Mục đích nghiên cứu đề tài là hệ thống và khái quát hóa vấn đề lý luận về TMĐT và MBTT, dịch vụ hỗ trợ MBTT và phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT, khái quát tình hình phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở một số quốc gia, doanh nghiệp ứng dụng TMĐT trên thế giới, xác định nguyên nhân thành công, thất bại từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (đặc biệt cho các doanh nghiệp) có thể vận dụng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-
CHỬ BÁ QUYẾT
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HỖ TRỢ MUA BÁN TRỰC TUYẾN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Thương mại
Mã số: 62 34 10 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Hà Nội – 2013
Trang 22
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN VĂN MINH PGS.TS ĐỖ TRUNG TUẤN
Phản biện 1: GS.TS NguyÔn Thanh Thñy
Tr-êng §¹i häc Quèc gia Hµ Néi
Phản biện 2: TS Ph¹m Ngäc Thóy
Bé C«ng Th-¬ng
Phản biện 3: PGS TS NguyÔn ThÞ BÝch Loan
Tr-êng §¹i häc Th-¬ng m¹i
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
họp tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm ……
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Thương mại
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
TMĐT ngày càng được ứng dụng rộng rãi đối với các nền kinh tế, các doanh nghiệp và cộng đồng TMĐT đã thu hút hàng tỷ người trên toàn cầu sử dụng với giá trị giao dịch lên tới hàng nghìn tỉ $US mỗi năm Mua bán trực tuyến (MBTT) là bộ mặt của TMĐT, một trong những ứng dụng quan trọng của TMĐT Để tiến hành các giao dịch MBTT thành công, cũng như đẩy mạnh việc ứng dụng TMĐT, giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp và người tiêu dùng trong các hoạt động mua, bán trực
tuyến, cần phải có các dịch vụ hỗ trợ nó
Những quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, một số quốc gia trong Liên minh châu Âu như Đức, Anh, Pháp… đã đi đầu trong xây dựng chính sách, hạ tầng và tạo môi trường cho TMĐT và ngành dịch vụ hỗ trợ MBTT phát triển Không những thế, các doanh nghiệp TMĐT ở đây cũng rất thành công trong khai thác và tự cung ứng phát triển nhiều dịch vụ hỗ trợ MBTT rất thành công Ví
dụ, Amazon.com, một công ty của Hoa Kỳ đã kết hợp tự cung ứng dịch vụ và sử dụng các dịch vụ hỗ trợ MBTT bên ngoài để triển bán hàng trực tuyến trên toàn cầu Các dịch vụ mà Amazon.com cung ứng là dịch vụ chợ điện tử, dịch vụ thanh toán trực tuyến và dịch vụ thực hiện đơn hàng… Một ví dụ khác là công ty TMĐT Ebay.com hiện đang hoạt động ở trên 30 quốc gia trên thế giới Ebay cung cấp dịch
vụ đấu giá trực tuyến qua sàn ebay.com, dịch vụ thanh toán trực tuyến qua Paypal.com và dịch vụ truyền thông an toàn SkyPe.com Ebay.com được đánh giá là công ty phát triển nhanh nhất mọi thời đại, và là sàn đấu giá điện tử lớn nhất thế giới Hoặc ở Trung Quốc, nhiều loại hình dịch vụ hỗ trợ MBTT đã phát triển gần đây Ví dụ, dịch vụ chợ điện tử do công ty Alibaba.com cung cấp đã hỗ trợ hàng triệu doanh nghiệp tham gia hoạt động mua, bán hàng trực tuyến, dịch vụ thanh toán trực tuyến qua Alipay đã thu hút hàng trăm triệu người dùng
Việt Nam là quốc gia có nhiều triển vọng phát triển TMĐT và MBTT như dân
số khoảng gần 90 triệu người, trên 30% số người dùng Internet, Việt Nam đã gia nhập WTO, và các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và quốc tế Tuy nhiên, hiện trạng ứng dụng TMĐT và MBTT của Việt Nam chưa phát triển
Trang 42
- Laudon, K C., và C G Traver (2005) đã xem dịch vụ hỗ trợ cho các ứng dụng TMĐT là một yếu tố (trụ cột) cấu thành khung TMĐT Các trụ cột khác là: (1) Con người, (2) Các chính sách công, (3) Marketing và quảng cáo, (4) Các đối tác kinh doanh Các dịch vụ hỗ trợ cho các ứng dụng TMĐT gồm ba nhóm chính: Các dịch vụ thanh toán điện tử, (2) Các dịch vụ an toàn bảo mật TMĐT và (3) Các dịch
Tại Việt Nam: Có một số đề tài nghiên cứu về TMĐT, thanh toán điện tử, an
toàn bảo mật là những lĩnh vực liên quan gần với dịch vụ hỗ trợ MBTT
- Nguyễn Phương (2008), đề tài luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh: “Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng sử dụng thanh toán điện tử” Kết quả nghiên cứu về các yếu tố tác động tới xu hướng sử dụng thanh toán điện tử gồm: (i) Chuẩn chủ quan; (ii) Nhận thức sự hữu ích; (iii) Nhận thức kiểm soát hành vi; và (iv) Nhận thức tính dễ sử dụng Kết quả cũng cho biết có sự khác biệt trong việc đánh giá thành phần xu hướng sử dụng và bốn yếu tố tác động theo các thuộc tính của đối tượng đã sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử
- Nguyễn Văn Thoan (2010), đề tài luận án tiến sỹ kinh tế: “Ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế” Công trình nghiên cứu về thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử ở Việt Nam, đánh giá
về tình hình ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử tại Việt Nam Đề tài cũng đề xuất các giải pháp phát triển nhanh chóng việc ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử tại Việt Nam (nhóm giải pháp về phía Chính phủ Việt Nam, nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp Việt Nam) và một số kiến nghị lưu ý của doanh nghiệp trong ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử ở Việt Nam
- Nguyễn Hồng Sơn (2010), đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học cho việc phát triển ngành dịch vụ Việt Nam đến năm 2020” Kết quả nghiên cứu được thể hiện: làm rõ vai trò của ngành dịch vụ đối với phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; xu hướng phát triển ngành dịch vụ trên thế giới và kinh nghiệm phát triển ngành dịch vụ của một số nước trên thế giới và một
số gợi ý cho Việt Nam Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển ngành dịch vụ ở Việt Nam, đề tài đề xuất các định hướng, giải pháp chính sách phát triển các ngành dịch vụ ưu tiên của Việt Nam đến năm 2020 [45]
3 Xác lập vấn đề nghiên cứu
Như vậy, cho đến thời điểm này chưa có một nghiên cứu chuyên sâu về MBTT
và dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ
Trang 53
hỗ trợ mua bán trực tuyến ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả vừa có ý nghĩa cấp bách và cần thiết Đề tài này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố
4 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Hệ thống và khái quát hóa vấn đề lý luận về TMĐT và MBTT, dịch vụ hỗ trợ MBTT và phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT, khái quát tình hình phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở một số quốc gia, doanh nghiệp ứng dụng TMĐT trên thế giới, xác định nguyên nhân thành công, thất bại từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (đặc biệt cho các doanh nghiệp) có thể vận dụng
- Khái quát hiện trạng phát triển TMĐT và MBTT ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh cho TMĐT, phân tích và đánh giá tình hình phát triển các dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam, thành công và tồn tại, nguyên nhân của thành công và tồn tại trong phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam
- Khái quát một số dự báo về phát triển MBTT trong thời gian tới năm 2020 và định hướng tới năm 2030, triển vọng phát triển các dịch vụ hỗ trợ MBTT, và đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam (nhóm giải pháp về phía Chính phủ Việt Nam; nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ; nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp, cá nhân sử dụng dịch vụ hỗ trợ MBTT)
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến việc phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT, nội dung của phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT, kinh nghiệm và các bài học trong phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở các quốc gia, các doanh nghiệp TMĐT trên thế giới Qua nghiên cứu đánh giá và phân tích thực trạng phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam, để chỉ ra những đạt được và chưa đạt được, nguyên nhân thành công và tồn tại bất cập cần khắc phục, từ đó đề tài đưa ra các đề xuất, giải pháp đối với các cơ quan hữu quan nhằm đẩy mạnh phát triển các dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam trong thời gian tới
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận án nghiên cứu tình hình phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở
một số quốc gia, nền kinh tế và một số doanh nghiệp ứng dụng TMĐT trên thế giới (của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…); nghiên cứu tình hình cung ứng
và sử dụng các dịch vụ hỗ trợ MBTT của 185 doanh nghiệp Việt Nam (bao gồm doanh nghiệp có website TMĐT, ngân hàng thương mại, công ty vận chuyển, các cơ quan nhà nước, và tổ chức phi chính phủ…); và một số công ty cung ứng dịch vụ hỗ trợ MBTT qua Internet của nước ngoài tại Việt Nam
Về thời gian: Những số liệu nghiên cứu được trích dẫn trong luận án được tập
hợp từ năm 1995 đến 2012, trọng tâm là giai đoạn từ năm 2006 tới 2011
Trang 64
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể được sử dụng bao gồm: phân tích và tổng hợp; so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp phỏng vấn chuyên gia; phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp nghiên cứu nội dung website; phương pháp nghiên cứu tài liệu; và phương pháp nghiên cứu tình huống
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia bao gồm phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua điện thoại Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng thông qua gửi Phiếu điều tra cho 185 doanh nghiệp để đánh giá: tình hình chuẩn bị sẵn sàng ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp; mức độ quan trọng của các dịch vụ hỗ trợ MBTT; chất lượng của một số dịch vụ hỗ trợ MBTT Phương pháp nghiên cứu tài liệu để thu thập
dữ liệu thứ cấp, thông qua các tài liệu của các công ty, báo cáo ứng dụng CNTT của Liên Hợp quốc, báo cáo ứng dụng TMĐT của Việt Nam, các nghiên cứu đã công bố… kết hợp dữ liệu sơ cấp để phân tích, làm rõ hiện trạng cung ứng và sử dụng dịch vụ hỗ trợ MBTT trên thế giới và tại Việt Nam
Với đặc thù của TMĐT và MBTT được diễn ra trên Internet, nghiên cứu có sử dụng phương pháp điều tra khảo sát website, nghiên cứu nội dung website và sử dụng một số công cụ điện tử như bộ đếm số người đã truy cập, đang truy cập website, thống kê số thành viên tham gia website, số tài khoản người dùng; các tính năng của website; phân tích lưu lượng truy cập và xếp hạng website của Alexa.com, các công cụ phân tích trang web: Google Analystics, Yahoo!Web Analystics
7 Những đóng góp của luận án
7.1 Những đóng góp về mặt lý thuyết
- Định nghĩa khái niệm MBTT và dịch vụ hỗ trợ MBTT, đặc điểm của dịch vụ
hỗ trợ MBTT, đề xuất việc phân loại dịch vụ hỗ trợ MBTT thành năm nhóm: dịch vụ chợ điện tử; dịch vụ đảm bảo an toàn giao dịch MBTT; dịch vụ thanh toán điện tử; dịch vụ thực hiện đơn hàng và logistics; các dịch vụ khác, làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT tại các quốc gia, nền kinh tế trên thế giới và Việt Nam
- Đề xuất hai mô hình cung cấp dịch vụ hỗ trợ MBTT: (1) Mô hình tích hợp chuỗi cung ứng dịch vụ hỗ trợ và; (2) Mô hình trung gian thông tin TMĐT.
7.2 Những đóng góp về mặt thực tiễn
- Khái quát tình hình phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở một số quốc gia, doanh nghiệp trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (cấp Chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng) có thể vận dụng
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011, chỉ ra những kết quả đạt được và chưa đạt được, xác định các nguyên nhân liên quan
Trang 75
- Đề xuất phương hướng, các giải pháp và biện pháp ở tầm vĩ mô (cấp Chính phủ, ngành) và vi mô (cấp doanh nghiệp, người tiêu dùng) để phát triển các dịch vụ
hỗ trợ MBTT ở Việt Nam hiện nay và định hướng tới 2020
8 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu thành 3 chương, cụ thể là:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam hiện nay
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT
1.1 Tổng quan về thương mại điện tử và mua bán trực tuyến
1.1.1 Tổng quan về thương mại điện tử
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của mua bán trực tuyến
1.1.2.1 Khái niệm mua bán trực tuyến
“MBTT là các hoạt động mua, bán, hoặc giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ
được tiến hành qua mạng Internet” MBTT là một loại hình quan trọng của ứng
dụng TMĐT nhưng không đồng nhất với TMĐT
1.1.2.2 Đặc điểm của mua bán trực tuyến
MBTT là hoạt động mua, hoạt động bán hoặc là giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ và thông tin qua mạng Internet Các hoạt động mua, bán hoặc giao dịch MBTT diễn ra không phụ thuộc không gian, xuyên biên giới địa lý và theo thời gian thực Hoạt động hoặc giao dịch MBTT lệ thuộc CNTT-TT và mạng Internet Thiếu mạng Internet và hạ tầng công nghệ… các giao dịch MBTT không thực hiện được MBTT là hoạt động thương mại bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều công việc diễn ra không chỉ qua Internet mà còn được thực hiện trong môi trường truyền thống
1.1.3 Lợi ích và trở ngại của mua bán trực tuyến
1.1.4 Phân loại mua bán trực tuyến
Bảng 1.1 Tổng hợp các cách thức phân loại MBTT
Từ phương diện hoạt động thương mại Từ phương diện giao dịch thương mại
Mua trực
tuyến
Theo quy mô Chủ thể Theo hình thức giao dịch
Bán trực
tuyến
Bán lẻ Bán buôn Khách thể Mua bán sản phẩm hữu hình
Mua bán dịch vụ Mua bán sản phẩm nội dung
Căn cứ vào mức độ số hóa của sản phẩm, quy trình mua bán và chủ thể giao dịch (3P)
Trang 86
Căn cứ nguồn gốc sở hữu sản phẩm, dịch vụ được bán
Bán sản phẩm của người bán Bán sản phẩm của người khác Liên kết mua/bán
Căn cứ vào đối tượng mua hàng
Doanh nghiệp sản xuất Doanh nghiệp thương mại Người tiêu dùng
1.2 Tổng quan về dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
1.2.1.1 Khái niệm dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
“Dịch vụ hỗ trợ MBTT là những hoạt động hoặc chức năng được doanh nghiệp
và người tiêu dùng sử dụng trong hoạt động mua, bán hoặc giao dịch mua bán qua Internet” Thực chất của dịch vụ hỗ trợ MBTT là việc cung cấp các hoạt động hoặc
chức năng cần thiết nhằm giảm bớt khó khăn trong các hoạt động mua, bán trực tuyến, giúp cho các giao dịch MBTT diễn ra dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn
1.2.1.2 Đặc điểm của dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
Ngoài những đặc điểm chung của dịch vụ, dịch vụ hỗ trợ MBTT có một số đặc điểm riêng sau đây:
v) Là loại dịch vụ hỗ trợ chuyên biệt gắn với hoạt động mua, bán hoặc giao dịch MBTT
vi) Là loại dịch vụ có điều kiện, chỉ được cung ứng và sử dụng trong môi trường CNTT, bị ảnh hưởng bởi khách thể giao dịch và công nghệ sử dụng
vii) Là dịch vụ có tính cá nhân hóa nhu cầu sử dụng
1.2.2 Vai trò, vị trí của dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
1.2.2.1 Vai trò của dịch vụ hỗ trợ MBTT
i) Đối với hoạt động mua, bán của doanh nghiệp, người tiêu dùng: Là nguồn
lực bên ngoài bổ sung cho các nguồn lực bên trong của doanh nghiệp; mang lại lợi ích trực tiếp cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tập trung vào hoạt động kinh doanh chính; đóng vai trò “cầu nối” giữa người mua và người bán giúp họ tăng thêm
“sự tin cậy” với nhau; có vai trò “kích thích” các bên lựa chọn phương thức giao dịch MBTT; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh mua và cạnh tranh bán của doanh nghiệp, giúp người mua thỏa mãn nhu cầu mua sắm, giá thành rẻ…
ii) Đối với phát triển kinh tế và xã hội, thương mại của mỗi quốc gia: Thúc đẩy
việc chuyển đổi các phương thức kinh doanh và cách thức mua sắm, tiêu dùng; Thúc đẩy phát triển TMĐT và thương mại truyền thống; tạo ra những công việc làm mới
cho nền kinh tế, thu hút lao động có trình độ và tạo ra của cải cho xã hội
1.2.2.2 Vị trí của dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
i) Là một yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng MBTT
Theo nghiên cứu của Tổ chức thông tin kinh tế EIU thì các dịch vụ hỗ trợ trực tuyến là một trong sáu lĩnh vực ảnh hưởng đến việc ứng dụng TMĐT
ii) Là một trụ cột – yếu tố cấu thành khung MBTT
(xem hình bên dưới)
Trang 97
1.2.4 Phân loại dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
1.2.4.1 Tình hình phân loại dịch vụ hỗ trợ MBTT trên thế giới
i) Hệ thống phân loại của LHQ (CPC 1.0), Tổ chức sở hữu trí tuệ của LHQ –
WIPO (NI-XƠ 9), hệ thống phân loại dịch vụ của LHQ theo hệ thống bộ mã chuẩn sản phẩm và dịch vụ SPSC
ii) Hệ thống phân loại của cơ quan hài hòa hóa thị trường nội địa thuộc liên minh châu Âu
iii) Hệ thống phân loại theo tổ chức thương mại thế giới (WTO)
iv) Phân loại dịch vụ hỗ trợ MBTT theo các nhà nghiên cứu: Theo E Turban et
al (2006, 2010); Theo Aberg & Shahmehri (2000); Gray (2000); Koch & Worndl (2001); Ray (2001); Roth( 2000); theo A Parasuraman et al (2002), Mohino Singh (2002)
1.2.4.2 Phân loại dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam và lựa chọn các dịch
vụ hỗ trợ MBTT cho nghiên cứu
Tại Việt Nam, trong các báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2006, 2007 và Quyết định 37/BCT năm 2008 đề cập tới một số dịch vụ hỗ trợ TMĐT nhƣ dịch vụ vận hành sàn TMĐT, thiết kế website, giải pháp thanh toán, đào tạo TMĐT, tƣ vấn ứng dụng TMĐT, v.v ”
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đã đề xuất năm nhóm dịch vụ:
Nhóm 1: Dịch vụ chợ điện tử
Nhóm 2: Dịch vụ đảm bảo an toàn giao dịch MBTT
Nhóm 3: Dịch vụ thanh toán điện tử
Nhóm 4: Dịch vụ thực hiện đơn hàng và logistics, logistics điện tử
Nhóm 5: Các dịch vụ hỗ trợ khác: Dịch vụ xếp hạng và phân tích website TMĐT, Dịch vụ mua hộ và bảo hiểm hàng hóa mua trực tuyến…
Trang 108
1.3 Phát triển dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
1.3.1 Bản chất của phát triển dịch vụ hỗ trợ mua bán trực tuyến
“Phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT được tiếp cận từ khía cạnh kinh tế, đó là sự gia
tăng về số lượng và sự nâng cao về chất lượng của các dịch vụ hỗ trợ MBTT”
Sự gia tăng về số lượng được xác định qua tiêu chí tổng hợp: (1) Tình hình cung ứng dịch vụ; và (2) Tình hình sử dụng dịch vụ
Đối với tình hình cung ứng dịch vụ: được đánh giá qua xem xét: (i) hiện trạng cung ứng dịch vụ, dịch vụ đã được cung ứng ở Việt Nam hay chưa, thời điểm mà dịch vụ bắt đầu được cung ứng thông qua so sánh với sự xuất hiện dịch vụ đó trên thế giới; (ii) có sự gia tăng số lượng nhà cung ứng qua các năm, sự thành lập mới các thể chế, công ty cung ứng dịch vụ hỗ trợ MBTT trong thời gian thực hiện nghiên cứu, số lượng nhà cung ứng trong mỗi loại hình dịch vụ, có sự tham gia của nhiều nhà cung ứng cùng một loại dịch vụ, có sự cạnh tranh giữa các nhà cung ứng, không
có tình trạng độc quyền cung ứng; ((iii) tính đa dạng các công cụ/phương tiện hoặc
hạ tầng cung ứng dịch vụ
Đối với đánh giá tính hình sử dụng dịch vụ: được xác định qua phân tích (i) tình hình sử dụng các dịch vụ: sự gia tăng số lượt truy cập website cung cấp dịch vụ, số người sử dụng dịch vụ (số thành viên, số tài khoản đăng ký), số thẻ thanh toán (thanh toán điện tử), số gian hàng điện tử được mở (trên sàn giao dịch), số lượt tải (phần mềm); (ii) giá trị giao dịch, giá trị đơn hàng thực hiện (doanh số), số lượng đơn hàng được đặt Trong một số loại hình dịch vụ, tiêu chí cơ sở pháp lý cho việc cung ứng dịch vụ cũng được xem xét để đánh giá sự phát triển
Sự nâng cao về chất lượng dịch vụ được đánh giá trên cơ sở tham khảo các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL của (Parasuraman et al.1985) và mô hình E-S-QUAL của Parasuraman et al (2005) để đo lường các dịch vụ hỗ trợ MBTT là dịch vụ điện tử Sử dụng thang đo Likert để thiết kế câu hỏi điều tra với năm mức độ: Không đáp ứng yêu cầu = 0; Đáp ứng một phần yêu cầu = 1; Chấp nhận = 2; Hài lòng = 3; Thỏa mãn = 4
1.3.2 Một số điều kiện cơ bản để phát triển các dịch vụ hỗ trợ MBTT
1.3.2.1 Khung hệ thống văn bản pháp luật, chính sách pháp luật 1.3.2.2 Xây dựng hạ tầng CNTT-TT và Internet
1.3.2.3 Sự phát triển của hệ thống thương mại truyền thống
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT
1.3.3.1 Hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.3.2 Sự phát triển của thương mại quốc tế
1.3.3.3 Cạnh tranh nhà cung ứng nước ngoài
1.3.3.4 Thói quen mua sắm của người tiêu dùng
1.3.3.5 Các yếu tố khác
1.4 Một số kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam
Trang 111.4.2 Bài học cho Việt Nam
Một là, vai trò to lớn của chính phủ các nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng đủ mạnh, thiết lập và tạo dựng môi trường kinh doanh TMĐT cho các công ty cung ứng dịch vụ hỗ trợ MBTT phát triển
Hai là, các doanh nghiệp, công ty TMĐT đã có chiến lược đúng đắn trong phát triển TMĐT, kết hợp khai thác và sử dụng cũng như tự xây dựng hệ thống các dịch
vụ hỗ trợ MBTT đa dạng, thiết yếu đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, người tiêu dùng trong các giao dịch MBTT Trên cơ sở tìm ra những khó khăn, trở ngại trong hoạt động mua, bán hàng trực tuyến, các công ty đã đưa ra cách giải quyết những khó khăn, giảm bớt trở ngại thông qua chủ động phát triển các dịch vụ hỗ trợ MBTT thiết yếu
Ba là, các công ty cũng đã xây dựng thương hiệu, niềm tin đối với người mua hàng trực tuyến, người sử dụng dịch vụ hỗ trợ MBTT Các giao dịch mua bán, thanh toán luôn được xác thực bởi các công ty cung cấp dịch vụ xác thực có uy tín Bốn là, các công ty đã tối đa hóa việc tích hợp các dịch vụ hỗ trợ MBTT trên website tạo ra sự đa dạng các dịch vụ hỗ trợ cho người dùng lựa chọn
Năm là, các dịch vụ hỗ trợ MBTT được phát triển liên tục, đa dạng và phong phú về số lượng và không ngừng hoàn thiện nâng cao chất lượng có thể đáp ứng nhu cầu của các bên trong giao dịch MBTT
Sáu là, các công ty đã khuyến khích người sử dụng dịch vụ thông qua thu hút, cung cấp cả hình thức miễn phí và trả phí, thu hút lượng người dùng rất lớn trên toàn thế giới, từ đó có thể đẩy mạnh cung ứng các dịch vụ trả phí
Bảy là, hai hình thức để phát triển một số dịch vụ hỗ trợ MBTT: đầu tư và thuê ngoài các dịch vụ hỗ trợ thông qua hợp tác, liên kết hoặc kết hợp các dịch vụ hỗ trợ trong thương mại truyền thống
Tám là, phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT không chỉ nhằm mục đích thực hiện
hoạt động bán hàng, mua hàng mà còn đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
Chương 2 Thực trạng phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam hiện nay
2.1 Khái quát một số điều kiện cho cung ứng và sử dụng dịch vụ hỗ trợ MBTT
ở Việt Nam
2.1.1 Khái quát hiện trạng hệ thống pháp luật Việt Nam đối với năm lĩnh
vực dịch vụ hỗ trợ MBTT được nghiên cứu
Trang 1210
Hệ thống pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực cung ứng và sử dụng các dịch
vụ hỗ trợ MBTT đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện đầy đủ hơn đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển dịch vụ hỗ trợ MBTT Điều này được thể hiện rõ trong kết quả đánh giá chỉ số pháp luật và chính sách cho sẵn sàng ứng dụng CNTT và TMĐT Việt Nam của EIU có sự tiến bộ trong thời gian
từ năm 2004 đến năm 2010
2.1.2 Khái quát hiện trạng hạ tầng CNTT-TT và Internet ở Việt Nam
Hạ tầng CNTT-TT và Internet ở Việt Nam, đã có những tiến bộ, đáp ứng cơ bản nhu cầu ứng dụng CNTT và TMĐT của doanh nghiệp, người tiêu dùng Theo EIU
về đánh giá chỉ số kết nối Internet của Việt Nam, năm 2004 chỉ số kết nối Internet đạt 0,92 điểm, mức điểm trung bình 3,35; đến năm 2009 chỉ số này đạt 2,50 điểm, mức điểm trung bình 3,80; đặc biệt đến năm 2010 chỉ số này đạt 3,20 điểm, mức điểm trung bình 3,87 Hạ tầng CNTT-TT và Internet ở Việt Nam được đánh giá là có những tiến bộ vượt bậc, đáp ứng nhu cầu phát triển TMĐT và cung ứng, sử dụng các dịch vụ hỗ trợ MBTT
2.1.3 Khái quát một số điều kiện khác cho sự phát triển của dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam
2.2 Phân tích thực trạng phát triển các dịch vụ hỗ trợ MBTT ở Việt Nam 2.2.1 Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ chợ điện tử
2.2.1.1 Phát triển SGD điện tử và các dịch vụ hỗ trợ trên SGD
Các SGD điện tử của Việt Nam đã tăng khá nhanh, cả về loại hình sàn và số lượng sàn Đặc biệt sau một thời gian thành lập, một số SGD đã thu hút đông đảo doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia đăng kí thành viên, mở GHĐT để bán hàng So với các SGD nước ngoài, các SGD điện tử Việt Nam đã cung cấp các dịch
vụ mở GHĐT và phân loại thành viên khá phong phú Tuy nhiên, chi phí mở và duy trì GHĐT của các SGD điện tử có khác nhau và nói chung còn khá thấp so với các SGD điện tử nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
2.2.1.2 Phát triển dịch vụ tìm kiếm thông tin
Phát triển dịch vụ tìm kiếm thông tin bao gồm phát triển các nhà cung cấp và người sử dụng các dịch vụ tìm kiếm thông tin trên Internet và dịch vụ tìm kiếm từ cơ
sở dữ liệu của website bán hàng Tuy nhiên, thị phần tìm kiếm của các công cụ tìm kiếm Việt Nam còn quá nhỏ
2.2.1.3 Phát triển các công nghệ EDI và ứng dụng EDI
Tình hình ứng dụng EDI trong một số ngành công nghiệp và dịch vụ tại Việt Nam vẫn đang phát triển ở mức độ sơ khai, đơn giản, nhận thức về EDI còn thấp
2.2.1.4 Phát triển các dịch vụ chợ điện tử khác
i) Dịch vụ quảng cáo điện tử: đã có sự phát triển nhanh chóng loại hình, và
doanh số
ii) Phát triển các công cụ hỗ trợ truyền thông trực tuyến: tốc độ phát triển
nhanh, đặc biệt từ đầu 2010 đến nay
Trang 1311
2.2.1.5 Đánh giá chung sự phát triển dịch vụ chợ điện tử ở Việt Nam
Dịch vụ chợ điện tử Việt Nam phát triển khá sớm, phong phú về loại hình và số lượng nhà cung ứng, có sự phát triển số lượng người sử dụng
Về SGD điện tử: đã có sự phát triển cả về loại hình, số lượng nhà cung cấp, các dịch vụ hỗ trợ trên các sàn đã đáp ứng yêu cầu chất lượng Nhiều sàn đã thu hút được khá đông doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia Tuy nhiên, phần lớn các dịch vụ hỗ trợ trên sàn còn khá đơn giản, mới giới hạn ở đăng tải nhu cầu mua, bán,
hỗ trợ bên mua, bên bán tìm kiếm đối tác Những SGD điện tử có hỗ trợ đầy đủ các dịch vụ để các bên hoàn thành giao dịch trực tuyến từ đặt hàng, thanh toán đến giao nhận hàng hóa, hoặc các trợ giúp sau bán còn chiếm số lượng rất ít Các SGD điện
tử của Việt Nam cũng còn gặp nhiều khó khăn trong duy trì hoạt động, nên rất khó phát triển
Về dịch vụ tìm kiếm thông tin: đã có sự phát triển nhà cung ứng, người sử dụng Tuy nhiên, xu hướng sử dụng các dịch vụ tìm kiếm từ các nhà cung cấp nước ngoài chiếm vị thế chi phối
Về phát triển và ứng dụng EDI: lĩnh vực này còn chậm cả về mức độ cung ứng
và sử dụng
Về phát triển các dịch vụ quảng cáo điện tử và các dịch vụ hỗ trợ khác: có sự phát triển mạnh mẽ cả người dùng và nhà cung ứng ở Việt Nam Các lĩnh vực dịch
vụ chợ điện tử khác, tốc độ phát triển có chậm hơn
2.2.2 Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ đảm bảo an toàn giao dịch MBTT
2.2.2.1 Phát triển dịch vụ chữ ký số và chứng thực chữ ký số
i) Cơ sở pháp lý và các tổ chức quản lý, cung cấp dịch vụ chữ ký số
Cơ sở pháp lý cho cung cấp và sử dụng dịch vụ chữ ký số và chứng thực chữ ký
số là Luật Giao dịch điện tử Việt Nam năm 2005 ở chương 3, điều 24, và trong Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký
số và dịch vụ chứng thực chữ ký số Cơ quan quản lý nhà nước cao nhất về công nhận giá trị pháp lý của chữ ký số là Trung tâm Chứng thực chữ ký số quốc gia thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Đến cuối năm 2010, Việt Nam có tổng số 5 nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số.
ii) Tình hình sử dụng dịch vụ chữ ký số
Theo đánh giá của các chuyên gia Bộ Thông tin và Truyền thông về tình hình sử dụng và nhu cầu sử dụng dịch vụ chữ ký số được xem là rất thấp Các doanh nghiệp cung ứng đã sẵn sàng nhưng doanh nghiệp và người tiêu dùng sử dụng chưa nhận thức, cần phải có thời gian chờ đợi Trên thực tế, dịch vụ chữ ký số mới được sử dụng chủ yếu cho kê khai thuế qua mạng, hải quan trực tuyến, chứng khoán trực tuyến và các dịch vụ ngân hàng Internet Trong khi các biện pháp bảo mật như phần mềm chống virus và tường lửa được các doanh nghiệp sử dụng chủ yếu, thì chữ ký
số chỉ được sử dụng ở mức rất thấp, năm 2009 là 3% và năm 2010 là 2,3%