Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuNhư vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thốn
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
HUỲNH THỊ SINH HIỀN HUỲNH THANH TỐT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH MSSV : 5044210
LỚP : LK0464A1
Cần Thơ 05-2008
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoàn thiện hệ thống pháp luật – điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền,
là vấn đề cơ bản nhất hiện nay của nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế, cũng như trong thời kỳ hậu gia nhập WTO
Nhà nước pháp quyền là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là một trong những điều kiện và môi trường tiên quyết của một quốc gia tiến hành công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước và một xã hội phát triển tiên tiến Ở nước ta để đảm bảo phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, một trong những vấn đề chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Do đó, việc hoàn thiện đổi mới hệ thống pháp luật nước ta trong giai đoạn hiện nay là tất yếu Trong đó, nội dung yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật phải phù hợp với công cuộc đổi mới
và dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội Điều quan trọng là phát huy tối đa tính dân chủ, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa
Hoàn thiện hệ thống pháp luật là điều kiện hết sức quan trọng đẻ xây dựng Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay, nhất là khi Việt Nam đã chính thức
là thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO Vì khi hệ thống pháp luật hoàn thiện sẽ thúc đẩy xã hội phát triển một cách nhanh chóng, nhất là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xuất phát từ nhu cầu kinh tế - xã hội nước ta hiện nay đòi hỏi phải sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật để đáp ứng kịp thời
nhu cầu thực tiễn Với lý do đó, tác giả đã chọn đề tài “ Hoàn thiện hệ thống pháp luật – điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền”
2 Nội dung của đề tài
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, tìm hiểu mối quan hệ giữa chúng từ đó thấy được việc hoàn thiện hệ thống pháp luật sẽ góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền như thế nào
Khi nghiên cứu đề tài này chúng ta sẽ phân tích những ưu nhược điểm của hệ thống pháp luật nước ta, để thấy được những điểm cần phát huy, những điểm nào cần hạn chế của hệ thống pháp luật, từ đó có những giải pháp hoàn thiện góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3 Mục đích của đề tài
Việc xác định rõ mục đích nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra những định hướng vững chắc cho quá trình thực hiện đề tài, không đi chệch hướng khỏi những định hướng đã chọn
Mục đích của đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, đồng thời đóng góp cho đọc giả thêm một tài liệu về vấn đề này
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong đề tài này tác giả sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Phương pháp phân tích, chứng minh
- Phương pháp tiếp cận thông tin: dựa trên những quy định của pháp luật, sách báo, tạp chí
- Chương 2:Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành – giải pháp
và phương hướng hoàn thiện – điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
- Kết luận
Đề tài chỉ nghiên cứu ở một chừng mực nào đó, với mong muốn đóng góp ý kiến phần nào vào hệ thống pháp luật để làm cho hệ thống pháp luật ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn Do trình độ và năng lực còn hạn chế nên bài viết của
em không thể không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến
và bổ sung của quý thầy cô và đọc giả để đề tài được hoàn thiện hơn!!!
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
……….
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM ƠN
Thành kính biết ơn gia đình đã vất vả chăm lo cho con ăn học suốt những năm qua để có được như ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn:
Tất cả quý thầy cô trong Trường Đại học Cần Thơ nói chung, quý thầy cô Khoa luật nói riêng đã tận tình giảng dạy truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi suốt bốn năm đại học qua
Thư viện Trung tâm Trường Đại học Cần thơ, Thư viện Thành phố Cần thơ
và thư viện Khoa Luật cùng quý thầy cô trong thư viện đã cung cấp những tài liệu quan trọng trong suốt quá trình học tập và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tham khảo tài liệu để hoàn thành đề tài này
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn này đến cô Huỳnh Thị Sinh Hiền đã tận tình giúp đở, chỉ dẫn cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Và xin cảm ơn tất cả các bạn sinh viên Khoa Luật khóa 30 đã giúp đở cho tôi
và trao dồi cùng tôi những kiến thức quý báo
Cuối cùng, Tôi xin gửi đến toàn thể quý thầy và các bạn sinh viên lời chúc tốt đẹp nhất!!!
Huỳnh Thanh Tốt
Luật Thương mại K30
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1.1 Khái niệm hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa
Theo quan điểm triết học Mac-Lênin “Pháp luật là công cụ thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, để duy trì sự thống trị của mình, giai cấp nắm chính quyền thông qua bộ máy Nhà nước đặt ra pháp luật nhằm hướng dẫn hoạt động của mọi người trong xã hội, nhằm đặt mọi người trong khuôn khổ phù hợp với lợi ích của nó” Pháp luật Xã hội chủ nghĩa thể hiện sự thống nhất ý chí của giai cấp
lãnh đạo mà giai cấp lãnh đạo trong Nhà nước Xã hội chủ nghĩa là giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp khác Đây là nguyên tắc không thể thiếu được của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Mặc khác, tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích diều chỉnh quan hệ xã hội Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh giữa các tầng lớp xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật
tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp
Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội, pháp luật là do Nhà nước, đại diện chính thức cho toàn xã hội ban hành Vì vậy, ở chừng mực nào đó pháp luật còn thể hiện ý chí của giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội Ví dụ: pháp luật xã hội chủ nhgiã cùng với việc thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao đông dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những điều kiện và hoàn cảnh
cụ thể của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển nhất định không thể không tính đến
ý chí và lợi ích của các tầng lớp khác trong xã hội
Xét về bản chất, pháp luật là một hiện tựợng vừa mang tính giai cấp lại vừa mang tính xã hội Hai thuộc tính này quan hệ mật thiết với nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất Nói cách khác, không một kiểu pháp luật nào chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp; và ngược lại cũng không có kiểu pháp luật nào chỉ thể hiện tính xã hội
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội
Hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa là hệ thống ý chí, nguyện vọng của nhân dân được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật Trong đó, tất cả các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể, tổ chức xã hội, các nhân viên Nhà nước và công dân phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh triệt để, chính xác
Tóm lại, Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên
hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật, được thể hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành theo một trình tự
- Tính thống nhất, hài hoà bên trong:
Đây là đặc trưng của hệ thống Trong bức thư gửi Smít năm 1890 Ph
Ằnghen viết: “Trong một quốc gia hiện đại, pháp luật không những phải là sự biểu hiện các điều kiện kinh tế, mà còn phải thể hiện sự hài hoà bên trong”.Tính thống
nhất, hài hoà bên trong thể hiện ở nhiều khía cạnh:
Trước hết, về mặt khách quan, tính thống nhất, hài hoà bên trong của hệ thống pháp luật được quyết định bởi tính thống nhất của của chế độ kinh tế, chính trị - xã hội của một quốc gia hiện đại
Hai là, hệ thống ấy được xây dựng và được thực hiện trong thực tiễn đời sống dựa trên những nguyên tắc chung – những tư tưởng chủ đạo thống nhất
Ba là, sự liên kết chặt chẽ, hài hoà, không mâu thuẫn nhau giữa các quy phạm pháp luật trong từng văn bản, từng chế định, từng ngành luật và giữa tất cả các bộ phận ấy với nhau trong hệ thống pháp luật
- Sự phân chia hệ thống pháp luật thành những bộ phận cấu thành:
+ Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất trong hệ thống cấu trúc bên trong của pháp luật Nó cấu thành chế định pháp luật, các ngành luật và cả hệ thống pháp luật
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Chế định pháp luật là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội có những đặc điểm chung và có quan hệ mật thiết với nhau thuộc cùng một loại quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh
+ Ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh cùng một loại quan hệ xã hội có cùng tính chất thuộc mọi lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội
Một hệ thống bao giờ cũng có cơ cấu bên trong của nó Hệ thống pháp luật bao gồm các tiểu hệ thống hợp thành là các ngành luật Các ngành luật lại bao gồm các tiểu hệ thống nhỏ hơn hợp thành các chế định pháp luật hoặc phân ngành luật Các chế định được hợp thành từ những quy phạm pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ngoài những đặc điểm chung của hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa thì hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có một số đặc điểm riêng sau:
1.1.2.1 Pháp luật Xã hội chủ nghĩa phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân dân
Ý chí nguyện vọng của nhân dân là đòi hỏi ước muốn nhằm đáp ứng những nhu cầu về tồn tại và phát triển của họ Tức là thoả mãn tối đa những nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân Quan điểm này thể hiện bản chất của Nhà nước
ta và đã được khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp Đặc biệt là Hiến pháp
1992 (sửa đổi) đã khẳng định: “Nhà nước cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa các giai cấp công nhân với nông dân và trí thức” Pháp luật là quyền lực cao nhất của Nhà nước,
công cụ này được Nhà nước sử dụng nhằm để điều chỉnh các quan hệ phát sinh
Ngày nay bài học lấy dân làm gốc với tư tưởng bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hành đều của dân luôn nhất quán trong lịch sử xây dựng và phát triển Nhà nước ta càng trở nên hết sức quan trọng Sức mạnh của Nhà nước bắt nguồn từ sức mạnh, ý chí của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; phải xây dựng hệ thống pháp luật trong sạch, vững mạnh, gần dân, sát dân, thể hiện đúng ý chí nguyện vọng của nhân dân; đảm bảo thực tế pháp luật phải thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân
Vì vậy, pháp luật là tư tưởng ý chí của giai cấp cầm quyền nhưng ở Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức Nên ý chí của giai cấp cầm quyền cũng là ý chí nguyện vọng của nhân dân
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.1.2.2 Pháp luật xã hội chủ nghĩa phản ánh các quyền của nhân dân
Đó là quyền con người, quyền công dân, quyền cộng đồng, quyền dân tộc và các biểu hiện qua quyền kinh tế, chính trị, xã hội…Đương nhiên các quyền điều dựa trên một trình độ kinh tế nhất định Trong một nước còn kém phát triển như nước ta hiện nay có thể có hai khuynh hướng tiêu cực ảnh hưởng đến lãnh đạo của Đảng và
sự quản lý của Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền đó là sự thiếu vắng hai yếu kém sự tự ý thức về các quyền và đi kèm với sự yếu kém đó là không ý thức được đầy đủ về trách nhiệm và nghĩa vụ công dân, hoặc do nhiều yếu
tố bên ngoài tác động, tự ý thức về quyền cao hơn trình độ kinh tế - xã hội đang có bảo đảm cho nó, gây ra những áp luật chính trị không lành mạnh đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước
1.1.2.3 Pháp luật xã hội chủ nghĩa sự ngự trị tối cao trong đời sống xã hội
Đây là một nguyên tắc cơ bản của Nhà nước Trong Nhà nước pháp quyền không một tổ chức, cá nhân nào đứng trên pháp luật, vượt qua ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật Đối với Đảng ta là một thành viên cũng lại là người lãnh đạo, vấn đề đặt ra là giải quyết các mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, một nguyên tắc Hiến định với việc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, giải quyết vấn đề Đảng viên chấp hành điều lệ, kỷ cương, cương lĩnh, nghị quyết của Đảng Trong thực tế hiện nay có nhiều mâu thuẫn không thể vượt qua Bởi nhiều trường hợp Đảng viên vẫn tôn trọng tuân thủ pháp luật Nhà nước, nhưng có thể vi phạm điều lệ, nghị quyết của Đảng Trong thực tiễn tồn tại khác nhau giữa yêu cầu với hai phẩm chất, tư cách, hành vi một Đảng viên với một công dân Mặt khác quá trình soạn thảo các văn bản luật và nghị quyết là rất khác nhau về chủ thể sáng kiến, mục đích và yêu cầu Đây là vấn đề quan trọng đặt ra trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Hiện nay, nhiều trường hợp pháp luật của Nhà nước chưa phải là quy phạm bao quát nhất, cao nhất mà lại là nghị quyết, chỉ thị của Đảng Một Đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng nhưng không thể coi
là vi phạm pháp luật Nhà nước
1.1.2.4 Pháp luật xã hội chủ nghĩa phản ánh xu thế chung của nhân loại
Những chuẩn mực chung của nhân loại không phải lúc nào cũng dễ dàng được sự thừa nhận chung Điều đó có nghĩa là không phải lúc nào cũng xác định được chuẩn mực, những giá trị tiến bộ chung của nhân loại Nhà nước pháp quyền của ta đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đây là một vấn đề tương đối mới chưa có khuôn mẫu Nếu
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chúng ta lấy chuẩn mực của các nước tiên tiến mà không có sự chọn lọc, tiếp nhận một cách phù hợp với điều kiện nước ta thì vô hình dung làm cho vấn đề càng thêm phức tạp Không chỉ phức tạp trong quá trình lãnh đạo của Đảng mà còn trong việc quản lý của Nhà nước, xây dựng pháp luật, mà còn trong cả việc hội nhập quốc tế
và việc chấp nhận của quần chúng trong nước
1.1.3 Những tiêu chuẩn cơ bản để xác định mức độ hoàn thiện của một
hệ thống pháp luật
Để đánh giá về một hệ thống pháp luật, xác định mức độ hoàn thiện của nó cần phải dựa vào những tiêu chuẩn được xác định về mặt lý thuyết, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn cảnh thực tế trong mỗi giai đoạn cụ thể, xem xét một cách khách quan và rút ra những kết luận, làm sáng tỏ những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống pháp luật
Có nhiều tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện hệ thống pháp luật trong
đó có bốn tiêu chuẩn cơ bản: Tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ
kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật
1.1.3.1 Tính toàn diện của một hệ thống pháp luật
Tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn thiện của hệ
thống pháp luật Có thể nói đây là tiêu chuẩn để “định lượng” một hệ thống pháp
luật nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng, vì chỉ khi nào định lượng được mới có thể
nghiên cứu để “định tính”.
Xã hội bao giờ cũng tồn tại với tính cách là một chỉnh thể, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau Tất cả các lĩnh vực ấy điều đòi hỏi một sự điều chỉnh của pháp luật ở mức độ này hay mức độ khác Do vậy tính toàn diện của hệ thống pháp luật đòi hỏi khả năng bao quát toàn bộ đời sống xã hội, đảm bảo không một lĩnh vực nào của xã hội đứng ngoài sự điều chỉnh của pháp luật Tính toàn diện của hệ thống pháp luật thể hiện ở hai cấp độ:
-Ở cấp độ chung đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có đủ các ngành luật theo cơ cấu nội dung lôgíc và thể hiện thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương ứng
-Ở cấp độ cụ thể đòi hỏi mỗi ngành luật phải có đủ các chế định pháp luật và các quy phạm pháp luật ngay trong bản thân một ngành luật Cơ sở xác định cơ cấu các ngành luật là tính đặc thù của các quan hệ xã hội cần điều chỉnh pháp luật Yêu cầu chung của tính toàn diện không chỉ đòi hỏi sự đầy đủ của các ngành luật mà còn đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của các ngành luật, tức là các ngành luật phải nằm chung trên một mặt phẳng phát triển trong mấy chục năm qua, hệ thống pháp luật
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
của chúng ta rơi vào tình trạng chấp vá, phát triển lệch, là nhiều ngành luật quan trọng như luật dân sự, luật lao động, đã có một trình độ thấp lạc hậu, nhiều lĩnh vực
của đời sống kinh tế thiếu các đạo luật tương ứng, không được điều chỉnh hay “điều chỉnh vay mượn” từ các ngành luật khác, nên phát triển kém hiệu quả, dẫn đến
không phát huy được vai trò trong đời sống xã hội
1.1.3.2 Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện sự thống nhất của nó Khi xem xét mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật cần phải chú ý xem giữa các bộ phận của hệ thống có trùng lập, chồng chéo hay mâu thuẫn nhau? Sau khi xem xét tiêu chuẩn tính toàn diện cần phải dựa theo tính đồng bộ để đi sâu phân loại, đặt các
hệ thống pháp luật trong mối liên hệ qua lại để phân tích, đối chiếu, xác định rõ mức độ thống nhất (đồng bộ) trên cơ sở đó xác định tính chất và trình độ của một hệ thống pháp luật Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật cũng thể hiện ở hai mức độ:
-Ở cấp độ chung đó là sự đồng bộ giữa các ngành luật với nhau Để đạt tới mục tiêu này cần giải quyết tốt hai vấn đề lớn: Một là, phải xác định rõ ranh giới giữa các ngành luật Hai là, phải tạo ra được một hệ thống quy phạm pháp luật căn bản (thể hiện trong các văn bản luật) để tạo cơ sở củng cố tính thống nhất của toàn
hệ thống pháp luật
-Ở cấp độ cụ thể tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẫn, không trùng lập, chồng chéo trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật với nhau Như vậy, xét theo cơ cấu của mỗi ngành luật với
ba thành tố cơ bản thì ngành luật có tính chất loại, chế định pháp luật có tính chất nhóm còn quy phạm pháp luật có tính chất tế bào Để tạo ra tính đồng bộ phải giải quyết triệt để, đúng đắn mối quan hệ loại - nhóm - tế bào Điều đó đòi hỏi một mặt phải có quan điểm tổng quát để có thể xác định tính chất chung của của mỗi ngành luật, cơ cấu các chế định, mặt khác phải có quan điểm cụ thể để dự kiến chính xác các tình huống và hoàn cảnh cụ thể, từ đó đề ra các quy phạm phù hợp
1.1.3.3 Tính phù hợp của hệ thống pháp luật
Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện sự tương quan giữa trình độ của hệ thống pháp luật với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, nó không thể hiện cao hơn hoặc thấp hơn trình độ đó Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện nhiều mặt Khi xem xét tiêu chuẩn này cần chú ý đến các mặt cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức, tập quán và các quy phạm xã hội khác
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Một hệ thống pháp luật có thể được xây dựng khá toàn diện, không có mâu thuẫn, nhưng lại không phù hợp với trình độ phát triển của xã hội, là một hệ thống
ảo Đó có thể là một hệ thống pháp luật vay mượn hay sao chép Tuy nhiên trên thực tế ít có trường hợp cả hệ thống pháp luật rơi vào tình trạng không phù hợp, mà thường là không phù hợp của từng bộ phận thuộc hệ thống pháp luật nói chung Sở
dĩ, một bộ phận của hệ thống pháp không phù hợp với đời sống xã hội do sai lầm chủ quan khi xây dựng chúng hoặc bộ phận bị lạc hậu do các quan hệ mà chúng điều chỉnh đã thay đổi, nhưng các quy phạm ấy chưa được sửa đổi bổ sung kịp thời, tạo ra khoảng cách nhất định làm cho chúng mất tác dụng
1.1.3.4 Một hệ thống pháp luật hoàn thiện phải được xây dựng ở trình
độ kỹ thuật pháp lý cao
Kỹ thuật pháp lý là tổng thể những phương pháp phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hoá pháp luật, chứa đựng các nguyên tắc, các quy tắc khoa học nhằm bảo đảm cho pháp luật có được đầy đủ các khả năng để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội
Hoạt động lập pháp trong một ý nghĩa nào đó mang tính chất công nghệ Toàn bộ hoá trình này được thực hiện bởi một hệ thống các phương pháp công nghệ, từ phương pháp phát hiện các nhu cầu cần điều chỉnh của pháp luật, điều tra, khảo cứu, xác định các mục tiêu, các nguyên tắc, đến việc chọn hình thức thể hiện,
sử dụng ngôn ngữ pháp lý xây dựng các quy phạm, các chế định và dự thảo văn bản, kiểm nghiệm dự thảo văn bản trên thực tế, giám định văn bản…
Kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng lớn, phức tạp trong đó có ba điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật là:
- Kỹ thuật pháp lý thể hiện ở những nguyên tắc tối ưu được vạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật
- Trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật
- Cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô đọng, lôgic, chính xác và một nghĩa
1.1.4 Một số nguyên tắc chung đối với xây dựng pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
1.1.4.1 Bảo đảm và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng pháp luật.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền thì bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là vấn đề sinh tử của cách mạng Bởi vì, chỉ tăng cường sự lãnh đạo của
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Đảng mới “giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng Xã hội chủ nghĩa”.
Để lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện đổi mới, Đảng phải tự đổi mới, chỉ trên cơ sở đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng mới bảo đảm được chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước trong việc
tổ chức quản lý xã hội Vì vậy, Đảng phải cụ thể hoá nội dung, phương thức lãnh đạo với từng lĩnh vực hoạt động của Nhà nước Đối với xây dựng pháp luật – khâu tiếp nối sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời là mắt khâu đầu tiên của quản lý Nhà nước – thì sự lãnh đạo của Đảng phải được xác lập trên hết và trước hết Điều này đòi hỏi:
- Các cơ quan lãnh đạo của Đảng đảm bảo tính nhất quán trong chủ trương, đường lối; bất kì một sự không ăn khớp, một sự mâu thuẫn nào đều ảnh hưởng đến việc xây dựng pháp luật, đến tính thống nhất của hệ thống pháp luật Mặt khác, các
cơ quan của Đảng phải tôn trọng các cơ quan Nhà nước có chức năng xây dựng
pháp luật, tránh tình trạng “ở một số nơi, cấp uỷ đồng tình, thậm chí còn ra nghị quyết trái pháp luật để chính quyền thực hiện”.
- Tập trung sự lãnh đạo các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xây dựng pháp luật, trước hết là Quốc hội, Chính phủ để kịp thời thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật
- Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng trong các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành pháp luật, đề cao trách nhiệm, nâng cao chất lượng hoạt động, xây dựng cơ chế và quy chế về mối quan hệ giữa các cơ quan của Đảng và các Uỷ ban của Quốc hội, làm rõ mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Bộ Chính Trị với Ban cán sự Chính phủ, các bộ phận và giữa các Ban cán sự với nhau cho phù hợp với mối quan hệ về mặt Nhà nước
- Phát huy vai trò tích cực của đội ngũ Đảng viên là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, các Đảng viên là các cán bộ có thẩm quyền ban hành pháp luật
1.1.4.2 Nguyên tắc khách quan
Tính khách quan của pháp luật quy định tính khách quan của xây dựng pháp
luật Từ lâu, Mác đã khẳng định: “quyền lập pháp không tạo ra luật pháp, nó chỉ phát hiện và nêu luật pháp” Để đảm bảo tính khách quan trong xây dựng pháp luật
một số vấn đề đặt ra:
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Nói xây dựng pháp luật phải khách quan không có nghĩa là các cơ quan có thẩm quyền chỉ bê nguyên, sao lại, chụp lại các sự kiện, hiện tượng thực tế Ngược lại, xây dựng pháp luật trong khi tôn trọng sự thật khách quan phải phát hiện ra cái bản chất, khuynh hướng, động lực từ những mối liên hệ phổ biến của các hiện tượng, tái tạo lại ở trình độ tư duy lôgic những quan hệ xã hội có tính phổ biến, tính chung, lọc bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, tự phát và bằng hoạt động mang tính tổ chức, kỹ thuật nghiệp vụ để mô tả chung dưới dạng các quy tắc xử sự của hành vi
- Để xây dựng pháp luật phải đảm bảo tính khách quan, đòi hỏi các cơ quan xây dựng pháp luật phải bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thực tiễn và yêu cầu của quản lý Nhà nước trong từng thời kỳ, bám sát thực tiễn pháp lý trên cơ sở tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến dự án khảo sát đánh giá thực trạng quan hệ xã hội, thực trạng thái độ, tâm lý phản ứng của dư luận xã hội Mặt khác tính khách quan trong xây dựng pháp luật cũng đòi hỏi phải khắc phục, gạt bỏ căn bệnh cục bộ địa phương, cục bộ ngành, coi thường lợi ích chung, lợi ích chính đáng của xã hội
1.1.4.3 Nguyên tắc dân chủ Xã hội chủ nghĩa
Dân chủ là thuộc tính cơ bản của pháp luật Xã hội chủ nghĩa bởi nó là phương tiện tổ chức của một nhà nước dân chủ, một xã hội dân chủ, bảo đảm trên
thực tế mọi quyền lực “không chia sẻ thống nhất trong tay nhân dân, những việc hệ trọng điều do dân quyết định, dân đều được tham gia công việc quản lý xã hội với các hình thức thích hợp, mọi người đều bình đẳng, đều có điều kiện và cơ hội ngang nhau trong việc trong việc thực hiện các quyền tự do dân chủ, phát triển toàn diện nhân cách trí lực và sức lực phù hợp với quyết định của mình Nói cách khác, pháp luật dân chủ phải là pháp luật vì con người, phục vụ con người, đảm bảo sự
an toàn cho con người, hướng dẫn tạo điều kiện cho con người làm chủ được bản thân, Nhà nước và xã hội là pháp luật tồn tại chỉ vì con người” Đó là định hướng
xuyên suốt quá trình phát triển của pháp luật, là tư tưởng chỉ đạo trong công tác xây
dựng pháp luật mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “làm cho pháp luật ngày càng nhiều hơn, tốt hơn”.
1.1.4.4 Nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các hoạt động của các cơ quan Nhà nước phải được tiến hành theo đúng pháp luật trên cơ sở của pháp luật; Mọi cán bộ và nhân viên Nhà nước đều phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; tăng cường công tác kiểm tra, giám xác và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
luật Tại điều 12 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Pháp chế là nguyên tắc
cơ bản trong tổ chức hoạt động của Nhà nước Nguyên tắc pháp chế không chỉ có tính độc lập trong hệ thống các nguyên tắc mà còn chi phối, hỗ trợ, bảo đảm cho các nguyên tắc khác thực hiện Chẳng hạn, nguyên tắc dân chủ sẽ chỉ là hình thức, thậm chí bị lợi dụng, bị chà đạp nếu như những giá trị dân chủ không được thể chế hoá, không được đảm bảo bởi sự nghiêm minh của pháp luật và bộ máy thi hành pháp luật
- Tổ chức khoa học công tác biên soạn từng văn bản pháp luật cụ thể, nhất là các văn bản liên tịch do nhiều cơ quan, tổ chức ban hành
- Tuân thủ triệt để các quy tắc kỹ thuật soạn thảo văn bản, bảo đảm văn bản
có cấu trúc chặt chẽ, phù hợp với nội dung, đúng chức năng sử dụng từng thể loại văn bản, ngôn ngữ, văn phong, cách trình bày các quy định sáng, rõ, mạch lạc, dễ hiểu, giải quyết được hài hoà mâu thuẫn của pháp luật
1.1.5 Hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật trong công cuộc xây dựng Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Hiện nay, việc xây dựng hệ thống pháp luật nước ta là một đòi hỏi cấp thiết, một tất yếu khách quan Tính cấp thiết và tính khách quan bắt nguồn từ đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì nhân dân, từ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, từ việc mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Mà hệ thống pháp luật nước ta hiện nay còn nhiều bất cập và chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của khu vực và thế giới
Trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam có rất nhiều văn bản mâu thuẫn, chồng chéo nhau hoặc lỗi thời cần sửa đổi bổ sung hay thay thế bằng văn bản mới.Ngoài ra, còn có những nhóm quan hệ xã hội quan trọng chưa được pháp luật điều chỉnh đầy đủ Có nghĩa là còn nhiều lỗ trống của pháp luật
Trong điều kiện đó, việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật của các quốc gia thuộc các hệ thống khác nhau và rất cần thiết Qua việc nghiên cứu này chúng ta có thể chọn lọc những ý tưởng kinh nghiệm của họ, từ đó xây dựng cơ sở khoa học cho
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, vừa phù hợp với nền tảng pháp lý chung đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi
Trước tình hình đó, chúng ta phải đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng của hoạt động lập pháp là một yêu cầu tất yếu Ngoài ra chúng ta còn phải đưa các quy định của luật quốc tế, cụ thể là các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và các tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận vào pháp luật trong nước Đây là công việc đặc biệt quan trọng nó góp phần làm hài hòa hệ trong pháp luật Việt Nam với môi trường pháp luật chung trên thế giới Mặt khác cần phải khắc phục tình trạng luật xa rời cuộc sống, không phù hợp với cuộc sống thực tiễn, quy định cao hơn hoặc thấp hơn điều kiện kinh tế - xã hội hiện thực, không được cuộc sống chấp nhận Luật phải quy định rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội hạn chế tối đa các quy định chung chung phải chờ đợi văn bản dưới luật cụ thể hoá mới điều chỉnh được các quan hệ trên thực tế
Xây dựng hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam phải phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo to lớn, mang tính quyết định đối với hoạt động xây dựng pháp luật Quy trình xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng mang tính dân chủ rộng rãi hơn, có kế hoạch, được lập luận về mặt khoa học và năng động hơn Như vậy, nhằm hạn chế những văn bản quy phạm pháp luật chưa thích ứng với các quy định khách quan của sự phát triển xã hội Chính điều đó là cơ
sở để việc nâng cao hiệu quả xã hội của pháp luật nước ta, sự tham gia tích cực của nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật trong giai đoạn hiện nay
Hệ thống pháp luật nước ta hiện nay gồm có các loại văn bản sau:
- Các văn bản luật: là các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội cơ quan cao nhất của quyền lực ban hành Gồm Hiến pháp, Luật (Bộ luật), Nghị quyết Trong đó, Hiến pháp là van bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, tiếp đến là Luật (Bộ luật) và Nghị quyết
- Các văn bản dưới luật: là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định
+ Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật nhưng có giá trị pháp lý cao hơn các văn bản dưới luật
+ Lệnh, Quyết định của chủ tịch nước là văn bản dưới luật có giá trị pháp lý cao sau Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội
+ Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có giá trị pháp lý thấp hơn so với Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh nhưng cao
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật khác do cơ quan nhà nước từ cấp bộ đến Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành
+ Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, thủ trưởng và cơ quan thuộc Chính phủ có giá trị pháp lý tiếp theo sau các văn bản dưới luật của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ
+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao và Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có giá trị pháp lý sau các văn bản dưới luật do Chính phủ, Thủ tướng chính phủ ban hành
+ Thông tư liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ ban hành; Thông tư liên tịch giữa Tòa án Nhân dân Tối cao với Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch giữa Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao; Nghị quyết, Thông tư liên tịch giữacơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp có giá trị pháp lý ở địa phương.+ Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp có giá trị pháp lý ở địa phương
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.2.1 Khái niệm và cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp, thường được hiểu theo nhiều cấp độ Do vậy khó có thể có một định nghĩa bao quát hết nội dung của nó.Tuy nhiên, cũng có thể nói đơn giản Nhà nước pháp
quyền Xã hội chủ nghĩa là: “Nhà nước tuân theo pháp luật và quản lý bằng pháp luật, xem pháp luật có vị trí chi phối mọi hành vi của cơ quan công quyền và công dân”.
Thật ra khái niệm trên chỉ có ý nghĩa tương đối, chưa bao quát hết nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là tư tưởng dân chủ, nhân quyền, là khẳng
định: “Cội nguồn quyền lực Nhà nước là của dân”, “Cái gì mà dân không giải quyết được đối với bản thân thì người làm luật cũng không thể giải quyết được điều
đó đối với nhân dân” Vì thế, C.Mac khẳng định và coi đó là “mục đích hướng tới của chúng ta” C.Mac viết “Ở Can-Tơ, nước cộng hoà với tính cách là Nhà nước duy nhất hợp lý, trở thành định đề của lý trí thực tế không bao giờ thực hiện được,
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhưng việc thực hiện được định đề đó luôn luôn là mục đích của chúng ta, và là đối tượng tư duy của chúng ta”.
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã sớm đặt ra yêu cầu xây dựng một Nhà nước pháp quyền.Trong bức thư tám điểm gửi hội nghị Vec-xay đăng trên báo Nhân đạo (Pháp) năm 1919 Người đã đề cập những quyền rất cơ
bản của con người “Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam, bỏ hẳn Toà án đặc biệt; đòi quyền tự do báo chí, tự do tư tưởng, hội họp, lập hội, tự do cư xá, xuất dương, học tập và mở trường kỹ thuật chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh Là tám yêu sách, nhưng khái quát lại là hai nội dung cơ bản: một là đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân; hai là để đảm bảo quyền tự do dân chủ phải quản lý bằng các đạo luật, nhất là Hiến pháp”.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng đóng vai trò quyết định phải quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩ của dân, do dân và vì dân Hiến pháp
1992 (sửa đổi) là Hiến pháp thể chế hoá đường lối, chính sách của Bác và của Đảng
Đó là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam Qua đó việc xây dựng Nhà nước pháp quyền phải xuất phát từ bản chất Nhà nước và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Có như vậy thì việc xây dựng Nhà nước pháp quyền mới thúc đẩy sự phát triển của đất nước
1.2.2 Nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
Qua quá trình đổi mới toàn diện đất nước mà trọng tâm là đổi mới kinh tế theo đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam đang diễn ra sôi động, nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện đường lối mở cửa và yêu cầu dân chủ hoá đời sống xã hội đòi hỏi phải xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một khâu trọng yếu trong đổi mới hệ thống chính trị, là đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp đổi mới nước ta hiện nay Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền phải theo những nguyên tắc sau:
1.2.2.1 Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà quyền lực thuộc về nhân dân
Tất cả quyền lực Nhà nước thực sự thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của Nhà nước vừa trực tiếp vừa gián tiếp Đồng thời chính nhân dân thực hiện quyền giám sát tối cao đối với Nhà nước trong việc sử dụng quyền lực mà nhân dân uỷ thác cho Quyền giám sát đó được thực hiện bằng các cơ chế và công
cụ pháp lý hữu hiệu Điều này được ghi nhận tại điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi)
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
“Nhà nước cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Đây là
một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của thể chế Nhà nước Xã hội chủ nghĩa đó là: Trong chủ nghĩa xã hội quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân Xét theo quan điểm chủ thể, nguyên tắc này phản ánh sự thay đổi về chất, nhân dân lao động từ chỗ đứng bên ngoài quyền lực Nhà nước đã trở thành người nhập cuộc, trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá trình tổ chức và thực thi quyền lực Nhà nước; từ chỗ phục tùng, khuất phục, lệ thuộc vào quyền lực nhà nước đã trở thành chủ thể của quyền lực Nhà nước, nhân dân không chỉ tham gia tổ chức và thực hiện quyền lực mà còn có quyền kiểm tra hoạt động của bộ máy Nhà nuớc và các nhân viên của bộ máy Nhà nuớc
1.2.2.2 Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa điều chỉnh các quan hệ
xã hội bằng pháp luật
Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật chứ không phái chỉ bằng đạo lý Pháp luật đóng vai trò như những quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc định ra hành lang pháp lý an toàn cho các quan hệ chung của xã hội Theo
nghĩa đó Nhà nước không “làm ra” luật, mà chỉ là hình thức hoá các quy tắc, các
hành vi xã hội Các thiết chế Nhà nước phải là công cụ đắc lực để thực thi pháp luật Pháp luật đảm bảo tất cả các quan hệ xã hội quan trọng, cơ bản và phổ biến điều được điều chỉnh bằng pháp luật
Pháp luật phải giữ vị trí điều chỉnh chủ đạo trong toàn xã hội, xử sự các chủ thể quan hệ xã hội Hệ thống các quy phạm pháp luật phải tuyệt đối tuân thủ tính thống nhất của pháp luật, trong đó tính tối cao thuộc về luật mà trước hết là Hiến pháp Các luật không được trái với Hiến pháp Tương tự như vậy, các văn bản dưới luật phải phù hợp với luật, các văn bản của ngành, địa phương phải phù hợp với văn bản cấp cao hơn
1.2.2.3 Mọi công dân, tổ chức trong Nhà nước pháp quyền đều bình đẳng trước pháp luật
Mọi công dân điều bình đẳng trước pháp luật, công dân có trách nhiệm đối với nhà nước và Nhà nước cũng có trách nhiệm với nhân dân Quan hệ giữa công dân và Nhà nước là quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Tức giữa một bên là người đại diện quyền lực Nhà nước và một bên vừa là chủ thể vừa là khách thể của quyền lực Nhà nước Ở đây Nhà nước xác định trách nhiệm pháp lý rõ ràng về các
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hành vi của họ Công dân được bảo đảm quyền và khả năng buộc cơ quan Nhà nước
và những người có chức vụ phải chấp hành pháp luật, thực thi trách nhiệm của mình đối với họ
Nhà nước đề ra pháp luật, nhưng chính Nhà nước, các cơ quan Nhà nước, các công chức Nhà nước, cũng như mọi tổ chức cá nhân điều có nghĩa vụ tuân thủ triệt để pháp luật; không một tổ chức hoặc cá nhân nào đứng ngoài, đứng trên pháp luật, mọi người điều bình đẳng trước pháp luật Với nguyên tắc này xã hội ta sẽ dần
dần tiến tới thực hiện phương châm công dân “có thể làm những gì luật không cấm”, tất nhiên trong khuôn khổ đạo đức xã hội và tôn trọng lợi ích xã hội, của
người khác Điều này một mặt chống lại những hành vi lộng quyền, lạm quyền mặt khác chống lại những hành vi tự do vô tổ chức vô Chính phủ
Tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do cơ bản,các lợi ích chính đáng, danh
dự và nhân phẩm của con người Chúng phải được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, được pháp luật bảo vệ trong trường hợp bị xâm phạm, thông qua các công cụ pháp lý hữu hiệu của Nhà nước
1.2.2.4 Công khai hoá hoạt động của các cơ quan Nhà nước và những người có chức vụ
Thực hiện rộng rãi quyền thông tin và tiếp thu thông tin Quán triệt và thực hiện triệt để các nguyên tắc trên chính là sự vận dụng tư tưởng Nhà nước pháp trị của Hồ Chí Minh Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, chỉ có thể trở thành hiện thực nếu thực sự đổi mới từ tổ chức cho đến tổ chức bộ máy Nhà nước
và cán bộ Nếu không, vấn đề Nhà nước pháp quyền chỉ là một mong muốn tốt đẹp
mà thôi
1.2.3 Đặc điểm Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay
1.2.3.1 Đảm bảo vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản Việt Nam
Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa hiện nay đòi hỏi cần phải nâng cao vai trò lãnh của Đảng, đồng thời phải đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, làm cho chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân, quản lý mọi quá trình kinh tế - xã hội
Muốn đảm bảo vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng thì nhân tố quyết định hàng đầu là phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ Đảng về tư tưởng và tổ chức, ra sức xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu nhằm đáp ứng vai trò lãnh đạo của mình trong công cuộc đổi mới
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.2.3.2 Nhà nước của dân do dân
Trong Xã hội chủ nghĩa, Nhà nước là quyền lực của dân để thực hiện ý chí
tự do của nhân dân, cán bộ của Đảng và Nhà nước là nô bộc của nhân dân Sự nghiệp chính trị của chúng ta chính là tạo ra một Nhà nước của dân Trên cơ sở đó
mà vì dân tức phục vụ dân
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Vì thế quyền lực của nhà nước là thống nhất, không có tam quyền phân lập nhưng có sự phân công và phối phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực Nhà nước nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế,
xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ các quyền tự do dân chủ Đặc biệt là quyền tự do kinh doanh và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa mọi sự tuỳ tiện lạm quyền từ phía cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức Nhà nước, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, thiếu kỷ cương
1.2.3.3 Nhà nước hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật
Hiến pháp và pháp luật đòi hỏi mọi công dân, đồng thời đòi hỏi Nhà nước và tất cả các cơ quan Nhà nước, phải tuân theo pháp luật muốn thực hiện việc quản lý Nhà nước, trong những trường hợp bản thân những cơ quan đó vi phạm pháp luật
Vì vậy trách nhiệm của Nhà nước là một vấn đề có liên quan đến xây dựng Nhà nước pháp quyền
Quan niệm Nhà nước thực chất là việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật hoặc là Nhà nước đứng trên pháp luật, hoặc là Nhà nước hoạt động tuyệt đối tuân theo pháp luật Vấn đề quan trọng của Nhà nước pháp quyền là địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật là việc bảo vệ chặt chẽ và triệt để các quyền của công dân, bất cứ một quyết định nào của cơ quan Nhà nước điều có thể bị đưa ra xét xử, nếu nó vi phạm Hiến pháp và pháp luật
Vì vậy, Nhà nước không những là “người” thể chế quá ý chí của nhân dân
thành Hiến pháp và pháp luật mà còn phải tuyệt đối tuân thủ nó, đồng thời phải chịu
sự giám sát của Hiến pháp và pháp luật trong mọi công việc hoạt động hàng ngày
1.2.3.4 Nhà nước thống nhất tổ chức quyền lực Nhà nước và phân công hợp lý
Có thể hiểu rằng, sự thống nhất là nền tảng sự phân công và phân phối là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực Nhà nước Tuy nhiên sự thống nhất ở đây là sự thống nhất trong phân công chức năng, không dồn cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tập trung vào chỉ một nơi, tự nó ra luật và
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cũng tự nó thực thi và xét xử đúng sai Mà ba quyền lực này phải được sắp xếp theo một trình tự lôgic từ trên xuống dưới, đồng thời dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực
Sự thống nhất phân công, phân cấp này nhằm khuyến khích và nâng cao tính chủ động của chính quyền, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.3.1 Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật không thể phát huy tác dụng nếu thiếu Nhà nước
Pháp luật và Nhà nước là hai bộ phận của kiến trúc thượng tầng, luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cả hai hiện tượng này điều có chung nguồn gốc ra đời
và phát triển trong mối quan hệ này, Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được thực hiện và có hiệu lực trên cơ
sở pháp luật; còn pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành
và luôn phản ánh quan điểm, đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực Nhà nước, bảo đảm cho quyền lực đó được thực hiện trong xã hội Với ý nghĩa đó Nhà nước không thể tồn tại và pháp huy quyền lực nếu thiếu pháp luật; ngược lại pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực
Nhà nước V.I Lênin viết: “ý chí, nếu nó là ý chí của Nhà nước thì phải được biểu hiện dưới hình thức một đạo luật do chính quyền đặt ra; nếu không thế thì hai tiếng
“ý chí” chỉ là một sự rung động không khí do âm thanh rỗng tuếch gây nên”.
Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật Bởi lẽ, Nhà nước ra đời với mục đích điều hòa mâu thuẫn xã hội, đưa nó vào vòng trật tự bằng sự áp đặt những quan điểm đường lối kinh tế - chính trị - tư tưởng của giai cấp thống trị đối với giai cấp tầng lớp khác Nhưng để mọi giai cấp tuân theo một cách triệt để thì Nhà nước phải có một hệ thống công cụ sắc bén để thực hiện mục đích đó và như thế là pháp luật xuất hiện dựa trên ý chí của giai cấp thống trị, không có pháp luật thì Nhà nước
sẽ tiêu vong Pháp luật phát huy tác dụng và được áp dụng rộng khắp nhanh chóng trong xã hội và có hiệu lực, quyền lực thi hành thì chỉ có thể thực hiện bởi những cơ quan quyền lực Nhà nước điều hành nếu không có Nhà nước sẽ không bao giờ có pháp luật
Nói cho cùng Nhà nước và pháp luật là sản phẩm của xã hội có giai cấp, do giai cấp kiến tạo nên theo ý muốn của giai cấp, và luôn luôn mang đậm bản chất giai cấp thống trị
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.3.2 Vai trò của hoàn thiện hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật khác và được thể hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành theo trình tự thủ tục nhất định
Đối với hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, vấn đề xây Nhà nước pháp quyền với tư cách là khách thể phản ánh của pháp luật Quy phạm pháp luật trong quá trình xây dựng bao giờ cũng là mô hình pháp lý – xã hội của các lợi ích, của các cấu thành xã hội tương ứng Do đó trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật thông qua các cơ quan xây dựng pháp luật đưa việc xây Nhà nước pháp quyền là yếu tố hàng đầu trong quá trình xây dựng các cơ quan xây dựng có nhiệm vụ nghiên cứu các quy luật khách quan có ảnh hưởng đến sự phát của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa
Trong điều kiện phát triển hiện nay của nước ta, các cơ quan xây dựng pháp luật cần phải nghiên cứu các khả năng hiện thực nảy sinh từ việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Nếu hoạt động xây dựng pháp luật không cân nhắc và coi thường tính liên tục trong các giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền thì điều đó sẽ dẫn đến tình trạng những mục đích mà các quy phạm pháp luật sẽ không đạt được Khi
đó hoạt động xây dựng pháp luật sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
Như vậy, sự nhận thức phản ánh khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở những mức độ khác nhau trong xã hội với tư cách là hình thức biểu hiện của các quy luật phát triển khách quan của xã hội và sự phản ánh kịp thời tương ứng với các phản ánh đó trong các văn bản quy phạm pháp luật tạo ra khả năng cho các cơ quan xây dựng pháp luật xác định các mối quan hệ xã hội nào cần phải trở thành khách thể của sự tác động pháp luật, cũng như làm sáng tỏ các nhiệm
vụ và triển vọng phát triển của sự điều chỉnh
1.3.3 Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước pháp quyền là Nhà nước xuất phát từ công nhận và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của con người và nhân dân lao động được quy định thành pháp luật Những quyền ấy trước tiên là quyền chính trị và kinh tế
Việt Nam đang thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế bảo đảm quyền tự
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
do dân chủ, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường Nền kinh tế đó nhất thiết phải có một Nhà nước dân chủ và pháp quyền
Bản thân pháp luật với tư cách là đại lượng phổ biến bình đẳng, đảm bảo tính công bằng xã hội Nhà nước và xã hội đều phải coi trọng pháp luật là đại lượng là phương thức quan trọng Nếu như xây dựng Nhà nước pháp quyền không dựa trên nền tảng pháp luật thì không thể khẳng định được một trong những yếu tố cơ bản của Nhà nước pháp quyền là đảm bảo tính tối cao của pháp luật Chỉ có thể nói đến tính tối cao của pháp luật với điều kiện phải thừa nhận, phải xây dựng được giá trị
xã hội đích thực của pháp luật
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở kinh tế, xã hội của đất nước đảm bảo tạo ra khung pháp lý để thúc đẩy tăng trưởng thị trường kinh tế, phát triển xã hội, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong việc thực hiện quyền làm chủ của mình được pháp luật bảo vệ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH - GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN - ĐIỀU KIỆN ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thiết lập từ cách mạng tháng 8 năm 1945 Ngay từ buổi đầu đã thể hiện bản chất Nhà nước kiểu mới, một Nhà nước có chế độ dân chủ rộng rãi, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, phục
vụ lợi ích dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Bộ máy Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng được củng cố và phát triển hoàn thành nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng một chế độ Xã hội chủ nghĩa mới
với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằn,g dân chủ và văn minh” Bên
cạnh Nhà nước thì hệ thống pháp luật cũng đang phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Trong giai đoạn hiện nay thì hệ thống pháp luật nước
ta đã đạt được những mặt tích cực cần phát huy, song cũng có một số khiếm khuyết nhất định cần hạn chế, khắc phục
2.1.1 Một số ưu điểm cần phát huy trong hệ thống pháp luật nước ta
Trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng quá trình đổi mới nước ta diễn ra một cách toàn diện và đồng bộ Cùng với những biến đổi của những lĩnh vực khác nhau, những đổi mới trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước đã đạt được những tiến bộ quan trọng như từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Hiến pháp 1992 (sữa đổi) cùng với nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh và các văn bản khác được ban hành trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng…
Qua đó, quá trình xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam có những tích cực cần phát huy sau:
2.1.1.1 Pháp luật Việt Nam phát huy tính tự do, dân chủ
Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và
vì dân, phát huy bản chất dân chủ và vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân Để đảm bảo được quyền tự do dân chủ của nhân dân thì Nhà nước pháp quyền phải đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ chức và
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hoạt động của Nhà nước “Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép”, còn nhân dân “được làm tất cả những điều pháp luật không cấm”, pháp luật đảm
bảo cho sự phát triển “tự do dân chủ tối đa” của nhân dân Tuy nhiên, pháp luật
trong Nhà nước pháp pháp quyền là pháp luật mang tính nhân đạo “pháp luật vì con người”, chứ không phải “con người vì pháp luật” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “nước ta là một nước dân chủ, bao quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ
xã đến chính phủ Trung ương đều do dân cử ra” Pháp luật phản ánh những nhu cầu
cần phát triển khách quan của xã hội là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của sự quản lý Nhà nước
Ở nước ta, Hiến pháp và pháp luật ghi nhận quyền của công dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước
và địa phương Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền khiếu nại
tố cáo… các quyền và tự do đó trong nhiều trường hợp là điều kiện để nhân dân kiểm tra hoạt động của Nhà nước Nhưng trước hết đó là những phương thức quan trọng để thực hiện dân chủ và thể hiện được quyền làm chủ của nhân dân trên thực
tế và trong hoạt động xây dựng pháp luật Điều 69 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) ghi
nhận “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” Tự do ngôn luận,
nghĩa là quyền tự do phát biểu ý kiến, thể hiện quan điểm của mình về vấn đề chung của xã hội Quyền này có thể được thực hiện bằng cách phát biểu trực tiếp tại các cuộc họp, hoặc gởi văn bản đến các cơ quan có có trách nhiệm và thẩm quyền để đóng góp ý kiến Quyền tự do ngôn luận còn được thực hiện thông qua việc thực hiện quyền tự do báo chí Thông qua báo chí, công dân có quyền thể hiện quan điểm riêng của mình về các vấn đề, ủng hộ cái đúng, phê phán cái sai, cái xấu, hoặc cùng nhau trao đổi tranh luận về một vấn đề nào đó để tìm ra lẽ phải Ngoài ra, trong điều luật này còn nhiều quyền cũng thể hiện tính tự do dân chủ như: Quyền đựợc thông tin, đây là một quyền mới bao gồm quyền nhận thông tin và truyền thông tin; quyền hội họp được mọi công dân sử dụng để thảo luận, bàn bạc góp ý kiến; quyền lập hội, công dân có quyền tự do gia nhập các đoàn thể như (Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội liên hiệp phụ nữ…)
Hiến pháp 1992 (sửa đổi) còn ghi nhận “quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo điều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 70) Do nước ta có nhiều tôn giáo nên việc quy định quyền tự do tính
ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong đời sống tinh thần của một
bộ phận rất lớn trong nhân dân
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Qua những điều luật trên, chúng ta cũng có thể thấy pháp luật nước ta thể hiện tính tự do, dân chủ rất cao, đây là một ưu điểm cần phát huy của pháp luật nước ta hiện nay
2.1.1.2 Pháp luật soạn thảo kịp thời, đồng bộ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, xu thế toàn cầu hoá kinh tế xã hội diễn ra rất nhanh chóng và mạnh mẽ, mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức Nếu chúng ta không kịp thời sửa đổi bổ sung phù hợp với xu thế đó mà đứng ngoài thì sẽ
bị cô lập, bị lãng quên trong nghèo nàn lạc hậu nhưng nếu tham gia thì phải ứng phó với sự cạnh tranh mạnh mẽ khốc liệt
Đối với Việt Nam hiện nay hoạt động lập pháp đang đứng trước những nhiệm vụ mới mẽ và phức tạp của việc điều chỉnh pháp luật đáp ứng nhu cầu của xu thế công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hợp tác và hội nhập quốc tế Vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam là một vấn đề rộng lớn và phức tạp Nó đang được đặt trên cơ
sở của một chiến lược nhằm xác định cho những thứ tự ưu tiên cần thiết, bảo đảm tính đồng bộ của việc điều chỉnh pháp luật, tính khả thi của các quy định pháp luật, tính hiệu lực và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống Hoạt động xây dựng pháp luật phải đảm bảo được chất lượng và số lượng, không thể coi trọng số lượng hay chất lượng mà phải tăng nhanh được số lượng và nâng cao hơn về chất lượng theo kịp yêu cầu của sự phát triển Vì đất nước ta chưa
dư thừa luật mà đang còn “nghèo” luật và cũng đang đòi hỏi gay gắt phải có luật
tốt, luật có chất lượng cao Trước nhu cầu đó không thể đủng đỉnh và cầu toàn cũng không chỉ thiên về chất lượng mà xem nhẹ số lượng Thời gian tới cần tập trung mọi nguồn lực đề cao trách nhiệm theo luật định để không chậm trễ và cũng không duy
ý chí đáp ứng kịp thời và đầy đủ theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội
Trước tình hình phát triển kinh tế - xã hội, hệ thốh pháp luật nước ta đã có nhiều sửa đổi, bổ sung các bộ luật, luật và các văn bản khác cho phù hợp như: Bộ Luật dân sự 2005, Luật thương mại 2005, Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005…lần lựơc ra đời thay thế các văn bản cũ Trong đó luật đầu tư 2005 và luật doanh nghiệp 2005 là sự thay đổi quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, đây là một bước tiến lớn về tư duy Tư duy truyền thống về doanh nghiệp theo thành phần kinh tế đang dần dần được thay thế bằng tư duy theo loại hình pháp lý của doanh nghiệp Xét về mặt hoàn thiện thể chế kinh tế, việc ban hành
và thực hiện hai luật đã hoàn thành quá trình thống nhất khuôn khổ pháp lý về
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
doanh nghiệp, không còn phân biệt tính chất sở hữu và thành phần kinh tế ở nước
ta Từ đó khuôn khổ pháp lý về kinh doanh ở nước ta cơ bản đã được áp dụng thống nhất, bình đẳng đối với tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu và thành phần kinh tế, phù hợp với yêu cầu kinh tế quốc tế
Thứ hai, việc ban hành và thực thi hai luật, nhất là Luật đầu tư 2005, đã xóa
bỏ tất cả các quy định trước đây của các cấp chính quyền địa phương liên quan đến đầu tư; thống nhất được các thủ tục về đầu tư theo hướng đơn giản, rõ ràng và thống nhất giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Thứ ba, phân cấp một cách toàn diện cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc trực tiếp quản lý Nhà nước về đầu tư đã tạo động lực khuyến khích và phát huy tính năng động, sáng tạo của các địa phương trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư cũng như xúc tiến đầu tư phát triển ở địa phương; đồng thời tạo điều kiện để các bộ tập trung nhiều hơn vào xây dựng và hoàn thiện chính sách, quy hoạch định hướng thu hút đầu tư
2.1.1.3 Pháp luật Việt Nam đảm bảo được tính công bằng xã hội
Đây là điều kiện quan trọng và cần thiết để xây dựng Nhà nước pháp quyền
Xã hội chủ nghĩa Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đều ghi nhận nguyên tắc “tất
cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” Mọi công dân Việt Nam đều được
hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau không phân biệt đối xử, phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo… thể hiện được sự tiến bộ của pháp luật Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Điều này chúng ta có thể thấy rỏ hơn trong những quy định của
Hiến pháp Ở điều 54 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tính ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 20 tuổi có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật” Trong xã
hội, bất cứ công dân nào, không phân biệt người đó là ai, thành phần xã hội thế nào, tình hình tài sản ra sao, nắm giữ chức vụ gì trong Bộ máy Nhà nước, theo tính ngưỡng, tôn giáo nào,…đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau Luật pháp Nhà nước
ta không thừa nhận bất kỳ một sự đặc quyền nào cho đối tượng tầng lớp nào Không thể có những chuyện như người có tài sản, trình đô hay địa thì được quyền bầu cử
và ứng cử, còn người nghèo, trình độ thấp, không địa vị trong xã hội thì không được quyền bầu cử và ứng cử, hoặc nam thì được bầu cử và ứng cử còn nữ thì không…
Bên cạnh đó, pháp luật nước ta còn thể hiện sự công bằng xã hội về nhiều
lĩnh vực khác như: “Quyền tự do kinh doanh, quyền lao động, quyền học tập…”
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đều ngang nhau Tính công bằng xã hội không chỉ thể hiện qua quyền của công dân
mà còn thể hiện qua nghĩa vụ của công dân, “công dân đều có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng” Điều 79 Hiến
pháp 1992 (sửa đổi) Ngoài ra, bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật, bất luận người đó là ai Trước pháp luật mọi công dân có tư cách giống nhau, pháp luật nước ta không thừa nhận sự phân biệt công dân thành các loại khác nhau và hưởng đối xử khác nhau Từ những dẫn chứng trên chúng ta có thể thấy được pháp luật nước ta luôn đảm bảo được tính công bằng xã hội
2.1.1.4 Hoạt động xây dựng pháp luật Việt Nam lấy ý kiến từ nhân dân
Đây là một trong những tiến bộ của Nhà nước pháp quyền Việt nam trong việc đưa xây dựng pháp luật lên các thông tin đại chúng thông qua việc (truyền thanh, truyền hình trực tiếp), các kỳ họp Quốc hội, thực hiện đường dây nóng để nhân thực hiện quyền làm chủ của mình, thông qua đó nhân dân tham gia đóng góp
ý kiến vào việc xây dựng pháp luật một cách trực tiếp hay gián tiếp Phương thức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịa sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật được quy định ở khoản 1, điều 28, Nghị định 161 của chính
phủ năm 2005: “Việc lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật về nội dung của dự án, dự thảo được thực hiện bằng hình thức: lấy ý kiến trực tiếp; tổ chức các hội nghị, hội thảo; thông qua các phương tiện thông tin dại chúng và Internet”.
Mặt khác pháp luậtcòn quy định quyền tham gia đóng góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cá nhân, tổ chức và cơ quan, trước khi thông qua đều đã tổ chức công bố rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các ngành các cấp để lấy ý kiến Điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996; sửa đổi bổ sung
2002 quy định:
“1 Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có quyền tham gia đóng góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
2 Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án, dự thảo, cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp ý kiến; tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạp vi và với hình thức thích hợp.
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3 Ý kiến tham gia về dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu để tiếp thu chỉnh lý dự án, dự thảo văn bản”.
Ngoài ra, Quốc hội do nhân dân bầu đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân Quốc hội thực hiện các quyền năng của mình trong đó có quyền lập pháp, thẩm tra và thông qua các dự án luật Có thể nói
dự án luật được Quốc hội thông qua đều chứa đựng các giá trị về bình đẳng dân chủ, nhân quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, vừa phù hợp với nước ta, vừa phù hợp với tập quán và thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
2.1.2 Một số tồn tại cần khắc phục trong hệ thống pháp luật nước ta
Qua nhiều năm xây dựng và bổ sung sửa đổi nhằm làm cho hệ thống pháp luật nước ta ngày càng hoàn thiện hơn, hệ thống pháp luật nước ta đã đạt được nhiều thành công rực rỡ song thực tế nó cũng vấp phải một số khiếm khuyết mà các nhà làm luật cần nghiên cứu để đưa hệ thống pháp luật nước ta đến chỗ hoàn thiện nhất Nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta mắc phải những khiếm khuyết cơ bản sau:
2.1.2.1 Hệ thống pháp luật thiếu tính lôgic và đồng bộ
Trong những năm vừa qua, do chúng ta cố gắng làm biến đổi một cách nhanh chóng để đáp ứng các nhu cầu của công cuộc đổi mới, nên đã làm cho một số lĩnh vực pháp luật thiếu tính nhất quán và vi phạm tính thứ bậc hay trật tự của hệ thống pháp luật Khiếm khuyết này ngay trong cả các đạo luật Chẳng hạn liên quan tới bảo hiểm, Bộ Luật dân sự năm 1995, Luật thương mại năm 1997 và Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã xâm phạm thẩm quyền hay phạm vi lẫn nhau dẫn đến một số hậu quả không đáng có Luật thương mại năm 1997 và gần đây là Luật thương mại năm 2005 nhằm để điều tiết mối quan hệ giữa các thương nhân hay hành vi thương mại Theo nhận thức chung của thế giới, bảo hiểm là một hành vi thương mại, bởi một trong những lí do thường được viện dẫn là sự ra đời và phát triển của các quy tắc bảo hiểm gắn liền với hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân và hoạt động hàng hải thương mại Điều đó có nghĩa là đạo luật chính về thương mại hoặc là phải bao hàm giao dịch bảo hiểm, hoặc là phải đặt nền tảng gần gũi nhất cho loại giao dịch này Thế nhưng Luật thương mại năm 1997 đã không đề cập đến vấn đề đó Cũng như vậy, Luật thương mại năm 2005 không nói thẳng tới bảo hiểm mà chỉ có các quy định chung về hợp đồng dịch vụ thương mại khó có thể
áp dụng trong thực tiễn Thế nhưng Bộ Luật dân sự năm 1995 và Bộ Luật dân sự