Lập kế hoạch kiểm toán
Trang 13.LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TỔNG QUÁT
Mục đích: phác thảo ra những nét chính của cuộc kiểm toán để đảm bảo không lệch khỏi trọng tâm
(1)Mô tả về khách hàng:
• Thông tin cơ bản(loại hình, vốn, hội đồng quản trị, ban giám đốc, ngân hàng gia dịch…)
• Tình hình kinh doanh: ngành nghề, nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh
• Môi trường kiểm soát
− Thái độ của ban giám đốc công ty về kiểm soát
− Đơn vị duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ có thường xuyên, có duy trì kiểm toán nội bộ
• Phân tích tổng thểvà nhận xét
(2)Mục đích và phạm vi kiểm toán
(3)Các mục đích phụ hoặc các dịch vụ khác
(4)Trình tự thời gian:
(5)Nhân sự
(6)Những vấn đề cần lưu ý
• Những lưu ý trong hồ sơ kiểm toán của năm trước và kết quả của thủ tục phân tích
(7)Mức trọng yếu dự tính
(8)Kế hoạch kiểm toán sơ khởi các khoản mục
Trang 24 THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH KIỂM TOÁN CHI TIẾT
Nội dung chương trình kiểm toán một khoản mục trên báo cáo tài chính
Phần A: xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan gồm 4 bước:
(1)Tìm hiểu kiểm soát nội bộ
(2)Thực hiện các thử nghiệm kiểm
(3)Đánh giá rủi ro kiểm soát, thiết kế các thử nghiệm kiểm soát soát
(4)Đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm cơ bản
Phần B: thực hiện các thử nghiệm cơ bản
Thử nghiệm cơ bản là những nghiệp vụ kiểm tra để thu thập bằng chứng về sự chính xác, đồng bộ và cá giá trị của các số liệu kế toán do đơn vị cung cấp.
Trang 3Ví dụ1:( về thử nghiệm cơ bản )
• Gửi thư xác nhận công nợ để xem tính có thực của số liệu khoản mục nợ phải thu
• Chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho để chứng minh xem giá trị hàng tồn kho
☞ Chú ý: phân biệt thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản:
• Thử nghiệm kiểm soát là những thử nghiệm được tiến hành trên các thủ tục kiểm soát để chứng minh rằng kiểm soát nội bộ thực sự hữu hiệu
• Thử nghiệm cơ bản là những thử nghiệm được tiến hành trên các số liệu kế toán để kiểm tra tính chính xác, đồng bộ và có giá trị của chúng.
Trang 4Ví dụ2:( Phân biệt thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản )
Đơn vị có 10.000 hoá đơn với trị giá 200.000.000 Đồng Kiểm toán viên lựa chọn 200 hoá đơn để kiểm tra Việc tính tiền trên hóa đơn
• Thử nghiệm kiểm soát: có 2/200 hoá đơn bị sai
1% của mẫu bị sai chứng tỏ thủ tục kiểm soát không hoàn toàn tốt Từ đó có thể tính mức sai sót trong tổng thể mẫu 1% x 10.000 = 100 hoá đơn tính sai
Vậy khi thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên chỉ đếm tần suất xuất hiện sai lầm chứ không quan tâm đến số tiền sai sót
• Thử nghiệm cơ bản: 200 hoá đơn có trị giá
70.000.000 đồng Sau khi kiểm tra có tính sai sót 1.750.000 đồng, chiếm 2,5% số tiền sai sót trên tổng thể mẫu là :2,5% x 200.000.000 = 5.000.000 đồng
Vậy, khi thực hiện các thử nghiệm cơ bản, kiểm toán viên không quan tâm đến số lần bị sai
Trang 5Tuy nhiên có một số trường hợp một thử nghiệm vừa là thử nghiệm kiểm soát, vừa là thử nghiệm cơ bản
Ví dụ3: ( một thử nghiệm vừa là thử nghiệm kiểm soát vừa là thử nghiệm cơ bản )
kiểm tra việc tính tiền trên các hoá đơn
• Kiểm tra việc xét duyệt tính tiền trên các hoá đơn có chặt chẽ hay không là một thử nghiệm kiểm soát
• Kiểm tra việc tính toán số tiền trên hoá đơn có đúng hay không là một thử nghiệm cơ bản
Trang 6Ví dụ 4: ( thử nghiệm chi tiết)
kiểm tra nghiệp vụ trên tài khoản tài sản cố định
• Kiểm tra số dư đầu kỳ có đúng không?( xem trên số dư đầu kỳ của sổ cái tài khoản tài sản cố định hay bảng cân đối kế toán năm trước)
tăng hoặc giảm để kiểm tra thông qua các chứng từ gốc đã phát sinh trong kỳ
Trang 7Ví dụ 5: ( kiểm tra số dư )
đối với hàng tồn kho: chia thành nhiều mặt hàng, sau đó kiểm tra từng mặt hàng, kiểm tra số lượng, đánh giá
Trên thực tế, kiểm toán viên có thể phối hợp cả hai phương pháp
Ví dụ 6:
sau khi thực hiện việc kiểm tra tài khoản tài sản cố định(kiểm tra nghiệp vụ), nếu xét thấy không tin tưởng về tình hình tài sản cố định của đơn vị đã ghi nhận trên sổ sách kế toán, các kiểm toán viên có thể yêu cầu kiểm kê thực tế tài sản cố định (kiểm tra số dư)
Trang 8Ví dụ 7:
các thủ tục phân tích khấu hao tài sản cố định:
lệ khấu hao
phí khấu hao / nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ) để so sánh với năm trước (Nếu đơn vị vẫn có tỷ lệ khấu hao như năm trước và vẫn sử dụng các tài sản cố định như năm trước.)
− Nếu tỷ lệ khấu hao bình quân năm nay bằng năm trước chi phí khấu hao hợp lý
− Nếu tỷ lệ khấu hao bình quân
Trang 9Phương pháp thiết kế các thủ tục kiểm toán cụ thể:
• Ví dụ 8: thủ tục kiểm toán đối với hàng tồn kho:
Vì hàng tồn kho có số lượng nghiệp vụ phát sinh nhiều → tiến hành thử nghiệm cơ bản : chọn loại thử nghiệm chi tiết (kiểm tra số dư) Các kiểm toán viên sẽ:
• Yêu cầu đơn vị cung cấp số liệu về hàng tồn kho
• Trực tiếp chứng kiến kiểm kê
• Xem xét quyền sở hữu của hàng tồn kho bằng cách kiểm tra tất cả các hồ sơ, hợp đồng có liên quan
• Kiểm tra việc tính gía (đơn vị áp dụng phương pháp gì, chọn mẫu và tính đúng hay không?)
• Kiểm tra chất lượng, tình trạng của hàng trong kho để xem đơn vị có lập dự phòng hay không?
• Kiểm tra tính toán cộng dồn
• Kiểm tra sự thống nhất số liệu trên sổ chi tiết, sổ cái
• Kiểm tra sự đầy đủ của hàng tồn kho
Trang 10Ví dụ: 9( về sự tồn tại )
• Đối với tài sản hữu hình: kiểm toán viên yêu cầu đơn vị cân đo, đong, đếm, chứng kiến kiểm kê để thu thập bằng chứng rằng chúng có thực trong thực tế
• Đối với tiền gửi ngân hàng, nợ phải thu của khách hàng, hàng gửi ở kho công cộng: gửi thư đề nghị người bảo quản tài sản đó xác nhận và gửi thư trả lời trực tiếp cho kiểm toán viên.
• Đối với tài sản vô hình: kiểm toán viên kiểm tra giá gốc có được xác định một cách đáng tin cậy hay không, xem xét xem tài sản cố định vô hình có còn đem lại lợi ích trong tương lai nữa không Nếu không phải yêu cầu đơn vị thanh lý nó Đây là loại tài sản rất phức tạp, kiểm toán viên phải căn cứ vào giá trị ứng dụng hoặc giới hạn về mặt pháp lý để xác định trong từng trường hợp cụ thể
Trang 11Có hai phương pháp để chứng minh cho sự phát sinh:
• Kiểm tra chứng từ: kiểm toán viên phải kiểm tra chứng từ gốc liên quan để khẳng định sự phát sinh của nghiệp vụ
•
Ví dụ10 : đối với nghiệp vụ ban hàng phải kiểm tra đơn đặt hàng, lệnh bán hàng, phiếu xuất kho, phiếu vận chuyển, hoá đơn, phiếu thu tiền
• Kiểm tra gián tiếp: kiểm tra nghiệp vụ gián tiếp thông qua các tài khoản đối ứng.
Ví dụ11 : kiểm tra sự phát sinh của doanh thu qua các tài khoản tài sản (tiền, nợ phải thu) Nếu chứng minh được sự tồn tại của tài sản thì có nghiã đã chứng minh được sự phát sinh của doanh thu
Trang 12Ví dụ: tính có thực được thể hiện ở:
tồn tại và thuộc quyền sở hữu của đơn
vị
tồn tại trên thực tế và là nghiã vụ của đơn vị
sinh trong thực tế
Trang 13Các phương pháp kiểm tra sự đầy đủ:
(có 6 phương pháp )
a Tìm hiểu về kiểm soát nội bộ
b Kết hợp việc kiểm tra sự đầy đủ với kiểm tra sự có thực
c Kiểm tra trên các tài khoản liên quan
d Kiểm tra việc khoá sổ
e Phân tích
f Yêu cầu người quản lý cung cấp thư giải trình(thư quản lý) để cam kết rằng đơn vị đã khai báo đầy đủ với kiểm toán viên
Ví dụ: ( Về tính có thực)
Khi kiểm tra tiền gửi ngân hàng, phải gửi thư xác nhận đến tất cả các ngân hàng mà đơn vị có giao dịch trong kỳ hy vọng tìm được những khoản tiền gửi, tiền vay bảo lãnh, thế chấp mà đơn vị không khai báo → đối với nghiệp vụ này kết hợp việc kiểm tra tính đầy đủ và có thực
Trang 14Ví dụ14: Kiểm tra trên các tài khoản liên quan
có hai phương pháp giấu doanh thu mà các đơn vị thường dùng
Phương pháp đá bỗng: để doanh thu, tiền bán hàng ngoài sổ sách đồng thời với một số khoản chi ngoài sổ sách Do đó các đơn vị phải thiết kế hai hệ thống sổ sách Tuy nhiên, cách làm này rất nguy hiểm, chỉ áp dụng đối với đơn vị tư nhân(vì kế toán không bị ràng buộc trách nhiệm nhiều và chưa ý thức được sự nguy hiểm)
Trang 15 Phương pháp ghi nhầm: ghi đối ứng vào tài khoản khác (chẳng hạn ghi giảm phí) Để đối phó, kiểm toán viên phải kiểm tra trên các tài khoản có liên quan đến việc ghi nhận doanh thu
• Kiểm tra đầu vào: Kiểm tra bên Nợ của TK 111, TK 112, TK 131
− Nếu đối ứng với TK 511 → chấp nhận
− Nếu đối ứng với TK khác → kiểm tra lại
• Kiểm tra đầu ra: kiểm tra TK 155,
Trang 16Ví dụ 15: phân tích đối với doanh thu
doanh thu năm trước
tháng, kiểm tra những khoản tụt giảm doanh thu bất thường
Trang 17Ví dụ 16:
không ghi bút toán kết chuyển từ nợ dài hạn (TK 341) sang nợ dài hạn đến hạn trả(TK 315) khi các khoản nợ đóù đáo hạn Việc không ghi bút toán này làm tỷ số thanh toán hiện thời không chính xác, dễ làm người đọc hiểu biết sai về tình hình nợ ngắn hạn của đơn vị Chẳng hạn: một khoản vay dài hạn 100 triệu vào ngày 3/5/2000 đến hạn vào ngày 3/5/2004 Vào ngày 31/12/2003, doanh nghiệp phải ghi bút toán như sau:
Trang 18Ví dụ 17: số dư tài khoản 131 trên sổ cái là 200 triệu, trên sổ chi tiết:
Dư nợ 300 triệu, chi tiết khách hàng A: 150 triệu, khách hàng B 150 triệu
Dư Có 100 triệu(công ty X ứng trước)
Như vậy, trên bảng cân đối kế toán kế toán phải phản ánh như sau:
Bên phần tài sản: khoản mục phải thu của khách hàng (Nợ 131: 300 triệu)
Bên phần nợ phải trả: khoản mục khách hàng ứng trước tiền (Có 131: 100 triệu)
Nếu kế toán chỉ phản ánh một phần số dư bên nợ tài khoản 131 là 200 triệu thì người đọc báo cáo tài chính sẽ hiểu không đúng vể khoản nợ của đơn vị và ảnh hưởng đến các chỉ tiêu khác → vi phạm mục tiêu sự trình bày
Nguyên tắc: đối với nợ phải thu
• Nếu cùng một đối tượng: bắt buộc phải cấn trừ
Trang 19Ví dụ 18: khoản phải thu và phải trả nội bộ
Nguyên tắc: đối với khoản phải thu, phải trả nội bộ là : Số dư tài khoản 136 ở cấp trên bằng tổng số dư tài khoản 336 ở các đơn vị cấp dưới
Như vậy, khi lập báo cáo tài chính ở tổng công ty hai khoản này (TK 136 và TK 336) phải cấn trừ nhau và không được xuất hiện trên báo cáo tài chính
Nếu đến 31/12 kế toán thấy số dư TK 136 là 10 triệu, số dư bên có TK 336 là 8 triệu nên đã xử lý bút toán sau:
Ghi vào ngày 1/1/2001
Ghi vào ngày 31/12/2000
Trang 20Các bút toán này được trình bày sai trên báo cáo tài chính vì để che dấu một phần tài sản không biết ở đâu.
Khai báo: kiểm toán viên phải kiểm tra rằng đơn vị đã khai báo đầy đủ và đúng đắn tất cả những vấn đề cần phải khai báo theo yêu cầu của các chuẩn mực và chế độ kế toán
Khai báo là công bố các thông tin trên báo cáo tài chính nhằm mục đích cung cấp đủ thông tin cho người đọc Có hai loại thông tin cần khai báo:
• Thông tin tài chính cơ bản: doanh thu, chi phí, tài sản, công nợ
• Các thông tin bổ sung: là những thông tin vì nhiều lý do mà chưa được đưa vào trong các báo cáo tài chính chủ yếu nhưng những thông tin này lại hết sức quan trọng đối với người đọc báo cáo tài chính Các thông tin loại này phải được khai báo trên bảng thuyết minh báo cáo tài chính Các thông tin này bao gồm:
− Các phương pháp kế toán áp dụng tại doanh nghiệp
− Các sự kiện xảy ra sau khi kết thúc niên độ
− Công nợ ngoài dự kiến
Trang 21Tổng kết:
1 Các mục tiêu kinh tế có quan hệ chặt chẽ với gian lận và sai sót Mỗi mục tiêu đều nhắm đến một hoặc một số gian lận và sai sót quan trọng Muốn xác định một thủ tục đảm bảo mục tiêu nào thì phải xác định xem thủ tục đó đối phó với loại gian lận và sai sót nào.
Ví dụ: xem xét các thủ tục áp dụng đối với nợ phải thu (1)Sự tồn tại và phát sinh: gửi thư xác nhận đến các khách hàng để chứng minh sự tồn tại(chú ý: không chứng minh sự phát sinh vì phát sinh chỉ dùng cho doanh thu và chi phí)
(2)Quyền lợi và nghĩa vụ: gửi thư xác nhận, tìm xem những tài sản doanh nghiệp có mang đi thế chấp hay không để chứng minh quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với các tài sản khai báo
(3)Sự đầy đủ: kiểm tra các nghiệp vụ bán hàng vào thời điểm khoá sổ
(4)Sự ghi chép chính xác: kiểm tra sự khớp đúng giữa tổng hợp và chi tiết, đối chiếu giữa sổ cái và sổ chi tiết
Trang 22(5)Sự đánh giá: kiểm tra xem nợ phải thu có được ghi theo giá trị thuần( giá trị có thể thực hiện được) hay không? Có nghĩa kiểm tra việc lập dự phòng có đúng theo phương pháp quy định hay không? phương pháp này có được áp dụng nhất quán giữa các kỳ hay không?
Ví dụ: III Nợ phải thu: 2 triệu
Nợ phải thu khách hàng: 10 triệu
Dự phòng nợ phải thu khó đòi 8 triệu
(6)Trình bày và khai báo:
• Trình bày: nguyên tắc
− Không được cấn trừ nợ khác đối tượng
− Phải cấn trừ nợ cùng đối tượng
− Kiểm tra những trường hợp nợ phải thu có số dư bên Có
• Khai báo:
− Khai báo phương pháp lập dự phòng
Trang 232 Quá trình phát triển của các mục tiêu gắn liền với quá trình phát triển của gian lận và sai sót Điều này có nghĩa là các mâu thuẫn này không cố định, bất biến mà luôn thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội
• Đối với những gian lận cổ điển, các mục tiêu
thường xem xét là:
− Sự tồn tại và phát sinh đối phó với gian lận khai khống
− Mục tiêu quyền lợi và nghiã vụ: nhắm đến các gian lận: khai lộn những cái không phải của mình
− Mục tiêu sự đầy đủ: đối phó với gian lận khai thiếu
• Đối với những gian lận hiện đại, tinh vi hơn: các
mục tiêu được nhắc đến là:
− Sự ghi chép chính xác: phát hiện sai sót do không thống nhất giữa tổng hợp và chi tiết
− Sự đánh giá đối phó với việc áp dụng sai các phương pháp đánh giá
− Sự trình bày và khai báo: để phát hiện các
Trang 24không đúng theo chuẩn mực, gây hiểu lầm về báo cáo tài chính, khai thiếu…
Các gian lận và sai sót ngày càng tinh vi thì mục tiêu kiểm toán phải theo kịp với trình độ phát triển của nó để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro kiểm toán
3 Đối với mỗi khoản mục, mục tiêu này cũng khác nhau
Ví dụ:
• Đối với nợ phải thu: mục tiêu sự tồn tại và sự đánh giá được xem xét để đối phó với gian lận:”số liệu bị khai khống” vì 2 lý do:
− Muốn làm cho tình hình tài chính tốt đẹp hơn
− Che dấu sư thất thoát tài sản
• Đối với nợ phải trả: mục tiêu sự đầy đủ và nghĩa vụ được xem xét để đối phó với gian lận “ khai thiếu” nhằm che dấu bớt chi phí, thoiå phồng lợi nhuận
Tầm quan trọng của mỗi mục tiêu có thể thay đổi ở các quốc gia khả năng Sự thay đổi này rất linh hoạt, tuỳ thuộc vào sự phát triển của xã hội Mục tiêu này có thể quan trọng đối với quốc gia này nhưng lại
Trang 25Ví dụ:
• Ơû Việt Nam: sự đầy đủ của doanh thu là rất quan trọng vì quyết định VAT đầu ra phải nộp
• Ở Mỹ; sự có thực của doanh thu là rất quan trọng
vì doanh nghiệp có xu hướng khai khống doanh thu để thổi phồng tình hình tài chính
4 Các mục tiêu kiểm toán phục vụ cho công việc thiết lập kế hoạch kiểm toán, chương trình kiểm toán, giúp cho kiểm toán viên thiết kế các chương trình kiểm toán chi tiết, thu thập các bằng chứng đầy đủ về sự trung thực và hợp lý của các khoản mục trên báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, trên thực tế, các công ty kiểm toán luôn xây dựng một chương trình chuẩn, chi tiết nhất Căn cứ vào những định hướng đã được xác định trong phần lập kế hoạch tổng quát, các kiểm