1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hoạch NHẬN THỨC và vận DỤNG của ĐẢNG TAVỀ QUY LUẬT QUAN hệ sản XUẤT PHÙ hợp với TRÌNH độ PHÁT TRIỂN của LỰNG LƯỢNG sản XUẤT TRONG CÔNG CUỘC đổi mới đất nước

32 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 125 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình thay thế, phát triển đi lên của lịch sử xã hội loài người từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa, đễn xã hội cộng sản tương lai, là do sự tác động của các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát tiển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến cơ bản nhất. I. BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT Nguyên cứu chủ nhĩa duy vật lịch sử chúng ta hiểu phương thức sản xuất là biểu hiện cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người là sự thống nhất giữa lưc lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng. Trong đó lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệm dùng để chỉ quan hệ mà C.Mác gọi là “quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội: Quan hệ của con người với tự nhiên và quan hệ của con người với con người. Lực lượng sản xuất lần đầu tiên được C.Mác nêu từ năm 1848 trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, nhưng nội dung của tác phẩm được ông nêu sâu sắc thêm trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, “Lao động làm thuê và tư bản”, “Tiền công và lợi nhuận” và đặc biệt là trong bộ “Tư bản”. Thông qua sự phân tích các yếu tố trong quá trình sản xuất C.Mác đã vạch ra bản chất của quá trình sản xuất . Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là sự thống nhất hữu cơ giữa lao động đã được tích luỹ và lao động sống, nhĩa là toàn bộ những yếu tố vật và người của nền sản xuất cần thiết để từ những đối tượng của tự nhiên sản xuất ra những vật có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người. Lực sản xuất bao gồm người lao động với những kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao động. Trình độ của lực lượng sản xuất phụ thuộc các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, mà người lao động là yếu tố quan trọng nhất, “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại”1. Người lao động giữ vị trí số một, là chủ thể tích cực, sáng tạo có vai trò quyết định nhất trong lực lượng sản xuất. Bởi lẽ, người lao động với lao động cơ bắp và lao động trí tuệ, cùng quá trình lịch sử lâu dài của xã hội loài người, trí tuệ hình thành phát triển cùng với lao động, làm cho lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao hơn; con người chế tạo ra các công cụ lao động, cải tiến đối tượng lao động, rồi chính con người quyết định việc sử dụng các phương tiện, công cụ lao động và nguyên vật liệu trong sản xuất; Không có con người với trí tuệ, biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động thì cũng không có bất cứ tư liệu lao động nào và quá trình lao động nào

Trang 1

TRIỂN CỦA LỰNG LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG CÔNG CUỘC

ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

Quá trình thay thế, phát triển đi lên của lịch sử xã hội loài người

từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độphong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa, đễn xã hội cộng sản tương lai, là

do sự tác động của các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sảnxuất phù hợp với trình độ phát tiển của lực lượng sản xuất là quy luậtphổ biến cơ bản nhất

I BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ

QUAN HỆ SẢN XUẤTNguyên cứu chủ nhĩa duy vật lịch sử chúng ta hiểu phương thứcsản xuất là biểu hiện cách thức con người thực hiện quá trình sản xuấtvật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người là sựthống nhất giữa lưc lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệsản xuất tương ứng Trong đó lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

là các khái niệm dùng để chỉ quan hệ mà C.Mác gọi là “quan hệ song

trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội: Quan hệ của con người với tự

nhiên và quan hệ của con người với con người

Lực lượng sản xuất lần đầu tiên được C.Mác nêu từ năm 1848

trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, nhưng nội dung của tác phẩm

Trang 2

được ông nêu sâu sắc thêm trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết

học”, “Lao động làm thuê và tư bản”, “Tiền công và lợi nhuận” và đặc

biệt là trong bộ “Tư bản” Thông qua sự phân tích các yếu tố trong quá

trình sản xuất C.Mác đã vạch ra bản chất của quá trình sản xuất

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tựnhiên là sự thống nhất hữu cơ giữa lao động đã được tích luỹ và laođộng sống, nhĩa là toàn bộ những yếu tố vật và người của nền sản xuấtcần thiết để từ những đối tượng của tự nhiên sản xuất ra những vật cókhả năng thoả mãn những nhu cầu của con người Lực sản xuất baogồm người lao động với những kỹ năng lao động của họ và tư liệu sảnxuất trước hết là công cụ lao động Trình độ của lực lượng sản xuấtphụ thuộc các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, mà người lao động

là yếu tố quan trọng nhất, “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể

nhân loại”1

Người lao động giữ vị trí số một, là chủ thể tích cực, sáng tạo cóvai trò quyết định nhất trong lực lượng sản xuất Bởi lẽ, người laođộng với lao động cơ bắp và lao động trí tuệ, cùng quá trình lịch sử lâudài của xã hội loài người, trí tuệ hình thành phát triển cùng với laođộng, làm cho lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao hơn; conngười chế tạo ra các công cụ lao động, cải tiến đối tượng lao động, rồichính con người quyết định việc sử dụng các phương tiện, công cụ laođộng và nguyên vật liệu trong sản xuất; Không có con người với trítuệ, biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động thì cũng không có bất cứ

1 V.I Lênin: to n t àn t ập , Nxb tiến bộ ,Mãtcơva, 1977, tập 38, tr 430

Trang 3

tư liệu lao động nào và quá trình lao động nào Công cụ lao động dù cónăng động đến đâu cũng là sản phẩm của đôi bàn tay và khối óc củacon ngươì, với bản chất của con người là hoạt động có mục đích vàsáng tạo, bằng chí tuệ và các thế hệ công cụ sản xuất mới nhằm tácđộng vào tự nhiên có hiệu quả hơn Chính sự phát triển không ngừngcủa công cụ sản xuất từ thủ công đến cơ khí và ngày nay là tự độnghoá, đưa xã hội loài người chuyển qua nền văn minh từ thấp đến cao,

tự nó cũng đã nói lên tính vô tận và sức mạnh vô cùng to lớn của trítuệ con người

Trình độ người lao động thể hiện ở sự khéo léo, ở kỹ năng kỹxảo, kinh nghiệm mà mỗi người lao động tích luỹ, rút kinh nghiệm vàđặc biệt nhất là trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp thu ứng dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất Khi sự phát triểncủa cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học kỹ thuật, rồi cáchmạng công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, cũng như để sửdụng có hiệu quả những thành tựu do các cuộc cách mạng đó đem lại,trình độ năng lực trí tuệ của người lao động không ngừng được nângcao, phần giá trị do lao động trí tuệ của họ tạo ra trong quá trình sảnxuất và được kết tinh ở sản phẩm ngày càng tăng: Từ chỗ chiếm tỷ lệkhông đáng kể ở thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp, ngày nay ở cácnước phát triển, đối với một số loại sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao,hàm lượng giá trị do trí tuệ tạo ra và được kết tinh trong sản phẩm cóthể đạt tới 80 - 90% tổng gía trị sản phẩm đối với các loại sản phẩm

đó, những vật liệu, năng lượng, lao động cơ bắp chỉ tạo thành từ 10

Trang 4

-20% giá trị sản phẩm 2 Hiện nay với tốc độ phát triển như vũ bão củacuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghện hiện đại đang dẫncác nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển vận động đến nềnkinh tế trí thức ở những nước này, lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỷ

lệ cao, nguồn lợi mà họ thu được từ chất xám chiếm 1/2 giá trị tài sảnquốc gia, ví như ở Nhật Bản riêng nguồn lợi do tin học mang lại đãchiếm tới 40%3 Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đạt tới mức, nhờ nó con

người có thể sáng tạo ra những máy móc “ Bắt trước” hay phỏng theo

những đặc tính trí tuệ của chính con người, rõ ràng bằng những kỹthuật, công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra

mà nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sửphát triển của mình

Tư liện sản xuất bao gồm tư liện lao động và đối tượng lao động,trước đây đối tượng lao động chủ yếu là những bộ phận của tự nhiên,ngày nay đối tượng lao động ngày càng là sản phẩm của lao động, củakhoa học công nghệ mà hàm lượng vật liệu tự nhiên trong đó ngàycàng giảm, không phụ thuộc một cách tiên quyết vào nguồn tài nguênthiên nhiên mà phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên con người với nănglực trí tuệ cao Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiệnlao động , trong đó công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất và cáchmạng nhất Công cụ lao động là kết tinh trí tuệ của con người, nó docon người chế tạo ra, nhưng khi sử dụng nó đã thiết thực giúp conngười nối dài bàn tay và các khí quan của mình Do đó trình độ phát

2 tạp trí triết học , số 3,năm 2003, tr 22

3 tạp trí triết học, số 1,năm 1993, trang24

Trang 5

triển của công cụ lao động là thước đo trình độ tự nhiên của conngười ,nó là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, do sự hoàn thiệncủa công cụ sản xuất gây ra những biến đổi sâu sắc trong lực lượngsản xuất và dẫn tới những cải biến trong xã hội, những sự thay đổitrong các quan hệ sản xuất, các hình thức kinh tế xã hội Để giảm bớtlao động nặng nhọc và nâng cao năng xuất lao động, con ngưòi khôngngừng cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sản xuất mới.Ngày nay quá trình tư động hoá ở nhiều nước phát triển đã ở vào giaiđoạn cao, công cụ lao động ngày càng hiện đại, đồng thời các phươngtiện lao động như đường xá, cầu cảng, giao thông liên lạc cũng đượchiện đại hoá tương ứng Do vậy đòi hỏi người lao động phải khôngngừng nâng cao trình độ để sử dụng được những tư liệu hiện đại đó.Khi lực lượng ở trình độ càng cao thì phân công lao động hoácàng sâu, quy mô sản xuất càng mở rộng, việc ứng dụng kỹ thuật hiệnđại vào sản xuất ngày càng phổ biến Một vấn đề cần đề cập đến ở đây

là tính chất của lực lượng sản xuất, khi người lao động trình độ cònthấp, sử dụng công cụ thủ công là chủ yếu, phân công lao động kémphát triển, từng người có thể đảm nhiệm tất cẩ các khâu của quá trìnhsản xuất thì lực lượng sản xuất mang tính cá thể Khi sản xuất dựa trên

kỹ thuật cơ khí hiện đại, nhiều người lao động cùng tham gia vào mộtdây truyền sản xuất, mỗi người đảm nhận một khâu trong dây truyền

đó, chuyên môn hoá ngày càng sâu thì lực lượng sản xuất mang tínhchất xã hội hoá ngày càng rộng

Trang 6

Qua nguyên cứu lịch sử chúng ta thấy rằng lực lượng sản xuấtnhất là công cụ sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất có ýnghĩa quyết định năng xuất lao động, những công cụ chỉ có thể trở nên

“sống động” phát huy được tác dụng khi kết hợp được với nhân tố conngười, bởi vì ngay từ thời kỳ mà công cụ sản xuất hoàn toàn là thủcông thì nó đã không ngừng được con người cải tiến, sử dụng các chấtliệu khách nhau, làm ra nhiều kiểu dáng khác nhau cho phù hợp vớiđều kiện cụ thể cho quá trình lao động sản xuất được dễ dàng hơn vànăng xuất cao hơn Khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp thì các công cụ và các phương tiện ngày càng phong phú đadạng, các thế hệ máy móc được đổi mới hoàn thiện rất nhanh chóng vàtính chất xã hội hoá ngày càng cao.Chúng ta thấy rõ rất nhiều sảnphẩm công nghiệp hiện nay từ khi sản xuất từng chi tiết đến khi đượclắp ráp hoàn thành là sự kết hợp liên kết sản xuất của nhiều nhà máy,nhiều công ty thậm trí được thực hiện ở rất nhiều nước khác nhau trênthế giới

Về quan hệ sản xuất, trước hết xét về mặt khái niệm quan hệ sảnxuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế vật chất giữa con người với conngười trong quá trình sản xuất Chúng ta thấy rằng trong quá trình vậnđộng và phát triển của xã hội , con người phải quan hệ với tự nhiên,dựa vào tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất, từng bước nâng caođiều kiện sống của mình Trong quá trình đó, con người không tồn tạimột cách độc lập mà có quan hệ với gắn bó với nhau Bởi vậy mà

C.Mác đã viết: “Trong sản xuất người ta không chỉ quan hệ với tự

Trang 7

nhiên Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất chỉ diễn ra trong

Như vậy là trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, con người

dù muốn hay không cũng buộc phải thực hiện các mối quan hệ nhấtđịnh với nhau Quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất,phân phối trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất đó gọi là quan hệ sảnxuất Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mốiquan hệ giữa người với người trong qúa trình sản xuất trên ba mặt cơbản:

- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

- Quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất

- Quan hệ về phân phối kết quả sản xuất

Ba nội dung trên là ba mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, chúng cómối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ đối với tư liệu sản xuấtđóng vai trò quyết định Sau đây lần lựợt chúng ta phân tích làm rõ nộidung trên ba mặt của quan hệ sản xuất

Về mặt quan hệ đối với tư liệu sản xuất, quan hệ sở hữu đối với

tư liệu sản xuất nói lên rằng trong quá trình sản xuất, người lao độngđang sử dụng những tư liệu sản xuất đó là của ai, và ai là người cóquyền định đoạt tư liệu sản xuất đó, hoặc là quan hệ sở hữu phản ánh

4 C.Mác v àn t Ăngghen,to n t àn t ập, tập 6, Nxb chính trị quốc gia h n àn t ội 1993,tr 552

Trang 8

quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất chứa đựng các quyền chiếm hữuquyền sử dụng và quyền định đoạt Các quyền này có thể hợp nhấttrong một chủ thể, cũng có khi tách rời nhau và thuộc các chủ thể khácnhau, nhưng quyền định đoạt có tính quyết định bao giờ cũng thuộc vềngười sở hữu và lợi ích kinh tế xã hội của người sở hữu.

Trong quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuấtđóng vai trò quyết định vì nó quyết định bản chất của quan hệ sảnxuất Bởi vậy cho nên quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơbản, quan hệ trung tâm của quan hệ sản xuất Chính nó quyết định mụcđích, hình thức tổ chức kinh doanh, phương thức quản lý, chi phối việcphân phối sản phẩm làm ra, cũng tức là quyết định địa vị của các tậpđoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội Trong xã hội có phân chiagiai cấp, giai cấp nào nắm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủyếu thì giai cấp đó nắm quyền chi phối tổng sản phẩm xã hội, nắmquyền thống trị xã hội Tuy nhiên trong sự tác động lẫn nhau của cácyếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, thì quan hệ về tổ chức và quản lý,quan hệ phân phối sản phẩm cũng có vai trò rất quan trọng

Quá trình phát triển của lịch sử từ trước đến nay ta thấy có hailoại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất là sở hữu công cộng và

sở hữu cá nhân Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất phâncông lao động của xã hội đã làm cho các hình thức sở hữu về tư liệusản xuất ngày càng ttrở nên đa dạng

Trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất thấpkém, đối với con người giá trị tự nhiên là thần bí xa lạ Để chống đỡ

Trang 9

với những hiện tượng tự nhiên và tồn tại, con người phải dựa vàonhau Các hoạt động kinh tế chủ yếu mang tính chất chiếm đoạt cácsản phẩm có sẵn trong tự nhiên như săn bắt hái lượm Do vậy chỉ cómột hình thức sở hữu duy nhất là sở hữu công cộng của thị tộc bộ lạc.Nhưng từ xã hội nô lệ qua xã hội phong kiến đến xã hội tư bản, do lựclượng sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càngsâu sắc thì các hình thức sở hữu khác ra đời và ngày càng phong phú,

đó là sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước và các hình thức sở hữu hỗnhợp Ngay hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất cũng có nhiềuloại khác nhau, đó là sở hữu nhỏ của những người nông dân, của cácthủ công cá thể, sở hữu của các chủ nô lệ, các điền chủ thời phong kiến

và sở hữu của các nhà tư bản Các hình thức sở hữu tư nhân trên đây

đã hàm chứa các kiểu quan hệ sản xuất khác nhau giữa người vớingười trong quá trình sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất cho xẫhội, tương ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Hiện nay, vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất có thêm nội dung vàtính chất mới đó là sở hữu trí tuệ Bởi tri thức đang được coi là nguồnlực kinh tế chủ yếu, các nhân tố sản xuất truyền thống là đất đai, laođộng và tư bản không bị mất, nhưng tầm quan trọng của nó không cònnhư cũ, các yếu tố sản xuất truyền thống phân theo quy luật lợi nhuậngiảm dần, còn tri thức lại tạo ra cơ chế lợi nhuận tăng dần Trong nềnkinh tế trí thức, trí tuệ là nguồn lực cơ bản nhất của quốc gia Ai nắmđược trí tuệ, thì có khả năng điều tiết chi phối nó và người đó có sứcmạnh chi phối sự phát triển của xã hội theo mục tiêu và lợi ích của

Trang 10

mình Điều có phần quan trọng hơn là trong xã hội tri thức, người laođộng làm thuê sở hữu công cụ sản xuất - trí tuệ của bản thân họ CácMác đã có phát kiến vĩ đại cho rằng, người công nhân nhà máy không

có và không thể sờ hữu tư liệu sản xuất và do vậy, bị “tha hoá” Ôngchỉ rõ người công nhân không thể sở hữu máy hơi nước và không thểlấy máy hơi nước đi cùng với mình, khi họ chuyển từ công việc nàysang công việc khác Nhà tư bản cần phải sở hữu động cơ hơi nước, vàcần phải kiểm soát nó Thế nhưng những đầu tư thực sự trong xã hộitri thức không phải vào máy móc hay công cụ, mà chính vào ngườicông nhân tri thức, không có người công nhân tri thức thì cho dù máymóc có hiện đại và tinh vi đến đâu chăng nữa cũng không thể hoạtđộng được

Về quan hệ trong tổ chức và quản lý, chúng ta thấy rằng thíchứng với một kiểu quan hệ sở hữu là một chế độ tổ chức và quản lý sảnxuất nhất định Trong các chế độ mà nền kinh tế dựa trên chế độ tưhữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì người sở hữu tư liệu sản xuất là kểbóc lột còn người lao động không có tư liệu sản xuất là người bị quản

lý và bị bóc lột Điển hình của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất tronglịch sử phát triển xã hội loài người phải kể đến ba loại hình là sở hữuchiếm hữu nô lệ, sở hữu phong kiến và sở hữu tư nhân tư bản chủnghĩa Trong các chế độ xã hội mà tư liệu sản xuất dựa trên chế độcông hữu thì mọi thành viên đều có vị trí bình đẳng trong tổ chức laođộng xã hội và phân phối sản phẩm Chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất đã từng tồn tại trong buổi đầu của xã hội loài người - chế độ công

Trang 11

xã nguyên thuỷ, và trong chế độ cộng sản chủ nghĩa mà loài ngườiđang hướng tới mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội

Tất nhiên thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất trong chế

độ cộng sản chủ nghĩa, thực hiện bình đẳng trong tổ chức quản lý vàcác mặt quan hệ khác là một quá trình và nó chỉ có thể thực hiện tưthấp đến cao thông qua nhiều bước trung gian qúa độ

Tuy phụ thuộc vào quan hệ đối với tư liệu sản xuất nhưng trongthực tế quan hệ tổ chức và quản lý cũng có vai trò rất quan trọng Ngay

cả khi chế độ sở hữu chưa có gì thay đổi nếu có một phương thức quản

lý hợp lý thì sản xuất vẫn phát triển Trong nhiều trường hợp nó là yếu

tố quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ và hiệu quả của nền kinh tế,

và khi lợi ích của người lao động mâu thuẫn với chủ sở hữu và quản lýthì quan hệ tổ chức được điều chỉnh, mâu thuẫn được tháo gỡ thì quan

hệ trên mang tính hợp tác, dân chủ hơn và do vậy có thể khai thácđược tính chủ động sáng tạo của người lao động

Về quan hệ phân phối sản phẩm, là cách thức phân phối kết quảsản xuất cho những người có quan hệ với trình độ đó và điều đó phụthuộc vào quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất Do hình thức sở hữurất đa dạng nên phương thức phân phối cũng rất phức tạp Chính ởnhững khía cạnh này đã bộc lộ những mâu thuẫn về lợi ích giữa nhữngngười tham gia vào quá trình sản xuất và đã xuất hiện các quan hệkhác nhau trong cách thức phân phối Trong lịch sử phát triển của xãhội , người ta đã từng biết tới các phương thức phân phối gắn với chế

độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất thuộc giai cấp chủ nô, của giai cấp

Trang 12

địa chủ phong kiến và giai cấp tư sản, Dưới chế độ bóc lột, người laođộng bị chèn ép, bị bóc lột và quan hệ phân phhối là không bình đẳng.Sống dưới chế độ tư bản người lao động được tự do về thân thể, tự do

đi làm thuê, việc phân phối được tính theo chi phí sản xuất hàng hoá

và nó được xác định thông qua thị trường Các Mác đã bóc trần cáchphân phối mà ở đó nhà tư bản đã chiếm đoạt gía trị thặng dư do bóc lộtkhông công của người công nhân, ở đó tuy người lao động tự do vềthân thể nhưng lại bị trói chặt hơn vào guồng máy kinh tế tư bản vàphương thức phân phối mang tính bóc lột trở nên tinh vi hơn được cheđậy kín hơn

Trong ba nội dung trên đây của quan hệ sản xuất thì quan hệ sởhữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định nó chi phối cácmặt khác của quan hệ sản xuất Khi chế độ sở hữu thay đổi căn bản thìchế độ quản lý phân phối cũng thay đổi căn bản, chẳng hạn như khichế độ sở hữu công cộng kiểu thị tộc bộ lạc được thay thế bằng chế độ

sở hữu tư nhân dưới chế độ chiếm hữu nô lệ thì quan hệ quản lý khôngnhư trước đây nữa, mà tính chất thống trị , chuyên chế và quan hệphân phối mang tính chất bất bình đẳng có lợi cho kẻ nắm giữ tư liệusản xuất

Sau chế độ công xã nguyên thuỷ nền kinh tế xã hội tồn tại nhiềuhình thức quan hệ sản xuất, nhiều thành phần kinh tế khác nhau, phảnánh trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất Giữa nhiều mối quan

hệ tác động qua lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất CácMác và Ănghen đã nhận thấy có một mối quan hệ bản chất tất yếu,

Trang 13

mối quan hệ này xác lập quy luật liên hệ giữa hai mặt của nền sảnxuất, đó là quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Được biểu hiện trình độ lực lượng sảnxuất quyết định quan hệ sản xuất

Giữa nhiều mỗi Quan hệ tác động qua lại của quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển cuả lực lượng sản xuất không chỉ có sự tác độngqua lại giữa chúng phải xác lập được mối quan hệ Sự phù hợp nàyđược xét từ lực lượng sản xuất, phải lấy lực lượng sản xuất làm chuẩn

Sự phù hợp do yêu cầu của lực lượng sản xuất đặt ra nhằm đáp ứng

yêu cầu của lực lượng sản xuất Các Mác viết : “ Trong sự sản xuất xã

hội ra đời sống của mình Con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất những quan hệ này phù hợp với một trình độ nhất định của lực

cầu của quy luật là sợi dây liên hệ quy định sự hình thành của quan hệsản xuất và buộc quan hệ sản xuất phải tất yếu biến đổi theo sự biếnđổi của lực lượng sản xuất, nếu không có sự phù hợp thì các mối quan

hệ của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất sẽ là không xác định,

không có “ điểm tựa” để tác động lẫn nhau của lực lượng sản xuất,

quan hệ sản xuất và phương thức sản xuất

Quan hệ sản xuất, do tính thể chế, tính pháp luật nên chậm biếnđổi, trong khi đó lực lượng sản xuất thường xuyên biến đổi, phát triển,nên sẽ phá vỡ trạng thái phù hợp, tạo ra mâu thuẫn Đó là mâu thuẫn

5 C.Mác v àn t Ăngghen tuyển tập, gồm 6 tập, tập 2 Nxb sự thật h n àn t ội,1981 tr637

Trang 14

tích cực, mâu thuẫn do sự phát triển của lực lượng sản xuất tạo ra, đòihỏi phải được tiếp tục phát triển; lúc đó yêu cầu phù hợp của quy luậtđòi hỏi phải thay quan hệ sản xuất đã không còn tác dụng, lỗi thờibằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản

xuất Các Mác viết : “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng

các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó, - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó

phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Các Mác và Ăng ghen viết : “ Chúng ta vẫn

xuất phát từ công cụ sản xuất và ở đây đã thể hiện rõ tính tất yếu của

sở hữu tư nhân, ở những giai đoạn công nghiệp nhất định Trong công nghiệp khai khoáng, sở hữu tư nhân còn hoàn toàn ăn khớp với lao động Trong công nghiệp nhỏ và trong toàn bộ nông nghiệp, cho tới nay, sở hữu là hiệu quả tất yếu của những công cụ sản xuất hiện có Trong công nghiệp lớn thì mâu thuẫn giữa công cụ sản xuất và sở hữu

tư nhân chỉ là sản vật của một nền công nghiệp đã phải đạt đến một

xuất phù hợp tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển, nhưngkhi quan hệ sản xuất không còn phù hợp đã mâu thuẫn với lực lượng

sản xuất thì khi đó: “ Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực

lượng sản xuất, Mác viết, - những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu của một của một cách

6 C.Mác v àn t Ăngghen, to n t àn t ập, t 13,Nxb chính trị quốc gia ,h n àn t ội 1993,tr 15

7 C.Mác v àn t Ăngghen, tuyển tập, gồm 6 tập , t 1,Nxb sự thật ,h n àn t ội 1980,tr 332

Trang 15

mạng xã hội”8 Khi đã mâu thuẫn, quan hệ sản xuất chẳng nhữngkhông còn cần thiết đối với lực lượng sản xuất, mà còn trở thànhnhững ràng buộc, cản trở gây khó khăn cho phát triển của lực lượngsản xuất Vì vậy cần phải thay quan hệ sản xuất cũ, đã không còn phùhợp bằng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất mới.

Lực lượng sản xuất mang tính kế thừa, là kết quả của sự pháttriển kinh tế xã hội loài người, các thế hệ sau khi ra đời đã có nhữnglực lượng sản xuất do thế hệ trước để lại Đó là những cơ sở hạ tầngcủa sản xuất, là những công cụ sản xuất và những tri thức mà thôngqua đào tạo lớp người sau có thể học tập sử dụng các tư liệu lao động

đã có và tiếp tục sáng tạo ra những tư liệu lao động mới Từ tínhkhách quan của lực lượng sản xuất và tính quyết định của nó đối vớiquan hệ sản xuất nên con người không thể tuỳ tiện tạo lập một quan hệsản xuất theo ý muốn chủ quan, cho dù điều đó là hết sức tốt đẹp vềđạo lý và là nguyện vọng của con người luôn hướng tới hoặc ngược lạingưòi ta cũng không thể duy trì một quan hệ sản xuất đã lạc hậu đểbảo vệ lợi ích của một số người trong xã hội Các Mác đã chỉ ra: “

Không một hình thức xã hội nào diệt vong trước khi các lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo được địa bàn đầy đủ cho phát triển vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện vật chất của những

8 C.Mác v àn t Ăngghen, to n t àn t ập, t 13,Nxb chính trị quốc gia ,h n àn t ội 1993,tr 15

9 C.Mác v àn t Ăngghen, to n t àn t ập, t 13,Nxb chính trị quốc gia ,h n àn t ội 1993,tr 16

Trang 16

Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong lòng xã hội phongkiến đã dẫn đến sự ra đời của sở hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất

và cùng với nó các quan hệ phân phối, quản lý tổ chức của nền kinh tế

tư bản ra đời, thay thế quan hệ sản xuất phong kiến Sự tồn tại và biếnđổi quan hệ sản xuất là do lực lượng sản xuất quyết định Lực lượngsản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất như thế ấy Lực lượng sảnxuất là yếu tố động nhất, nó không ngừng biến đổi, bởi trong quá trìnhsản xuất người lao động dần dần tích luỹ được kinh nghiệm nâng cao

kỹ năng, kỹ xảo của mình, họ tìm cách cải tiến công cụ sản xuất đểlàm ra càng nhiều của cải vật chất vì chính lợi ích của mình Đạt đượcnhững kết quả xã hội đó chính là từ sự phát triển của lực lượng sảnxuất và tùy theo sự biến đổi của lực lương sản xuất mà quan hệ sảnxuất, quan hệ kinh tế giữa người ta với nhau cũng biến đổi C Mác đã

viết: “ Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực

lượng sản xuất Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình và do thay đổi phương thức sản xuất loài người thay đổi tất cả những quan hệ sản xuất xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa , cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công

mẽ của khoa học kỹ thuật và lực lượng sản xuất đã phá bỏ cái vỏ chậthẹp của sở hữu tư nhân tư bản trong buổi bình minh của nó Các hình

1 0 C.Mác v àn t Ăngghen, to n t àn t ập, t 4,Nxb chính trị quốc gia ,h n àn t ội 1995,tr 187

Ngày đăng: 10/05/2021, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w