Kiểm toán- p2
Trang 1Chương IV:
CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN
Giới thiệu kết cấu chương( đèn chiếu Audit IV/1)
I QUY TRÌNH KIỂM TOÁN
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/2)
1 Chuẩn bị kiểm toán
(1)Tiền kế hoạch: giai đoạn xem xét để ký hợp đồng kiểm toán
• Tiếp nhận khách hàng
• Thoả thuận sơ bộ
• Hợp đồng kiểm toán
(2)Lập kế hoạch : giai đoạn thiết lập chương trình kiểm toán chi tiết
• Tìm hiểu khách hàng
• Kế hoạch tổng quát
• Chương trình chi tiết
2 Thực hiện kiểm toán
(1)Xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
• Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
• Đánh giá lại rủi ro
(2)Thực hiện các thử nghiệm cơ bản (là việc kiểm tra để chứng minh số liệu kế toán của đơn vị là đúng)
Trang 2• Thủ tục phân tích: xem xét sựï hợp lý về mặt tổng thể
• Thử nghiệm chi tiết: kiểm tra chi tiết trên các số liệu
3 Hoàn thành kiểm toán
(1)Đánh giá tổng quát kết quả kiểm toán
(2)Lập và phát hành báo cáo kiểm toán
Các cuộc kiểm toán thường được tiến hành ngay trong niên độ kế toán, chỉ để lại những công việc không thể làm trong niên độ
Ví dụ xác định công nợ phải thu, kiểm kê hàng tồn kho …
Ơû Việt Nam, mùa kiểm toán bắt đầu vào tháng 10, cao điểm nhất là vào thời điểm sắp kết thúc niên độ kế toán(tháng 12) và kết thúc vào khoảng tháng 4 hoặc tháng 5
Một cuộc kiểm toán được xem là có hiệu quả khi:
• Giai đoạn kiểm toán thực hiện trước khi kết thúc niên độ kế toán là lớn nhất
• Giai đoạn kiểm toán thực hiện sau khi kết thúc niên độ kế toán là ngắn nhất
II TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO
A.TRỌNG YẾU(MATERIALITY)
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/3)
Trang 31 Khái niệm:
Trong kế toán: thông tin được xem là trọng yếu khi sự trình bày
sai hoặc thiếu sót của nó sẽ gây ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính
Một báo cáo tài chính có 4 đặc điểm chất lượng:
• Có thể hiểu được
• Thích hợp
• Đáng tin cậy
• Có thể so sánh được
Trọng yếu trong kế toán nằm ở tiêu chuẩn thích hợp Thích hợp phải được thể hiện cả ở nội dung và số tiền
Trong kiểm toán: thông tin được gọi là trọng yếu khi sự sai lệch
hay bỏ sót nó có thể gây ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Các yếu tố để xem xét tính trọng yếu:
• Định lượng: số tiền sai phạm có ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính hay không
• Định tính: trọng yếu không chỉ đề cập đến số tiền mà còn xét đến bản chất của sai phạm
− Có những sai sót có số tiền nhỏ trong báo cáo tài chính nhưng lại là sai sót trọng yếu khi đó là hành vi gian lận
− Có những gian lận không được biểu hiện ra thành tiền những vẫn được coi là sai phạm trọng yếu Ví dụ đơn vị không khai báo phương pháp tính giá hàng tồn kho dẫn
Trang 4đến người sử dụng báo cáo tài chính hiểu sai về bảng cân đối kế toán và từ đó có thể có những quyết định sai.
− Có những sai phạm nhỏ nhưng làm đơn vị chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác vẫn được coi là sai phạm trọng yếu Ví dụ ngân hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải duy trì vốn lưu động thuần là 10.000 USD Nếu doanh nghiệp vi phạm thì ngân hàng có quyền chuyển số nợ doanh nghiệp vay của ngân hàng thành nợ đến hạn trả và đòi món nợ này
Trọng yếu là một vấn đề thuộc về sự xét đoán nghề nghiệp
2 Sự vận dụng khái niệm trọng yếu trong kiểm toán
Khái niệm trọng yếu được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của các sai sót và gian lận trong quá trình kiểm toán Trong
quá trình kiểm toán, các kiểm toán viên có thể phát hiện rất nhiều sai sót và gian lận nhưng có thể vẫn bỏ sót các sai sót và gian lận quan trọng Nhiệm vụ của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán là phải phát hiện các sai sót và gian lận , xem xét các sai phạm đó có trọng yếu hay không Nếu sai sót là trọng yếu thì phải yêu cầu đơn vị điều chỉnh Nếu là sai sót không trọng yếu thì tùy mức độ mà có những biện pháp xử lý khác nhau
Khái niệm trọng yếu được sử dụng để xác định trọng tâm trong kiểm toán Do có sự hạn chế về thời gian, chi phí và
nhân lực nên kiểm toán viên không thể kiểm tra tất cả mọi
Trang 5nghiệp vụ Do đó, việc xác định trọng tâm để kiểm tra là rất quan trọng, quyết định đến việc thành bại của cuộc kiểm toán.
Ví dụ:
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/4)
Mức trọng yếu của các khoản mục tại tổng công ty XYZ được xác định như sau:
Tổng công ty XYZ
Công ty Y(15%) Công ty X(80%) Nhà máy Z(5%)
Tiền(10%) Hàng tồn kho(70%) Nợ phải thu(20%)
VLA (30%) VLB(25%) VLC(20%) Vlkhác(25%)
Trang 6Như vậy, trọng tâm kiểm tra ở công ty X là hàng tồn kho, trong đó chú ý nhất đến nguyên vật liệu, đặc biệt là nguyên vật liệu A và nguyên vật liệu B.
Khái niệm trọng yếu được sử dụng như là mức sai sót tối đa có thể bỏ qua.
• Trong kiểm toán cổ điển: kiểm toán viên kiểm tra tất cả(100%) các nghiệp vụ Kiểm tra đến đâu, phát hiện có sai sót chỗ nào, kiểm toán viên yêu cầu doanh nghiệp sửa chữa đến đó
• Trong kiểm toán hiện đại : kiểm toán viên áp dụng phương pháp lấy mẫu
Ví dụ bài toán lấy mẫu: Tại một doanh nghiệp hiện có 10.000 khoản phải thu của khách hàng Kiểm toán viên không thể gửi thư xác nhận đến hết 10.000 khách hàng mà chỉ chọn ra 200 khoản phải thu để kiểm tra Kiểm toán viên phát hiện trong
200 khoản phải thu có sai sót 2.000 USD
Bình quân một sai sót là 2000 :200 = 10 USD
⇒ Ước tính sai sót của tổng thể: 10000 x 10 = 100.000 USD
Như vậy, từ sai sót của mẫu, KTV đã ước lượng được sai sót của tổng thể Vấn đề đặt ra là kiểm toán viên chỉ có thể ước lượng trong 10.000 khoản phải thu có sai sót khoảng 100.000 USD chứ không thể sửa chữa được nó
Trang 7Vì vậy phải đặt ra một giới hạn sai sót tối đa( còn gọi là mức trọng yếu) có thể bỏ qua hay chấp nhận được.
• Nếu sai sót ước tính > mức trọng yếu : kiểm toán viên không chấp nhận sai sót đó
• Nếu sai sót ước tính < mức trọng yếu : kiểm toán viên có thể bỏ qua sai sót này
Ví dụ: 10.000 khoản phải thu có trị giá là 10 triệu USD Kiểm toán viên cho rằng mức sai sót có thể chấp nhận (mức trọng yếu) được khoảng 2% có nghiã là khoảng 200.000 USD Như vậy, sai sót ước lượng được ở trên (100.000 USD ) < mức trọng yếu (200.000 USD ) Trong trường hợp, kiểm toán viên có thể kết luận khoản phải thu không có sai sót trọng yếu, số liệu của đơn vị vẫn hợp lý
Trọng yếu là một tính từ chỉ sự vật này là quan trọng hơn sự
vật khác, sai sót này là nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến
báo cáo tài chính Mức trọng yếu là danh từ chỉ số tiền mà
sai phạm dưới mức đó, kiểm toán viên có thể chấp nhận bỏ qua, ngược lại kiểm toán viên sẽ không chấp nhận và yêu cầu điều chỉnh
3 Trình tự và phương pháp xác định, sử dụng mức trọng yếu
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/5)
Bước 1: Ước tính ban đầu về mức trọng yếu của báo cáo tài
chính_ PM (mức trọng yếu ban đầu)
Trang 8Mức trọng yếu ban đầu thường được tính trên cơ sở tài sản, doanh thu hoặc lợi nhuận, không thể xác định mức trọng yếu chung cho toàn bộ báo cáo tài chính mà chỉ có thể xác định mức trọng yếu cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính Dưạ vào tiêu thức nào để xác định mức trọng yếu cũng có một tác dụng nhất định.
• Tài sản: phản ánh năng lực về mặt tài chính
• Lợi nhuận: phản ánh kết quả hoạt động Đây là tiêu thức có tính thuyết phục nhiều nhất vì nó phản ánh kết quả cuối cùng của doanh nghiệp Tuy nhiên nếu doanh nghiệp lỗ thì căn cứ vào đâu để xác định mức trọng yếu Do đó trong trường hợp này phải căn cứ vào tài sản hoặc doanh thu.
Ngoài ra mức trọng yếu còn được căn cứ vào đặc điểm của ngành nghề.
Ví dụ:
DN sản xuất
Siêu thị Cty tài
chính 5% lợi nhuận bình quân
0,5% tổng tài sản
0,5% vốn chủ sỡ hữu
150 200 210
240 220 240
3560 35760 2680
Trang 9tỷ số giữa số lớn nhất và
số bé nhất
Phương pháp nghiên cứu: phối hợp giữa doanh thu và tài sản
Số lớn hơn giữa tổng TS và
DT Từ Đến
Mức trọng yếu A là số
tiền vượt khỏi của 0
0 1780 3970 8300 18400 38300
+0,59 A +0,031 A +0,0214 A +0,0145 A +0,0100 A +0,0067 A
0 30.000 100.000 300.000 1.000.000 3.000.000
Ví dụ: tổng tài sản của doanh nghiệp là 250.000 USD, doanh thu
là 750.000USD vậy số lớn hơn giữa tài sản và doanh thu là 750.000 USD
Mức trọng yếu:
8300 + 0,0145 x (750.000 - 300.000) = 14.825 USD (bằng 5% tổng tài sản và 1% doanh thu)
Các số liệu tổng tài sản và doanh thu có thể là số liệu thực tế hay số liệu dự kiến Trong trường hợp việc kiểm toán được tiến
Trang 10hành trước khi kết thúc niên độ thì phải lấy số liệu dự kiến, sau đó điều chỉnh lại.
Bước 2: Xác định mức trọng yếu của từng khoản mục _ TE ( còn
gọi là sai sót tối đa có thể chấp nhận được )
Các phương pháp xác định TE
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/6)
(1)Phương pháp phân bổ PM cho TE
Ví dụ: bảng cân đối kế toán của công ty A vào 31/12/1999
Tài sản Tiền mặt 10.000 ( 10% ∑ TS) Nợ phải thu 40.000 ( 40% ∑ TS) Hàng tồn kho 20.000 ( 20% ∑ TS) Tài sản cố định 30.000 ( 30% ∑ TS) Tổng tài sản 100.000
Giả sử PM = 5% tổng tài sản = 5% x 100.000 = 5.000 USD
Điều này có nghĩa báo cáo tài chính không được sai quá 5.000 USD hay tổng tài sản có thể giao động từ 95.001USD đến 104.999 USD.
Trang 11Mức trọng yếu được phân bổ cho từng khoản mục như sau:
Khoản mục TE Tiền 500 ( 5000 X 10%) Nợ phải thu 2.000 ( 5000 X 40%) Hàng tồn kho 1.000 ( 5000 X 20%) Tài sản cố định 1.500 ( 5000 X 30%)
Nếu tất cả các sai sót trên các khoản mục đều thấp hơn mức sai sót được phân bổ và tổng sai sót phát hiện < mức trọng yếu thì kiểm toán viên vẫn chấp nhận sai sót này.
Trên logic thì phương pháp này khá hợp lý nhưng thường thì các công ty kiểm toán không dùng phương pháp này.
• Aûnh hưởng của các sai sót không phải lúc nào cũng cùng chiều nhau có sai sót làm tăng giá trị tài sản những cũng có sai sót làm giảm giá trị tài sản
Trang 12Vì vậy, các công ty kiểm toán thường xác định mức trọng yếu cho từng khoản mục bằng tỷ lệ % TE
Tiền mặt 10% PM = 10% x 5.000 = 500
Nợ phải thu 50% PM = 50% x 5.000 = 2.500
Hàng tồn kho 50% PM = 50% x 5.000 = 2.500
Tài sản cố định 50% PM = 50% x 5.000 = 2.500
Kiểm toán viên sẽ dưạ vào kinh nghiệm và sự xét đoán nghề nghiệp để chọn tỷ lệ % TE Nếu TE càng nhỏ thì đòi hỏi phải kiểm toán thật chặt chẽ, không cho phép có sai sót.
• Đối với những khoản mục khó xảy ra sai sót: cho TE lớn
• Đối với những khoản mục dễ xảy ra sai sót: Cho TE nhỏ
Bước 3: Ước tính mức sai lệch trong từng khoản mục.
( Giới thiệu lại đèn chiếu Audit IV/5)
Có hai loại sai lệch
• Sai lệch đã xác định: là những sai lệch mà kiểm toán
viên phát hiện ra những đơn vị không chịu điều chỉnh hoặc những sai lệch mà kiểm toán viên thấy
Trang 13không trọng yếu nên không yêu cầu đơn vị điều chỉnh.
• Sai lệch dự kiến: là những sai lệch của tổng thể mà
kiểm toán viên ước tính suy ra từ kết quả kiểm tra mẫu
⇒ Tổng sai lệch chưa điều chỉnh = sai lệch đã xác định + sai lệch dự kiến
Bước 4: Ước tính mức sai lệch tổng hợp trên báo cáo tài chính.
Tổng hợp ảnh hưởng của tất cả những sai lệch đến tài sản, doanh thu hay lợi nhuận Tuỳ theo chỉ tiêu lựa chọn để phân tích, xem xét ảnh hưởng của chúng đến báo cáo tài chính, sau đó so sánh mức sai lệch tổng hợp với mức trọng yếu.
5 Bước: Tuỳ theo kết quả so sánh để kiểm toán viên đưa ra kết luận về báo cáo tài chính
• Chấp nhận toàn bộ
• Chấp nhận có loại trừ
• Từ chối đưa ra ý kiến
Trang 14Ví dụ: (tiếp theo ví dụ trên)
Sau khi kiểm tra, kiểm toán viên phát hiện được hai khoản sai lệch và đã yêu cầu đơn vị điều chỉnh những đơn vị không chịu điều chỉnh, bao gồm:
• Khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi: 500
• Doanh nghiệp hạch toán sai một tài sản cố định 500
Các sai sót dự kiến do kiểm toán viên xác định thông qua phân tích mẫu như sau:
Tiền mặt 300 Nợ phải thu 1.000
Hàng tồn kho 2.000 Tổng 3.300 Tình huống 1:
SL dự kiến
Tổng sai lệch Tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho
10%
50%
50%
500 2.500 2.500
500 -
300 1.000 2.000
300 1.500 2.000
Trang 15TSCĐ 50% 2.500 500 - 500
Kết luận: Vì tổng sai lệch (4.300 USD) < mức trọng yếu (5.000
USD ) và sai lệch từng khoản mục < mức phân bổ nên kiểm toán viên có thể phát hành báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần
Tình huống 2:
Tổng hợp tình hình Khoản mục Lập kế hoạch
xét đoán
Kết quả kiểm tra
SL đã xác định
SL dự kiến Tổng sai
lệch Tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho
500 - 1.500
-300 1.000 2.000 -
300 1.500 2.000 1.500
Kết luận: Vì tổng sai lệch (5.300 USD) > mức trọng yếu (5.000
USD ) nên kiểm toán viên có thể phát hành báo cáo kiểm toán
Trang 16không chấp nhận vì sai sót đã vượt mức cho phép, báo cáo tài chính của đơn vị không trung thực.
Tuy nhiên, trong thực tế, kiểm toán viên không làm theo cách như trên Họ sẽ tuỳ theo trường hợp mà chọn một trong hai cách giải quyết sau:
• Thuyết phục đơn vị điều chỉnh lại những sai sót đã xác định
• Tăng cỡ mẫu với hy vọng sai lệch dự kiến sẽ giảm Phương án này không chắc chắn 100% sẽ mang lại kết quả như mong muốn, lại phải tốn kém chi phí Trong trường hợp này, có thể hai bên sẽ phải thoả thuận lại phí kiểm toán
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/8)
Tình huống 3:
Tổng hợp tình hình Khoản mục Lập kế hoạch
xét đoán
Kết quả kiểm tra
SL đã xác định
SL dự kiến
Tổng sai lệch Tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho
200 1.000 -
-300 1.000 2.000 -
300 1.200 3.000 -
Trang 17Kết luận: Vì tổng sai lệch (4.500 USD) < mức trọng yếu (5.000
USD ) nhưng mức sai lệch hàng tồn kho (3.000 USD ) > mức trọng yếu cho phép (2.500 USD ) nên kiểm toán viên có thể phát hành báo cáo kiểm toán chấp nhận có loại trừ khoản mục hàng tồn kho
Tình huống 4:
Tổng hợp tình hình Khoản mục Lập kế hoạch
xét đoán
Kết quả kiểm tra
SL đã xác định
SL dự kiến Tổng sai
lệch Tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho
500 - 1.000
-300 1.000 2.000 -
300 1.500 2.000 1.000
Kết luận: Vì tổng sai lệch (4.800 USD) < mức trọng yếu (5.000
USD ) và mức sai lệch từng khoản mục < mức trọng yếu cho phép Tuy nhiên, ở trường hợp này rất nguy hiểm vì khoảng cách từ 4.800 USD đến 5.000 USD rất nhỏ, không đảm bảo an toàn cho kiểm toán viên đưa ra một kết luận cụ thể Vì vậy, để hạn chế rủi
Trang 18ro, kiểm toán viên sẽ xử lý giống tình huống 2: phát hành báo cáo kiểm toán không chấp nhận.
Khoảng cách an toàn cho phép tuỳ thuộc rất nhiều vào sự xét đoán và kinh nghiệm của kiểm toán viên
A.RỦI RO KIỂM TOÁN
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/9)
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên có thể không phát hiện được những sai sót trọng yếu có ảnh hưởng báo cáo tài chính,
do đó đưa ra nhận xét không đúng về báo cáo tài chính của đơn vị
Vì kiểm toán luôn tồn tại những hạn chế tiềm tàng nên rủi ro là không thể nào tránh khỏi Nghiên cứu rủi ro để kiểm soát, giới hạn rủi ro trong một mức độ chấp nhận được là nhiệm vụ cần thiết của kiểm toán viên
Rủi ro kiểm toán là khả năng kiểm toán viên đưa ra nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính và sai sót này là trọng yếu.
Chú ý:
• Trường hợp báo cáo tài chính là trung thực, hợp lý mà kiểm toán viên lại cho là không trung thực, không hợp lý thì không phải lả rủi ro kiểm toán
• Trường hợp báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu nhưng kiểm toán viên không phát hiện được, do đó đã đưa ra ý kiến cho rằng báo cáo tài chính là trung thực và hợp lý Đó mới chính là rủi ro kiểm toán
Trang 19** Có hai mức độ rủi ro:
Rủi ro ở mức độ báo cáo tài chính
Rủi ro ở mức độ từng khoản mục
1. Rủi ro kiểm toán ở mức độ báo cáo tài chính (còn gọi là rủi
ro chung của hợp đồng )
Người ta nghiên cứu loại rủi ro này trên các vụ kiện trong lịch sử mà các kiểm toán viên đã từng thua kiện và người ta nhận thấy rằng rủi ro loại này thường gắn liền với mỗi đặc điểm của cuộc kiểm toán Có cuộc kiểm toán có rủi ro rất cao, có cuộc kiểm toán rủi ro rất thấp, thậm chí không có rủi ro
Do đó, để đối phó với rủi ro loại này, các kiểm toán viên phải nhận diện ra những đơn vị, loại hình doanh nghiệp và hoạt động có rủi ro cao căn cứ trên một số dấu hiệu Khi đã có dấu hiệu nhưng chưa chắc rủi ro sẽ xảy ra Tuy nhiên việc nghiên cứu chúng sẽ lưu ý cho kiểm toán viên thận trọng hơn
Trang 20Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro :
(1)Nhân tố về quản lý:
• Ơø những đơn vị, người quản lý không trung thực, có tai tiếng xấu về sự trung thực, có tiền sử gian lận
• Ơû những đơn vị mà quyền lực tập trung vào tay vào 1 người hay một nhóm người rất nhỏ và những người này có thể khuynh đảo, chi phối hệ thống kiểm soát nội bộ, làm cho nó mất tác dụng
• Ơû những đơn vị mà có sự thay đổi thường xuyên về cán bộ quản lý, nhất là cán bộ chủ chốt về kế toán bởi vì sự thay đổi thường xuyên về cán bộ quản lý sẽ làm cho hệ thống kiểm soát nội bộ bị rối loạn Hơn nữa cán bộ chủ chốt về kế toán, đặc biệt là kế toán trưởng rất nhạy cảm với những hành vi gian lận Sự thay đổi thường xuyên kế toán trưởng là dấu hiệu cho thấy đơn vị đang có những hành vi gian lận nghiêm trọng
(2)Các nhân tố về hoạt động
• Ơû những đơn vị có khả năng sinh lợi không tương xứng với đặc điểm ngành nghề hoặc với các doanh nghiệp khác
Trang 21• Ơû những đơn vị thuộc ngành nghề đang có sự chuyển biến nhanh chóng Phát triển quá nhanh mà quy chế kiểm soát không theo kịp, hơn nữa lợi nhuận tăng nhanh cũng đồng nghiã với rủi ro cao.
• Ơû những đơn vị đang có những vấn đề đặt ra về sự tồn tại (giải thể, phá sản)
(3)Các nhân tố về kế toán, kiểm toán:
• Ơû những đơn vị đang có tranh chấp, kiện tụng, tài sản và công nợ không rõ ràng
• Ơû những đơn vị chưa bao giờ hoặc không được kiểm toán định kỳ Do đó, sai sót và gian lận không được phát hiện kịp thời, trở thành hệ thống, rất khó xác minh và xử lý
Mục đích của việc xác định rủi ro ở mức độ báo cáo tài chính:
Quyết định xem có nên nhận lời kiểm toán hay không? Nếu rủi ro của đơn vị là rất cao thì tốt hơn hết là không nên nhận lời
Quyết định thời gian chiến lược và nhân sự cho cuộc kiểm toán Nếu rủi ro được đánh giá là cao thì phải chuẩn bị
• Thời gian: dài hơn các cuộc kiểm toán khác
• Nhân sự: huy động các kiểm toán viên có bản lĩnh, kinh
nghiệm nghề nghiệp
• Chiến lược: không kiểm theo kiểu thông thường mà phải
kiểm chính xác và dựa vào những bằng chứng có độ tin cậy cao nhất
Trang 222 Rủi ro kiểm toán ở mức độ từng khoản mục
Ví dụ: bài toán ôn thi
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/10)
Môn học có 20 chương Thầy giáo cho biết 80% khả năng đề sẽ nằm trong 10 chương Anh Tư Chăm đã học hết 10 chương đó và học kỹ thêm 6 chương nữa cho chắc ăn Ngoài ra, anh Tư còn ráng xem lướt qua 4 chương còn lại Vì chỉ xem lướt qua nên nếu đề ra trúng vào 4 chương này thì xác suất làm được chỉ khoảng20% Hỏi rủi ro thi rớt của anh Tư Chăm?
Xác suất để đề ra ngoài 10 chương: 20%
Xác suất để đề ra ngoài 6 chương: 40%
Xác suất anh Tư không làm được bài: 80%
⇒ Xác suất thi rớt: 20% x 40% x 80% = 6,4%
Anh Tư Chăm cho rằng, rủi ro thi rớt chỉ nên dừng lại ở 5% Do đó anh tiến hành tính lại số chương cần phải học thêm:
5% x 20 chương = 31,25% x 20 chương ≈ 7 chương 20% x 80%
Vậy anh Tư sẽ phải học thêm 7 chương nữa để xác suất thi rớt chỉ còn 5%
Sai sót muốn xuất hiện trên báo cáo tài chính phải lọt qua một số thủ tục:
Trang 23• Lọt qua được hệ thống kiểm soát nội bộ Vì hệ thống kiểm soát nội bộ luôn tồn tại những hạn chế vốn có, do đó không thể ngăn chặn hết tất cả các sai sót.
• Lọt qua được các thủ tục kiểm toán Vì kiểm toán cũng có những hạn chế tiềm tàng nên cũng không thể ngăn chặn hết sai sót
Do đó, kiểm toán viên sẽ có thể mắc phải rủi ro kiểm toán khi không phát hiện được những sai sót trọng yếu
Các sai sót xuất hiện trên báo cáo tài chính nhiều hay ít phụ thuộc vào:
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/11)
(1)Sai sót vốn có trong các khoản mục: phụ thuộc vào
• Tính chất mỗi khoản mục:
− Tính nhạy cảm của tài sản(tài sản nhạy cảm là những tài sản dễ thúc đẩy lòng tham của con người và dễ có gian lận) Đối với những tài sản có tính nhạy cảm cao thỉ rủi
ro rất lớn, làm tăng khả năng xảy ra gian lận và sai sót
− Tính phức tạp của nghiệp vụ Việc xử lý nghiệp vụ càng phức tạp bao nhiêu thì rủi ro gian lận và sai sót càng lớn Các nghiệp vụ ít xảy ra cũng tăng khả năng có gian lận và sai sót
− Việc tính toán đòi hỏi phải có các ước tính chủ quan như các khoản dự phòng, trích trước
• Ngành nghề kinh doanh:
Trang 24Ví dụ:
• Xem xét khoản mục tiền mặt tại quỹ ở 2 doanh nghiệp
− Công ty sản xuất thép: bán hàng có giá trị lớn, thanh toán qua ngân hàng → khả năng sai sót nhỏ
− Công ty thương mại bán lẻ: mỗi ngày phải thu chi một lượng tiền khổng lồ tại quỹ → khả năng sai sót lớn
• Xem xét khoản mục hàng tồn kho ở 2 doanh nghiệp
− Doanh nghiệp bán đồ hộp: phải lập dự phòng cho sự giảm giá của đồ hộp hết date
− Doanh nghiệp bán máy vi tính: : phải lập dự phòng cho sự giảm giá của máy tính do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
(2)Các thủ tục kiểm soát nội bộ có liên quan
Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì khả năng xảy ra sai sót và gian lận giảm và ngược lại
(3)Các thủ tục kiểm toán của kiểm toán viên
Chủ yếu là các thử nghiệm cơ bản Nếu kiểm toán viên tăng cường các thủ tục kiểm toán thì khả năng xảy ra các sai sót giảm
Các loại rủi ro kiểm toán ở mức độ từng khoản mục
• Rủi ro tiềm tàng: là khả năng có những sai lệch trọng yếu
trên báo cáo tài chính mà chưa xét đến các thủ tục kiểm soát nội bộ có liên quan Rủi ro tiềm tàng phản ánh sai sót vốn có của khoản mục Vì vậy rủi ro tiềm tàng cũng phụ thuộc vào tính chất của khoản mục và đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Trang 25• Rủi ro kiểm soát: là khả năng xảy ra những sai sót trọng yếu
trên các báo cáo tài chính mà hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện được Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào hệ thống kiểm soát nội bộ Nếu kiểm soát nội bộ yếu kém thì rủi ro kiểm soát sẽ cao và ngược lại, nếu kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát thấp
• Rủi ro phát hiện: là khả năng xảy ra các sai sót trọng yếu
trên báo cáo tài chính mà những thủ tục kiểm toán của kiểm toán viên không phát hiện được Rủi ro phát hiện phụ thuộc vào thủ tục kiểm toán Nếu tăng cường thủ tục kiểm toán thì rủi ro phát hiện sẽ giảm và ngược lại
Công thức xác định rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán = rủi ro tiềm tàng x rủi ro kiểm soát x rủi ro phát hiện
Ví dụ: Tại một doanh nghiệp
• Do trình độ kế toán còn yếu nên khả năng có sai sót trên các khoản mục là 50%
• Hệ thống kiểm soát nội bộ tương đối tốt nên khả năng có sai sót là 20%
• Xác suất để các kiểm toán viên mắc sai sót là 10%
⇒ Rủi ro kiểm toán = 50% x 20% x 10% = 1%
Bài tập:
Trang 26( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/12)
Trong mỗi tình huống dưới đây, hãy cho biết loại rủi ro tương ứng:
1 Khách hàng không phát hiện được các gian lận của nhân viên kịp thời vì tài khoản tiền gửi ngân hàng không được chỉnh hợp hàng tháng
Đáp án: rủi ro kiểm soát
2 Tiền dễ bị đánh cắp hơn hàng tồn kho
Đáp án: rủi ro tiềm tàng
3 Thư xác nhận các khoản phải thu của kiểm toán viên không phát hiện được các sai sót trọng yếu
Đáp án: rủi ro phát hiện
4 Các khoản chi quỹ không được xét duyệt đúng
Đáp án: rủi ro kiểm soát
5 Không thực hiện sự phân công phân nhiệm đầy đủ
Đáp án: rủi ro kiểm soát
6 Thiếu các thử nghiệm cơ bản cần thiết
Đáp án: rủi ro phát hiện
7 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho sản phẩm chính của doanh nghiệp có khả năng bị lỗi thời
Đáp án: rủi ro tiềm tàng
Trang 278 Kiểm toán viên chọn mẫu không đại diện cho tổng thể nên đưa ra kết luận rằng khoản mục không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế khoản mục đó lại có sai sót trọng yếu
Đáp án: rủi ro phát hiện
Như vậy, để kiểm soát được rủi ro kiểm toán, các kiểm toán viên phải tìm cách tác động vào các yếu tố cấu thành nên nó
• Rủi ro tiềm tàng: kiểm toán viên không thể tác động được
vì rủi ro này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh và tính chất các khoản mục
• Rủi ro kiểm soát: kiểm toán viên cũng không thể tác động
được vì kiểm toán viên không có quyền can thiệp vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
• Rủi ro phát hiện: kiểm toán viên có thể tác động vào bằng
cách điều chỉnh các thủ tục kiểm toán
(Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/13)
⇒ Rủi ro phát hiện = Rủi ro kiểm toán
Rủi ro tiềm tàng x rủi ro kiểm soát
Ví dụ(tiếp ví dụ trên)
Trang 28Kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính chỉ cho phép sai sót 0,5%
⇒ Rủi ro phát hiện = 0,5%
Ví dụ: Qua quá trình tiếp xúc, kiểm toán viên đánh giá rủi ro tiềm tàng của một doanh nghiệp là 25%, rủi ro kiểm soát là 10%
⇒ Rủi ro phát hiện = 0,5%
25% x 10% = 20%
Với mức rủi ro phù hợp là 20% thì kiểm toán viên có thể sẽ giãm bớt các thủ tục kiểm toán trong phạm vi thích hợp
Bài tập:
(Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/14)
Dưới đây là 7 trường hợp kiểm toán viên dự định đánh giá rủi ro phát hiện
Trang 29toán tàng soát hiện
a Tính rủi ro phát hiện cho mỗi trường hợp trên
b Cho biết rủi ro phát hiện sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi có một sự tăng lên của mỗi loại rủi ro còn lại
c Sự thay đổi của rủi ro phát hiện có ảnh hưởng gì đến số lượng bằng chứng kiểm toán cần phải thu thập
Rủi ro kiểm soát
Rủi ro phát hiện
Trang 3010% 20% 50% 100%
b Từ công thức trên cho thấy, rủi ro phát hiện tỷ lệ thuận với rủi ro kiểm toán và tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
Như vậy, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát tăng thì rủi ro phát hiện giảm Còn khi rủi ro kiểm toán tăng thì rủi ro phát hiện cũng tăng
c Nếu rủi ro phát hiện cao thì số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập ít và ngược lại, nếu rủi ro phát hiện thấp thì kiểm toán viên phải thu thập thật nhiều bằng chứng kiểm toán
Các bộ phận của rủi ro phát hiện:
(Giới thiệu lại đèn chiếu Audit IV/13)
• Rủi ro lấy mẫu: phụ thuộc vào cỡ mẫu Kích thước cỡ mẫu sẽ
quyết định rủi ro lấy mẫu Nếu rủi ro lấy mẫu đòi hỏi thấp thì cỡ mẫu phải lớn và ngược lại, nếu rủi ro lấy mẫu được quyền cao thì cỡ mẫu nhỏ
• Rủi ro ngoài mẫu: là rủi ro sai sót không phải do bản thân
việc lấy mẫu, đó thường là những sai sót trong quá trình kiểm tra của kiểm toán viên Để đối phó với rủi ro ngoài mẫu phải tăng cường kiểm soát chất lượng các kiểm toán viên, đảm bảo
Trang 31trình độ nhân viên, phân công đúng người, đúng việc, giám sát chặt chẽ, hỗ trợ và tư vấn cho kiểm toán viên kịp thời.
⇒ Rủi ro phát hiện = rủi ro lấy mẫu + rủi ro ngoài mẫu
Chú ý: Rủi ro phát hiện không bao giờ bằng 0 vì luôn luôn tồn tại
rủi ro ngoài mẫu
Mục đích của việc đánh giá rủi ro phát hiện: giúp các kiểm
toán viên điều chỉnh thủ tục kiểm toán, cụ thể là:
• Xác định nội dung của thử nghiệm cơ bản: tuỳ theo mức rủi
ro phát hiện cho phép được là cao hay thấp để lựa chọn loại thủ tục kiểm toán:
− Nếu rủi ro phát hiện cho phép là cao thì kiểm toán viên có thể sử dụng thủ tục phân tích
− Nếu rủi ro phát hiện cho phép là thấp thì kiểm toán viên phải thực hiện các thử nghiệm chi tiết
• Xác định thời gian thực hiện các thử nghiệm cơ bản: tuỳ theo
mức độ rủi ro phát hiện cho phép mà kiểm toán viên sẽ quyết định thời điểm thực hiện các thử nghiệm cơ bản
− Nếu rủi ro phát hiện cho phép là cao thì có thể tiến hành các thủ tục kiểm toán trước khi kết thúc niên độ
− Nếu rủi ro phát hiện cho phép được là thấp thì phải tiến hành các thủ tục kiểm toán sau khi kết thúc niên độ
• Xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản: tuỳ theo
mức rủi ro phát hiện cho phép mà kiểm toán viên sẽ quyết định cở mẫu cho các thủ tục kiểm toán:
Trang 32− Nếu rủi ro phát hiện cho phép là cao thì kiểm toán viên có thể thu hẹp phạm vi kiểm toán thông qua việc giảm cỡ mẫu
− Nếu rủi ro phát hiện cho phép là thấp thì kiểm toán viên phải mở rộng phạm vi kiểm toán thông qua việc tăng cỡ mẫu
Kết luận:
(Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/15)
Rủi ro kiểm toán chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố:
Sai sót vốn có ( thể hiện bằng rủi ro tiềm tàng)
Kiểm soát nội bộ ( thể hiện thành rủi ro kiểm soát )
Thủ tục kiểm toán ( thể hiện thành rủi ro phát hiện)
Để kiểm soát rủi ro kiểm toán nằm trong một giới hạn cho phép, kiểm toán viên phải:
Đánh giá rủi ro tiềm tàng bằng cách tìm hiểu tính chất các khoản mục và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp
Đánh giá rủi ro kiểm soát bằng cách tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
Lựa chọn mức rủi ro phát hiện phù hợp, từ đó xác định rủi
ro lấy mẫu để điều chỉnh cỡ mẫu.
Ví dụ:
• Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là
Trang 33tăng cường các thủ tục kiểm toán, tăng cỡ mẫu và giảm rủi
ro ngoài mẫu đến mức thấp nhất
• Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là thấp thì rủi ro phát hiện cho phép cao: kiểm toán viên có thể giảm bớt các thủ tục kiểm toán
III GIAI ĐOẠN TIỀN KẾ HOẠCH
(Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/16)
Giai đoạn này bao gồm các bước để đi đến ký kết hợp đồng kiểm toán
1 Tiếp nhận khách hàng mới và duy trì khách hàng cũ
Đối với khách hàng mới: kiểm toán viên phải
• Tìm hiểu tính trung thực của người quản lý Kiểm toán viên không nên nhận lời kiểm toán cho một đơn vị mà người quản lý có tiền sử về gian lận
• Đánh giá rủi ro chung của hợp đồng(rủi ro kiểm toán ở mức độ báo cáo tài chính), các nhân tố quản lý, hoạt động, kế toán, kiểm toán
• Xem xét mức độ phức tạp của công việc và khả năng đáp ứng của kiểm toán viên Có những hoạt động rủi ro không cao những lại đòi hỏi những kỹ năng đặc biệt và những hiểu biết chuyên sâu về một lĩnh vực Nếu kiểm toán viên không đáp ứng được thì phải từ chối hợp đồng theo yêu cầu của đạo đức nghề nghiệp
Trang 34• Xem xét tính độc lập của kiểm toán viên có bị ảnh hưởng hay không? Kiểm toán viên nên từ chối những hợp đồng kiểm toán không đảm bảo tính độc lập của kiểm toán viên.
** Phương pháp tìm hiểu khách hàng mới:
− Tìm hiểu những thông tin có liên quan đến khách hàng thông qua báo chí, phương tiện thông tin, báo cáo tài chính mà khách hàng đã công bố
− Tìm hiểu qua ngưới thứ 3: ngân hàng, nhà cung cấp, cơ quan quản lý nhà nước
− Tiếp xúc với ủy ban kiểm toán của khách hàng để tìm hiểu tình hình đơn vị
− Tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm để tìm hiểu về tính trung thực của người quản lý và lý do mà hợp đồng kiểm toán không được tiếp tục sang năm nay Nếu người quản lý không cho kiểm toán viên tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm thì đây là lý do để kiểm toán viên xem xét lại khả năng nhận lời hay từ chối kiểm toán
Đối với khách hàng cũ: kiểm toán viên sẽ xem xét có nên nhận
lời tiếp tục kiểm toán hay không? Kiểm toán viên không nên nhận lời tiếp tục kiểm toán cho khách hàng nếu có sự thay đổi không có lợi như:
• Khách hàng đã thay đổi ngưới lãnh đạo
• Khách hàng đã thay đổi ngành nghề kinh doanh
• Khách hàng đang dính vào những vụ kiện tụng, tranh chấp phức tạp
Trang 352 Thoả thuận sơ bộ với khách hàng
Để thống nhất nội dung của hợp đồng kiểm toán và tránh các hiểu lầm về sau, kiểm toán viên phải gặp khách hàng để thoả thuận một số vấn đề như:
• Mục đích và phạm vi kiểm toán: kiểm toán viên không kiểm tra chung chung mà công việc được thực hiện trên một phạm
vi nhất định
• Giới hạn tiềm tàng của kiểm toán: kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra kết luận về tính trung thực và hợp lý của số liệu và tài liệu kế toán của đơn vị chứ không thể có kết luận về sự chính xác tuyệt đối
• Trách nhiệm của mỗi bên
− Đơn vị: hoàn thành báo cáo tài chính và cung cấp tài liệu cho kiểm toán viên
− Kiểm toán viên: kiểm tra và cung cấp báo cáo kiểm toán kịp thời
• Phí kiểm toán
• Các chi phí khác phát sinh sẽ do ai chịu( ví dụ chi phí đưa đón, ăn ở của kiểm toán viên, hồ sơ, tài liệu, thuê mướn chuyên gia…)
• Việc phối hợp của kiểm toán viên với nhân viên của khách hàng : kiểm toán viên có thể yêu cầu một vài nhân viên giúp đỡ cho công việc kiểm toán trong phạm vi cho phép
Trang 36• Ký kết hợp đồng kiểm toán: theo thông lệ trên thế giới, kiểm toán viên sẽ gửi thư hẹn kiểm toán để nhận lời kiểm toán cho khách hàng với những điều khoản được nêu ra Ở Việt Nam, kiểm toán viên sẽ ký kết hợp đồng kiểm toán với khách hàng để tránh những tranh cãi không cần thiết và là chứng cứ để giải quyết các tranh chấp.
IV GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN
(Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/17)
Mục tiêu của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Giai đoạn
này sẽ tập trung vào việc thiết kế các chương trình kiểm toán chi tiết nhằm đạt được 3 mục tiêu :
• Hữu hiệu: hoàn thành mục tiêu kiểm toán, phát hiện được các gian lận và sai sót trọng yếu
• Hiệu quả: tốn ít thời gian, chi phí và nhân lực
• Đúng thời gian
Việc lập kế hoạch kiểm toán có ý nghĩa:
• Giúp cho việc kiểm tra có trọng tâm
• Nhận diện được những vấn đề tiềm tàng
• Kiểm tra nhanh chóng sau khi đã nghiên cứu tổng thể
• Phân công trợ lý thích hợp
• Phối hợp công việc giữa các kiểm toán viên với nhau, giữa kiểm toán viên với các chuyên gia, giữa kiểm
Trang 37 Trình tự lập kế hoạch kiểm toán:
(Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/18)
1 Tìm hiểu khách hàng
(Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/19)
NỘI DUNG TÌM HIỂU:
a) Đặc điểm hoạt động của đơn vị: kiểm toán viên cần tìm hiểu các vấn đề sau:
• Ngành nghề kinh doanh của đơn vị: ngành nghề kinh doanh khả năng sẽ dẫn đến những đặc điểm khác nhau về kế toán Do đó sẽ cần đến các kiểm toán viên chuyên môn hóa về một lĩnh vực ngành nghề nào đó
• Loại hình của doanh nghiệp
• Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
• Hội đồng quản trị, sự phân chia trách nhiệm giữa ban giám đốc và hội đồng quản trị
• Các bên hữu quan: công ty mẹ, công ty con, công ty do các quan chức(hoặc thân nhân) trong đơn vị nắm quyền quản lý hoặc sỡ hữu và quản lý Những quan hệ này có thể làm cho báo cáo tài chính không trung thực Chuẩn mực kiểm toán đã quy định: đơn vị phải khai báo những nghiệp vụ có liên quan đến các bên hữu quan trong phần thuyết minh báo cáo tài chính để cung cấp những thông tin cho người