1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam

40 788 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 548,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay phải gắn với việc xây dựng một “xã hội dân chủ” và một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhìn nhận vị tr

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Huỳnh Thị Sinh Hiền Nguyễn Hoàng Thanh Trúc

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: S120095

Lớp: DT1263B1

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014

Trang 2

2

NHẬN ÉT CỦA GIẢNG VI N HƢ NG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………/

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 NHẬN ÉT CỦA GIẢNG VI N PHẢN BIỆN ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………/

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Trang 4

4

MỤC LỤC

PH N MỞ U 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cụ đề tài 2

Chương 1 KH I QU T CHUNG VỀ HỆ THỐNG PH P LUẬT V NH NƯ C PH P QU ỀN H I CHỦ NGH A VIỆT NAM 3

1.1 Khái quát chung về hệ thống pháp luật 3

1.1.1 Khái niệm về hệ thống pháp luật 3

1.1.2 Cấu thành của hệ thống pháp luật 4

1.1.2.1 Quy phạm pháp luật 4

1.1.2.2 Chế định pháp luật 4

1.1.2.3 Ngành luật 5

1.1.3 Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật 5

1.1.3.1 Tính toàn diện 5

1.1.3.2 Tính phù hợp 6

1.1.3.3 Tính khả thi 6

1.1.3.4 Tính thống nhất 7

1.1.3.5 Tính ổn định và minh bạch 7

1.1.3.6 Trình độ kỹ thuật lập pháp 8

1.2 Cơ sở lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 8

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền 8

1.2.1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền 8

1.2.1.2 Đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền 9

1.2.2 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 11

1.2.2.1 Khái niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 11

1.2.2.2 Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 12

Trang 5

5

1.3 Mối quan hệ giữa hệ thống pháp luật và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Nam 13

Chương 2 THỰC TRẠNG – KIẾN NGHỊ HO N THIỆN HỆ THỐNG PH P LUẬT P ỨNG U C U Â DỰNG NH NƯ C PH P QU ỀN H I CHỦ NGH A VIỆT NAM 16

2.1 Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay 16

2.1.1 Thực trạng về tính toàn diện của hệ thống pháp luật 16

2.1.2 Thực trạng về tính khả thi của hệ thống pháp luật 19

2.1.3 Thực trạng về tính thống nhất của hệ thống pháp luật 21

2.1.4 Thực trạng về tính ổn định của hệ thống pháp luật 23

2.1.5 Thực trạng về tính minh bạch và trình độ kỹ thuật lập pháp 25

2.2 Kiến nghị 28

2.2.1 Đổi mới quan điểm pháp lý trong xây dựng pháp luật để có một hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền 28

2.2.2 Thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật để đảm bảo tính phù hợp của hệ thống pháp luật 28

2.2.3 Xây dựng cơ chế bảo vệ phản biện của nhân dân để đảm tính khả thi của hệ thống pháp luật 28

2.2.4 Xây dựng cơ chế bảo hiến để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật 29

2.2.5 Thừa nhận án lệ đảm bảo tính khách quan phù hợp hệ thống pháp luật 30

2.2.6 Tăng cường áp dụng tập quán pháp để đảm bảo tính toàn diện khả thi của hệ thống pháp luật 30

PH N KẾT LUẬN 32

Trang 6

6

PH N MỞ U

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một tất yếu đối với Việt Nam, đây là

sự nghiệp lâu dài của toàn Đảng, toàn dân Công cuộc xây dựng này còn rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết cả về phương diện lý luận và thực tiễn Đây là vấn đề không thể giải quyết trong một sớm một chiều mà phải là một quá trình lâu dài nhiều khó khăn Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay phải gắn với việc xây dựng một

“xã hội dân chủ” và một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhìn nhận vị trí tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội Hoàn thiện pháp luật là một trong những yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam

Nhìn chung, hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập như: chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống ảnh hưởng lớn đến công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

Từ những vấn đề nêu trên tôi đã chọn đề tài “ Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu

cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để nghiên cứu cho luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc phân tích thực trạng về tính toàn diện, tính khả thi, tính thống nhất, tính

ổn định, tính minh bạch và trình độ kỹ thuật lập pháp của hệ thống pháp luật để thấy được những hạn chế, bất cập đang tồn tại của thực trạng này Qua đó, đưa ra những kiến nghị để góp phần hoàn thiện thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu hạn chế nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và khái quát chung về hệ thống pháp luật, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Đánh giá thực trạng và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trang 7

7

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên phương pháp luận là quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu từ các nguồn như sách, báo, tạp chí và các trang web tham khảo cũng như những bài báo cáo về hệ thống pháp luật, thực tiễn áp dụng,…

Trang 8

1.1.1 Khái niệm về hệ thống pháp luật

Hệ thống pháp luật là “tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định”1

Thứ hai, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, được coi là hệ thống nguồn của pháp luật, là hình thức biểu hiện bên ngoài của pháp luật hay hình thức tồn tại của pháp luật

Ta biết rằng, hệ thống pháp luật bao gồm nhiều quy phạm pháp luật kể cả thành văn (văn bản quy phạm pháp luật) và không thành văn (tập quán pháp, tiền lệ pháp) Tuy nhiên, quan điểm về nguồn luật của chúng ta hiện nay mới chỉ công nhận các văn bản pháp luật là nguồn luật nên hệ thống các văn bản pháp luật hay nguồn luật cũng chính là hệ thống pháp luật thực định

Vì vậy, khái niệm hệ thống pháp luật nêu trên được nhìn nhận ở khía cạnh của một hệ thống pháp luật thành văn (chỉ chứa đựng những quy phạm pháp luật thành văn) Hay có thể nói, hệ thống pháp luật theo định nghĩa này gần như đồng nghĩa với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của quốc gia

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, 2009, tr 401

Trang 9

9

1.1.2 Cấu thành của hệ thống pháp luật

Hệ thống là khái niệm được dùng để chỉ những chỉnh thể có cấu trúc thống nhất, được tạo thành từ các thành tố có mối liên hệ chặt chẽ, có sự tác động qua lại với nhau và được tập hợp theo những trình tự nhất định Và hệ thống pháp luật được cấu thành từ 3 thành tố cơ bản sau: ngành luật có tính chất loại, chế định pháp luật có tính chất nhóm, quy phạm pháp luật có tính chất tế bào

1.1.2.1 Quy phạm pháp luật

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung được Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được Nhà nước đảm bảo thực hiện kể cả bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

Về nguyên tắc thì quy phạm pháp luật được cấu thành từ 3 bộ phận là giả định, quy định và chế tài

Giả định là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên trong hoàn cảnh, điều kiện, tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống và chủ thể nào rơi vào tình huống đó, điều kiện đó cần phải xử sự theo yêu cầu của bộ phận quy định

Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật, thông thường quy định nêu lên cách xử

sự mà chủ thể được nêu ở phần giả định phải thực hiện, bộ phận quy định này chứa đựng ý chí hoặc mệnh lệnh của Nhà nước, yêu cầu của nhà làm luật đối với chủ thể được nêu ở giả định, yêu cầu này có thể được thực hiện dưới dạng cấm, cho phép và bắt buộc, để tìm bộ phận quy định ta phải trả lời câu hỏi phải làm gì, không được làm g gì và gợi ý làm như thế nào? Bộ phận quy định thực hiện chức năng điều chỉnh của pháp luật

Chế tài là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên biện pháp xử lý cho chủ thể được

nêu ở giả định khi chủ thể này không tuân theo yêu cầu của bộ phận quy định

Trang 10

cùng diễn ra trong lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội Còn phương pháp điều chỉnh là

cách thức mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội trên

Trong đó, đối tượng điều chỉnh là quan trọng nhất vì mỗi ngành luật điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội nhất định Trong khi đó một phương pháp điều chỉnh có thể được sử dụng trong nhiều ngành luật

Ví dụ: Ngành luật hành chính có đối tượng điều chỉnh là quan hệ chấp hành, điều hành

và phương pháp điều chỉnh là mệnh lệnh – phục tùng, ngành luật dân sự có đối tượng điều chỉnh là quan hệ tài sản, nhân thân và phương pháp điều chỉnh là bình đẳng, thỏa thuận

1.1.3 Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật đến đâu người ta thường để

ra những tiêu chí cụ thể để đánh giá Việc đánh giá qua các tiêu chí sẽ giúp nhận diện được những mặt tích cực cũng như hạn chế của một hệ thống pháp luật để từ đó có giải pháp cụ thể để xây dựng được một hệ thống pháp luật ngày một hoàn thiện và chất lượng hơn

Có nhiều tiêu chí được đưa ra song có thể đánh giá thông qua các tiêu chí cơ bản sau: tính toàn diện, tính phù hợp, tính thống nhất, tính khả thi, tính ổn định, minh bạch và trình

độ kỹ thuật lập pháp

1.1.3.1 Tính toàn diện

Đây là tiêu chuẩn đầu tiên xác định mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Một hệ thống pháp luật toàn diện phải có đủ các ngành luật để điều chỉnh các lĩnh vực nhất định trong đời sống mà xã hội đang có nhu cầu cần được điều chỉnh Tính toàn diện của hệ thống pháp luật còn thể hiện ở các quy phạm pháp luật được đặt ra phải có khả năng bao trùm toàn

bộ đời sống xã hội, để các mối quan hệ trong xã hội có nhu cầu được điều chỉnh đều có pháp luật điều chỉnh Tính toàn diện của pháp luật đòi hỏi phải có đủ các chế định pháp luật thể hiện thống nhất trong từng ngành luật tương ứng đảm bảo pháp luật không có lỗ hỏng, đồng

Trang 11

11

thời trong từng chế định này phải có đầy đủ các quy phạm pháp luật cần thiết tránh tạo mảng trống của pháp luật Khi luật được ban hành cần phải chú trọng cả luật nội dung lẫn luật hình thức để đảm bảo có sự thống nhất về trình tự và thủ tục trong giải quyết một vấn đề liên

quan phát sinh

1.1.3.2 Tính phù hợp

Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nội dung của hệ thống pháp luật luôn

có sự tương ứng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Pháp luật phải phản ánh những nhu cầu cơ bản, điển hình của đời sống kinh tế - xã hội được thể hiện thông qua ý chí của Nhà nước và nhà làm luật Pháp luật phải phù hợp với cách cư xử của xã hội trong những thời điểm nhất định, sự phù hợp của các quy định pháp luật là điều kiện vô cùng quan trọng bảo đảm cho tính khả thi và hiệu quả áp dụng Pháp luật phù hợp với các quy luật của kinh tế - xã hội không chỉ giúp pháp luật dễ dàng được áp dụng mà còn thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội

Sự phù hợp còn thể hiện ở chỗ pháp luật phải được thể chế hóa từ đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mở cửa, hội nhập quốc tế Để pháp luật có thể bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định thì đòi hỏi nội dung của pháp luật phải quy định sao cho phù hợp với phong tục và tập quán của xã hội, phải tương quan giữa các loại lợi ích, tránh xung đột, đảm bảo sự hài hoà đối với các tầng lớp khác nhau trong xã hội, phải phù hợp với đạo đức, với

thuần phong mỹ tục và trình độ phát triển kinh tế xã hội

1.1.3.3 Tính khả thi

Một hệ thống pháp luật có chất lượng thì phải bảo đảm được tính khả thi, nghĩa là các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trong điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội hiện tại, các quy định được ban hành phải phù hợp với trình độ phát triển của đất nước trong một giai đoạn phát triển nhất định Nếu các quy định pháp luật được ban hành tương thích với các điều kiện phát triển của đất nước thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của pháp luật Trong những trường hợp đó, pháp luật sẽ không có khả năng thực hiện hoặc nếu được thực hiện thì sẽ không triệt để, không nghiêm minh, không phát huy hết vai trò thượng tôn của pháp luật trong đời sống xã hội

Tính khả thi của hệ thống pháp luật còn thể hiện ở việc các quy định pháp luật phải được ban hành đúng lúc, kịp thời đáp ứng những nhu cầu mà cuộc sống đang đặt ra, đồng

Trang 12

12

thời phải phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành Khi ban hành pháp luật phải xem xét tới điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, đồng thời phải tính đến các điều kiện khác như tổ chức bộ máy nhà nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức khi áp dụng, dư luận xã hội trong việc tiếp nhận quy định hoặc văn bản pháp luật đó (ủng hộ hay không ủng hộ), trình độ văn hoá và kiến thức pháp lý của nhân dân Pháp luật

có chất lượng phải là pháp luật đưa ra được phương án tốt nhất với phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp nhất để thông qua đó có thể đạt được mục đích mong muốn trong những

điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại

1.1.3.4 Tính thống nhất

Sự thống nhất của hệ thống pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất

về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật Tính thống nhất của

hệ thống pháp luật được thể hiện trong cả hệ thống cũng như trong từng bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật ở các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa các ngành luật trong hệ thống pháp luật; giữa các chế định pháp luật trong cùng một ngành luật; giữa các quy phạm pháp luật trong một chế định pháp luật cũng phải thống nhất Không có các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận và trong các

bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải bảo đảm

tính thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng

1.1.3.5 Tính ổn định và tính minh bạch

Tính ổn định là một trong những “tiêu chí cơ bản để đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như tính “dự liệu” của nhà lập pháp trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Nếu pháp luật phù hợp thực tế đời sống xã hội thì tính hiệu lực về thời gian sẽ lâu còn ngược lại hiệu lực về thời gian sẽ ngắn”2 Thay đổi pháp luật thường xuyên sẽ làm đổi lộn các quan

hệ xã hội dẫn đến nhiều bất ổn “pháp luật thay đổi thường xuyên thì tệ hơn là không có pháp luật”3 Tuy nhiên, khi xã hội phát triển thì nhiều quan hệ xã hội mới cũng phát sinh vì vậy việc thay đổi bổ sung bắt buộc phải diễn ra là đều cần thiết khi mà quy phạm pháp luật đó không còn phù hợp nữa Bên cạnh tính ổn định thì tính minh bạch cũng là một đòi hỏi rất quan trọng Có nhiều quan điểm cho rằng tính minh bạch của pháp luật thể hiện ở việc pháp luật được công bố, được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, “tính minh bạch của pháp luật còn thể hiện ở sự xác minh, tính hệ thống và nhất quán Một hệ

2

Phan Trung Hiền, Lý luận về Nhà nước và pháp luật, Quyển 2, Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr74

3 Nguyên văn Ngạn ngữ Anh: “The law that changes every day is worse than no law at all”.

Trang 13

13

thống pháp luật cồng kềnh, khó tiếp cận, khó hiểu, khó vận dụng và chứa đựng những mâu thuẫn nội tại không thể coi là một hệ thống pháp luật minh bạch và không thể trở thành nền tảng để xây dựng nhà nước pháp quyền”4

1.1.3.6 Trình độ kỹ thuật lập pháp

Đó là tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hoá pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật có được đầy đủ các khả năng để điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội Khi xây dựng pháp luật phải đưa ra những nguyên tắc, những trình tự tối ưu để tiến hành có hiệu quả, những quy định, những văn bản pháp luật được tạo ra từ trình tự này phải phù hợp với các quy định đã có, xác định tính chính xác, tính khoa học trong cơ cấu của hệ thống pháp luật phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội, ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng,

dễ hiểu và một nghĩa Đối với những thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung đều được giải thích trong văn bản

Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải thường xuyên sử dụng các phương tiện, các cách tiếp cận, các kỹ thuật pháp lý, các quy tắc pháp lý tiên tiến khoa học nhất đã đạt được của nhân loại trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật Để có chất lượng các văn bản pháp luật phải được xây dựng đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định, có tên gọi phù hợp với nội dung thể hiện, hình thức rõ ràng, dễ thực hiện

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NH NƯ C PH P QU ỀN H I CHỦ NGH A

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền

1.2.1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền là một trong những thành tựu của loài người trong việc tổ chức

và vận hành xã hội Những ý tưởng về Nhà nước pháp quyền đã có từ lâu trong lịch sử nhân loại và được nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau từ sử học, xã hội học, luật học,

“Nhà nước pháp quyền là trật tự xã hội mà ở đó Nhà nước thực thi quyền lực của mình dựa trên nền tảng pháp luật được ban hành theo thủ tục hiến định nhằm đảm bảo các quyền tự do dân chủ của nhân dân và công lý”5

4Hà Hùng Cường, Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn/nha nuoc va phap luat/ cau-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn [ ngày truy cập 27/5/2014]

hoan-thien-he-thong-phap-luat-111ap-ung-yeu-5

Bùi Nguyên Khánh, Xây dựng Nhà nước pháp quyền để phát huy quyền lực nhà nước, Tài liệu Hội thảo khoa học toàn

quốc tại Trường Đại học Sài Gòn, ngày 24/11/2011.

Trang 14

Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị pháp lý phức tạp được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta cũng có thể hiểu một cách đơn giản rằng đó là một nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và Nhà nước hoạt động theo pháp luật

Trong bài viết của Chủ tịch nước Trần Đức Lương đăng trên Tạp chí Cộng sản cũng nêu lên nhận định “Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu Nhà nước trong hình thái kinh tế xã hội, Nhà nước pháp quyền nói một cách khái quát là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức hoạt động của Bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền là Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật”6

Theo GS – TSKH Đào Trí Úc thì “khi nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến phương thức tổ chức quyền lực nhà nước Ở đó pháp luật là cơ sở tốt nhất cho việc quản lý nhà nước”

Từ nhiều cách nhìn nhận về Nhà nước pháp quyền có thể quy chung lại “Nhà nước

pháp quyền được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật Trong đó, mọi chủ thể kể cả Nhà nước đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật”

1.2.1.2 Đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền

 Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ

Dân chủ vừa là bản chất của Nhà nước pháp quyền, vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện

6

Trần Đức Lương, Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân, Tạp chí Cộng sản, số 1/2002.

Trang 15

 Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội

Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước Mọi hoạt động của nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng quy định của pháp luật Mô hình quan hệ giữa nhà nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; với công dân thì được làm tất cả trừ những gì pháp luật cấm

 Quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo nguyên tắc dân chủ; phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực

Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tùy thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước

 Nhà nước pháp quyền gắn với cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng Vì vậy, cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật của mọi quốc gia rất

đa dạng và khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng đều là bảo đảm địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật, loại bỏ những hành vi trái với tinh thần chung của Hiến pháp Đồng thời

Trang 16

16

với cơ chế bảo vệ hiến pháp thì Nhà nước pháp quyền phải xây dựng và thực thi một chế độ

tư pháp thật sự dân chủ trong sạch và minh bạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội

 Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước luôn được giới hạn trong mối quan hệ giữa Nhà nước với kinh tế và Nhà nước với xã hội

Trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế, vị trí vai trò chức năng và nhiệm vụ của nhà nước được xác định bởi tính chất, trình độ của mô hình nền kinh tế thị trường, theo hướng nhà nước tôn trọng và phát huy các quy luật khách quan của thị trường, thông qua thị trường để điều tiết các quan hệ kinh tế, đồng thời khắc phục và hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường Đối với mối quan hệ với xã hội, nhà nước thông qua pháp luật để quản lý xã hội, tôn trọng và đề cao vai trò, vị trí và quyền tự chủ của các tổ chức xã hội và các cộng đồng xã hội

Mối quan hệ giữ nhà nước với kinh tế, xã hội là mối quan hệ tương tác, quy định và chi phối lẫn nhau Nhà nước không đứng trên kinh tế và xã hội Nhà nước pháp quyền gắn liền với kinh tế và xã hội, phục vụ kinh tế và xã hội trong phạm vi Hiến pháp và pháp luật

1.2.2 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.2.2.1 Khái niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Đối với nước ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là xây dựng phương thức tổ chức nền chính trị xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, không ngừng duy trì bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân của Nhà nước, phát huy tính dân chủ xã hội chủ nghĩa sâu sắc, xây dựng một xã hội thật sự công bằng, dân chủ và văn minh, một nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý xã hội và điều hành đất nước

Trang 17

17

1.2.2.2 Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bên cạnh những đặc điểm cơ bản của một Nhà nước pháp quyền thì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có những đặc trưng riêng phù hợp với thể chế chính trị và nguyên tắc hoạt động của mình Đó là:

 Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là

thống nhất, có sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước

Trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp

Một trong những nội dung cơ bản của nguyên tắc phân công và phối hợp quyền lực Nhà nước và của cải cách hành chính là sự phân công, phân cấp giữa trung ương và địa phương Sự phân công, phân cấp đó phải dựa trên cơ sở khuyến khích và nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ với quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ

Trong các tổ chức thực hiện quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền thì dù ở chế độ xã hội nào việc xác lập và sử dụng các hình thức

và cơ chế giám sát luôn được đặt ra một cách tất yếu bởi vì Nhà nước pháp quyền về thực chất là để công khai hóa quyền lực, chống lạm dụng quyền lực

Trên thực tế, các hình thức kiểm tra, giám sát của nhân dân đa dạng và linh hoạt hơn nhiều so với những hình thức kiểm tra giám sát của Nhà nước Tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh mỗi quốc gia, mà các hình thức kiểm tra, giám sát của nhân dân sẽ được tổ chức phù hợ

 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng

sản Việt Nam lãnh đạo

Đây được xem là đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “đặc trưng

này được tạo nên bởi thực tiễn cách mạng giành chính quyền của các nước xã hội chủ nghĩa Cho dù cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hay cách mạng xã hội chủ nghĩa thì đều

do đảng cộng sản lãnh đạo nhằm thủ tiêu chế độ cũ – chế độ người bóc lột người, thiết lập một chế độ mới – chế độ nhân dân lao động làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội và làm chủ

Trang 18

+ Đối với dân tộc Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước, đối với xã hội không chỉ là tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan mà còn là ở chỗ sự lãnh đạo đó còn có cơ sở đạo lý sâu sắc và cơ sở pháp lý vững vàng

+ Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản - Đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội

và đời sống nhà nước không những không trái (mâu thuẫn) với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta Trong ý nghĩa ấy, nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động là một đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Đối với Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, quyết định phương hướng chính trị của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự là tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân, thực sự của dân, do dân và vì dân, để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước triển khai tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng bằng các hoạt động quản lý nhà nước, tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA HỆ THỐNG PH P LUẬT V NH NƯ C PH P

QU ỀN H I CHỦ NGH A VIỆT NAM

Pháp luật và Nhà nước là hai bộ phận của kiến trúc thượng tầng, luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cả hai hiện tượng này đều chung nguồn gốc ra đời và phát triển Trong mối quan hệ này, Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực

đó chỉ có thể được thực hiện và có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật; trong khi đó, pháp luật

là hệ thống những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và luôn phản ánh quan điểm, đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực đó được thực hiện trong xã hội Với ý nghĩa đó, nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực nếu

7 Nguyễn Văn Động, Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật, NXb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 156

Trang 19

19

thiếu pháp luật; ngược lại, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước Vì thế, không thể nói pháp luật đứng trên nhà nước hay nhà nước đứng trên pháp luật Chính vì vậy, khi xem xét các vấn đề nhà nước và pháp luật, phải đặt chúng trong mối quan hệ qua lại với nhau Mặt khác khi nghiên cứu mối quan hệ này cũng cần nhận thức rõ rằng; pháp luật mặc dù do nhà nước ban hành nhưng khi đã được công bố thì nó trở thành một hiện tượng có sức mạnh công khai bắt buộc đối với mọi chủ thể, trong đó có cả nhà nước Nhà nước nói chung và mọi cơ quan nói riêng đều phải tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Đồng thời, nhà nước cũng không thể chủ quan duy ý chí khi xây dựng và ban bố luật, mà phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của các điều kiện kinh tế - xã hội Bởi lẽ, đó cũng chính là nội dung và yêu cầu khách quan mà pháp luật cần phản ánh và bảo vệ

Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà việc quản lý đất nước và xã hội bằng pháp luật; Chính vì thế, mà công tác xây dựng hệ thống pháp luật theo hướng hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Xây dựng nhà nước pháp quyền chính là xây dựng nhà nước dân chủ muốn cho quyền dân chủ của nhân dân thực sự tồn tại không phải chỉ nêu lên về mặt hình thức mà pháp luật liên quan phải quy định cụ thể, đảm bảo sao cho nhân dân có thể vận dụng để phát huy quyền lợi chính đáng của mình góp phần hoàn thiện một tiêu chí quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền

Đi kèm với yếu tố nhân quyền và dân chủ thì cơ chế bảo hiến cũng là một nội dung quan trọng trong Nhà nước pháp quyền Trong Nhà nước pháp quyền thì Hiến pháp có vai trò rất lớn, hiến pháp tồn tại với tư cách là đạo luật cơ bản của Nhà nước cơ hiệu lực pháp lý cao nhất, thể hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất ý chí và sự lựa chọn chính trị của nhân dân Hiến pháp bao hàm trong đó những quy tắc cơ bản của một xã hội dân chủ chứ không phải là một tập hợp các đạo luật thường xuyên thay đổi Tất cả các đạo luật khác đều phải dựa trên cơ sở Hiến pháp và trong khuôn khổ của pháp luật Hiến pháp là cơ sở và là điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo sự ổn định xã hội và sự an toàn của nhân dân, gắn liền với nền dân chủ, quyền tự do và dân chủ của nhân dân Vì Hiến pháp có vị trí đặt biệt quan trọng nên nhu cầu thành lập cơ chế bảo hiến là thật sự cần thiết và hoàn toàn hợp lý Trong Nhà nước pháp quyền thì Hiến pháp và pháp luật phải được tôn trọng, sự tôn trọng này còn thể hiện sự tôn trọng đối với ý chí phổ biến và đầy đủ nhất của nhân dân Bảo vệ Hiến pháp

là bảo vệ chủ quyền Nhà nước, bảo vệ ý chí và quyền lợi chính đáng của nhân dân Chính vì

Trang 20

20

thế, việc xây dựng và thực hiện một cơ chế hoàn hảo cho việc phát hiện và đáng giá những hoạt động trái với Hiến pháp và pháp luật là cần thiết trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay mà đặt biệt là trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong xây dựng Nhà nước pháp quyền thì tôn trọng và đề cao vai trò của pháp luật là tiêu chí tiêu biểu, là dấu hiệu đặt trưng của mô hình Nhà nước pháp quyền Đối với nước ta hiện nay thì các quan hệ xã hội cơ bản cần phải được pháp luật điều chỉnh, pháp luật giữ vị trí chi phối trong toàn xã hội, trong hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước và trong hành vi xử sự của công dân

Từ những nội dung nêu trên đã đặt ra yêu cầu tất yếu phải có một hệ thống pháp luật cần và đủ là cơ sở tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật xã hội Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là pháp luật mang tính khách quan của các quy định pháp luật chứ không phải nói đến nhu cầu đề ra pháp luật, áp dụng pháp luật một cách chung chung Mà pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải phản ánh đường lối, chính sách chủ trương của Đảng và nhà nước, lợi ích của nhân dân Pháp luật phải thể chế hóa nhu cầu quản lý xã hội, là hình thức tồn tại của các tổ chức xã hội và thiết chế nhà nước Pháp luật phải phù hợp với hiện thực khách quan với tiến bộ của xã hội Pháp luật là một công cụ quan trọng để quản lý nhà nước, pháp luật giúp mở rộng nhân quyền và pháp luật là cơ sở để phát huy dân chủ của nhân dân chính vì thế mà pháp luật cần phải được hoàn thiện

Ngày đăng: 01/10/2015, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm