1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng

168 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 909,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Coi Nguyễn Quang Sáng như một trong những gương mặt độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại, một nhà văn đã đóng góp cho văn học và điện ảnh Việt Nam những tác phẩm giá trị, nghiên cứu về

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, những kết luận, nhận định trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2017

Tác giả luận án

Lê Thị Phương

Trang 4

MỤC LỤC Trang

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Về phong cách nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn 6

Chương 2: HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN

HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT NGUYỄN QUANG SÁNG

36

2.2 Những yếu tố cơ bản hình thành phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng 45

Chương 3: CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VỀ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ VÀ

CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG

65

Chương 4: CỐT TRUYỆN - NGÔN NGỮ - GIỌNG ĐIỆU TRONG

SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG 108

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Phong cách là một thuật ngữ được nói đến từ thời cổ đại Từ đó đến nay,

vấn đề phong cách đã được nhiều triết gia, nhà lí luận, nhà nghiên cứu phê bình bàn luận Ở nước ta cũng xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về phong cách Tuy nhiên, cuộc tranh luận về bản chất của phong cách, tầm quan trọng của phong cách trong sáng tạo nghệ thuật và những phương diện biểu hiện chủ yếu của phong cách hiện vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau Do đó, việc

hệ thống lại các quan niệm nhằm xác lập nội hàm khái niệm phong cách nghệ thuật, đặc trưng bản chất và hướng nghiên cứu phong cách nghệ thuật để áp dụng vào nghiên cứu một hiện tượng phong cách nghệ thuật cụ thể là một việc làm cần thiết

1.2 Phong cách là một thuật ngữ không chỉ dùng trong lĩnh vực văn học

nghệ thuật, mà còn được dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống xã hội Phạm trù phong cách bao gồm nhiều mặt, nhiều biểu hiện Nghiên cứu phong cách, ngoài phong cách tác giả, người ta còn nghiên cứu phong cách tác phẩm, phong cách thể loại, phong cách thời đại, phong cách trào lưu Về phong cách nghệ thuật tác giả, tuy hiện nay tồn tại nhiều quan niệm khác nhau, nhưng xét đến cùng, trong dòng chảy của lịch sử văn học, càng lùi xa quá khứ thì nhìn lại chỉ còn thấy những đỉnh cao, những dấu ấn đậm nét, mà đỉnh cao này được định hình bởi phong cách Phong cách được xem như là chất lượng nghệ thuật đặc trưng cá nhân của các tác giả lớn, chi phối hàng loạt sáng tác của họ Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật của các nghệ sĩ lớn giúp người nghiên cứu thấy được tài năng của nghệ sĩ, cũng như những nét độc đáo trong sáng tác của họ, từ đó góp phần khái quát được phong cách dân tộc, phong cách thời đại, phong cách trào lưu

1.3 Nguyễn Quang Sáng (1932-2014) là cây bút văn xuôi xuất sắc của nền

văn học Cách mạng miền Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Với hơn

80 năm tuổi đời và hơn 60 năm tuổi nghề, bằng tài năng, tâm huyết, sức sáng tạo và lao động bền bỉ, Nguyễn Quang Sáng đã sáng tác với nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, kịch bản phim… và để lại những tác phẩm, những hình

Trang 6

tượng nghệ thuật đặc sắc đầy tính nhân văn, tạo được ấn tượng riêng về sức viết và lối viết Một thứ văn chương dễ đi vào lòng người, vừa có nét duyên bẩm sinh, vừa giàu sự trải nghiệm, thể hiện một phong cách văn chương riêng biệt, đậm hồn cốt văn hoá Nam bộ

1.4 Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Quang Sáng luôn nhận được

sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu văn học và bạn đọc, nhưng tiếp cận sáng tác của nhà văn dưới ánh sáng của lý thuyết phong cách nhìn chung vẫn chưa được bao quát, hệ thống Vì vậy, nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng là công việc cần thiết để khẳng định dấu ấn sáng tạo, tài năng văn chương và những đóng góp to lớn của nhà văn đối với nền văn học dân tộc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án tập trung tìm hiểu những vấn đề lí luận về phong cách, đặc biệt là phong cách nghệ thuật nhà văn để làm cơ sở tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng Coi Nguyễn Quang Sáng như một trong những gương mặt độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại, một nhà văn đã đóng góp cho văn học và điện ảnh Việt Nam những tác phẩm giá trị, nghiên cứu về ông, chỉ ra những nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của ông là mục đích chúng tôi hướng tới Từ đó, luận án khẳng định vai trò, dấu ấn của phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng đối với sự phát triển văn chương dân tộc

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: Giới thiệu tổng quan về vấn

đề phong cách ở phương Tây, phương Đông và ảnh hưởng của lý thuyết phong cách vào Việt Nam, sau đó giới thuyết về phong cách nghệ thuật nhà văn Tìm hiểu lịch

sử nghiên cứu về tác giả Nguyễn Quang Sáng Trình bày hành trình sáng tạo nghệ thuật và những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới sự hình thành phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng Chỉ ra sự độc đáo trong cái nhìn nghệ thuật về không gian văn hóa và con người Nam bộ của nhà văn Nguyễn Quang Sáng Phân tích sức hấp dẫn của văn chương Nguyễn Quang Sáng qua các phương tiện hình thức mang tính nội dung, tiêu biểu là cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật của nhà văn

Trang 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng, chúng tôi quan tâm đến dấu ấn sáng tạo và những tín hiệu nghệ thuật đặc sắc mang tính ổn định được thể hiện trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Đồng thời, có sự đối sánh với các tác giả cùng thời và sau này để thấy được những sáng tạo độc đáo của riêng Nguyễn Quang Sáng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nguyễn Quang Sáng sáng tác trên nhiều thể loại, trong phạm vi của luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu ba thể loại với những tác phẩm tiêu biểu mà theo chúng tôi, chúng thể hiện đặc sắc văn phong, cốt cách con người Nguyễn Quang

Sáng: Tiểu thuyết (Đất lửa, Nhật ký người ở lại, Mùa gió chướng, Dòng sông thơ ấu), Truyện ngắn (các tập truyện ngắn: Người quê hương, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch, Người con đi xa, Người bạn lính, Bàn thờ Tổ của một cô đào, Dân chơi

- Tôi thích làm vua, Linh Đa, Con mèo của Foujita, Tạo hoá dưới trần gian) và Kịch (Mùa gió chướng, Cánh đồng hoang - kịch bản phim)

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận nghiên cứu của luận án

Luận án trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tìm hiểu vai trò và mối quan hệ biện chứng giữa thời đại, môi trường văn hóa và cá tính sáng tạo của nhà văn trong sự hình thành phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng Luận án cũng linh hoạt vận dụng ưu thế của các lý thuyết nghiên cứu hiện đại trên thế giới, nhất là phê bình phong cách học, để tìm hiểu vấn đề một cách sâu sắc

và hiệu quả

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Từ nguyên tắc phương pháp luận trên, để hoàn thành nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp phê bình phong cách học: Đây là phương pháp chủ đạo để

tiếp cận tất cả các vấn đề của luận án Trên cơ sở các lý thuyết phê bình về phong

Trang 8

cách học, chúng tôi lựa chọn phương pháp phê bình phong cách học cụ thể để làm

rõ những biểu hiện của phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Vận dụng những lợi thế của thi pháp

học, luận án đi sâu khảo sát hệ thống quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, tìm hiểu nét độc đáo riêng biệt của hệ thống hình tượng, kết cấu, nghệ thuật

sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu, cách bài trí không gian, thời gian nghệ thuật

- Phương pháp so sánh văn học: Đây là phương pháp được sử dụng thường

xuyên nhằm tìm ra sự khu biệt giữa đối tượng nghiên cứu của luận án với các đối tượng văn học khác nhằm thấy được những nét đặc trưng riêng biệt của đề tài nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: Phương pháp này được luận án vận dụng

trong việc nghiên cứu, tìm hiểu những tác động của ngoại cảnh như: gia đình, quê hương, thời đại và các mối quan hệ của người nghệ sĩ đến việc hình thành cảm quan sáng tác, cách lựa chọn đề tài, thế giới nhân vật của nhà văn

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này giúp luận án khảo sát về mặt

ngôn ngữ và tần số xuất hiện của những từ đặc trưng trở đi trở lại nhiều lần trong các tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng, trở thành những tín hiệu nghệ thuật khẳng định sự độc đáo, sáng tạo của nhà văn trong việc sử dụng ngôn ngữ Đồng thời, phương pháp thống kê là công cụ để người viết minh chứng các luận điểm có tính thuyết phục hơn, tính khái quát cao hơn

- Phương pháp hệ thống: Phương pháp này được luận án vận dụng xem xét

các yếu tố phong cách trong sự liên hệ, quy định lẫn nhau, nhằm mang lại kết quả nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, khách quan về đối tượng

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

5.1 Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu sáng tác của Nguyễn

Quang Sáng một cách hệ thống dưới góc nhìn lý thuyết phong cách Luận án khẳng định những giá trị nổi bật, những dấu ấn sáng tạo và đóng góp to lớn của Nguyễn Quang Sáng đối với nền văn học Nam bộ nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung

Trang 9

5.2 Việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng là cơ sở nhìn

nhận vị trí nhà văn Nguyễn Quang Sáng trước và sau 1975 trong nền văn học miền Nam và văn học dân tộc với tư cách phong cách nghệ thuật của một tác giả văn học Luận án khẳng định những nét đặc sắc riêng của tác phẩm văn chương Nguyễn Quang Sáng, đồng thời khẳng định những đóng góp nhất định của nền văn hóa, văn nghệ Nam bộ nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung tạo nên phong cách

nghệ thuật tác giả

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lí luận

Qua nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng, luận án sẽ mở

ra hướng nghiên cứu tiếp theo về phong cách nghệ thuật của các tác giả cùng thời, rộng hơn là góp phần nghiên cứu phong cách thời đại

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài góp phần tích cực cho các nhà nghiên cứu, các giáo viên, sinh viên khi tìm hiểu về thế giới nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng, giúp cho việc nghiên cứu giảng dạy trong các trường Đại học và Cao đẳng, Trung học có thêm tài liệu tham

khảo, góp phần đóng góp vào quá trình tìm hiểu nhà văn Nam bộ

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận án được triển khai thành 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Hành trình sáng tạo và những yếu tố cơ bản hình thành phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng

Chương 3 Cái nhìn nghệ thuật về không gian văn hoá và con người Nam bộ trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng

Chương 4 Cốt truyện - Ngôn ngữ - Giọng điệu trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Phong cách là một thuật ngữ được nói đến từ lâu và được sử dụng trong nhiều ngành khoa học Trong nghiên cứu văn học, phong cách học - một loại hình

lý thuyết phê bình ra đời sớm, mang lại nhiều thành tựu trong việc chỉ ra nét độc đáo và dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ đối với sự phát triển của văn chương dân tộc Cho đến nay, những vấn đề về phong cách vẫn gây nhiều tranh cãi, vì thế, trong phần này, luận án tổng hợp một số quan niệm của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình trong và ngoài nước về phạm trù phong cách và phong cách nghệ thuật của nhà văn, làm cơ sở lí luận tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng

1.1 Về phong cách nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn

1.1.1 Về phong cách nghệ thuật

1.1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Thuật ngữ phong cách (tiếng Hy Lạp cổ: Stylos, tiếng La Mã: Stylus, tiếng Anh: Style, tiếng Pháp: Style) ra đời sớm nhất ở Hy Lạp - La Mã cổ đại với nghĩa

ban đầu chỉ dụng cụ để viết, dần dần, phát triển nghĩa, chỉ nét chữ, cách viết rồi đến chỉ bút pháp, chỉ tình yêu đối với ngôn từ, nghệ thuật dùng từ Phong cách được coi như một thuật ngữ ngôn ngữ học đã tồn tại ở nhiều nước trên thế giới trong suốt một thời kỳ lịch sử dài từ Trung cổ tới Phục hưng, thể hiện trong các công trình của

Aristote (Thi pháp học, Tu từ học), của Xixeron (Các quy luật)…

Việc hiểu khái niệm phong cách theo nghĩa ngôn ngữ học được tiếp tục ở các nhà hùng biện Nga thế kỷ XVII, XVIII cho tới thế kỷ XIX Các học giả đồng nhất phong cách với cá tính sáng tạo của nhà văn hoặc các khái niệm có nội hàm hẹp hơn như văn phong, bút pháp: “Tính cách thế nào thì phong cách thế ấy” (Platon), “Lời nói là diện mạo của tâm hồn” (Sénèque), “Phong cách chính là bản thân con người” (Buffon),…

Thời cận đại, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu theo quan điểm nghiên cứu nghệ thuật về phong cách Các công trình đều thống nhất ở chỗ coi “phong cách

là một phương hướng riêng biệt trong nghệ thuật hình thành ở thời đại nào đó và là

một hệ thống xác định các dấu hiệu nghệ thuật tư tưởng” (I.Vinkenman - Lịch sử

Trang 11

nghệ thuật cổ đại) Như vậy, thời kỳ này, nội hàm khái niệm phong cách được mở

rộng hơn Không chỉ được hiểu là hệ thống thể hiện lời nói như ý nghĩa truyền thống, phong cách được coi là đặc trưng nghệ thuật của nghệ thuật, trở thành một phạm trù thẩm mĩ, như một hệ thống nghệ thuật biểu hiện hình thức của tác phẩm

Bước sang thế kỷ XX, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm sâu sắc Dưới quan điểm của các nhà nghiên cứu văn học, phong cách được xem như một hiện tượng văn học nghệ thuật, bao gồm trong đó tất cả sự đa dạng và phức tạp Phạm trù phong cách được nghiên cứu trong mối quan hệ với tư tưởng của nhà văn, với thời đại

Ở Liên Xô trước đây, Viện sỹ M.B Khravchenko đã thống kê tới gần 20 cách hiểu khác nhau về phong cách Ông cho rằng phong cách là phương pháp, là cách thức, phương tiện nghệ thuật để nhà văn phản ánh hiện thực cuộc sống nhằm tạo ra sự hấp dẫn của tác phẩm đối với độc giả: “Nếu như dùng một công thức vắn tắt thì phong cách cần phải định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả” [61; tr.152]

Ngoài tác giả Khravchenko, trong giới nghiên cứu văn học Nga, các tác giả như V.V.Vinogradov, L.Novichenko, V.Turin… cũng đưa ra những quan niệm khác nhau về phong cách Có thể khái quát những quan niệm về phong cách của giới nghiên cứu Xô viết theo hai hướng:

Khuynh hướng thứ nhất coi phong cách là tính cá thể hoặc tính độc đáo Khravchenko cho rằng với tư cách là một thước đo nghệ thuật nhất định, phong cách mang một phẩm chất đặc biệt của sự khai thác thẩm mĩ cuộc sống Phẩm chất này nổi lên rõ nét so với sự vô bản sắc, với tình trạng vô hình thái và mơ hồ được lưu hành khá rộng rãi trong sự vận động của thực tế văn học

Tác giả L.Novichenko lại khẳng định phong cách và cá tính của người nghệ

sĩ là hai khái niệm gần gũi, tính cộng đồng có ảnh hưởng tới phong cách của hàng loạt nhà văn nhưng xét cho cùng phong cách vẫn là cái đặc thù, vẻ đặc thù được quy định bởi thế giới quan của nhà văn về cuộc sống và con người, bởi những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức của tác phẩm Nhìn chung, các nhà lí luận và nghiên cứu văn học đều muốn nhấn mạnh cá tính sáng tạo, độc đáo mang tính thẩm

Trang 12

mĩ của nhà văn Tuy nhiên, trong thực tiễn đời sống văn học, “phong cách không thể chỉ là của cá nhân, không lặp lại, vì bản thân nghệ thuật và sáng tác nghệ thuật, suy cho cùng, không tựu trung về tính cá nhân” [89, tr.28]

Khuynh hướng thứ hai xem xét phong cách theo quan điểm tổng hợp, các nhà nghiên cứu cho rằng phong cách là một hệ thống các phương tiện biểu đạt, là hình thức nghệ thuật được xem xét trong tính quy luật và các nguyên tắc hài hòa Phạm trù phong cách không chỉ mang tính độc đáo, hình thức, mà phải là sự kết tinh nhuần nhuyễn, sự tổng hợp và thống nhất giữa nội dung và hình thức, hình thức là phương tiện đắc lực biểu đạt nội dung và ngược lại nội dung nhằm làm nổi bật hình thức thể hiện Nói cách khác, phong cách là một phạm trù có tính bao quát và tổng thể V Kovalev chỉ ra: Phong cách - đó là một sự thống nhất chỉnh thể của nhà văn,

đó là những liên hệ qua lại giữa những yếu tố trong hệ thống nghệ thuật của nhà văn, là sự quy định lẫn nhau của các yếu tố đó Còn tác giả V.I.Guxev cho rằng: phong cách hay phạm trù phong cách được xuất hiện để ghi nhận tính chất tổng thể của sáng tác

Có thể nói đây là quan niệm phổ biến ở các nhà nghiên cứu lí luận văn học

Xô viết tiêu biểu, kể cả những nhà nghiên cứu khác như Xocolov, Xidorov… Nội hàm khái niệm phong cách được các nhà nghiên cứu chỉ ra là sự thống nhất các yếu

tố tổng thể nghệ thuật, là sự thể hiện có tính quy luật tất cả các phương tiện biểu cảm cần thiết để thể hiện nội dung nghệ thuật Nói cách khác, đó là cách thức biểu đạt nội dung bằng nghệ thuật ngôn từ

Nói đến phong cách là nói đến sự thống nhất các yếu tố trong tác phẩm, từ nội dung đến hình thức L.I.Timopheev đã nhận định rằng phong cách là sự thống nhất các đặc tính cơ bản vốn có của tất cả các hiện tượng nói chung, được lặp đi lặp lại trong sự đa dạng của các hiện tượng riêng biệt Tóm lại, phong cách là sự thống nhất trong sự đa dạng Tuy nhiên, những đặc tính căn bản về tư tưởng và nghệ thuật không nhất thiết luôn luôn phải lặp lại trong mỗi tác phẩm của nhà văn mà nó cần được năng động, biến hóa, hòa nhập, phát huy điểm nổi trội, độc đáo trong từng hình tượng nghệ thuật và từng tác phẩm

Trang 13

Các nhà nghiên cứu Xô viết khi nghiên cứu về phạm trù phong cách thường chú ý trực tiếp đến tài năng và cá tính sáng tạo của nhà văn, môi trường sáng tác nghệ thuật, đến thế giới hình tượng mà nhà văn dành tâm huyết xây dựng trong tác phẩm Những thành tựu đó sau này được các nhà nghiên cứu lí luận văn học ở Việt Nam tiếp thu, vận dụng sáng tạo vào trong từng phạm vi nghiên cứu

Song hành với những thành tựu nghiên cứu về phong cách của những nhà nghiên cứu, phê bình văn học Nga, các nhà nghiên cứu văn học Pháp, Mĩ cũng đưa

ra nhiều ý kiến, quan điểm về vấn đề phong cách trên cơ sở luận giải từ hệ hình cấu trúc, ngôn ngữ và thi học A.Compagnon, R.Jacobson, R.Barthes… là những tác giả tiêu biểu nhất

“Phong cách là sự lựa chọn tổng quát một giọng, một esthos (văn thể)” [15, tr.257] là kết luận của R.Barthes sau khi tác giả tiến hành khảo sát, so sánh giữa ngôn ngữ và phong cách

Còn tác giả A.Compagnon trên cơ sở thống kê, phân tích những quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước đã đề xuất ba tiêu chí mang tính thuyết phục để nhận diện phong cách Ông khẳng định những tiêu chí này chưa bao giờ bị thủ tiêu:

“- Phong cách là một biến hóa hình thức trên một nội dung ổn định (ít hoặc nhiều);

- Phong cách là một tập hợp những nét đặc trưng của một tác phẩm cho phép qua đó nhận dạng và nhận ra tác giả (trực giác hơn là phân tích);

- Phong cách là một sự lựa chọn giữa nhiều “lối viết” [15, tr.285]

Như vậy, các học giả phương Tây đưa ra những cách giải thích, khái niệm về phong cách cũng như xác định bản chất và những phương diện chủ yếu của phong cách khác nhau nhưng điểm chung là họ nhấn mạnh đến khía cạnh sáng tạo, những đặc điểm riêng biệt, độc đáo của người nghệ sĩ được thể hiện trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn, được toát lên từ nội dung tư tưởng của tác phẩm và các phương thức biểu đạt

Sự đổi mới có ý nghĩa lớn nhất của tư duy triết học ngôn ngữ hiện đại là xây dựng quan niệm nội tại về nghĩa và ý nghĩa của văn bản Trong tư duy tiền hiện đại, khi ngôn ngữ được quan niệm như là cái ngẫu nhiên, thiết lập thông qua chủ ý của người phát ngôn, nó không nằm trong ngôn ngữ mà phụ thuộc vào các chủ thể sử

Trang 14

dụng ngôn ngữ, tức là vai trò của tác giả trong khoa học văn học được đề cao, hay vấn đề phong cách và phong cách nghệ thuật tác giả rất được chú trọng Ngược lại,

tư duy hiện đại đã nhấn mạnh tính chất độc lập và tính tự trị của ngôn ngữ Nó xác định nghĩa độc lập với người phát ngôn Đến lúc này, ngôn ngữ không hoàn toàn chỉ là công cụ để con người chủ định nói ra điều gì đó mà nó trở thành khả năng của

sự nói ra đó Nhân loại chuyển từ “Tôi tư duy vậy thì tôi tồn tại” sang “Tôi nói vậy thì tôi tồn tại” Khi văn bản được xem là trung tâm tạo nghĩa thì khoa học văn học hoạt động loại bỏ tác giả và người tiếp nhận cùng với bối cảnh, nó chỉ xem tác phẩm văn học là hình thức ngôn ngữ đặc trưng, là hiện tượng ngôn ngữ

Trên thế giới xuất hiện những trào lưu lý thuyết văn học dựa vào tính ngôn ngữ để đề cao tính ký hiệu, phủ nhận tính phản ánh, khẳng định không gian ngôn ngữ và quyền tự trị ngữ nghĩa của văn bản văn học Bakhtin quan niệm: “Con người

ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc hội thoại không bao giờ kết thúc” [13, tr.12], nghĩa là với Bakhtin, sống tức tham gia các cuộc đối thoại ngôn từ, gia nhập dàn đối thoại cuộc sống, mọi quan niệm, nỗi niềm, hạnh phúc lẫn khổ đau của con người đều được bộc lộ qua ngôn ngữ Với giải trình ngôn ngữ của M Foucault hay trò chơi ngôn ngữ của Wittgenstein, tư duy ngôn ngữ học hậu hiện đại đã quan tâm đến những quy ước của ngôn ngữ, nó đòi hỏi phải hiểu ngôn ngữ xuất phát từ xã hội hơn là ngôn ngữ xuất phát từ ý thức M Foucault cho rằng mọi hoạt động của con người đều là hoạt động “ngôn từ”, mọi thực tiễn xã hội đều là thực tiễn diễn ngôn, mẫu số chung của mọi hiện tượng văn hóa là ngôn ngữ Ở Foucault, lịch sử khoa học là lịch sử của các quy tắc, định chế, các quy phạm ngôn ngữ Ông xác nhận, mỗi xã hội tạo ra cho mình một chỉnh thể chân lý, một nền chính trị chung về chân lý, “đó là các diễn ngôn”

Chính quan niệm xem ngôn ngữ như là chủ thể sáng tạo và tuyệt đối hóa đến mức cực đoan vai trò của diễn ngôn, nên trong cái nhìn của chủ nghĩa hậu hiện đại, vấn đề phong cách không còn được quá chú trọng, thậm chí có thể dẫn đến việc xóa nhòa các phong cách Nhưng vấn đề lại không đơn giản như thế, bởi một khi nhà văn mất đi sự độc đáo, mất đi bản sắc, nghĩa là mất đi phong cách, thì anh ta khó lòng tồn tại như một giá trị trong thực tiễn sáng tạo văn học Vì thế, nghiên cứu

Trang 15

phong cách vẫn phải được tiếp tục trên một tinh thần mới Có thể nghiên cứu phong cách từ nhiều hướng: phong cách từ góc nhìn ngôn ngữ, phong cách qua lối viết, phong cách như biểu hiện của cá tính sáng tạo… Nghiên cứu các lý thuyết về phong cách và soi chiếu vào các văn bản nghệ thuật cụ thể, chúng tôi hiểu rằng quá trình mỗi người viết tạo nên được cho mình một phong cách là quá trình đòi hỏi sự nỗ lực trong sáng tạo, là cuộc hành trình để khẳng định cái bản ngã cá nhân trong nghệ thuật của người cầm bút Phấn đấu để có được một phong cách nghệ thuật cá nhân,

đó là sự đóng góp đích thực của mỗi người viết cho sự phát triển chung của cả nền văn học Bởi vì, một nền văn học càng có nhiều phong cách cá nhân thì càng có nhiều khả năng trở thành một nền văn học lớn

Còn ở phương Đông, tiêu biểu là Trung Quốc, thuật ngữ phong cách cũng được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm Vào cuối thế kỷ V, đầu thế kỷ

VI, Lưu Hiệp - nhà lí luận văn học nổi tiếng - đã đưa ra thuật ngữ “phong cốt” chỉ

sự hợp nhất giữa phong thái (tư tưởng) và cốt cách (hình thức nghệ thuật ngôn từ) Đồng nhất cá tính sáng tạo với cá tính đời thường của nhà văn, ông làm rõ quan

niệm “văn là người” trong tác phẩm Văn tâm điêu long Lưu Hiệp cho rằng, cái

quan trọng của phong cách là sự biểu hiện của cá tính sáng tạo, cá tính sáng tạo nhà văn khác nhau thì phong cách khác nhau: “Khi ngâm vịnh trình bày lời văn thì không gì quan trọng hơn cốt cách Cho nên văn cần có cốt cách cũng như thân thể

người ta có bộ xương Tình cảm của ta chứa đựng sẵn cái phong cũng như hình hài

ta chứa đựng cái khí chất vậy Khi lời văn được xếp đặt đúng đắn và thẳng thì cái cốt cách của nhà văn đã hình thành” [1, tr.196] Đồng thời, ông cũng khẳng định tác phẩm hoàn toàn chịu sự kiểm soát của tài năng nhà văn: “(…) Cho nên người nào trau dồi cốt cách thì việc chọn lựa lời văn thế nào cũng tinh, người nào đi sâu vào phong cách thì diễn đạt tình cảm thế nào cũng rõ” [1, tr.196-197]

Tiếp sau Lưu Hiệp, phải kể đến Viên Mai - nhà thơ, nhà lí luận phê bình văn

học đời Thanh Tuy không trực tiếp bàn về vấn đề phong cách nhưng trong Tùy

Viên thi thoại - đỉnh cao của nền thi thoại Trung Quốc, qua cách lý giải về năng lực,

tài nghệ sáng tạo của người nghệ sĩ trong việc tạo ra những nét riêng, độc đáo ở mỗi tác phẩm, Viên Mai muốn khẳng định tính độc đáo chính là yêu cầu bắt buộc đối

Trang 16

với người nghệ sĩ Ông nhấn mạnh: “Thơ quan hệ ở cốt chứ không phải ở cách” [94, tr.15] và “(…) làm thơ thì không thể không phân biệt giữa bình đạm và khô khan, giữa tân kì và tiêm xảo, giữa mộc mạc và vụng về, giữa cường kiện và thô bạo, giữa hoa lệ và khinh phù, giữa thanh tú và mỏng manh, giữa trọng hậu và cứng đờ, giữa tung hoành và tạp loạn, mấy cái đó cũng hình như giống nhau và kì thực khác nhau, sai một ly đi một dặm” [94, tr.29-30] Khi nghiên cứu nghệ thuật thi ca, ông đề cao tinh thần tự do sáng tạo, thơ không thể vô ngã, khuyến khích và cổ vũ nhà thơ bộc

lộ cá tính và phong cách riêng: “Làm thơ không nên không có bản ngã, không có bản ngã thì cái tệ bắt chước, phu diễn sẽ lớn” [94, tr.75] Những tư tưởng tiến bộ của Viên Mai đã góp phần quan trọng vào sự cách tân mạnh mẽ cho thơ ca Trung Quốc đương thời, là động lực để đội ngũ nhà thơ có những chuyển biến mạnh mẽ để vượt qua sự kiềm tỏa, những luật lệ và quy định ngặt nghèo, gò bó, trói buộc của nguyên tắc sáng tác văn chương cổ, hướng tới địa hạt văn chương mới - nơi người nghệ sĩ có thể tự do bộc lộ cái tôi cá nhân, phá vỡ những nguyên tắc, chuẩn mực khuôn sáo

Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của thế hệ đi trước, Lỗ Tấn - nhà văn hiện thực lỗi lạc của Trung Quốc - một lần nữa chỉ ra phong cách không chỉ là nơi hội tụ, biểu hiện cá tính sáng tạo của nhà văn, mà còn là nơi tiếp nhận, giao lưu, phát triển cùng với xu hướng sáng tác đương thời: “Phong cách cùng các loại tình cảm, khuynh hướng, không những tùy theo con người mà khác nhau, mà còn tùy theo sự vật mà khác nhau, tùy theo thời thế mà khác nhau” [187, tr.261]

Như vậy, phạm trù phong cách được giới nghiên cứu ở phương Tây và phương Đông rất quan tâm Những quan niệm ấy đã ảnh hưởng lớn đến các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam

1.1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước

Phê bình phong cách học ở nước ta đã trải qua hai giai đoạn nghiên cứu với những quan niệm riêng Giai đoạn thứ nhất mang tính chất tiền hiện đại, các nhà lí luận văn học Việt Nam dựa trên định nghĩa về phong cách của Buffon: “Phong cách chính là bản thân con người”, đồng nhất cá tính sáng tạo của nhà văn với phẩm chất con người nhà văn Ý thức về phong cách nhà văn là sự thể hiện của con người cá

Trang 17

tính, con người cá nhân nhà văn đã xuất hiện từ văn chương trung đại Việt Nam Thời kỳ này, do ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa Trung Hoa nên cách hiểu và quan niệm về phong cách không nằm ngoài cái khuôn “văn như kỳ nhân”

Bước sang đầu thế kỷ XX, thuật ngữ phong cách được các nhà nghiên cứu văn học dùng với ý nghĩa là “lối văn”, “giọng văn”, “sở trường”, “sở thích” trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật, và một trong những phương diện quan trọng quyết định tài năng nghệ thuật của nhà văn cũng như giá trị của tác phẩm chính là tính

cách nhà văn Trên Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh viết: “Muốn biết giá trị một quyển sách, nên biết người làm sách sở trường về lối viết nào” Nguyễn Bá Học trong Văn chương cũng cho thấy cá tính nhà văn bộc lộ trong văn chương: “Người

cục súc hay làm văn tiểu xảo; người nhu nhược hay làm văn chi ly; người thô sơ hay làm văn sống sượng; người danh lợi hay làm những văn thù phụng; người bợm bãi hay làm văn hoa tình” Người ta nghiên cứu phong cách trong mối quan hệ giữa văn bản với cá tính sáng tạo của nhà văn, coi cá tính sáng tạo là một trong những nhân tố quy định phong cách nhà văn

Chịu ảnh hưởng quan niệm văn chương của cổ nhân, tác giả Phan Kế Bính

trong Việt Hán văn khảo (1918) chỉ ra nét đặc sắc - phong cách của các nhà Nho

chủ yếu dựa trên giọng điệu nghệ thuật và văn như thế nào thì chỉ ra cốt cách nhà văn như thế ấy: “Văn cụ Thượng Trứ thì trầm hùng có khí khái, khí văn mạnh mẽ như con ngựa cất không thể ràng buộc được Văn cụ Yên Đổ thì có ý ngông, nhưng giọng văn thì rất nhẹ nhàng, hoạt bát ra cái thú tự nhiên, tựa như con cá nhảy ở dưới nước, con chim bay nhảy ở trên cành hoa Văn cụ Vân Đình thì hùng hậu, có khí tượng ung dung đài các tựa như ông đại thần mặc áo đại triều ngồi chốn công

đường Văn ông Tú Xương cũng tài tình mà ngông lắm” [trích theo 193, tr.64]

Nhìn chung, quan niệm đồng nhất cá tính con người với phong cách sáng tạo nghệ thuật của nhà văn có nhiều hạt nhân hợp lý song nếu coi tác phẩm là sự phản ánh trung thành của con người nhà văn sẽ dẫn đến chỗ không giải thích được nhiều điểm của phong cách nghệ thuật khi khí chất của tác phẩm, cá tính sáng tạo của tác giả khác xa với cá tính sinh hoạt ngoài đời của họ Hơn nữa, công thức “phong cách chính là con người” sẽ khiến người nghiên cứu dễ lẫn lộn phong cách tác giả và tác

Trang 18

phẩm Vì vậy, phạm trù phong cách cần phải được hiểu là sự tổng hợp, sự thống nhất các mặt ý thức thẩm mĩ, tư duy sáng tạo, tài năng và nhân cách nhà văn

Kế thừa những quan niệm về bản chất phong cách thời trung đại và các lý thuyết hiện đại về phong cách nghệ thuật trên thế giới, những năm gần đây, các nhà nghiên cứu văn học nước ta đã dành nhiều công sức tìm hiểu vấn đề phong cách và nội hàm thuật ngữ phong cách, nhằm hoàn thiện hơn một phạm trù cơ bản của lí luận văn học Phê bình phong cách học từ chỗ nghiên cứu phong cách dựa trên con người nhà văn đã chuyển sang nghiên cứu phong cách ngôn ngữ của tác giả

Quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn hóa, văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp, các nhà nghiên cứu, lí luận phê bình Hải Triều, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu,… trên cơ sở vận dụng lý thuyết của các trường phái phê bình như phê bình tiểu sử, phê bình xã hội học để đánh giá, thẩm định và đưa ra những kết luận về các hiện tượng văn chương đã bước đầu gọi tên được phong cách

nghệ thuật của mỗi nhà văn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, xuất bản năm

1942 là công trình đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu phong cách tác giả theo hướng hiện đại Với phương pháp nghiên cứu thiên về “bình” phong cách theo lối cảm thụ

ấn tượng, Hoài Thanh đã gọi tên chính xác phong cách của các tác giả tiêu biểu trong phong trào Thơ mới: rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu

Hoài Thanh đã mạnh dạn đề xuất một cách nhìn mới về nhà văn trên cơ sở

tôn trọng tài năng nghệ thuật và cá tính sáng tạo Trong Văn chương và Hành động,

ông đưa ra quan niệm có hai loại nhà văn Một loại là "nhà văn hoàn toàn" - tức là những người bẩm sinh chỉ biết làm văn, còn loại kia là kiểu nhà văn không chỉ biết làm văn mà còn có thể làm những việc khác nữa Điều quan trọng trong quan niệm của Hoài Thanh về nhà văn là dù nhà văn thuộc loại nào thì tố chất không thể thiếu

là phải có cá tính sáng tạo Có thể nói, quan niệm của Hoài Thanh là sự mở đường cho một cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá mới về nhà văn trong văn học

Trang 19

Tiếp theo Hoài Thanh, có thể tìm thấy nhiều định nghĩa về phong cách trong giới nghiên cứu văn học ở nước ta Trước hết, quan niệm về phong cách được thể hiện trong các công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề phong cách

nghệ thuật như Dẫn luận phong cách học, Những vấn đề thi pháp của truyện của Nguyễn Thái Hoà, Dẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử

Trong công trình Dẫn luận phong cách học, dưới góc độ ngôn ngữ học, cụ

thể là tu từ học, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã tìm hiểu về phong cách Ông đã đưa ra những quan niệm về phong cách của các nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ của châu Âu, châu Mỹ… từ thời Hy Lạp đến thời hiện đại Trải qua những thăng trầm của lịch sử và nhiều cuộc tranh luận sôi nổi, tác giả cho thấy đến giữa thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận: ngôn ngữ là một sự kiện phong cách và chính

ngôn ngữ phải được xem xét ở phương diện phong cách

Thứ hai, quan niệm về phong cách của giới nghiên cứu văn học nước ta được

thể hiện cụ thể hơn ở những sách công cụ về lí luận văn học như: Lí luận văn học - vấn đề và suy nghĩ của Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương; 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn; Lí luận văn học của nhóm tác giả Phương Lựu,

Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái

Bình; Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên; Từ điển thuật ngữ văn học do Lê

Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi chủ biên; Lí luận văn học do Hà Minh

Đức chủ biên,… Các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan niệm phong cách là một phạm trù thẩm mĩ phản ánh sự thống nhất của hệ thống hình tượng, biểu hiện cái nhìn độc đáo của nhà văn về cuộc sống và con người Tác giả Lại Nguyên Ân khẳng định phong cách “là những nét chung tương đối bền vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn, một tác phẩm, một khuynh hướng văn học, một nền văn học dân tộc nào

đó” [9, tr.263] Còn giáo trình Lí luận văn học nghiên cứu đặc điểm của phong cách

và mối quan hệ phong cách với phương pháp sáng tác, trào lưu văn học, thế giới quan của nhà văn… và kết luận: “Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú”

[79, tr.482] Các tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì cho rằng “phong

Trang 20

cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của

hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [41, tr.255-256]

Thứ ba, quan niệm về phạm trù phong cách được thể hiện trong các công trình đi sâu nghiên cứu phong cách tác giả cụ thể trên cơ sở áp dụng lý thuyết về phong cách nghệ thuật để nghiên cứu những hiện tượng văn học cụ thể Tiêu biểu là

các công trình như: Tác phẩm và chân dung của Phan Cự Đệ; Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc; Thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu; Nhà văn tư tưởng và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh; Giọng điệu trong thơ trữ tình của Nguyễn Đăng Điệp; Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu của Tôn Phương Lan; Ba đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử của Chu Văn Sơn; Văn học Việt Nam trong thời đại mới của Nguyễn Văn Long; Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải của Tuyết Nga; Phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam của Nguyễn Thành Thi; Phong cách nghệ thuật Tô Hoài của Mai Thị Nhung,…

Năm 1985, Phan Ngọc công bố công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều Đây là công trình có tính chất bước ngoặt thể hiện rõ nhất sự

chuyển tiếp giữa hai giai đoạn nghiên cứu phong cách học ở Việt Nam, được viết bằng thao tác luận Thao tác luận của ông dựa nhiều vào yếu tố ngôn ngữ với trọng tâm phân tích, lý giải những cống hiến của một thiên tài Để chứng minh đại thi hào Nguyễn Du là một thiên tài, Phan Ngọc đã lập luận và đưa ra minh chứng thuyết phục cho thấy Nguyễn Du có một kiểu lựa chọn riêng, không giống với kiểu lựa chọn của Thanh Tâm Tài Nhân Tác giả cho rằng: “Phong cách là một cấu trúc hữu

cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm, hay một tác giả” [96, tr.31] Như vậy, qua công trình này, Phan Ngọc đã trình bày quan niệm về phong cách học một cách rất tường minh, bước đầu xác định đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu của phong cách học với tư cách là một ngành khoa học, từ đó đi sâu tìm hiểu và khẳng định phong cách Nguyễn Du trong

Trang 21

Truyện Kiều

Bên cạnh Phan Ngọc, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cũng dành nhiều tâm huyết và công sức để tìm hiểu, nghiên cứu phạm trù phong cách Ông có nhiều đóng góp về phong cách Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nam Cao… Khi thể hiện phong cách của các tác giả thì khái niệm trung tâm của

Nguyễn Đăng Mạnh là tư tưởng nghệ thuật Trong Nhà văn, tư tưởng và phong cách (Nxb Tác phẩm mới, 1983), Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “văn chương là

một hình thái ý thức xã hội có đặc trưng riêng Đây là lĩnh vực cần đến năng khiếu

và tài nghệ, cần cá tính và phong cách” [88, tr.26], vì thế, phong cách gắn liền với

cá tính sáng tạo của nhà văn Nghiên cứu sáng tác nghệ thuật văn chương cùng những thăng trầm trong cuộc đời nhà văn, tác giả đã có những trang viết về chân dung 22 tác giả nổi tiếng xuất hiện từ những năm 1930 trở đi với những phát hiện tinh tế, mới mẻ và đặc biệt là đã định hình được nét độc đáo riêng biệt của các nhà

văn trong công trình Nhà văn hiện đại - Chân dung và phong cách (Nxb Trẻ,

2000) Ông chỉ ra ba tiêu chuẩn chính để đánh giá nhà văn: tư tưởng lớn, tâm hồn lớn và những đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Theo tác giả, “phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật Nó phụ thuộc vào những thói quen tâm lý và những sở trường riêng, tài nghệ riêng Vì vậy, phong cách mỗi khi định hình thường có tính kiên cố nhất định Tất nhiên, có thể biến đổi, phát triển nhưng ít khi chuyển hẳn sang phạm trù phong cách khác” [87, tr.80]

Sau Nguyễn Đăng Mạnh, phải nói đến Đỗ Lai Thuý Nhà nghiên cứu đã vận dụng lý thuyết phong cách học mà ở đó ông coi “phong cách như là sự lệch chuẩn”

Trong công trình Hồ Xuân Hương hoài niệm và phồn thực, tác giả đi tìm sự lệch

chuẩn ngôn ngữ để thấy được phong cách thơ Hồ Xuân Hương là một sự lệch chuẩn hoàn toàn so với phong cách Thanh Quan nói riêng và toàn bộ phong cách Đường thi nói chung

Khác với các tác giả trên, hạt nhân nghiên cứu về phong cách của Nguyễn

Đăng Điệp là giọng điệu nghệ thuật Trong Giọng điệu thơ trữ tình, trên cơ sở tiến

hành hàng loạt phân biệt với ngữ điệu, nhạc điệu, nhịp điệu, tiết điệu, tác giả đã xác định cụ thể hơn nội hàm và đường biên của khái niệm giọng điệu Nguyễn Đăng

Trang 22

Điệp cho rằng giọng điệu là thứ hình thức mang tính quan niệm, là sản phẩm sáng tạo đích thực của nhà văn Theo tác giả, giọng điệu “là một yếu tố cốt yếu tạo nên phong cách nghệ thuật, giọng điệu cho phép ta hiểu hơn chiều sâu, sự phong phú của chủ thể sáng tạo Trên thực tế, giọng điệu vừa là một hiện tượng nghệ thuật kết tinh sự độc đáo của nhà văn vừa là một hiện tượng có tầm văn hóa ảnh hưởng to lớn đến các thời đại văn học” [29, tr.9-10] Vì vậy, tìm hiểu giọng điệu chính là tìm hiểu ngôn ngữ chủ thể - nhân lõi tạo thành phong cách nghệ thuật nhà văn Đồng thời, coi trọng giọng điệu nhà văn trong nghiên cứu tác phẩm văn học chính là đề cao, coi trọng vai trò của chủ thể sáng tạo

Chu Văn Sơn cũng là người có nhiều đóng góp cho nghiên cứu phong cách

tác giả ở Việt Nam Ở công trình Ba đỉnh cao thơ mới (Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử), mặc dù người viết chủ yếu nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ nhưng

ông rất có ý thức tìm ra sự khác biệt (chính là phong cách) của các tác giả Theo Chu Văn Sơn, trong các nhà thơ mới, Xuân Diệu "mới nhất", còn Nguyễn Bính

"quen nhất" trong khi Hàn Mặc Tử lại "lạ nhất" Về sắc điệu trữ tình, một người là

"thi sĩ của tình yêu", một người là "thi sĩ của thương yêu", còn người kia là "thi sĩ của đau thương"

Như vậy, lí luận về phong cách nghệ thuật khi được vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam đã được thể hiện theo nhiều cách khác nhau Có người nghiên cứu phong cách văn xuôi (như Nguyễn Đăng Mạnh), có người nghiên cứu phong cách thơ ca (như Đỗ Lai Thuý, Nguyễn Đăng Điệp, Chu Văn Sơn), lại có người nghiên cứu phong cách một tiểu thuyết bằng thơ (như Phan Ngọc nghiên cứu

Truyện Kiều) Mặc dù đóng góp theo những hướng khác nhau và đóng góp trên

những lĩnh vực, thể tài, thể loại khác nhau nhưng đây là những tác giả có nhiều đóng góp cho sự phát triển phong cách học ở Việt Nam

Thứ tư, trên cơ sở tìm hiểu vấn đề phong cách học từ bình diện lý thuyết qua việc tham khảo các quan niệm, định nghĩa của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học nước ngoài, các nhà lí luận văn học ở Việt Nam đưa ra quan niệm về phong cách trong những bài nghiên cứu khoa học

Trang 23

Có thể kể đến những bài viết tiêu biểu của tác giả Đỗ Đức Hiểu như: Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam (Tạp chí Văn học, số

4, năm 1985), Đi tìm phong cách chung của văn học (Tạp chí Văn học, số 2, năm

2008)… Đỗ Đức Hiểu đã nghiên cứu phong cách bằng phong cách lớn Ngày nay, người ta hiểu phong cách lớn như là diễn ngôn của thời đại Điều này có phần gặp

gỡ với quan niệm của Nguyễn Đăng Điệp khi tác giả nói tới giọng điệu của thời đại Phong cách thời đại hay giọng điệu thời đại luôn ảnh hưởng đến phong cách cá nhân của nhà văn

Tác giả Tôn Thảo Miên cũng có nhiều bài viết về vấn đề này như: Về khái niệm phong cách cá nhân của nhà văn (Tạp chí Văn học, số 1, năm 1997), Nguyễn Tuân - dấu ấn của cá tính sáng tạo văn học (Tạp chí Văn học, số 2, năm 2006), Một

số khuynh hướng nghiên cứu phong cách (Tạp chí Văn học, số 5, năm 2006) Theo

tác giả, “phong cách được hiểu là sự thống nhất trọn vẹn của nội dung và hình thức,

nó tạo nên nét riêng độc đáo của mỗi tác phẩm, đồng thời cũng là nét riêng để phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại khác” [92, tr.78]

Từ việc tìm hiểu hai giai đoạn phát triển của lý thuyết phê bình phong cách học ở nước ta, có thể thấy trong giai đoạn hiện đại, nghiên cứu phong cách ngôn ngữ tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn so với giai đoạn tiền hiện đại, thể hiện rất khách quan, rõ ràng, người nghiên cứu không thể suy diễn, mà phải dựa trên một trong các hướng đi: sự lựa chọn ngôn ngữ; đi tìm sự lệch chuẩn ngôn ngữ so với một cái chuẩn nào đó; dựa vào tư tưởng nghệ thuật; giọng điệu nghệ thuật; tìm ra sự khác biệt giữa các tác giả hay nghiên cứu phong cách lớn Chỉ ra sự lựa chọn ngôn ngữ của nhà văn sẽ chỉ ra được quan niệm của tác giả về nghệ thuật, cao hơn sẽ thể hiện cái nhìn nghệ thuật, cái nhìn thế giới của nhà văn Hay nghiên cứu phong cách nghệ thuật là sự nghiên cứu nâng cao của nghiên cứu phong cách ngôn ngữ

Trong nhiều cách hiểu khác nhau về phong cách, phạm trù này khi được nhấn mạnh ở yếu tố tư tưởng, khi lại được nhấn mạnh ở đề tài, chủ đề, bố cục, hệ thống hình tượng hoặc ở ngôn ngữ, giọng điệu nghệ thuật Nói cách khác, các nhà nghiên cứu tìm hiểu phong cách hoặc chú trọng, đề cao khía cạnh nội dung, hoặc đề cao hình thức của tác phẩm Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về phong cách,

Trang 24

chúng tôi nhất trí quan niệm cho rằng: nói đến phong cách là nói đến những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật có tính thống nhất và tương đối ổn định, được “lặp đi lặp lại” trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và

sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và con người

1.1.2 Về phong cách nghệ thuật của nhà văn

Phong cách văn học nảy sinh do nhu cầu của cuộc sống, xã hội luôn đòi hỏi

sự xuất hiện của nhân tố mới chưa lặp lại bao giờ Nó còn bắt nguồn từ nhu cầu sáng tạo nghệ thuật, nhu cầu khẳng định bản lĩnh, tìm tòi cái mới của nhà văn để tạo nên tính hấp dẫn, sức sống cho tác phẩm của mình Nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng luôn đề cao sự sáng tạo và cá tính nổi bật, có giá trị Lao động của nhà văn là lao động sáng tạo, nên dù muốn hay không, mỗi nhà văn phải tạo cho mình một dấu ấn riêng, một phong cách nghệ thuật không trộn lẫn Phong cách văn học đem đến cái nhìn mới mẻ, khác lạ của nhà văn trong việc cảm nhận và phản ánh cuộc sống Nó là điều còn lại, là hạt nhân cốt lõi sau khi từ nhà văn, chúng ta bóc đi những cái không phải là của bản thân anh ta với tất cả những thứ anh ta giống với người khác

Chúng tôi cho rằng, phong cách học là sự phát triển của các phong cách cá nhân và nghiên cứu phong cách thực chất là nghiên cứu phong cách nghệ thuật tác giả, hay nghiên cứu phong cách cá nhân của nhà văn Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật nhà văn, chúng tôi nhận thấy nổi bật lên một số vấn đề cơ bản sau đây:

Trước hết, phong cách nghệ thuật nhà văn là sự thống nhất các đặc tính vốn

có của tất cả các tác phẩm của nhà văn đó Phong cách là một cái gì rất chung mà không trừu tượng, có thể thâu tóm tất cả nhưng lại là hình ảnh sinh động của nhà văn, là thần thái, là linh hồn của mỗi tác phẩm nhưng cũng là tâm trạng, cách nhìn, giọng điệu, nụ cười quen thuộc của người nghệ sĩ Cho nên, xác định phong cách nếu chỉ sa vào phân tích những chi tiết, những yếu tố riêng lẻ thì không hình dung được phong cách Ngược lại, nếu miêu tả phong cách mà chỉ rút vào một vài nét thống nhất nào đó thì cuối cùng cũng không nói được một điều gì rõ rệt

Nói đến phong cách trước hết phải nói đến tính thống nhất của nó như một chỉnh thể nghệ thuật Ở một nhà văn lớn, sự thống nhất về phong cách được thấy rõ

Trang 25

qua hàng loạt tác phẩm Ta thường đoán được một tác phẩm này hay một tác phẩm khác do một nhà văn nào đó viết, mặc dù ta chưa biết người viết tác phẩm ấy Điều này có nghĩa là, chúng ta có thể nhận ra phong cách của nhà văn khi đã biết trước qua tác phẩm khác của anh ta Phong cách là sự thống nhất cuối cùng của tất cả các yếu tố trong tác phẩm từ đề tài, chủ đề, kết cấu, hình tượng, giọng điệu, các chi tiết

cụ thể đến cách đặt câu dùng từ, thậm chí từ ngữ ưa thích của nhà văn Tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một nhà văn chính là làm sáng rõ những dấu ấn sáng tạo của nhà văn thể hiện ở các yếu tố này

Phong cách cá nhân nhà văn là sự độc đáo trong cách nhìn, cách cảm mang tính khám phá, cách quan niệm về con người và cuộc sống Mỗi nhà văn luôn muốn tạo cho mình một hướng quan sát và khám phá riêng về hiện thực cuộc sống Phong

cách thực sự không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn Trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Khravchenko cho rằng: “Cá tính

sáng tạo của nhà văn thể hiện trong những khía cạnh khác nhau của nghệ thuật của nhà văn đó, trước hết nó thể hiện ở sự độc đáo trong cách nhìn của anh ta đối với những hiện tượng của cuộc sống, ở sự độc đáo và ở ý nghĩa của những khái quát mang tính chất sáng tạo của anh ta” [61, tr.92] Tác giả đã nghiên cứu sự chi phối của cái nhìn nghệ thuật đối với quá trình phát hiện các vấn đề của nội dung hiện thực, sự cảm nhận đời sống, sự sáng tạo các hình thức biểu hiện của nghệ sĩ Nhà nghiên cứu cho rằng trong khi đưa vào văn học “cái nhìn của mình”, nhà văn có tài

đã làm gia tăng các tài sản chung, những giá trị tinh thần thuộc về nhân dân Ông khẳng định: “Cái nhìn của nhà văn càng tinh bao nhiêu thì anh ta càng thâm nhập sâu vào thực chất của sự vật, những khái quát nghệ thuật của anh ta, những khám phá sáng tạo của anh ta càng lớn bấy nhiêu” [61, tr.89] Do vậy, cái nhìn là một phương diện biểu hiện tài năng và cá tính riêng của tác giả Cái nhìn bao hàm khả năng nhận thức, phát hiện vấn đề, sự tinh tường của tình cảm, năng lực tri giác, cảm giác, quan sát, năng lực tổng hợp và phân tích, độ nhạy cảm của thị hiếu thẩm mỹ,… Cái nhìn xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu ghét, gắn với liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn dụ, Nó có tính tổng hợp rất cao, vừa bộc lộ cách nhìn, cách thức, phương pháp đối với đối

Trang 26

tượng, vừa bộc lộ quan điểm lập trường của chủ thể sáng tạo Trong cuốn Dẫn luận thi pháp học, tác giả Trần Đình Sử quan niệm: “Cái nhìn là một năng lực tinh thần

đặc biệt của con người, nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó

mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mĩ của sự vật, do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật’’ [155, tr.109]

Nhà văn thể hiện cái nhìn nghệ thuật độc đáo về thế giới thông qua những phương tiện hết sức đặc thù Cái nhìn của nhà văn chính là tư tưởng nghệ thuật -

“linh hồn, kết tinh của những cảm nhận, suy nghĩ về cuộc đời Tư tưởng thấm nhuần trong tác phẩm như máu chảy trong huyết quản thấm đến từng tế bào cơ thể” [41, tr.383] Không những thế, cái nhìn còn là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật, hay nói cách khác, cái nhìn nghệ thuật trong phong cách học chính

là quan niệm nghệ thuật về con người trong thi pháp học, nhưng nó mang tính độc đáo, riêng biệt của nhà văn Bởi vậy, để phát hiện và chỉ ra cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, cần phải làm sáng tỏ được sự độc đáo trong quan niệm về cuộc sống và con người của nhà văn ấy, rồi cả những khám phá riêng của nhà văn về không gian văn hóa - nơi khơi nguồn và làm nên cảm hứng cho chủ thể sáng tạo nghệ thuật

Phong cách suy cho cùng là sự độc đáo và khác biệt của nhà văn, hay phong cách nhà văn là của tôi, là cái riêng có giá trị mà mỗi nhà văn nỗ lực xây dựng và phát triển trong suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình Không chỉ thể hiện sự độc đáo về cách nhìn, phong cách nghệ thuật nhà văn còn thể hiện năng lực sáng tạo của anh ta trên các yếu tố thuộc phương diện hình thức nghệ thuật, bao gồm cách tổ chức kết cấu tác phẩm, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật của nhà văn Chúng tôi tán thành quan niệm của Xidorov khi ông cho rằng “phong cách cá nhân của nhà nghệ sĩ không ở đâu thể hiện rõ bằng ngôn ngữ của họ, ở nhạc điệu của lời nói, ở những thủ pháp kết cấu, ở việc lựa chọn và làm sáng tỏ những chi tiết nghệ thuật” [89, tr.29], còn Turghenev thì nhấn mạnh và đề cao đến tiếng nói, giọng điệu riêng biệt: “… cái quan trọng là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác” [61, tr.90]

Trang 27

Thứ hai, phong cách thể hiện tập trung những đặc điểm mang giá trị phẩm chất nghệ thuật cao, được kết tinh trong sự sáng tạo của nhà văn Nói đến phong cách là nói đến tính độc đáo của phẩm chất thẩm mĩ - nghĩa là phải đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ thẩm mĩ dồi dào khiến họ tìm thấy sự khác biệt giữa tài năng này với tài năng khác Chính vì thế, không phải nhà văn nào cũng có phong cách và không phải phong cách nào cũng độc đáo, có giá trị Bởi mỗi tác giả có một cách nhận thức và phản ánh nhận thức của mình, tuy nhiên chỉ riêng sự khác biệt chưa thể làm nên phong cách, mặc dù xét cho cùng, nhà văn nào cũng có đặc điểm riêng Đặc điểm mờ nhạt thì chưa có ý nghĩa gì đối với nghệ thuật, phải là chỗ độc đáo không thể thay thế mới làm nên phong cách nhà văn Phong cách nghệ thuật dánh dấu sự trưởng thành và bản lĩnh cá nhân của nhà văn trong sáng tác Nói cách khác, nhà văn phải có gia tài văn học vừa phong phú từ thể loại đến số lượng, vừa

có giá trị mà các tác phẩm của họ hợp thành một thể thống nhất, độc đáo Cho nên, quá trình khẳng định phong cách của một nhà văn là quá trình tu dưỡng nghệ thuật, quá trình nhà văn tự tìm hiểu chỗ mạnh, chỗ yếu và bản sắc của mình

Tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá một nghệ sĩ là ở chỗ anh ta có đem lại một cái gì mới mẻ riêng biệt hay nói chính xác là một phong cách độc đáo cho nền văn học dân tộc hay không Nhà văn phải không ngừng tích luỹ vốn sống, trau dồi tư tưởng tiến bộ của thời đại và có những đổi mới để phù hợp với thị hiếu thẩm mĩ của thời đại, để hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ Điều đó có nghĩa là nghệ thuật phải thống nhất trong bản chất cốt lõi nhưng cách triển khai lại đa dạng

Như vậy, xung quanh khái niệm phong cách nghệ thuật nhà văn có nhiều vấn đề phức tạp phải bàn luận Tuy nhiên, để có một khái niệm thích đáng cần thiết cho quá trình giải quyết đề tài luận án, chúng tôi xác định nội hàm khái niệm phong cách nghệ thuật nhà văn như sau: Phong cách nghệ thuật nhà văn là cái nhìn nghệ thuật về cuộc sống, con người và thường chịu sự chi phối của các yếu tố chủ quan (cá tính, phương diện tinh thần,…), khách quan (không gian văn hóa, kinh nghiệm, vốn sống,…); Phong cách nghệ thuật nhà văn cũng là lối viết, cách thức hành văn riêng của tác giả

Trang 28

Nhà văn muốn tạo được phong cách cá nhân của mình phải luôn có ý thức kế thừa, tiếp thu và phát triển những tinh hoa truyền thống dân tộc và thế giới, từ đó tạo nên nét đặc sắc trong sáng tác của mình

Chúng tôi cho rằng phong cách nghệ thuật phải mang nét độc đáo, cá biệt, có thể qua đó mà phân biệt tác giả này với tác giả khác; Tuy là cái riêng của nhà văn nhưng phong cách nghệ thuật vẫn mang những đặc điểm chung nhất định của thế

hệ, thời đại, dân tộc, nó có thể được kế thừa và nâng lên từ truyền thống văn học

Theo chúng tôi, để chỉ ra phong cách nghệ thuật của một nhà văn cần dựa trên ba nét cơ bản nhất, đó là: cái nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật của nhà văn Trên cơ sở so sánh cách thể hiện các yếu tố nói trên của nhà văn với các tác giả cùng thời và sau đó, nhằm làm nổi bật những vấn đề chỉ có ở nhà văn này, là những đóng góp riêng, có giá trị của nhà văn với toàn bộ nền văn học

Vì vậy, để chỉ ra phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng, luận án của chúng tôi

sẽ quan tâm đến cách thể hiện, những phương thức kiến tạo của nhà văn Nguyễn Quang Sáng được thể hiện qua hệ thống tác phẩm của ông

1.2 Về tác giả Nguyễn Quang Sáng

Nguyễn Quang Sáng sáng tác ở nhiều thể loại và ở thể loại nào, ông cũng có những thành công riêng, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả và nhận được nhiều ý kiến phê bình, đánh giá của các nhà nghiên cứu

Các bài viết về Nguyễn Quang Sáng tập trung trong những sách chuyên khảo, chuyên luận, hoặc được công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, làm

rõ đóng góp của nhà văn đối với nền văn học Nam bộ nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung Tuy độc giả trong và ngoài nước đều biết Nguyễn Quang Sáng

là một nhà văn nổi tiếng với sự thành công trên nhiều thể loại, nhưng phải khẳng định truyện ngắn và kịch bản phim là hai thể loại nhà văn gặt hái được nhiều thành quả và thể hiện được tài năng của ông Bởi vậy, các công trình nghiên cứu và các bài viết về Nguyễn Quang Sáng tập trung chủ yếu vào các tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn

Một trong những bài phê bình đầu tiên về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng

là bài viết Đất nước và con người miền Nam trong Chiếc lược ngà của Nguyễn

Trang 29

Quang Sáng của tác giả Nguyễn Nghiệp (đăng trên Tạp chí Văn học, số 01, 1969) Trên cơ sở tóm tắt lại nội dung các câu chuyện trong tập truyện ngắn Chiếc lược ngà, Nguyễn Nghiệp đưa ra một số phát hiện về đặc điểm truyện ngắn Nguyễn

Quang Sáng: “Lối kể chuyện tưởng chừng như rất thoải mái, tuỳ hứng, nhưng thực

ra đã thông qua bàn tay rất chủ động của tác giả (…) Quá khứ với hiện tại xen lẫn nhau, gắn bó với nhau theo lôgic bên trong của tính cách (…) Những chi tiết đều là chọn lọc và đã được khai thác đúng mức, hành động bên ngoài nói lên được tâm trạng bên trong, nhiều chỗ phảng phất gợi lại lối kể chuyện súc tích, cô đọng của Nguyễn Thi” [108, tr.133] Đây là những nhận định quan trọng chỉ ra nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Quang Sáng

Năm 1975, tác giả Vân Thanh đã có những nhận định toàn diện và sâu sắc

hơn về Truyện ngắn Nguyễn Sáng (Tạp chí Văn học, số 2), bước đầu chỉ ra một số

đặc điểm nổi bật làm nên phong cách truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng như yếu tố

kì diệu, giàu chi tiết sống, tình huống bất ngờ, đậm kịch tính nhưng vẫn mang nhiều chất trữ tình: “Nói được một cái gì thật kì diệu trong những điều tưởng chừng rất bình thường của cuộc sống, đó là đóng góp đáng chú ý của Nguyễn Sáng ( ) Nhưng làm quen với Nguyễn Sáng, người đọc được tiếp xúc nhiều hơn với những câu chuyện được xây dựng trên những tình tiết ngẫu nhiên, bất ngờ, lắm khi gay cấn, căng thẳng, đầy kịch tính” [108, tr.118-119] Vân Thanh còn đưa ra nhiều kết luận quan trọng về chi tiết, nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện của Nguyễn Quang Sáng: “Truyện Nguyễn Sáng giàu chi tiết sống Nhưng chi tiết đối với anh không phải là một thứ trang sức để phô bày Chi tiết được anh dùng trước hết là nhằm khắc hoạ nhân vật” “Giàu chi tiết sống, lắm tình huống bất ngờ, truyện Nguyễn Sáng thường mang nhiều chất kịch Có thể xem đó là phong cách của anh”

“Nguyễn Sáng vốn là cây bút khéo sử dụng các yếu tố ngẫu nhiên có thể xảy ra, đóng vai trò chất xúc tác thực sự, đẩy các tình huống phát triển” [108, tr.124]

Tiếp đó, các công trình dài hơi nghiên cứu về văn học Nam bộ trong đó có

tác giả Nguyễn Quang Sáng xuất hiện nhiều hơn Văn học giải phóng miền Nam của

tác giả Phạm Văn Sĩ (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1976) có thể coi là tác phẩm hoàn chỉnh đầu tiên nghiên cứu về văn học ở vùng giải phóng miền Nam

Trang 30

thời kỳ chống Mỹ từ năm 1954 đến năm 1970 Tác giả đã phân chia sự phát triển của văn học miền Nam thời kỳ này làm ba giai đoạn nhỏ phản ánh trên những nét lớn ba giai đoạn của cuộc đấu tranh chống Mỹ - Ngụy của nhân dân miền Nam (giai đoạn 1954-1959, giai đoạn 1960-1965 và giai đoạn 1965-1970) Trên cơ sở khái quát đặc điểm chung và tổng kết những thành tựu chủ yếu của mỗi giai đoạn, Phạm Văn Sĩ đi đến kết luận: “Chúng ta thấy rõ văn học cách mạng miền Nam thời kỳ chống Mỹ đã có sự phát triển khá nhanh về số lượng và chất lượng, có sự phát triển tương đối nhịp nhàng giữa các thể loại và đã có được một đội ngũ văn nghệ sĩ đông đông đảo, đáng tin cậy” [145, tr.34] Về Nguyễn Quang Sáng, nhà nghiên cứu khẳng định: “Nguyễn Quang Sáng được chú ý hơn hết với những truyện ngắn viết

về cuộc sống của người dân Nam bộ trong chiến tranh Đó là những bức tranh khác nhau thể hiện những vẻ đẹp khác nhau của dân thường, người cán bộ cơ sở, người chiến sĩ giải phóng Tác giả tỏ ra nhạy cảm trong việc nắm bắt những sự kiện tiêu biểu, tinh tế trong việc khai thác tính cách của con người Nam bộ” [145, tr.32]

Năm 1994, xuất hiện tập tiểu luận Phê bình - Bình luận văn học Anh Đức,

Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam do tác giả Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn và giới thiệu

(Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) Công trình này xoay quanh các tác phẩm tiêu biểu của ba tác giả Nam bộ: Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam

Đến năm 1997, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh tái bản và sửa chữa tập tiểu

luận Phê bình - Bình luận văn học Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyên Ngọc, Đoàn Giỏi - bốn cây viết truyện ngắn xuất sắc của nền văn học cách mạng miền

Nam giai đoạn chống Mỹ Sách tập hợp và giới thiệu đến bạn đọc nhiều bài viết có

liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của họ Các bài viết Đất nước và con người miền Nam trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng của tác giả Nguyễn Nghiệp, Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng của tác giả Vân Thanh và bài viết về chân dung Nguyễn Quang Sáng của tác giả Trần Hữu Tá (trích từ Từ điển văn học)

được in chung vào tập này để khẳng định những giá trị trong các tác phẩm, đặc biệt

là tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng Trong bài viết của mình, Trần Hữu Tá khẳng định: “Nguyễn Quang Sáng có một phong cách viết truyện ngắn độc đáo Truyện thường lắm tình huống bất ngờ, ngẫu nhiên nhưng tự

Trang 31

nhiên, giàu chi tiết sống động và kì diệu nhưng hợp lý, tính kịch rất nổi nhưng cũng đậm đà chất trữ tình” [108, tr.114]

Đáng chú ý hơn là Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng (Nxb Văn

học, 1996) của hai tác giả Bùi Việt Thắng và Phan Đắc Lập Bùi Việt Thắng với bài

viết Còn lại tình yêu, sau này in trong cuốn Bình luận truyện ngắn của tác giả, đã

khái quát lại hai chặng đường truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng (trước và sau 1975), đồng thời, tìm ra mối tương quan phát triển, sự kế thừa và những chuyển biến giữa các chặng đường Tác giả cho rằng: “Khi nghiên cứu bước đường sáng tác của một nhà văn, ta thường thấy có hiện tượng: ở một thời điểm nào đó với những ảnh hưởng và biến đổi nào đó, nhà văn viết khác trước, và cái sự khác này tạo ra một bước ngoặt Nhưng có nhà văn, dù cố tình “rẽ ngoặt” thì vẫn không được, anh ta phải trở lại chính mình mới được công nhận Nguyễn Quang Sáng ở vào trường hợp thứ hai” [164, tr.286] Theo Bùi Việt Thắng: “Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng viết trước 1975 “ròng ròng sự sống”, một sự sống đa dạng cung bậc, màu sắc, có tiếng khóc và tiếng cười, có khổ đau và hy vọng Một cuộc sống biến ảo đầy bất ngờ thú vị Dường như cái chất sống tự nhiên như khí trời nên sự triết lý của nhà văn cũng từ đó mà tự nhiên, nhuần nhị” nhưng sau 1975 “khi ông cố đổi giọng cho

có vẻ hợp thời thì người đọc thấy chán - đó là khi đọc những Tôi thích làm vua, Thế

võ, Nhân vật ấy không được chết…” [164, tr.286] Chỉ đến loạt truyện Con mèo của Fuojita, Người đàn bà đức hạnh, Người dì tên Hợi… thì Nguyễn Quang Sáng mới

“phát sáng trở lại” - nghĩa là tung phá hơn nhưng rất uyển chuyển, vừa giàu chất sống vừa thâm sâu triết luận, vừa cụ thể sinh động vừa rất gợi mở liên tưởng” [164, tr.287]

Khác với Bùi Việt Thắng, tác giả Phan Đắc Lập lại đưa ra những lập luận hết sức thú vị về các tác phẩm sau 1975 của Nguyễn Quang Sáng: “Những truyện như

Tôi thích làm vua, Thế võ, Con khướu sổ lồng… tôi cho rằng, cùng với truyện ngắn xuất sắc của anh thời kháng chiến như Chiếc lược ngà, Chị xã đội trưởng…, một số

truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng sau năm 1975 là những truyện ngắn rất hay” [136, tr.7] Nhà nghiên cứu còn thẳng thắn chỉ ra: “Còn cho rằng tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng giống như văn chương của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn,

Trang 32

tôi e rằng sự so sánh này đã trên cái mức khập khiễng” [136, tr.8] Ông khẳng định:

“Dù viết về đề tài chiến tranh, hay chuyện đời thường, phần lớn các tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng đều hấp dẫn Sự hấp dẫn do nhiều yếu tố: chủ đề, bố cục, chi tiết nhưng trước hết ở tác phẩm của anh là giàu kịch tính” [136, tr.9]

Trong những bài viết tổng hợp về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, nổi bật nhất là bài nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng của tác giả Lý Hoài Thu

trong công trình Truyện ngắn Việt Nam hiện đại - Lịch sử - Thi pháp - Chân dung

(Phan Cự Đệ chủ biên) Với hướng tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng từ lý thuyết thi pháp học, tác giả cho thấy cái nhìn toàn diện và tổng quát về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng thông qua việc làm sáng tỏ hai nội dung chính: một là, Nguyễn Quang Sáng và những bước đi của truyện ngắn: tóm tắt đặc điểm hai chặng đường sáng tác truyện ngắn của ông (từ 1956-1975 và từ sau 1975); hai là, vài nét về phong cách truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng: một nhà văn ưa “chơi bố cục” và tình huống, nhà văn của những chi tiết “biết nói và ám ảnh”, ngôn ngữ văn phong mang đậm chất Nam bộ Những kiến giải và kết luận của tác giả là những gợi ý rất quý báu cả về nội dung và phương pháp luận cho luận án của chúng tôi

Nguyễn Quang Sáng viết khá nhiều về truyện ngắn, nhưng giấc mộng lớn của ông vẫn là tiểu thuyết Bên cạnh các thể loại khác, sự nghiệp văn học của ông

gồm có bốn tiểu thuyết, trong đó Đất lửa là cuốn tiểu thuyết đầu tay, cũng là tác

phẩm ông tự hào nhất: “Đó là cuốn sách tâm huyết cả đời tôi Trong đó tôi gửi gắm tâm sự vào nhân vật, mang tâm hồn của lứa tuổi hai mươi” như lời nhà văn tự bạch

Năm 1963, Nguyễn Quang Sáng công bố tập một tiểu thuyết Đất lửa đã tạo

nên nhiều luồng dư luận khác nhau Có ý kiến ủng hộ cách viết của Nguyễn Quang Sáng nhưng cũng có nhiều ý kiến chỉ trích ông nhấn mạnh quá nhiều yếu tố bi làm yếu đi bản anh hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp Giữa lúc đó, tác giả Phan

Nhân khẳng định trong bài viết Đọc Đất lửa (Tạp chí văn học số 4, năm 1964):

“Với Đất lửa, Nguyễn Quang Sáng đã đóng góp một phần vào việc làm sáng tỏ vấn

đề Hoà Hảo bằng phương tiện nghệ thuật, giúp cho người đọc nhận thức rõ về những người theo đạo Hoà Hảo cũng như giúp cho chính bản thân đồng bào nông dân theo đạo hiểu mình hơn” [100, tr.15]

Trang 33

Người đưa ra nhiều nhận xét quan trọng nhất về Đất lửa là Giáo sư Phan Cự

Đệ Trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1 (Nxb Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, 1974), ông nhắc đến tác phẩm này khá nhiều, có khen và có chê Ông khen Nguyễn Quang Sáng đã biết khoét sâu mâu thuẫn giai cấp ở nông thôn miền Nam thời kháng chiến chống Pháp: “Nguyễn Quang Sáng đã dám xông vào một vấn đề gai góc, phức tạp và tế nhị: vấn đề Hoà Hảo trong những ngày đầu

kháng chiến ở Nam bộ Đất lửa đã vạch ra được thực chất của những tín đồ Hoà

Hảo là những nông dân nghèo khổ có lòng yêu nước nhưng trong số đó có những người bị tình cảm tôn giáo làm cho mụ mị rồi đâm ra mù quáng (lão Ịnh) Mặt khác, cuốn tiểu thuyết đã phần nào vạch trần được âm mưu của bọn địa chủ cường hào, hội tề, hương dõng, do sự giật dây của thực dân Pháp, nhảy ra nắm đạo Hòa Hảo, xúi dục tín đồ chống lại kháng chiến, gây ra cảnh huynh đệ tương tàn” [24, tr.166]

Tuy nhiên, theo khuynh hướng chung lúc bấy giờ, nhà nghiên cứu Phan Cự

Đệ cũng tiếp cận Đất lửa từ góc độ xã hội học và đánh giá nó dựa trên những

nguyên lý cơ bản của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa Ông cho

rằng, Đất lửa cũng như một số tiểu thuyết đương thời đã thiếu tính điển hình: “Cái

chất “yêng hùng hảo hớn”, cái “chất cô dắc” cũng bị Nguyễn Quang Sáng cường điệu ít nhiều khi miêu tả những nông dân Hoà Hảo ở Long Châu Hà” [24, tr.172]

Vì có nhiều ý kiến bất lợi về Đất lửa, Nguyễn Quang Sáng bỏ ý định viết

tiếp tập 2, ông mang ba lô vào miền Nam chiến đấu Khoảng 40 năm sau, vấn đề

này mới được xới lại trong hội thảo nhà văn “Nguyễn Quang Sáng” do Hội Nhà văn

Thành phố Hồ Chí Minh và nhóm văn chương Hồn Việt tổ chức vào ngày

29-7-2008 tại trụ sở Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích từ việc nhìn lại những thành tựu của lớp nhà văn thế hệ trước, để từ đó vạch ra được hướng đi của lứa nhà văn trẻ bây giờ Các đồng nghiệp cầm bút nhiều thế hệ

đã có trên mười tham luận phân tích những nét đặc trưng của tác phẩm Nguyễn Quang Sáng, trong đó có một tham luận đặc biệt của nhà thơ Nguyễn Duy về Nguyễn Quang Sáng Tham luận này viết bằng văn vần “sáu tám”:

“Nam kỳ có bác Nguyễn Quang Sáng, dân Chợ Mới gốc làng Mỹ Luông”

Trang 34

Một trong những tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất trong hội thảo này là

tiểu thuyết Đất lửa TS Phạm Ngọc Hiền trình bày tham luận Yếu tố bi kịch trong tiểu thuyết Đất lửa của Nguyễn Quang Sáng (đăng trên Tạp chí Kiến thức ngày nay,

số 647, năm 2008) Ông khẳng định, Đất lửa là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác

của Nguyễn Quang Sáng, là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất trong văn học Cách mạng Việt Nam 1945-1975: “Trong văn học Việt Nam, hiếm có tiểu

thuyết nào giàu màu sắc bi kịch như Đất lửa Nguyễn Quang Sáng đã thành công

xuất sắc trong việc xây dựng xung đột kịch, bút pháp phân tích tâm lý, tạo không khí truyện… Tác phẩm có giá trị hiện thực cao, giúp bạn đọc hiểu thêm những góc khuất lịch sử Nam bộ buổi đầu kháng chiến chống Pháp” [46, tr.12]

Trong cuộc hội thảo này, nhà nghiên cứu văn học người Đức, tác giả Frank

Gerke cũng đánh giá cao tiểu thuyết Đất lửa của nhà văn Nguyễn Quang Sáng và đã

chọn dịch tiểu thuyết này sang tiếng Đức Frank Gerke cho rằng: “Theo quan điểm

của tôi, Đất lửa là một trong những tiểu thuyết thành công nhất Đó là một tiểu

thuyết lịch sử Nam bộ về chiến tranh, về cách mạng, về những khó khăn và xung đột người Nam bộ đã phải trải qua và khắc phục trong một thời gian nhất định” [113, tr.24]

Nhìn chung, hội thảo đã trao đổi nhiều vấn đề liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Quang Sáng ở nhiều phương diện, sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, nhiều lý thuyết phê bình cảm thụ nghệ thuật để làm nổi rõ những đóng góp của ông đối với nền văn chương dân tộc, từ hiện tượng Nguyễn Quang Sáng để

mở rộng vấn đề, hướng đến việc xây dựng kế hoạch phát triển cả về số lượng và chất lượng cho các cây bút trẻ

Ngoài tiểu thuyết Đất lửa, các tiểu thuyết khác của Nguyễn Quang Sáng cũng nhận được sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu Mùa gió chướng là cuốn

sách mô tả tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam chống lại sự đàn

áp, ý đồ dời dân lập ấp của kẻ địch Cuộc đấu tranh đó đã trải qua nhiều gian nan, thử thách, biết bao hy sinh mất mát nhưng cuối cùng đồng bào miền Nam đã giành

thắng lợi Tác giả Hoàng Trung Thông trong bài viết Chờ đợi những mùa gió chướng (đăng trên Tạp chí Nhà văn, số 1, 2002) đã nhận xét: “Với một lối kể

Trang 35

chuyện nhẹ nhàng, thoải mái mà hấp dẫn, không lên gân mà có sự dữ dội quyết liệt, Nguyễn Quang Sáng qua từng chương tác phẩm đã trình bày một cách sinh động bằng hình tượng nghệ thuật những biến động xã hội, những con người rất thực làm

say mê người đọc” [186, tr.76] Hay trong cuốn 25 năm một vùng tiểu thuyết, tác giả Nguyễn Thị Kim Anh cũng khẳng định: “Mùa gió chướng - tác phẩm văn học và Mùa gió chướng - tác phẩm điện ảnh, một thời đã là hình tượng nghệ thuật đẹp, đi

vào nhận thức của không ít lớp thanh niên, học sinh đô thị miền Nam những ngày đầu sau giải phóng, để từ đó đã thắp lên trong tim họ ngọn lửa của tình yêu đất nước” [54, tr.369]

Trong bốn tiểu thuyết của Nguyễn Quang Sáng thì Dòng sông thơ ấu là cuốn

tiểu thuyết xuất hiện sau 1975 gần đây nhất của nhà văn Tác phẩm này cũng được

chuyển thể thành phim và được đông đảo công chúng biết đến Dòng sông thơ ấu

được xem là một thiên sử thi, giống như một cuốn hồi ký tái hiện lại cuộc kháng chiến chống Pháp ở quê hương Nam bộ.Chuyện cũ mấy chục năm về trước mà vẫn chứa đựng nhiều thông tin mới mẻ Bởi vùng đất này, vùng Tây Nam xa xôi của Tổ quốc còn ít được phản ánh và bởi cách nhìn, cách nói của tác giả có nhiều phát hiện Nhuần nhuyễn, tinh tế, nhiều màu sắc, tác giả đã dựng một bức tranh quê hương gần như toàn cảnh Có cảnh nhà, cảnh làng với nước ròng, nước ngập Có cảnh bẫy chim, bắt cá, có không khí đình đám, hội hè… với những con người mang dáng dấp, tính cách đậm đà đặc sắc Nam Bộ Những sinh hoạt thường ngày, những công việc, ngành nghề được miêu tả cụ thể rành rọt đến nỗi có thể nhận lầm là một tiểu thuyết phong tục Theo nhà nghiên cứu Định Hải: “Với rất nhiều chi tiết chân thực

và sinh động, nhà văn đã làm sống lại hình ảnh quê hương, hình ảnh người nông

dân Nam bộ” [118, tr.219]

Năm 2010, tập sách Nguyễn Quang Sáng với bạn bè - kết quả nhiều năm sưu

tầm, tìm kiếm của nhà văn Trần Thanh Phương (Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2010) do Công ty Cổ phần Sài Gòn Truyền thông (Saigon Media) phát hành như một món quà nhỏ của tác giả Trần Thanh Phương dành tặng cho người bạn văn Nguyễn Quang Sáng Trong đó, Nguyễn Quang Sáng kể chuyện về bạn bè mình, từ các chính khách như Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng đến các nhạc sĩ Trịnh Công

Trang 36

Sơn, nhạc sĩ Bảo Phúc… hay về những nhà văn đã khuất như Nguyễn Tuân, Đoàn Giỏi… Và một phần, như một tấm gương phản chiếu, cuốn sách dành một số trang đáng kể để lắng nghe bạn bè, độc giả kể chuyện về ông thay cho một cuốn hồi ký

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - “Cây đại thụ của văn học Nam bộ” đã ra đi thanh thản ở tuổi 82 (1932-2014), để lại khoảng trống lớn cho văn học nước nhà và những người yêu thương ông Một năm sau, được sự đồng ý của gia đình cố nhà văn, Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ tập hợp một số truyện ngắn, tạp văn của ông, cùng các bài viết thể hiện tình cảm sâu đậm của người thân, bạn bè, đồng

nghiệp, độc giả, xuất bản tập sách Nguyễn Quang Sáng, Văn và Đời (2015) Ấn

phẩm này được thực hiện như một nén hương tri ân nhà văn lớn, cũng là người cộng tác lâu năm của Nhà xuất bản Trong niềm cảm phục và nhớ thương nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tác giả tập sách khẳng định: “Chất văn ông trong sáng và giản

dị, ngôn từ mang vẻ đẹp thuần phác đặc trưng của cuộc sống và con người Nam bộ, đặc biệt ông chú trọng đến việc lựa chọn những chi tiết, tình tiết đắc địa để tạo nên xung đột mang ý nghĩa bước ngoặt cho câu chuyện” [113, tr.9] Cuốn sách gồm bốn phần, trong đó hai phần đầu giới thiệu nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu như:

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng trong lòng tôi (Frank Gerke - CHLB Đức), Chi tiết trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng (Nguyễn Thanh Giao), Nhớ nhà văn Nguyễn Quang Sáng (Trần Đăng Khoa), Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Đã viết - đã chơi và

đã sống (Huyền Nga), Nguyễn Quang Sáng - Người Nam bộ chịu chơi (Phạm Sỹ Sáu), Nguyễn Quang Sáng - Một người thầy truyện ngắn của tôi (Khôi Vũ)… Các

bài viết đều tập trung khẳng định Nguyễn Quang Sáng là người kể chuyện tài hoa,

là một nhà văn phong lưu và mang đậm phong cách Nam bộ

Bên cạnh các sách chuyên khảo, bình luận và các bài viết tiêu biểu trên, còn phải kể đến rất nhiều các bài viết của các nhà văn, nhà phê bình quan tâm đến tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng như Ngọc Trai, Nguyễn Lộc, Tô Hoài, Ngô Quốc Trung, Phùng Quý Nhâm, Hoàng Như Mai, Nguyễn Thanh Giao, Nguyễn Sĩ Đại… Cùng với những công trình nghiên cứu tổng quát về hành trình sáng tạo của Nguyễn Quang Sáng là những bài viết tập trung tìm hiểu một truyện ngắn tiêu biểu của nhà

văn Chẳng hạn, nhận xét của Tô Hoài khi đọc Vểnh râu: “Lần này đọc của Sáng,

Trang 37

tôi đã thấy thuần lắm cốt cách văn phong của một trung tâm - miền Nam là một trung tâm, mà trong văn không có cái nhàn nhạt chữ nghĩa dùng cho miền nào cũng

được” [27, tr.659]; của Trần Đăng Khoa khi đọc Một chuyện vui: “Nó sống động,

nó sục lên cái mùi vị sông nước Tháp Mười, cả cái chất Nam bộ không thể trộn lẫn”

[66, tr.186]; của Vũ Tú Nam khi biểu dương Con mèo của Fuojita: “Anh ấy

(Nguyễn Quang Sáng) có lối viết tự nhiên, viết như nói Không phải dễ viết được như thế Hơn nữa, Nguyễn Quang Sáng có giọng Nam bộ khá nhuần nhụy Anh rất

am hiểu đời sống, viết lại điềm tĩnh, không nóng đầu Trong thời điểm hiện tại, việc trao giải thưởng cho anh Sáng cũng là khuyến khích cách viết điềm tĩnh, không quá khích, không đẩy tới, cường điệu thành nặng nề, u tối” [66, tr.176] Rồi các bài viết

về truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Lộc, Phạm Văn Nam; về Bông cẩm thạch của

Liên Phương cũng là những đánh giá xác đáng về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang Sáng,

Không chỉ dừng lại ở những cuốn sách giới thiệu, sưu tầm hay bài viết trên các tạp chí mà trong các cơ sở giáo dục, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Quang Sáng cũng trở thành đối tượng thẩm mĩ trong nhiều công trình khoa học của sinh viên và học viên cao học Ở mỗi công trình, các tác giả đề cập đến những khía cạnh, vấn đề cụ thể của tác phẩm, làm nổi bật những giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, qua đó khẳng định đóng góp của Nguyễn Quang Sáng đối với nền văn học dân tộc

Ngoài những nghiên cứu, đánh giá chung về các tác phẩm, về sự nghiệp viết văn, Nguyễn Quang Sáng còn được đánh giá về phương diện phong cách nghệ thuật Tuy nhiên, những công trình coi phong cách Nguyễn Quang Sáng là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt chưa được chú trọng Theo khảo sát của chúng tôi qua tên nhan đề và nội dung các công trình nghiên cứu về Nguyễn Quang Sáng thì cụm từ “phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng” xuất hiện với tần số khiêm tốn Tuy không trực tiếp nghiên cứu vấn đề phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng nhưng trong một số bài viết, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của nhà văn Tiêu biểu là một số ý kiến như:

Trang 38

- Tác giả Bùi Việt Thắng đã phát hiện ra hồn cốt Nam bộ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng và nhận định về lối viết văn của ông: “Nếu nói “văn là người” thì câu này rất hợp với Nguyễn Quang Sáng Cái “chất Nam bộ” thể hiện rất rõ trong văn của ông” [164, tr.287] Bùi Việt Thắng còn phát hiện ra những nét độc đáo, đặc sắc trong phong cách Nguyễn Quang Sáng là ông có “một lối văn rất

“hoạt”, rất “động” Đọc văn của ông, thấy ẩn giấu sau mỗi câu chữ là tiếng cười, kể

cả khi viết về những sự gay cấn, nguy hiểm nhất ( ) Lại có cảm giác Nguyễn Quang Sáng viết “như chơi” - nghĩa là từ ngòi bút ấy tuôn chảy cái mạch tình cảm

tự nhiên của một người có bản lĩnh lại thấu thị nhiều điều trong cuộc sống” [164, tr.289]

- Tác giả Phan Đắc Lập chỉ ra sự độc đáo trong “hơi văn” của Nguyễn Quang Sáng: “Một nhà văn chôn rau cắt rốn trên đất Nam bộ, yêu quê hương Nam bộ như vậy, các tác phẩm lại viết về con người, đồng đất, cuộc chiến đấu của Nam bộ, các tác phẩm ấy rất Nam bộ là chuyện hiển nhiên Điều cần nói thêm là tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng mang cái hồn Nam bộ, nhưng hơi văn của anh lại rất Hà Nội - quê hương văn hóa của anh, và cũng là cái nôi văn hóa của cả nước” [136, tr.7]

- Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét phong cách văn chương Nguyễn Quang Sáng:

“là một thứ văn chương hồn hậu mang được hơi thở, phong cách, khẩu khí, phong

độ của người dân Nam bộ rất rõ, và dường như tất cả cái không khí, cuộc sống của người Nam bộ, cái quang cảnh của vùng đất Nam bộ thấm vào Nguyễn Quang Sáng

từ rất nhỏ, do đó tôi cảm thấy anh làm văn không hề có cái cầu kì không hề khó đọc Đọc văn của anh, ta cảm thấy như là tiếp xúc với cuộc đời thật, với hơi thở cuộc sống thật, với từng con người mà mình đã gặp ở đâu đó, theo tôi, đây là một

nét đặc sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng” (Nguyễn Quang Sáng - Nhà văn của đồng bằng Nam bộ, Diễn đàn văn học)

- Tác giả Trần Đăng Khoa cũng chỉ ra đặc điểm phong cách độc đáo của Nguyễn Quang Sáng: Văn Nguyễn Quang Sáng luôn “tự nhiên, phóng túng, ngang tàng, pha một chút vui vui, tếu tếu, là cái hóm, cái duyên riêng của người Nam bộ, cũng là nét đặc sắc Nguyễn Quang Sáng, là đóng góp riêng của ông vào nền văn học nước nhà” [66, tr.187],

Trang 39

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu về Nguyễn Quang Sáng, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã có những phân tích sâu sắc về cuộc đời, sự nghiệp văn chương Nguyễn Quang Sáng bằng nhiều phương pháp tiếp cận, nhiều lý thuyết phê bình Tuy được đánh giá cao song vẫn chưa có một công trình dài hơi nào về Nguyễn Quang Sáng để tìm hiểu cũng như đánh giá thỏa đáng về văn nghiệp của ông, làm rõ những cống hiến, sáng tạo của nhà văn đối với sự phát triển của văn học dân tộc, đặc biệt là trong nền văn học cách mạng miền Nam giai đoạn 1945-

1975 Thêm nữa, hầu hết những bài phê bình, nghiên cứu chưa tìm hiểu thấu đáo cặn kẽ phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng như một hệ thống hoàn chỉnh thống nhất Luận án của chúng tôi là một công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng sử dụng phương pháp phê bình phong cách học và vận dụng lý thuyết về phong cách tác giả để làm rõ những đặc sắc làm nên gương mặt riêng, đồng thời cũng là những đóng góp của một nhà văn Nam bộ tiêu biểu trong nền văn học Cách mạng từ sau năm 1945

Tiểu kết Chương 1

Trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ hai nội dung chính Trước hết

là tìm hiểu tình hình nghiên cứu phong cách nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn Theo các tài liệu tổng hợp, có thể khẳng định, nghiên cứu, phê bình văn học theo phong cách học là khuynh hướng phê bình xuất hiện sớm và đã đạt được nhiều thành tựu Qua việc tổng hợp các quan niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi khái quát các đặc trưng cơ bản của phong cách nghệ thuật của nhà văn, lấy đó làm cơ sở lí luận triển khai việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng

Tiếp theo là phần tìm hiểu khái quát về tác giả Nguyễn Quang Sáng Chúng tôi chỉ ra được những diễn biến chính của tình hình nghiên cứu liên quan đến nhà văn Từ thực tiễn ấy, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi sử dụng phương pháp loại hình phê bình văn học theo phong cách

để tiếp tục phát hiện, lựa chọn những những đặc điểm nổi bật thể hiện phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng

Trang 40

Chương 2 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN HÌNH THÀNH

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT NGUYỄN QUANG SÁNG

Phong cách nhà văn là nơi hội tụ tinh hoa nghệ thuật của nhà văn, là điểm đích cần đạt đến của mỗi nhà văn chân chính Tuy nhiên, quá trình hình thành phong cách nghệ thuật nhà văn luôn vận động, phát triển không ngừng qua mỗi giai đoạn sáng tác và chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau Để chỉ ra phong cách nghệ thuật nhà văn, cần phải nắm vững những nhân tố nền tảng nhất đã ảnh hưởng đến toàn bộ hành trình sáng tạo của nhà văn đó Vì vậy, trong chương này chúng tôi tìm hiểu hành trình sáng tạo nghệ thuật và những yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng

2.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật

Bàn về quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật, Gorki đã khuyên các nhà văn trẻ: “Các bạn hãy học viết ở tất cả các nhà văn có phong cách điêu luyện, nhưng các bạn hãy tìm lấy nốt nhạc và lời ca của mình” [39, tr.103] Mặc dù quá trình sáng tác của nhà văn rất đa dạng, vì mỗi người có những thói quen khác nhau, những đặc điểm tâm lý khác nhau, tuy nhiên, điểm gặp nhau giữa các nhà văn chân chính ưu tú

là sự nỗ lực và niềm say mê lao động sáng tạo nghệ thuật, hướng tới mục đích cao

cả nhất là sáng tạo nên những tác phẩm văn chương thấm đẫm giá trị nhân văn, có sức lay động lòng người, và kết tinh những giá trị nghệ thuật đặc sắc, nghĩa là để lại dấu ấn độc đáo và hình thành một phong cách nghệ thuật Trải qua hành trình thai nghén từ lúc hình thành ý đồ sáng tác, đến giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn viết tác phẩm và giai đoạn sửa chữa tác phẩm, nhà văn mang đến cho người đọc những đứa con tinh thần chứa đựng nhiều thông điệp và niềm hy vọng Nếu coi toàn bộ hoạt động của một nền văn học, hay nói rộng hơn, của đời sống văn học, được tạo thành bởi bốn yếu tố: thời đại - nhà văn - tác phẩm - bạn đọc, thì trong quy trình sáng tạo

ấy, yếu tố nhà văn tồn tại với tư cách một chủ thể sáng tạo đóng vai trò quan trọng nhất, còn tác phẩm văn học được xem là chủ thể trung tâm, là “tế bào”, là bộ mặt của đời sống văn học, là cơ sở của mối quan hệ giữa tác giả với cuộc sống và người

Ngày đăng: 13/06/2017, 17:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote, Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long
Tác giả: Aristote, Lưu Hiệp
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1999
2. Alain Gheerbrant và Jean Chevalier (1997), Từ điển văn hoá thế giới, Nxb. Đà Nẵng - Trường Viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hoá thế giới
Tác giả: Alain Gheerbrant và Jean Chevalier
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng - Trường Viết văn Nguyễn Du
Năm: 1997
3. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2001
4. Vũ Tuấn Anh chủ biên (2001), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh chủ biên
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2001
5. Trần Hoài Anh (2009), Lí luận - Phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận - Phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975
Tác giả: Trần Hoài Anh
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2009
6. M. Arnauđov (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Tác giả: M. Arnauđov
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1978
7. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Tác phẩm mới
Năm: 1984
8. Lại Nguyên Ân (1988), Sống với văn học cùng thời, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1988
9. Lại Nguyên Ân biên soạn (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân biên soạn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
10. Phạm Đình Ân, Thủy Liên (2000), Tuyển tập Phan Cự Đệ (4 tập), Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Phan Cự Đệ
Tác giả: Phạm Đình Ân, Thủy Liên
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2000
11. Nguyễn Văn Bổng (1987), “Dòng sông không chỉ riêng của tuổi thơ”, Tạp chí Văn học (2), tr.685-690 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng sông không chỉ riêng của tuổi thơ”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Bổng
Năm: 1987
12. Phan Kế Bính (1970), Việt Hán văn khảo, Mặc Lâm xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Hán văn khảo
Tác giả: Phan Kế Bính
Năm: 1970
13. M. Bakhin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển dịch và giới thiệu, Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhin
Năm: 1992
14. M. Bakhin (1993), Những vấn đề thi pháp Đostoevski, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đostoevski
Tác giả: M. Bakhin
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1993
15. A. Compagnon (2006), Bản mệnh của lý thuyết văn chương và cảm nghĩ thông thường, Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào dịch, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lý thuyết văn chương và cảm nghĩ thông thường
Tác giả: A. Compagnon
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2006
16. Nguyễn Văn Dân (1995), Những vấn đề lí luận của văn học so sánh, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lí luận của văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1995
17. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học - Lí luận ứng dụng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học - Lí luận ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1999
18. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2004
19. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1998
20. Trương Đăng Dung, (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w