dấu mở rộng /(gạch chéo) và dấu quan hệ :(hai chấm)

Hệ thống này đặc biệt có ưu điểm khi phân loại tài liệu tổng hợp có nhiều khái niệm trong mối liên quan bởi vì nó cho phép thể hiện trung thành nội dung tài liệu

+ Dấu mở rộng đặt giữa 2 kí hiệu thể hiện rằng tài liệu được đánh

kí hiệu có tất cả các khái niệm giữa chúng Ví dụ: một cuốn sách đồng thời vừa là khoa học tự nhiên vừa là kỹ thuật sẽ được đánh kí hiệu 5/6

+ Dấu quan hệ (:) thể hiện sự liên quan giữa 2 khái niệm Ví dụ: một cuốn sách thể hiện mối liên hệ giữa triết học và tôn giáo sẽ có kí hiệu là 1:2 Trong mục lục phân loại mà chúng tôi sẽ mô tả ở phần sau

có thể tìm thấy 2 phiếu I11Ô tả thư mục Phiếu đầu xếp ở Triết học (1:2) và phiếu thứ hai xếp ở Tôn giáo (2:1)

- Cũng giống như bảng phân loại Dewey, ƯDC có các bảng trợ kí hiệu chung giúp cho việc làm sáng tỏ kí hiệu chính Đặc điểm rõ nét là các trợ kí hiệu luôn luôn có một dấu hiệu xác định Các dấu hiệu thường được sử dụng là:

- Trợ kí hiệu chung về địa điểm đặt trong dấu ngoặc đơn

- Trợ kí hiệu chung về thời gian trong dấu ngoặc kép

- Trợ kí hiệu chung về hình thức đặt trong dấu ngoặc đơn và trước

có sô không (từ 02 đến 09)

- Cuối cùng là trợ kí hiệu phân tích chỉ sử dụng trong một lớp hoặc một phần nào đó của một lớp mà không thể sử dụng ở chỗ khác Chẳng hạn như trợ kí hiệu phân tích 06 dành cho kí hiệu chính 677 (Công nghiệp dệt); nó thể hiện sản phẩm dệt là vải Ta có thể ghép với 677.1 (sợi thực vật), 677.11 (sợi lanh), 677.2 (sợi hạt), 677.21 (sợi bông), v.v Một tài liệu về vải lanh sẽ được đánh kí hiệu 677.11.06; một tài liệu khác về vải bông sẽ được dánh kí hiệu 677.21.06

Cần phải nói rõ thêm rằng việc sử dụng các trợ kí hiệu chung để hình thành kí hiệu tổ hợp đã đặt thành vấn đề phải thêm phiếu vào mục lục phân loại Nếu ta dùng UDC để xếp sách trên giá chắc chắn phải rút ngắn kí hiệu lại

10 KẾT LUẬN VỀ DDC

Chúng tôi đã đề cập ở trên về những khó khăn khi biên soạn một bảng phân loại và hầu như không thể tạo ra một bảng phân loại thoả mãn đầy đủ yêu cầu của các nhà chuyên môn và người dùng

Do vậy, không thiếu gì những lời phê phán bảng phân loại Dewey:

- Trước hết bị công kích là khung cơ bản không tương xứng với trình độ khoa học hiện thời bởi vì nó sinh ra từ thế kỷ XIX và không có một thay đổi cơ bản nào Người ta cũng chê trách một số thiếu sót mang

17

Trang 20

tính logic trong một số lớp như: Tách Ngôn ngữ (400) với Văn học (800);

tách các Khoa học xã hội (300) vói Lịch sử và địa lý (900) Mặt khác, sự

phân biệt giữa Khoa học chính xác (500) và Khoa học ứng dụng (600)

làm cho đôi khi phải rất tinh tế, ví dụ như đánh kí hiệu cho một số sách

vật lí hoặc hoá học nó bao gồm một phần lí thuyết và một phần thực hành

cho lí thuyết đã nêu Những phê phán này phần nào có căn cứ Tuy nhiên

ngay cả khi phàn nàn đối với việc sử dụng cổ ngữ trong bảng chính, cần

phải nhận thức được rằng nó không thể làm lạc hướng tất cả bạn đọc Có

một sự tương ứng nhất định giữa việc tổ chức các môn học trong trường

với sự phân bố kiến thức trong DDC

- Người ta cũng đã chê trách rằng Dewey đã tạo ra một phần rất đẹp về hiện thực nước Mỹ và có ý đổ tư tưởng rất rõ nét, đặc biệt là trong

lớp 200 (Tôn giáo), ở đây các tôn giáo không phải Cơ đốc giáo chỉ

chiếm một lớp con 290, Luật (340), Ngôn ngữ (400) và Văn học (800)

hầu hết dành cho Ngôn ngữ và Văn học Phương Tây (trừ 490 và 890)

Nhưng chính sự phê phán "Mỹ hóa" này lại tạo ra sự thành công của ông

bởi vì Dewey không có ý định xây dựng một bảng phân loại phù họp với

tất cả các nước và cho mọi nền văn minh Ngược lại dù UDC có tham

vọng là bảng phân loại quốc tế cũng không hoàn toàn loại bỏ được gốc

gác Phương Tây: Ví dụ trong lớp 200 cũng khá trung thành với bảng

phân loại Dewey Tuy nhiên cần nhận ra rằng việc sửa đổi thích nghi

bảng phân loại Dewey là nên làm liên quan tới một số lĩnh vực, và sẽ

tránh được những chê trách phàn nàn về sự thiếu phù hợp của khung này

với các nước áp dụng DDC Những người có trách nhiệm ở Mỹ cũng

không phản đối gì vói việc áp dụng thích nghi DDC ở phạm vi các quốc

gia, bởi vậy lần xuất bản của Mỹ trong trường hợp này vẫn là tài liệu

tham khảo tốt

-Cuối cùng người ta phê phán DDC không đủ khả năng thể hiện

nội dung thực tế của một số tác phẩm có đối tượng là so sánh hoặc đối

nghịch với một số chủ đề Chắc chắn rằng, đó là một trong những ưu

điểm của ƯDC; ưu điểm nữa là tính mềm dẻo trong việc sử dụng các

bảng trợ kí hiệu Nhưng bảng phân loại Dewey chủ yếu dành để sắp xếp

sách trên giá chứ không phải để làm công tác tư liệu

Để kết luận cần nhấn mạnh ở đây là sự thuận tiện trong việc áp

dụng bảng phân loại Dewey, sự sáng sủa trong hệ thống kí hiệu, tính dễ

nhớ đứng hàng đầu trong việc tạo ra các kí hiệu và sự tái bản thường kỳ

bảng phân loại

Trang 21

Điều cốt yếu là không bao giờ được tin tưởng hoàn toàn vào tên sách mà không kiểm tra Thường rất dễ bị nhầm lẫn hoặc nhập nhằng nước đôi, cần phải tìm ra những giải thích, những thông tin đầy đủ Lấy vài ví dụ quen thuộc như: cuốn sách " Những tên bù nhìn trần trụi" của c Bemadac là một câu chuyện về trại tập trung; "Mười ngày rung chuyển thế giới" của J Reed, một nhân chứng về những ngày đầu của cuộc Cách mạng Nga năm 1917; " Sự tái sản xuất" của p Bourdieu về phân tích xã hội học trong hệ thống giáo dục Pháp.

Một khi xác định được chính xác chủ đề, ta thường phải xác định quan điểm lý giải chủ đề đó Ví dụ một cuốn sách về sân khấu, cuốn đó bàn về văn liệu, kịch, kịch bản hay kỹ thuật đạo diễn? Một công trình nghiên cứu hôn nhân có liên quan hay không tới tâm lí học vợ chồng, tới

lễ cưới, tới nghi thức cưới xin hoặc quan hệ tình dục và tránh thai?

Cuối cùng, xem xét chủ đề ở khía cạnh lịch sử và địa lý

Sự xem xét này để hiểu sâu hơn cuốn sách, tuy lâu nhưng nó giúp cho người phân loại tránh được những lỗi đáng tiếc

Sau khi phân tích, cán bộ thư viện theo chủ đề cuốn sách mà sử dụng bảng phân loại, bảng tra chữ cái Một "người đã quen" phân loại thì

Trang 22

tra trực tiếp trong bảng, nhưng đối với những người mới tập sự thì trước hết là tìm đến bảng tra vì ở đó có đầy đủ các kí hiệu tương ứng với các chủ đề sẽ lựa chọn Cần nhớ rằng, trong chừng mực có thể nên tránh áp dụng cách thức này Người mới tập sự cần học nhanh lấy 100 đề mục cơ bản, dù có sử dụng bảng tra nhưng bao giờ cũng phải đối chiếu lại bảng chính, xem các kí hiệu bên cạnh và kí hiệu lớp chung lớn hon nhằm loại

bỏ những nguy cơ sai sót

Nhưng tạo kí hiệu xếp giá như thế nào klii cuốn sách không phải chỉ có m ột m à có nhiều chủ đề, điều này có thường xảy ra không?

1 2 Lựa chọn trong nhiều chủ đề

Lẽ dĩ nhiên là ta phải chọn chủ đề quan trọng nhất, chẳng hạn như trong cuốn sách của J Gadechot "Châu Âu và Châu Mỹ thời đại Napoleon" tốt nhất là cho kí hiệu 940.27 (Châu Âu từ 1789 đến 1815)

Nhưng khi các chủ đề có tầm quan trọng ngang nhau thì phải chọn chủ đề đầu tiên trong bảng phân loại Đối với cuốn sách của Michel Ragon "Lịch sử kiến trúc thế giới và vấn đề đô thị hpá hiện đại" ta cũng phải chọn giữa 2 kí hiệu, 711 = Đô thị hoá và 724 = Kiến trúc hiện đại Vậy là kí hiệu 711 được chọn

Nếu 2 hoặc nhiều chủ đề lân cận được cuốn sách đề cập đến thì ta chọn kí hiệu chung bao trùm tất cả các chủ đề M ột bộ sách toán học có

3 tập về đại số (512), về giải tích (515), về hình học (516) ta sẽ chọn kí hiệu về toán học nói chung (510)

Cũng thường xảy ra có trường hợp khi sách có một chủ đề đề cập đến mọi khía cạnh, đó là trường hợp m ột số tập thuộc tùng thư "Tôi biết gì?" của nhà xuất bản đại học Pháp xuất bản V í dụ có cuốn sách nói về

M arôc, nghiên cứu về lịch sử, địa lý, kinh tế của nước này; cùng một công trình nói về dầu mỏ nhưng lại đề cập tới các khía cạnh địa chất, kỹ thuật yà thương mại Ta cũng có thể tìm thấy các công trình về động vật

có thể phân loại hoặc ở 590 (Động vật), hoặc ở 636 (Chăn nuôi) Ở đây ta cũng sẽ chọn khía cạnh ưu tiên nếu các chủ đề khác chỉ lướt qua, cần phải tính đến loại bạn đọc quan tâm tới các công trình này

- Trong một số trường hợp, bảng phân loại đã định trước kí hiệu

ưu tiên để tập hợp các công trình liên ngành về m ột số chủ đề Các công trình về ô nhiễm không khí hoặc nước có thể được phân loại vào vệ sinh công nghiệp (614.7), Nhưng một công trình liên ngành về con người và môi trường, về ô nhiễm nói chung sẽ được phân loại ở sinh thái học người (304.2) Cũng như vậy đối với các công trình chung về dầu mỏ có thể xếp ở 665.5, các công trình chung về nước xếp ở 553.7

- Để chọn kí hiệu ta cũng cần xem xét đến định hướng của kho tài liệu và nhu cầu bạn đọc Không đến mức nhất thiết phải quan sát một số trường hợp: Một nhà tâm lí học lẽ dĩ nhiên phải biết tìm Tâm lí giáo dục

Trang 23

học ở kí hiệu 370 (Các khoa học giáo dục), m ột giáo viên cũng vậy sẽ tìm sách về Tâm lí trẻ em ở 150 (Tâm lí học).

1.3 Độ dài kí hiệu

Như chúng tôi đã nói ở trên, việc tổ chức kho mở tiếp cận trực tiếp với sách buộc cán bộ thư viện phải sắp xếp sách theo trật tự logic và có mối liên kết

Có trường hợp xảy ra vì muốn đơn giản hoá nên người ta đã rút quá ngắn kí hiệu, chỉ giữ lại 3 hoặc 5 số Phương pháp này thực ra chỉ có thể áp dụng cho các kho sách rất hạn chế Trong một thư viện lớn hơn phải giữ lại kí hiệu dài tương ứng vói một chủ đề quan trọng

Lấy một ví dụ: Lịch sử nước Pháp Nếu ta quyết định kí hiệu không vượt quá 5 số thì ta sẽ đánh kí hiệu (944.08) như nhau cho sách về nền Cộng hoà thứ 3, thứ 4 và thứ 5 Những cuốn sách này được trình bày trên giá với nhau theo thứ tự chữ cái họ tên tác giả, và như vậy không thuận lợi cho người tìm sách về một giai đoạn lịch sử nhất định, ví dụ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai Vì vậy, chiếu theo số lượng sách có liên quan, ta cần sử dụng kí hiệu đầy đủ là 944.081 4 cho cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và 944.081 6 cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

Ta cũng có thể lấy những ví dụ khác trong các lĩnh vực kỹ thuật, ỏ'

đó có nhiều chủ đề rất quan trọng và thường mang tính thời sự được thể hiện bằng các kí hiệu khá dài

Cuối cùng cần chú ý rằng nếu thư viện có một kho chuyên ngành quan trọng về một lĩnh vực mà kí hiệu có nhiều chữ số thì những người biên tập DDC gợi ý thay kí hiệu số bằng chữ cái đầu của tên chủ đề, ví

dụ như: E thay cho 621.831 (Electronique (Điện tử)); c thay cho 791.43 (Cinéma Điện ảnh)

Dĩ nhiên không nên rơi vào trạng thái trái ngược dùng kí hiệu xếp giá quá dài bằng cách kết hợp nhiều trợ kí hiệu M ột tác phẩm về Beclinh trong văn học hư cấu Đức cuối thế kỷ XIX được đánh kí hiệu chính xác

là 833.809 32 431 55 trong khi chỉ cần đánh số 833.809 là đủ

1.4 Khi không có một kí hiệu nào tương ứng chính xác với chủ đề

Tất cả các cán bộ thư viện đều không tránh khỏi gặp trường hợp sau: Chủ đề cuốn sách cần phân loại lại không có vị trí thích hợp trong bảng phân loại Trong trường hợp này tuyệt đối tránh tự ý tạo lập một kí hiệu mới mà cần tôn trọng đầy đủ những quy định của người biên tập, sau khi đã nghiên cứu phân tích kỹ chủ đề Nên dùng kí hiệu tương ứng với khái niệm chung hơn hoặc gần gũi với chủ đề Ví dụ Thuyết cấu trúc không tìm ra vị trí trong bảng phân loại xuất bản lần thứ 18 nhưng bây giờ đã có chỗ trong Triết học ngôn ngữ ở kí hiệu 149.9 (Các hệ thống và các trường phái triết học khác)

Trang 24

2 Tạo kí hiệu xếp giá cho tiểu thuyết và sách tiểu sử

Ví dụ: Thérèse Desqueyroux của Francois M auriac sẽ có kí hiệu xếp giá

là:

R MAU

t

Sự phân biệt giữa tiểu thuyết và các sách tư liệu rõ ràng đã cụ thể hoá hai khuynh hướng của thư viện công cộng Nếu hai loại sách đều là hữu ích cho văn hoá cá nhân của mỗi người thì loại thứ nhất đặc biệt phục vụ cho giải trí, thư giãn, loại thứ hai phục vụ cho học tập và nghiên cứu Bởi vậy, các kí hiệu 813, 823, 833, v.v nói chung dùng để tạo kí hiệu xếp giá cho tiểu thuyết cổ điển được giới thiệu trong một án phẩm phê bình có lời nói đầu, có chú giải và bình luận để dành cho bạn đọc mượn nghiên cứu chứ không phải để giải trí Người ta cũng sử dụng những kí hiệu này cho các tác phẩm hư cấu không phải là tiểu thuyết, cu thể như "Ong hộ pháp" hoặc "Gargrantua" của Rabelais

Nhimg ở đây việc sắp xếp tiểu thuyết luôn có vấn đề Thực tế một

số thư viện sắp xếp tiểu thuyết Pháp theo thứ tự vần chữ cái: Silitoe, Silone, Simenon, Simon, Ta thấy một số bạn đọc ngập ngừng trước một

số tiểu thuyết văn học nước ngoài ; Hệ thống này cho phép họ phát hiện

ra một số tiểu thuyết nước ngoài mà họ tình cờ lần giở trên giá, không phải sơ bộ tìm theo họ tên tác giả

Ngược lại, một số thư viện muốn giới thiệu tiểu thuyết văn học theo từng quốc gia ví dụ: Ra = Romans Anglais (Tiểu thuyết Anh), Ram

= Romans Américains (Tiểu thuyết Mỹ), Re = Romans Espagnol (Tiểu thuyết Tây ban nha), v.v Cách làm này rõ ràng là không có ưu điểm của cách trước, nhưng thể hiện một quan điểm khác: Việc tập hợp vào một nhóm các tiểu thuyết dịch nếu được lựa chọn tốt có thể tạo ra một nhập môn kiến thức về một nền văn học nước ngoài nào đó; nó cũng giúp cho cán bộ thư viện nhìn thấy vấn đề quan trọng của các sách cần bổ sung trong các lĩnh vực này và nhận thức được những chỗ khuyết cần bổ sung của thư viện

Ngược lại, dường như khi người ta không thấy lợi ích của việc phân tích các loại như tiểu thuyết trinh thám, khoa học viễn tưởng và các

Trang 25

loại tiểu thuyết còn lại với cách này được thực hiện theo các tiêu chuẩn giá trị: một bên là Văn học "có học thức", và một bên là Văn học " thấp kém" Nếu có một số tác phẩm trinh thám ít được đọc thì tình hình không phải như vậy với các tác phẩm nổi tiếng Hơn nữa, tiểu thuyết của một số tác giả Mỹ, ví dụ như Chester Himes hoặc Horace MacCoy được xuất bản hoặc trong tùng thư Trắng (Blanche), hoặc trong tùng thư Đen (Noir) của nhà xuất bản Gallimard Trường họp tương tự như vậy đối với tùng thư của Malaussène de Daniel Pennac, những cuốn đầu tiên được đăng trong tùng thư Đen, những cuốn sau trong tùng thư Trắng Tại sao lại phân biệt các tác phẩm khác nhau của họ, một số xếp trong tiểu thuyết, một số khác trong tiểu thuyết trinh thám?

Dường như người ta cũng không thấy ích lợi trong việc áp dụng hệ thống này, hon nữa nó lại khích lệ bạn đọc chuyên đọc tiểu thuyết trinh thám không quan tâm tới các lĩnh vưc khác Tuy nhiên để tạo điều kiện

dễ dàng tìm sách trên giá, người ta đánh dấu bằng băng mầu trên sách hoặc dùng một mục lục riêng dành cho tiểu thuyết trinh thám và khoa học viễn tưởng

"Olyinpio hay là cuộc đời của Victor Hugo" có kí hiệu xếp giá là:

BHUG

Ưu điểm của cách xử lí này cho phép thể tạo thành một giá riêng cho những cuốn sách tiểu sử: Vì người ta nhận thấy có đối tượng bạn đọc yêu thích thể loại văn học này Nhược điểm của cách sắp xếp nêu trên là những cuốn sách tiểu sử khác nhau sẽ được xếp thuần tuý theo trật tự vần chữ cái chứ không theo trật tự nào khác Ta có thể tìm thấy trên giá những cuốn sách cạnh nhau như: Cuộc đời của Alexander Fleming, Nhật

ký của Anne Frank và Cuộc đời của Sigmund Freud

Nếu ta thấy rằng cách xử lí như thế này không được logic cho lắm thì có thể sử dụng kí hiệu 920 và các đề mục cấp dưới của nó Sách tiểu

sử của các nhân vật khác nhau cũng được sắp xếp theo trình tự các lĩnh vực hoạt động của các nhân vật như: 921 = Tiểu sử các nhà triết học; 922 Tiểu sử các nhà hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo v.v

Nhưng những người có trách nhiệm của lần xuất bản thứ 19 và 20

Trang 26

của DDC mong muốn rằng ta chọn hoặc giải pháp thứ nhất, hoặc giải

pháp thứ hai: thực tế ta còn có khả năng sử dụng trợ kí hiệu chung 092

kết hợp với kí hiệu chính tương ứng hoạt động của nhân vật Hệ thống

này đặc biệt có giá trị, và trong trường hợp các nhân vật hoạt động ít

người biết đến nhưng có những chứng cứ thể hiện giá trị thông tin cho

một lĩnh vực cụ thể (ví dụ như Huguette Bastide và cuốn sách của óng là

" Cô giáo làng"), và trong trường hơp những người nổi tiếng trước công

chúng, nhưng các quyển tự truyện của họ lại thiên về "Nghề nghiệp"

Chẳng hạn công trình của các nhà báo Françoise Giroud "Nếu tôi nói

dối" và của Jean Daniel "Thời gian còn lại" tốt nhất là xếp vào kí hiệu

070.92 (= Tiểu sử các nhà báo) hơn là xếp vào B

Đối với sách tiểu sử thì kí hiệu xếp giá là kí hiệu tổ hợp của B

(hoặc kí hiệu chính + 092) tiếp theo ià 3 chữ cái đầư của họ tên nhân vật

được đề cập đến chứ không phải họ tên tác giả cuốn sách Chẳng hạn như

các công trình nghiên cứu tiểu sử của một nhân vật nổi tiếng không được

giới thiệu tản mạn trên giá mà cần được tập hợp cùng với các hồi ký của

nhân vật (nếu quả là họ đã viết và xuất bản các hổi ức)

GIỚI THIỆU DDC XUẤT BẢN LẦN THỨ 21

Nếu so sánh với bản rút gọn DDC đầu tiên xuất bản năm 1976 trên

cơ sở DDC xuất bản lần thứ 18 của nhà xuất bản Mỹ thì ta thấy có nhiều

Ihay đổi rất quan trọng, một phần là do quan điểm tiếp cận hiện đại với

một số bộ môn khoa học hiện đại và mặt khác do đã bổ sung thêm nhiều

kí hiệu mới

Ngay trong lần xuất bản thứ 18, đối với m ôn toán học (510) đã có

những đề nghị thay đổi cơ bản, hiện đại hoá khoa học này so với quan

niệm truvền thống

Lần xuất bản thứ 19 cũng đã có những thay đổi lớn trong việc mở

rộng đề mục xã hội học (301-309) m à cho đến lúc đó đề mục này mới

chỉ có duy nhất 1 kí hiệu 301 Đổng thời nó lấy lại hoàn toàn những khái

niệm địa lí dành cho Vương quốc Anh theo sự cải tổ quản lí hành chính ở

nước đó

Lần xuất bản thứ 20 đã có những thay đổi hoàn toàn đề mục âm

nhạc (780) để xử lí cả tài liệu nghe và tài liệu in trên giấy

Tin học xuất hiện lần đầu tiên trong lần xuất bản thứ 18, được mở

rộng đáng kể trong lớp dành cho những vấn đề chung (tổng quát)

Trong lần xuất bản thứ 21 có những thay đổi rõ nét như sau:

- Lớp tôn giáo (200), các kí hiệu 201-209 tương ứng với những vấn

đề chung của Cơ đốc giáo đã được xoá bỏ để đảm bảo sự cân đối so với

các tôn giáo khác Trong khi đó, các kí hiệu tương ứng với Đạo Do thái

Trang 27

và Đạo Hồi lại được mở rộng.

- Quản ií hành chính công (350) được chỉnh lí lại hoàn toàn: Bỏ kí hiệu 353 bởi vì kí hiệu này cho đến nay chỉ dành cho nước Mỹ Từ nay trở di nước M ỹ cũng chỉ có 1 vị trí trong bảng phân loại như các nước khác Rút ngắn các kí hiệu quá dài trong các lần xuất bản trước

- Giáo dục và giảng dạy (370) có sửa đổi chút ít

- Khoa học về sự sống (560-590: cổ sinh học, sinh học, thực vật học, động vật học) cũng được chỉnh lí lại V iệc mở rộng kí hiệu cũ 574 (sinh học đại cương) được chuyển đổi giữa các kí hiệu 571, 572, 573,

577 và 578 Các đề mục này được đổi tên Nhân loại học vật lí chuyển từ

573 sang 599.9 Mặt khác, sinh lí học, giải phẫu học và bệnh lí học thực vật và động vật ở kí hiệu 580 và 590 nay sáp nhập với sinh học đại cương (570) Ghéo thêm số 1 vào đuôi kí hiệu tương ứng đối với động vật

và số 2 đối với thực vật (571.3 = Giải phẫu học và hình thái học đại cương, 571.31 = Giải phẫu học và hình thái học động vật, 571.32 = Giải phẫu học và hình thái học thực vật)

Nhiều khái niệm mới được đưa vào bảng phân loại trong vòng 20 năm nay phù hợp với sự phát triển phong phú của các ngành khoa học và

kỹ thuật, và cũng như vói sự tiến triển văn hoá, xã hội và chính trị: Các ngành tin học, viễn tin học, kí hiệu học, học thuyết cấu trúc, đạo đức học sinh học, được thể hiện rất rõ Trong số kí hiệu mới của lần xuất bản thứ

21 này có thể kể đến kí hiệu 004.678 (Internet), 006.7 (hệ thống đa phương tiện)

Cũng phải kể đến tiếng vang lớn trong những biến động gần đây về

chính Lrị ở Liên Xô cũ và các nước Trung Au thể hiện trong sự thay đổi

các kí hiệu địa lí ở lần xuất bản thứ 21 Đồng thời cũng có những chỉnh lí nhỏ: bỏ một số kí hiệu bằng cách sử dụng bảng phụ (377 trước đây dành cho vấn đề giáo dục phụ nữ nay thay bằng 371.822); hoán vị đề mục này bằng đề mục khác (tương tự như vậy, xã hội học giáo dục trước đây xếp ở giáo dục (370.19), nay kết hợp xã hội học với kí hiệu 306.43, mở rộng 306.4: xã hội học công tác văn hóa)

Một vài dẫn chứng để chứng m inh cho sự quan tâm của những người chịu trách nhiệm về DDC luôn theơ sát thực tế về mọi mặt và xoá

bỏ dần những đặc trưng thiên lệch, đặc biệt là về nước Mỹ và Cơ đốc giáo trong khung phãn loại

Trang 28

050 Các ấn phẩm nhiều kỳ nói chung

060 Các tổ chức nói chung và bảo tàng học

070 Nghề làm báo, xuất bản, báo chí

080 Các tập văn nói chung

090 Các bản thảo chép tay và sách hiếm

100 Triết học và các khoa học liên quan

110 Siêu hình học

120 Khoa học luận, quan hệ nhân quả, nhân loại

130 Siêu hiện tượng Giả khoa học

140 Các hệ thống triết học khác nhau

150 Tâm lí học

170 Luân lí học (triết học đạo đức)

180 Triết học cổ đại, trung thế kỷ, triết học Phương Đông

220 Kinh thánh

230 Cơ Đốc Giáo Thần học Cơ Đốc Giáo

240 Thần học Đạo đức và tinh thần Cơ Đốc Giáo

250 Giáo Hội uịa phương và các dòng tu

270 Lịch sử và địa lí Nhà thờ Cơ Đốc Giáo

Trang 29

280 Xưng tội và các môn phái Cơ Đốc Giáo

290 Tôn giáo so sánh Các tôn giáo khác

380 Thương mại, truyền thông, vận tải

390 Phong tục, tập quán, cách sống, văn hoá dân gian

400 Ngôn ngữ

410 Ngôn ngữ học

420 Tiếng Anh và tiếng Anh cổ (Anglo-saxon)

430 Các ngôn ngữ gốc Đức cổ Tiếng Đức

440 Các ngôn ngữ Roman Tiếng Pháp

450 Tiếng Ý, Tiếng Rumani, tiếng Rêto-Roman

460 Tiếng Tây Ban Nha và Bổ Đào Nha

470 Các ngôn ngữ gốc cổ Ý Tiếng Latinh

540 Hoá học và các khoa học liên quan

550 Các khoa học về trái đất và các thế giới khác

560 Cổ sinh vật học c ổ động vật học

570 Khoa học về sự sống

580 Thực vật học

590 Động vật học

Trang 30

Kỹ thuật và các hoạt động liên quan

Nông nghiệp và các kỹ thuật liên quan

Kinh tế gia đình Đời sống gia đình

Quản lí và các dịch vụ phụ trợ

Kỹ thuật hoá học và các kỹ thuật liên quan

Sản xuất công nghiệp

Nghệ thuật tạo hình Điêu khắc

Vẽ, nghệ thuật trang trí và tiểu xảo

Hội hoạ và tranh hội hoạ

Nghệ thuật đồ hoạ Chạm khắc

Nghệ thuật nhiếp ảnh và ảnh chụp

Âm nhạc

Tiêu khiển và nghệ thuật trình diễn

Văn học (Văn chương)

Văn học Mỹ bằng tiếng Anh

Văn học Anh và vãn học Anh cổ điển (anglo-saxon)Văn học ngôn ngữ gốc Đức

Văn học ngôn ngữ Roman Văn học Pháp

Văn học Italia, Rumani, Rêto-Roman

Văn học Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

Văn học ngôn ngữ cổ Ý Văn học Latinh

Văn học ngôn ngữ cổ Hy Lạp Văn học Hy LạpVăn học ngôn ngữ khác

Địa lý Lịch sử Các khoa học phụ trọ cho lịch sử

Địa lí đại cương Du lịch

Trang 32

DDC GIẢN LƯỢC MỘT TRĂM ĐỂ MỤC

GIẢI THÍCH

Tại đây chúng tôi trình bày lại bảng 100 đề mục của khung phân loại Dewey Sau khi giải thích vắn tắt đặc tính của mỗi lớp, chúng tôi ghi lại một số kí hiệu mà đôi khi sử dụng có khó khăn và đưa ra một số chỉ dẫn để giải quyết các vấn đề phức tạp đó

050 Các ấn phẩm nhiều kỳ nói chung

060 Các tổ chức nói chung và bảo tàng học

070 Nghề làm báo, xuất bản, báo chí

080 Các tập văn nói chung

090 Các bản thảo chép tay và sách hiếm

Lớp này dành cho các công cụ của tri thức: Tài liệu và các tổ chức

001 Tri thức và sự phát triển tri thức

Tương ứng với ký hiệu này và các tiểu mục của nó là sự uyên bác

và kiến thức (văn hoá theo nghĩa tiếng Pháp chứ không phải tiếng Anh cổ) của thuật ngữ, những vấn đề chung về nghiên cứu, líthuyết thông tin và liên lạc cũng như xử lý dữ liệu, tức là tin học

Đề mục cuối cùng 001.9 thể hiện các hiện tượng thần bí không giải thích được, những điều khó hiểu Những vấn đề này không thể xếp được ở kí hiệu 130 dành cho siêu hiện tượng (Siêu tâm lý)

Đề mục 004 dành để xếp các sách chung về máy tính Các sách về công nghệ máy tính xếp ở kí hiệu 621.89

016 Thư mục và mục lục chuyên ngành

Ghi tiếp kí hiệu này là ký hiệu thể hiện chủ đề: 78 = Âm nhạc; 016.78 = Thư mục âm nhạc; 944 Lịch sử nước Pháp; 016.944 = Thư mục lịch sử nước Pháp

Trang 33

Tuy nhiên cũng có thể lựa chọn áp dụng inột hệ thống khác bằng cách: Sử dụng tiểu phân mục chung -016, kí hiệu này cho phép xếp chung thư mục với các sách theo chủ đề: 520.16 = Thư mục thiên văn học; 792.016 = Thư mục về sân khấu

031 = Bách khoa thư Mỹ bằng tiếng Anh

032 = Bách khoa thư Anh

Xem lớp 400 đối với các từ điển ngôn ngữ Còn đối với các từ điển

và Bách khoa toàn thư chuyên ngành phải ghép thêm kí hiệu tiểu phân mục chung -03

ví dụ: Bách khoa thư về sân khấu = 792.03

050 Xuất bản phẩm nhiều kỳ tổng hợp

Sắp xếp theo ngôn ngữ giống như kí hiệu 030

060 Các tổ chức nói chung

Sắp xếp theo ngôn ngữ giống như kí hiệu 030

Các tổ chức có liên quan tới một lĩnh vực nhất định xếp ở ký hiệu tương ứng kèm theo tiểu phân mục chung -06 Ví dụ: sách về Viện Hàn lâm Goncourt xếp ở 840.6 (84 = kí hiệu chính của Văn học Pháp)

070 Nghề làm báo, báo chí, xuất bản

Sắp xếp theo ngôn ngữ giống như kí hiệu 030

Kí hiệu 070.9 dành cho lịch sử báo chí và xuất bản phẩm định kỳ, địa lí được thể hiện bằng kí hiệu 071-079; 070.5 dành cho xuất bản Nhưng các công trình chung về sách ở kí hiệu 002 (kí hiệu bổ sung ở lần xuất bản thứ 19), thư mục ở kí hiệu 010, sách hiếm ở kí hiệU'090, nghề in ở kí hiệu 686

1 0 0 TRIẾT HOC VÀ CÁC LĨNH v ư c LIÊN QUAN

110 Siêu hình học

120 Khoa học luận, quan hệ nhân quả, nhân loại

130 Siêu hiện tượng Giả khoa học

140 Các hệ thống triết học khác nhau

Trang 34

150 Tâm lí học

160 Logic học

170 Luân lí học (triết học đạo đức)

180 Triết học cổ đại, trung thế kỷ, triết học Phương Đông

190 Triết học Phương Tây hiện đại

ở đây dĩ nhiên có thể phân tích các công trình triết học theo quanđiểm học thuyết, tuy nhiên điều này rất khó khăn đối với người không thạo Ta có thể phân loại bằng kí hiệu 180-190 (sắp xếp theo địa lý), và dành kí hiệu 140 cho các công trình nghiên cứu về các học thuyết lớn Như vậy bạn đọc có thể tìm thấy ở kí hiệu 142.78 các công trình về chủ nghĩa hiện sinh, nhưng ở kí hiệu 193 thì lại có các cùng Liình của Heidegger, ở kí hiệu 194 có các công trình của Sartre, v.v

150 Các công trình về tâm lí xã hội xếp ở kí hiệu 302

Tránh đưa hết vào kí hiệu 150.195 (phân tâm học), kí hiệu này chỉ dành cho lí thuyết; sử dụng cả kí hiệu 616.891 Tâm thần học, v.v.nếu công trình nghiên cứu được thực hiện dưới góc độ phân tâmhọc Bệnh học tâm lí (kí hiệu 157 trong lần xuất bản thứ 19) nay chuyển sang kí hiệu 616.89

180 Kí hiệu 181 dành cho triết học Phương Đông, bất luận là triết học

Cổ đại, Trung thế kỷ, hoặc thế kỷ 20 Kí hiệu 182 -188 dành cho triết học Cổ Hy lạp và La mã, và k í hiệu 189 là triết học phương Tây trung thế kỷ

Kí hiệu 190 được xếp theo ngôn ngữ, như kí hiệu 030, 050

2 0 0 TÔN GIÁO

210 Triết học và lí thuyết tôn giáo

220 Kinh thánh

230 Cơ Đốc Giáo Thần học Cơ Đốc Giáo

240 Thần học đạo đức và tinh thần Cơ Đốc Giáo

250 Giáo Hội địa phương và các dòng tu

260 Thần học xã hội Cơ Đốc Giáo

270 Lịch sử và địa lí Nhà thờ Cơ Đốc Giáo

280 Xưng tội và các môn phái Cơ Đốc Giáo

290 Tôn giáo so sánh Các tôn giáo khác

Trang 35

Lớp này như đã được giới thiệu, có sự mất cân đối nhất định, do vậy trong lần xuất bản thứ 21 đã được sửa chữa bằng cách bỏ các kí hiệu 201-209 dành cho các công trình chung về Cơ Đốc Giáo: "Các tôn giáo khác" chỉ có 1 đề mục Đạo Do thái (296) được xếp sau Cơ Đốc Giáo, tuv nhiên phải xếp các ấn phẩm Kinh cựu ước Do thái vào kí hiệu 221 Các công trình chung về Nhà thờ Cơ Đốc Giáo ở kí hiệu 260.

3 0 0 KHOA HOC XĂ HÔI

380 Thương mại, truyền thông, vận tải

390 Phong tục, tập quán, nghi lễ, truyền thống dân gian

Đây là một lớp rất phong phú, thể hiện sự phát triển của các ngànhkhoa học xã hội

301-307 X ã hội học

Các đề mục này hoàn toàn được biên soạn lại trong lẩn xuất bản

19 Đã huỷ bỏ kí hiệu 309 Các công trình về thời cơ và điều kiện

xã hội từ nay được xếp vào lớp Lịch sử (900)

304 Sinh thái người

Xếp các công trình chung về môi trường và các hình thức ô nhiễm vào kí hiệu 333.7 Sinh thái thực vật xếp ở kí hiệu 581.7; sinh thái

động vật xếp ờ kí hiệu 591.7 Sử dụng kí hiệu 577 cho sinh thái xét

trên quan điểm sinh học và 363.7 dành cho bảo vệ môi trường

306 V ă n h o á

(Theo nghĩa của thuật ngữ tiếng Anh cổ, có nghĩa liên quan với khái niệm văn minh hơn là nghĩa tri thức, kiến thức) Xếp ở đây các công trình về nhân loại học xã hội và văn hoá: Nhân loại học vật lí = 573; Phong tục và tập quán = 390

Ở đây xếp các công trình về Xã hội học chính trị, kinh tế, tôn giáo, văn hoá, v.v

Trang 36

327 Chính sách đôi ngoại và quan hệ quốc tê

Quan hệ giữa 2 nước được thể hiện như sau: Ghép kí hiệu địa lí của 2 nước có ngăn cách bằng số 0 sau kí hiệu 327

-44 = Nước Pháp; 51 = Trung Quốc; Quan hệ Pháp- Trung Quốc = 327.440 51

330 Kinh tế học

337 Quan hệ kinh tê quốc tê

Thực hiện giống như vói kí hiệu 327

338 Sản xuất trên quan điểm kinh tê phi kỹ thuật

Công nghiệp mỏ (kinh tế) = 338.2

Công nghiệp mỏ (kỹ thuật) = 622

340 Luật pháp

Kí hiệu này hoàn toàn được biên soạn lại trong lần xuất bản 18.Đối với khía cạnh luật pháp của 1 chủ đề cụ thể, có thể ghép kí hiệu -026 bảng 1 vào kí hiệu chính của chủ đề đó :

Ví dụ: Luật sân khấu = 792.026

Ta cũng có thể xếp các công trình về luật nước Pháp mà không cầndùng kí hiệu địa lý:

Ví dụ: Công pháp nước Pháp = 342

Sử dụng kí hiệu địa lí (không có -09) để xếp các công trình về luậtcác nước khác nhau:

Trang 37

V í dụ: Công pháp nước Mỹ = 342.73

Luật hình sự ĩtalia = 345.45

Tư pháp nước Đức = 346.43

341.7 Các tổ chức quốc tế, nhìn nhận tù quan điểm luật pháp

Để phân loại các công trình có liên quan tới các hoạt động của các

tổ chức quốc tế cần chọn các kí hiệu tương ứng với các tổ chức đó (ví dụ: Thị trường chung xếp ở kí hiệu 382.914)

Các tổ chức chung xếp ở kí hiệu 060

350 Nền hành chính công

Phân mục này được biên soạn lại trong lần xuất bản 21 Hãy phân biệt rõ các công trình về quản lí hành chính và các công trình về luật (340), các công trình về chính trị (320)

360 Các vân đề và dịch vụ xã hội Các tổ chức hội

Xếp ở đây các công trình chung về trợ giúp nói chung (đối với người tàn tật, người già ), về tình trạng phạm tội, về các hiệp hội

có mục đích đoàn kết ( Các hiệp hội nói chung và các hội khoa học xếp ở kí hiệu 060, các câu lạc bộ chính trị xếp ở kí hiệu 324.3, các hiệp hội lao động xếp ở kí hiệu 331.88)

370 Giáo dục

Đôi khi ta rất lúng túng giữa kí hiệu 370.15 (Tâm lí giáo dục học)

và 155.4 (Tâm lí học trẻ em) Cần phải xem xét kỹ lưỡng cuốn sách, chú ý tới vai trò của tác giả (là nhà tâm lí học hay giáo dục)Sách giáo khoa giáo dục cơ sở xếp ở kí hiệu 372 Các loại khác dùng trợ kí hiệu chung -07

Ví dụ: Sách giáo khoa vật lí = 530.07

380 Kí hiệu 380 dành cho thương mại, viễn thông và giao thông vận tải

với quan điểm kinh tế Các công trình về công nghệ, xem kí hiệu 620

4 0 0 NGÔN NGỮ

410 Ngôn ngữ học

420 Tiếng Anh và tiếng Anh cổ (Anglo-saxon)

430 Các ngôn ngữ gốc Đức Tiếng Đức

440 Các ngôn ngữ Rôman Tiếng Pháp

450 Tiếng Ý, Tiếng Rumani, tiếng Rêto-Rôman

460 Tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

Trang 38

470 Các ngôn ngữ cổ Ý Tiếng Latinh

8 Sử dụng chuẩn ngôn ngữ, Ngôn ngư học ứng dụng

Mục thứ nhất dành cho các vấn đề chung, mục thứ hai dành cho ngôn ngữ học, các mục khác dành cho các ngôn ngữ khác nhau Cần nhớ rằng ở đây còn có quan điểm phương Tây của Devvey

Các lớp 400 và 800 được biên soạn một cách đổng nhất Số 4 (ngôn ngữ) tiếp theo là kí hiệu địa lí (ví dụ 4 là nước Pháp), sau đó là 1 số

kí hiệu thể hiện hoặc một bộ phận của khoa học ngôn ngữ (từ nguyên học, ngữ pháp .) hoặc một công cụ (từ điển 443 = Từ điển tiếng

Đối với ngôn ngữ châu Âu ghép trợ kí hiệu tương ứng sau kí hiệuchính:

Từ điển tiếng Bồ Đào Nha = 469.3

Để đánh kí hiệu từ điển 2 thứ tiếng, ví dụ từ điển Anh- Pháp, dùng

kí hiệu chỉ khái niệm từ điển tiếng Anh (423), sau đó thêm số 4 (tiếng Pháp), trong trường hợp này ta sẽ có kí hiệu 423.4 Cũng như vậy ta có:

Từ điển Bồ Đào Nha-Anh = 469.32

Trang 39

5 0 0 KHOA HOC T ư NHIÊN VÀ TOÁN HOC

510 Toán học

520 Thiên văn học và các khoa học liên quan

530 Vật lí học

540 Hoá học và các khoa học liên quan

550 Khoa học về trái đất và các thế giới khác

560 Cổ sinh vật học c ổ động vật học

570 Khoa học về sự sống

580 Thực vật học

590 Động vật học

510 M ục này hoàn toàn biên soạn lại, theo sự phát triển mới đây của

toán học, trong lần xuất bản 18

530 - 540

Ta thường ngập ngừng khi lựa chọn kí hiệu cho các công trình vật

lí và hoá học bao gồm phần lí thuyết tiếp sau đó là phần thực hành

Ta phải xếp vào khoa học thuần tuý hay khoa học ứng dụng (600)? Phần lổn các trường hợp chọn cách giải quyết thứ hai bởi vì phần

"lí thuyết" thường ứng dụng cho phần "thực hành"

570 Kí hiệu 570 dành cho sinh học đại cương (tất cả các sinh vật) Giải

phẫu học, sinh lí học và bệnh lí học người xếp ở các kí hiệu 611,

612 và 616 Các phân mục 570, 580, 590 được biên tập lại hoàn toàn trong lần xuất bản 21

580 Thực vật

Các kí hiệu ở đây đã dành sẵn trước cho các phân mục phân loại hệthống thực vật; các từ điển chỉ rõ từng họ thực vật (lys:monocotylédones = Huệ: lớp một lá mầm)

590 Chú ý, không nhầm lẫn kí hiệu này (Động vật) với 636 (chăn nuôi

gia súc) Các kí hiệu tương ứng với các phân mục phân loại động vật

6 0 0 KỶ T HU Â T (CÁC KHOA HOC ỨNG DU NG )

610 Y học

620 Kỹ thuật và các hoạt động liên quan

630 Nông nghiệp và các kỹ thuật liên quan

640 Kinh tế eia đình Sinh hoạt gia đình

650 Quản lí và các dịch vụ liên quan

660 Kỹ thuật hoá học và các kỹ thuật liên quan

Trang 40

670 Sản xuất công nghiệp

630 Nông nghiệp

Chú ý, ở đây có nguy cơ nhầm lẫn với kí hiệu 580 và 590

650 Mục này dành cho tổ chức và quản lí doanh nghiệp

Kinh tế, xem 330

700 N G HÊ THU ÂT

710 Quy hoạch đô thị Nghệ thuật phong cảnh

720 Kiến trúc

730 Nghệ thuật tạo hình Điêu khắc

740 Vẽ, nghệ thuật trang trí

750 Hội hoạ và tranh hội hoạ

760 Nghệ thuật vẽ biểu hoạ Chạm khắc

770 Nghệ thuật nhiếp ảnh và ảnh chụp

780 Âm nhạc

790 Tiêu khiển và Nghệ thuật trình diễn

Có thể ghép thêm vào kí hiệu 700.4 = Các chủ đề đặc biệt trong nghệ thuật bằng trợ kí hiệu trong Bảng 3C: Chủ đề lịch sử trong nghệ thuật = 700.45

Một trong những khó khăn chính ở lớp này là các khái niệm lịch

sử và địa lí không phải lúc nào cũng thể hiện thống nhất cùng mộtkiểu:

708.1 Galeri và bảo tàng ở Bắc Mỹ (không sử dụng 09)

Ngày đăng: 13/05/2021, 04:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w