1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết thẩm thệ hà

123 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm tiểu thuyết thẩm thệ hà
Tác giả Trần Thục Quyên
Người hướng dẫn TS. Võ Văn Nhơn
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 12,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hòa chung với những cây bút đương thời, Thẩm Thệ Hà đã góp thêm một cái nhìn sâu sắc, một tiếng nói đầy trách nhiệm của nhà văn đối với sự phát triển chung của dòng văn học yêu nước cách

Trang 2

TS VÕ VĂN NHƠN

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi độc lập nghiên cứu, xây dựng dựa trên cơ sở tiếp thụ ý tưởng khoa học của các tác giả đi trước dưới sự hướng dẫn của TS Võ Văn Nhơn

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn trên là sự tìm tòi nghiên cứu của cá nhân, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

TRẦN THỤC QUYÊN

Trang 4

NHÀ VĂN THẨM THỆ HÀ (1923 – 2009)

Trang 5

MỞ ĐẦU Trang

1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của luận văn 7

CHƯƠNG 1 THẨM THỆ HÀ TRONG KHÔNG GIAN VĂN HỌC YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG 1.1 Hành trình văn chương Thẩm Thệ Hà 9

1.1.1 Con đường đến với sáng tạo văn chương của Thẩm Thệ Hà 9

1.1.2 Vai trò, vị trí của Thẩm Thệ Hà trong dòng chảy văn học yêu nước cách mạng 23

1.2 Tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà – sắc màu riêng của dòng văn học yêu nước cách mạng 1.2.1 Tiểu thuyết – thành tựu nổi bật của dòng văn học yêu nước cách mạng 28

1.2.2 Những sắc màu riêng trong tiểu thuyết Thẩm Thệ……… 30

CHƯƠNG 2

NỘI DUNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN NHÂN VĂN

TRONG TIỂU THUYẾT THẦM THỆ HÀ 2.1 Nội dung yêu nước

Trang 6

2.2 Tinh thần nhân văn

2.2.1 Phản ánh bức tranh hiện thực đời sống 49

2.2.2 Phê phán tư tưởng và lối sống của một bộ phận thanh niên 55

2.2.3 Ca ngợi tình yêu gắn liền lý tưởng cách mạng cao cả 61

CHƯƠNG 3 HÌNH THỨC TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT THẦM THỆ HÀ 3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 66

3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 75

3.3 Cốt truyện và kết cấu 82

3.4 Ngôn ngữ và giọng điệu 84

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 102

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ kéo dài suốt ba mươi năm đầy gian khổ của đất nước, văn học yêu nước cách mạng miền Nam đóng một vai trò quan trọng khi cùng với thời gian đã dần khẳng định được những đóng góp trong dòng chảy lịch sử văn học dân tộc Giữa không khí đổi mới của văn học, những thành tựu của dòng văn học này thật đáng ghi nhận và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, do sự hạn chế về tư liệu, về phạm vi nghiên cứu nên vẫn còn rất nhiều tác giả, tác phẩm chưa được đi sâu vào tìm hiểu để làm hoàn chỉnh hơn diện mạo bức tranh văn học giai đoạn 1945 - 1975 Nhà văn Thẩm Thệ Hà và những tiểu thuyết của ông cũng nằm trong suối nguồn đó

Mỗi thành tựu của văn học miền Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đều có những giá trị riêng nhất định vượt lên từ hoàn cảnh khủng bố, đàn áp khắc nghiệt của quân thù Trong hoàn cảnh đó, mỗi nhà văn đều chọn cho mình những mảng đề tài, những lối viết phù hợp Với một đội ngũ sáng tác văn học đông đảo, tràn đầy nhiệt huyết, dòng văn học yêu nước cách mạng tại các đô thị miền Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ Vì vậy, bức tranh của dòng văn học miền Nam ba mươi năm kháng chiến càng trở nên sinh động, đa sắc màu Hòa chung với những cây bút đương thời, Thẩm Thệ Hà đã góp thêm một cái nhìn sâu sắc, một tiếng nói đầy trách nhiệm của nhà văn đối với sự phát triển chung của dòng văn học yêu nước cách mạng

Ngày 20 – 6 – 2009, nhà văn Thẩm Thệ Hà đã từ trần sau những ngày chống chọi với bệnh tật và tuổi già Dẫu biết rằng sinh tử là quy luật của đất trời nhưng sự ra đi của ông để lại nhiều tiếc nuối trong lòng độc giả Những đóng góp của nhà văn Thẩm Thệ

Hà đối với dòng văn học yêu nước cách mạng thật đáng ghi nhận Đặc biệt, nhắc đến Thẩm Thệ Hà không thể nhắc đến mảng tiểu thuyết của ông Ngoài thơ ca và truyện

Trang 8

ngắn, tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà đã gây tiếng vang lớn trong đời sống văn học lúc bấy giờ Dù vậy, vì những lý do khác nhau nên cho đến nay, mảng tiểu thuyết của ông vẫn chưa được đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu để có được cái nhìn đa diện nhất Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu những giá trị của tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà đối với sự phát triển chung của dòng văn học yêu nước cách mạng, chúng tôi quyết

định chọn đề tài luận văn: “Đặc điểm tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà”

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Với nỗ lực không ngừng, nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã đem đến cho chúng ta cái nhìn đa diện hơn về chân dung những nhà văn đã song hành cùng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Cho đến nay, có thể nói chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào mảng tiểu thuyết nhà văn Thẩm Thệ Hà nhưng những công trình của các tác giả đi trước là nguồn tư liệu vô cùng quý giá cho chúng tôi kế thừa Vì vậy, chúng tôi xin điểm qua những công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của ông để có được một cái nhìn tổng quan nhất và từ đó có thể đặt tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà trong tiến trình văn học miền Nam, trong sự so sánh, đối chiếu với những tác phẩm trước và sau đó

Ngay từ khi xuất bản, những tiểu thuyết của nhà văn Thẩm Thệ Hà đã gây được sự

chú ý trên văn đàn Trên báo Bông lúa, số ngày 13 – 7 – 1957, Lâm Vị Thủy nhận xét:

Với cuốn “Đời tươi thắm” tuy Thẩm Thệ Hà không đề ra một lối thoát cho hiện tình văn nghệ lai căn bế tắc và chưa thành công mấy vì chưa đặt đúng chỗ, đúng lúc những trạng thái biến chuyển cùng những phản ứng cần thiết về nội tâm cũng như ngoại cảnh của mỗi nhân vật điển hình trong tác phẩm của anh, xong nếu đem đối chiếu với những cuốn tiểu thuyết xuất bản từ 52 trở lại đây, ta phải thành thực nhìn nhận rằng tác phẩm “Đời tươi thắm” của Thẩm Thệ Hà đáng được gọi là xuất sắc hơn cả từ nội dung đến kỹ thuật viết vậy”

Bên cạnh đó còn có những bài viết như: “Hoa trinh nữ của Thẩm Thệ Hà” của tác

giả Hồng Hà đăng trên báo Nhân loại, số 83, ra ngày 6 – 12 – 1957; “Bạc áo hào hoa

Trang 9

của Thẩm Thệ Hà” của tác giả Hà Liên Tử đăng trên báo Tia sáng, số ra ngày 29 – 5 – 1970; “Đời tươi thắm của Thẩm Thệ Hà” của tác giả Trần Quang Trung đăng trên báo

Nhân loại, số ra ngày 6 – 7 – 1957… Tuy điểm nhìn của mỗi bài báo có khác nhau

nhưng đa phần đều ghi lại ngắn gọn những cảm nhận truớc trang văn của Thẩm Thệ

Hà Chính những bài báo trên đã phần nào phản ánh được sức hút của tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà đối với độc giả giai đoạn này

Năm 1969, với công trình “Văn chương tranh đấu miền Nam”, tác giả Nguyễn Văn

Sâm đã khái quát và đồng thời khẳng định những giá trị của tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà với bài viết “Thẩm Thệ Hà và diễn trình ý thức cách mạng” Tác giả đã nêu lên khái quát những ưu điểm và hạn chế trong phong cách tiểu thuyết của nhà văn Tuy nhiên, công trình này cũng chỉ dừng lại ở việc điểm qua một vài nét về tư tưởng sáng tác, về những chuyển biến trong giai đoạn hình thành ý thức cách mạng của nhà văn qua cuốn

tiểu thuyết Người yêu nước Vì vậy, người đọc chưa có được một cái nhìn toàn diện về

những giá trị nội dung và nghệ thuật đối với mảng tiểu thuyết của nhà văn Thẩm Thệ

Năm 1993, Thẩm Thệ Hà – Thân thế và văn nghiệp của tác giả Thanh Việt Thanh

được xuất bản Đây có thể được xem là một trong những công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về nhà văn Thẩm Thệ Hà Tuy nhiên, điều đáng tiếc là ở mảng tiểu thuyết – một thành tựu đáng ghi nhận trong sự nghiệp của nhà văn lại không được Thanh Việt Thanh chú ý nhiều khi tác giả chỉ đi vào giới thiệu văn bản tác phẩm Chân dung của nhà văn Thẩm Thệ Hà sẽ hoàn thiện và tỏa sáng hơn khi tác giả đi sâu vào những giá trị tiểu thuyết của ông Dù vậy, một cái nhìn toàn cảnh về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn, nhà giáo, nhà cách mạng Thẩm Thệ Hà và việc sưu tầm, tập hợp đuợc khá nhiều các sáng tác của nhà văn ở những thể loại văn xuôi, thơ, tiểu thuyết chính là ưu điểm nổi bật của công trình này

Năm 2008, trong Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam (tập 2) của hai tác giả

Trần Thanh Phương và Phan Thu Hương, nhà văn Thẩm Thệ Hà được nhắc đến như

Trang 10

“một nhà văn, nhà báo, nhà giáo nổi tiếng của Nam Bộ Cuộc đời của ông sống an

nhàn, thanh đạm như một bậc chân tu và ra đi như một ẩn sĩ” [56, tr.131] Tuy nhiên,

trong công trình này, tác giả chỉ giới thiệu sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn

Xuất phát từ lòng kính trọng đối với nhà văn Thẩm Thệ Hà, trong bài viết “3 trắc diện chân dung Thẩm Thệ Hà” nhân kỷ niệm 3 năm ngày mất của ông đăng trên tạp chí

Thế giới Mới, số ra ngày 4 – 6 – 2012, tác giả Trần Phò đã nhận xét: “Tiểu thuyết mới đúng là thế giới mà ông tung hoành và thỏa chí” [41, tr.54] Ngoài ra, còn phải kể đến

luận văn cử nhân Thẩm Thệ Hà – cuộc đời và tác phẩm của tác giả Lê Thị Quyên,

trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và một số bài phỏng vấn, các bài báo, bài viết nhận định về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Thẩm Thệ Hà được đăng trên nhiều tạp chí và những trang mạng xã hội, tiêu biểu như:

“Thẩm Thệ Hà – Nhà văn yêu nước đất Nam Bộ” của tác giả Phan Mạnh Hùng đăng

trên tập san Khoa học xã hội & Nhân văn, số 54, (2012) Điểm nhấn của bài viết này là

tác giả đã đi vào giới thiệu những đặc trưng tác phẩm và đóng góp của Thẩm Thệ Hà đối với văn học Nam Bộ, đặc biệt ở mảng văn xuôi Những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật của 5 tiểu thuyết lần lượt được tác giả khái quát Tuy nhiên, trong bài viết này,

tác giả lại không đề cập đến tiểu thuyết Gió biên thùy của Thẩm Thệ Hà

Trong không khí đổi mới của văn học, việc đi tìm lại những giá trị, những đóng góp của tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà mà thế hệ những nhà nghiên cứu đi trước đã dành nhiều công sức, tâm lực mang những ý nghĩa to lớn Sự tìm kiếm, thu thập tư liệu của chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại hơn nữa nếu như không có những những công trình, bài viết đã được nêu trên

Trong dòng chảy hối hả của nhịp sống hiện đại, tên tuổi của nhà văn Thẩm Thệ Hà vẫn còn là một ẩn số đối với nhiều độc giả Với những tư liệu sưu tầm được kết hợp với những công trình của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi hy vọng luận văn này sẽ giới thiệu một cách bao quát, hệ thống những đóng góp nhất định của nhà văn

Trang 11

Thẩm Thệ Hà đối với dòng văn học yêu nước cách mạng, đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Tên của đề tài luận văn là “Đặc điểm Tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà” nên chúng tôi sẽ

chú trọng đi vào nghiên cứu toàn bộ các tiểu thuyết của ông Trong giai đoạn 1945 –

1954, Thẩm Thệ Hà đã sáng tác ba bộ tiểu thuyết gồm: Vó ngựa cầu thu, Gió biên thùy,

Người yêu nước Ba tiểu thuyết trên đều được nhà xuất bản năm 1949 và được đông

đảo độc giả đón nhận Giữa hoàn cảnh chiến tranh khói lửa, Thẩm Thệ Hà đã nhận thức được trách nhiệm trí thức của mình là phải dùng ngòi bút để nói lên tiếng nói lương tri của thời đại, lưu giữ lại những hình ảnh lịch sử của dân tộc Đó cũng chính là động lực của các nhà văn cùng thời để họ có thể sống, chiến đấu và viết đến hơi thở cuối cùng Vì vậy, hầu hết các tiểu thuyết thuộc dòng văn học yêu nước cách mạng đa phần đều là tiếng nói yêu nước, tấn công vào những thế lực thù địch

Sau năm 1954, Thẩm Thệ Hà tiếp tục lặng thầm dùng ngòi bút của mình để phản ánh rõ nét hơn cuộc đấu tranh của dân tộc và gửi gắm những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Không chỉ viết về chiến tranh, Thẩm Thệ Hà còn đi vào những góc khuất của bức tranh xã hội muôn màu nơi đô thị phồn hoa và vùng nông thôn với những mảnh

đời lầm than, cơ cực Đời tươi thắm (1956), Hoa trinh nữ (1956), Bạc áo hào hoa

(1969) chính là những ký ức được lưu giữ về những năm tháng nhà văn tham gia chiến đấu và dạy học ngay giữa lòng Sài Gòn tạm chiếm Những trang văn ấy đã từng làm say lòng độc giả đương thời và minh chứng cho tấm lòng sâu sắc, sống có trách nhiệm của một nhà văn đối với thời cuộc, với lương tri của người cầm bút

Là nhà văn song hành với hai cuộc kháng chiến của dân tộc, chịu sự tác động sâu sắc của nhiều biến động về chính trị, xã hội, văn hóa, Thẩm Thệ Hà cũng như bao nhà văn tiêu biểu thời bấy giờ đều phải vượt qua chịu sự kiểm duyệt gắt gao của chính

quyền Sài Gòn Chính vì lý do này mà văn bản tiểu thuyết Lưu động không còn được

lưu giữ đến hôm nay Đây là một điều đáng tiếc trong quá trình sưu tầm, tập hợp tư

Trang 12

liệu Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đã chọn sáu tiểu thuyết trên làm đối tượng khảo sát chính Bên cạnh đó chúng tôi còn có sự so sánh, đối chiếu với những sáng tác thơ, phê bình, truyện ngắn của ông và nhiều nhà văn cùng giai đoạn để có

được cái nhìn toàn diện hơn về một “cây bút khả kính” như lời nhận định của nhà

nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Về mặt lý luận, thông qua việc tìm hiểu những đặc điểm tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà, luận văn góp phần làm rõ những đóng góp của ông đối với dòng văn học yêu nước cách mạng Trên cơ sở khảo sát những đặc điểm nổi bật về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật tiểu thuyết để khẳng định những nét đặc sắc của ngòi bút Thẩm Thệ

Về mặt thực tiễn, khi đã có một độ lùi lịch sử nhất định, việc đặt tiểu thuyết của nhà văn Thẩm Thệ Hà trong dòng chảy văn học miền Nam là hết sức cần thiết Điều này góp phần vào việc giữ gìn những giá trị di sản văn học dân tộc đã được ươm mầm và phát triển trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của luận văn trên cơ sở sưu tầm, tìm đọc các tiểu thuyết của nhà văn Thẩm Thệ Hà và các tư liệu có liên quan, chúng tôi quyết định sử dụng những phương pháp chính trong suốt quá trình thực hiện luận văn như sau:

- Phương pháp lịch sử - xã hội: Đây là phương pháp truyền thống cần thiết khi nghiên cứu về tác phẩm văn học Trong quá trình tìm hiểu tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà, chúng tôi đặt tác phẩm của ông trong trong mối quan hệ chung của dòng văn học ba mươi năm khói lửa ở miền Nam, trong mối quan hệ nhiều biến động của xã hội đương thời với những nét tính cách, phong tục của người dân miền Nam để có cái nhìn xác đáng hơn về tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà

- Phương pháp cấu trúc – chỉnh thể: Khi nghiên cứu đòi hỏi có sự liên hệ giữa tác phẩm Thẩm Thệ Hà với tác phẩm của các nhà văn cùng thời để thấy được những tiến

Trang 13

bộ, cách tân và đóng góp cũng như những hạn chế còn tồn tại của tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà trong dòng chảy văn học giai đoạn 1945 – 1975

- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu: Được sử dụng nhằm làm nổi bật những giá trị nội dung và nghệ thuật để từ đó tổng hợp nên những đặc điểm chính của tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà; kết hợp việc so sánh nét phong cách tiểu thuyết với những tác giả cùng thời để xác định vị trí của nhà văn đối với nền văn học dân tộc Bên cạnh đó, chúng tôi còn vận dụng phương pháp thi pháp học trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu văn bản tác phẩm nhằm làm nổi bật những nét đặc sắc về khía cạnh tự sự mà nhà văn đã sử dụng trong sáng tác của mình Ngoài ra, thao tác phỏng vấn cũng được chúng tôi đặc biệt chú trọng Trong quá trình tiến hành luận văn, việc gặp gỡ, trò chuyện cùng người thân gia đình nhà văn và một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã giúp chúng tôi có thêm những nguồn tài liệu quý giá về một thời nhà văn Thẩm Thệ Hà đã sống, chiến đấu và viết với tất cả lòng nhiệt huyết Qua đó có thể hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục là phần nội dung gồm ba chương:

- Chương 1: Thẩm Thệ Hà trong không gian văn học yêu nước cách mạng

Trong chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về bối cảnh kinh tế - xã hội – chính trị - văn hóa miền Nam giai đoạn 1945 - 1975 Bên cạnh đó, việc giới thiệu thân thế và sự nghiệp sáng tác, đặc biệt ở mảng tiểu thuyết của nhà văn Thẩm Thệ Hà cũng

là vấn đề mà chúng tôi quan tâm và muốn hướng đến

- Chương 2: Nội dung yêu nước và tinh thần nhân văn trong tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà

Trên cơ sở phân tích, khảo sát những tài liệu sưu tầm được, chúng tôi mong muốn đem đến cho người đọc một cái nhìn toàn diện về phương diện nội dung trong tiểu thuyết của nhà văn Thẩm Thệ Hà Vẻ đẹp của lòng yêu nước, tinh thần bất khuất trước quân thù và tinh thần nhân văn là hai đặc điểm tạo nên sức sống cho tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà trong lòng độc giả đương thời

Trang 14

- Chương 3: Hình thức tự sự trong tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà Khảo sát những phương diện nghệ thuật tiêu biểu trong tiểu thuyết của nhà văn Thẩm Thệ Hà để thấy được sự kết hợp hài hòa giữa hai phương diện nội dung và nghệ thuật Qua đó cảm nhận được

sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm với ngòi bút mà Thẩm Thệ Hà suốt một đời tâm niệm

để hoàn thành sứ mệnh của một nhà văn thời chiến

Cuối cùng, luận văn mong muốn hướng đến, góp thêm một tiếng nói khoa học vào quá trình khẳng định sức sống của tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà đối với độc giả yêu văn học qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

Chương 1

Trang 15

TIỂU THUYẾT THẨM THỆ HÀ

TRONG KHÔNG GIAN VĂN HỌC YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG

1.1 HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG THẨM THỆ HÀ

1.1.1.Con đường đến với sáng tạo văn chương của Thẩm Thệ Hà

Thẩm Thệ Hà là một trong những cây bút tiên phong của dòng văn học tranh đấu miền Nam Trong dàn hợp xướng nhiều âm sắc của các thế hệ nhà văn giai đoạn này, Thẩm Thệ Hà đã tạo được một dấu ấn riêng với lối viết không cầu kỳ nhưng sâu đậm, phản ánh đúng tinh thần thời đại Cả cuộc đời cầm bút, Thẩm Thệ Hà đã lặng lẽ dùng ngòi bút của mình để viết như là sống, để dốc hết tâm huyết và khát khao về một đất nước tự do, hòa bình Nhắc đến dòng văn học yêu nước cách mạng tại các đô thị miền Nam không thể không nhắc đến tên tuổi của nhà văn Thẩm Thệ Hà Cùng với văn học cách mạng miền Bắc và văn học giải phóng miền Nam, văn học yêu nước đô thị miền Nam đã làm nên diện mạo của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chiến tranh chống xâm lược Trên khoảng trời văn học đó, Thẩm Thệ Hà đã có nhiều đóng góp đáng ghi nhận

Thẩm Thệ Hà (1923 – 2009) tên thật là Tạ Thành Kỉnh, sinh ra và lớn lên tại làng Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Có thể nói con người, cảnh vật mảnh đất nơi này đã thấm sâu vào trong từng hơi thở, máu thịt của ông để rồi từ đó lan tỏa qua mỗi trang viết Vì vậy, trong nhiều tác phẩm của Thẩm Thệ Hà, người đọc dễ dàng bắt gặp hình ảnh những nhân vật có sợi dây gắn bó chặt chẽ với Tây Ninh Đó là

Hoàng trong Bạc áo hào hoa, Tuấn, Trọng trong Đời tươi thắm, hay Tuấn trong truyện ngắn Ai nghe lòng đất quặn đau… Họ đều có một tình cảm sâu nặng với Tây Ninh Mỗi lần về nơi ấy, họ như “sung sướng được sống lại thời kỳ trẻ thơ” [63, tr.257] Đọc

Trang 16

tác phẩm của Thẩm Thệ Hà còn được biết cụ thể Tây Ninh có núi Bà Đen, có suối Sâu,

có xóm đạo Tha La… bởi nhà văn viết về địa danh này thật ấn tượng, thôi thúc bước chân người tìm đến Tất cả đều được nhà văn trân trọng đưa vào tác phẩm của mình bằng biết bao nhiêu lòng nhung nhớ, bằng cảm xúc chân thành của một người con xa quê hương Có thể nói quê hương đã trở thành một trong những nguồn cảm hứng chan chứa góp phần không nhỏ hình thành nên những sáng tác của nhà văn Thẩm Thệ Hà Vùng quê đó cũng đã trở thành ngọn nguồn cảm xúc sâu lắng để nhà thơ Vũ Anh Khanh trong một lần được Thẩm Thệ Hà đưa về Trảng Bàng ăn Tết đã cho ra đời bài

thơ Tha La nổi tiếng một thời làm rung cảm biết bao tâm hồn Giữa mùa chinh chiến,

xóm đạo Tha La hiện lên với vẻ đẹp thanh bình, yên ả Đó cũng chính là vẻ đẹp của bao miền quê trên đất nước dẫu phải chìm trong trong mịt mù khói lửa đạn bom tàn phá của chiến tranh

Đây Tha La xóm đạo

Có trái ngọt cây lành Tôi về thăm một dạo Giữa mùa nắng vàng hanh Ngậm ngùi Tha La bảo

- Đây rừng xanh rừng xanh

Bụi đùn quanh ngõ vắng Khói đùn quanh nóc tranh Gió đùn quanh mây trắng

Và lửa đạn xây thành…

(Tha La)

Với tình yêu quê hương tha thiết và sự đồng cảm với những tâm hồn văn

chương, đã có lần Thẩm Thệ Hà bộc bạch: “Chính cái xứ nghèo cằn cỗi nhưng giàu

lòng nhân ái của tôi đã giúp cho thi nhân tạo thành những vần thơ diễm tuyệt” [63,

tr.323]

Trang 17

Thời niên thiếu, Thẩm Thệ Hà đã sớm ý thức được việc học của mình Sinh ra trong một gia đình trung lưu khá giả nên Thẩm Thệ Hà càng có nhiều điều kiện hơn so với những bạn bè ở làng quê nghèo bên dòng sông Vàm Cỏ Được ba mẹ gửi lên Sài Gòn học, Thẩm Thệ Hà đã không phụ lòng gia đình khi ông đỗ tú tài Pháp năm 22 tuổi bằng chính sự thông minh và nỗ lực không ngừng của mình

Suốt những năm tháng còn ngồi trên ghế nhà trường, Thẩm Thệ Hà đã sớm bộc

lộ một tâm hồn thơ mộng, đầy khát khao, hoài bão được thể hiện qua những sáng tác

thơ ca đầu tay Đảm nhận vai trò người chủ bút của tạp chí Bạn trẻ từ năm 14 tuổi,

Thẩm Thệ Hà càng có nhiều cơ hội để phát triển niềm đam mê văn chương Tạp chí

Bạn trẻ cũng chính là mảnh đất ươm mầm những tài năng cho nhiều nhà văn, nhà thơ

trẻ của miền Nam lúc bấy giờ như: Hường Hoa, Khổng Dương, Vân Anh, Đoàn Giỏi, Ngọc Thạch…

Năm 1937, Thẩm Thệ Hà bắt đầu được biết đến khi đăng đàn với những sáng

tác thơ ca ở một số tờ báo và tạp chí Hà Nội, Sài Gòn như: Phổ Thông bán nguyệt san,

Chúa Nhật, Thanh Niên, Điện tín… với bút danh Thành Kỉnh Những bài thơ nhẹ

nhàng, đậm chất trữ tình như Cài trâm, Chiều tương tư, Rồi một chiều xuân… nhanh

chóng được độc giả đón nhận Thẩm Thệ Hà đặt những bước chân đầu tiên đến với làng văn từ dạo đó với tư cách một nhà thơ Có lẽ vì vậy trong những sáng tác văn xuôi của Thẩm Thệ Hà sau này luôn có sự kết hợp với thơ ca tạo nên nhiều cảm xúc cho người đọc khi tiếp cận tác phẩm Đồng thời, tâm trạng nhân vật cũng được thể hiện một cách rõ nét, có chiều sâu hơn qua sự kết hợp khéo léo với những vần thơ Đó là hình

ảnh của Lan trong Bạc áo hào hoa với những cung bậc cảm xúc “như còn nương theo

âm hưởng bay vút tận trời mây Má nàng ửng hồng, mi nàng chớp chớp như hai cánh bướm” [26, tr.127] khi đọc được bài thơ của người yêu gửi tặng:

“Đường mây suối mộng không bờ,

Tôi đi tôi hái hoa thơ cài lòng

Sông dài, bể rộng mênh mông

Trang 18

Thuyền hồn lơ lửng trên dòng tương tư

Thu nay đã mấy thu chừ, Cây vàng võ, lá trầm tư cũng nhiều

Đời buồn ngập mấy thương yêu

Lòng sao chưa dứt một chiều mộng mơ”

Hay đó là những câu thơ trong đoạn kết của tiểu thuyết Đời tươi thắm như gieo

vào lòng người âm hưởng da diết bởi giọng thơ trữ tình:

“Em sẽ là tiên của cõi đời,

Mộng hồng đem rải khắp nơi nơi

Kẻ trần ngơ ngác khi trông thấy, Uyển chuyển mình mai, yểu điệu lời”

Trong giai đoạn lãng mạn tiền chiến, Thẩm Thệ Hà cũng như nhiều văn thi sĩ lúc bấy giờ đều chịu ảnh hưởng của luồng gió lãng mạn Vì vậy, chúng ta dễ bắt gặp trong thơ ông những thi liệu cổ, những hình ảnh khá quen thuộc như bến đò, dòng sông, áng mây…

“Tơ trắng phương trời bay lẽo đẽo Vàng hoa ngõ vắng rụng bơ vơ Dòng thu sóng gợn buồn man mác

Mà nét hoa sao vẫn thẫn thờ”

(Trễ tràng)

Bút danh Thành Kỉnh của ông được nhiều người biết đến với bài thơ đầu tay

Bến đò chiều đăng trên Phổ thông bán nguyệt san Chất trữ tình, êm ái trong thơ Thẩm

Thệ Hà ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám không tạo nên những đột phá, không

có nhiều sự cách tân nhưng đã đi vào lòng người bởi sự nhẹ nhàng, tinh tế trong mối giao hòa với thiên nhiên, đất trời:

“Sông lạc dòng sông, thuyền lạc thuyền, Bến đò chiều vãng cuộc tình duyên

Trang 19

Ven bờ sông vắng vời chân lại Nhặt lá vàng bên cạnh nỗi niềm”

Năm 1949, Thẩm Thệ Hà cùng với Vũ Anh Khanh (1926 – 1956) thành lập nhà xuất bản Tân Việt Nam Sự kết hợp của hai tâm hồn yêu nước mạnh mẽ ấy đã cho ra đời nhiều tác phẩm cổ vũ phong trào văn chương tranh đấu thể hiện tinh thần yêu nước tích cực của toàn dân Vào dịp Tết năm 1950, Thẩm Thệ Hà cùng Vũ Anh Khanh được

tổ chức cách mạng địa phương đưa vào chiến khu Bời Lời (hiện nay thuộc huyện Dương Châu, tỉnh Tây Ninh) để tham quan, dự lễ Dân Quân Chính và Tết Quang Trung Sau chuyến đi này, Thẩm Thệ Hà đã nỗ lực để phát triển hoạt động của nhà

xuất bản Tân Việt Nam với hai ấn phẩm của Vũ Anh Khanh là Bên kia sông và Ngủ Tử

Trang 20

Cũng trong giai đoạn này, tiểu thuyết Người yêu nước của Thẩm Thệ Hà, Nửa

bồ xương khô của Vũ Anh Khanh, biên khảo Việt Nam trên đường cách mạng tân văn hóa của Thẩm Thệ Hà là những tác phẩm đã gây được tiếng vang trên văn đàn thời bấy

giờ Tác phẩm Lưu động của Thẩm Thệ Hà đã có nhiều tác động tích cực đến bạn đọc Tuy nhiên, Lưu động vừa xuất bản đã bị chính quyền thực dân tịch thu và cấm lưu hành toàn quốc Nửa bồ xương khô của Vũ Anh Khanh cũng bị tịch thu ngay sau khi vừa

phát hành được nửa tháng Nhà xuất bản Tân Việt Nam cũng bị cấm hoạt động vĩnh viễn Trước tình hình đó, Vũ Anh Khanh phải rút vào chiến khu để tránh sự truy bắt của địch Thẩm Thệ Hà rút về hoạt động bí mật, tạm ngưng hoạt động văn nghệ một thời gian và chuyển sang nghề dạy học ở các trường trung học ở Sài Gòn

Niềm căm phẫn của Thẩm Thệ Hà càng tăng lên khi phải chứng kiến những người đồng chí của mình bị bắt, bị truy lùng ráo riết Sau Tết năm 1947, Dương Tử

Giang bị bắt, tờ báo Văn hóa bị tịch thu và đóng cửa vì bài viết “Quyền tối thượng của

nhà văn” của Dương Tử Giang đã đả kích thẳng tay những chính sách của chính quyền thực dân đối với nhà văn và những người yêu nước Thẩm Thệ Hà đã bộc bạch trong

hồi ký Bâng khuâng nhớ mãi một thời của mình: “Tin đó không làm tôi ngạc nhiên, chỉ

làm tăng niềm căm phẫn Dưới chế độ này, nhà văn bị bắt, báo bị đóng cửa là những việc xảy ra hàng ngày” [63, tr.311]

Nếu như chiến trường trên mặt trận bom đạn khốc liệt, tàn bạo bao nhiêu thì chiến trường trên mặt trận văn hóa cũng phức tạp, nguy hiểm bấy nhiêu Ngoài chính sách truy lùng, bắt giam những ký giả tiến bộ, chính quyền Sài Gòn còn kềm kẹp mọi

hoạt động của giới văn báo Sài Gòn bằng cách “tổ chức sở phát hành thống nhất, bằng

cách lập sở kiểm duyệt gay gắt, duyệt cả tin tức và bài vở, cho bọn gia nô mở ra nhiều

tờ hoàn toàn theo Diệm: Báo Mới, Dân Việt, Đồng Nai, Sài Gòn mai, Thời báo, Tuần báo văn nghệ, Quan điểm, Văn nghệ tập san, Sống, Tiểu thuyết tuần báo, Gió sớm, Văn nghệ tự do, Văn nghệ tiền phong, Dân, Tiếng dân, Thủ đô thời báo, Tiếng dân miền

Trang 21

Nam… thi nhau ca ngợi Ngô tổng thống, ủng hộ Diệm khi Diệm bày tỏ những trò bầu

cử quốc hội, trưng cầu dân ý…” [21, tr.401]

Sáng tác giữa một bầu không khí đầy biến động với sự kiểm soát gắt gao, những nhà văn yêu nước như Thẩm Thệ Hà đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn để đứa con tinh thần của mình có thể đến được với bạn đọc Hơn ai hết, họ càng xót xa biết bao khi

những tác phẩm của mình không thể vượt qua được “chế độ Hốt – Cắt – Đục” của

chính quyền Sài Gòn (Hốt là tịch thu toàn bộ sách báo, tạp chí ngay lúc phát hành – Cắt là dùng kéo cắt bỏ những trang, những đoạn không được phép xuất bản – Đục là đục bỏ những chi tiết, những câu, những chữ đã sắp xếp trên máy nhưng chưa được phép in) Năm 1949, Thẩm Thệ Hà cùng với Vũ Anh Khanh nảy ý định sẽ ra một đặc

san xuân với tên gọi là Xuân con trâu Khi ấy, Nguyễn Văn Xuân đang làm thủ tướng chính quyền Sài Gòn Vì vậy, Nha thông tin bắt buộc phải đổi tên lại là Xuân quê

hương Bằng sự nhạy bén, khéo léo của mình, Thẩm Thệ Hà và Vũ Anh Khanh đã đổi

tên đặc san để có thể qua mắt địch bằng những tiểu xảo ấn loát Trang bìa đặc san xuân năm ấy là hình ảnh hai con trâu đọ sừng và dòng chữ:

XUÂN quê hương Năm CON TRÂU Khi nhìn thoáng qua độc giả chỉ thấy nổi bật ba chữ in to Những em bé bán báo

lúc bấy giờ cứ vừa chạy, vừa rao thật to: “Xuân con trâu đây!” Nhờ vậy tờ Xuân Con

Trâu bán chạy như tôm tươi Câu chuyện về số đặc san xuân năm ấy đã minh chứng

cho sự nhạy bén, sắc sảo của ngòi bút Thẩm Thệ Hà đã giúp ông có thể tránh được chế

độ “Hốt – Cắt – Đục” của chính quyền Sài Gòn Thẩm Thệ Hà và những nhà văn

đương thời đã biết cách len lách qua chế độ kiểm duyệt bằng nhiều phương thức sáng

tạo đa dạng Nhà văn Vũ Hạnh khi đưa tác phẩm Người Việt cao quý đến với công

chúng cũng buộc ông phải đổi cả bút hiệu của mình và thay bằng tên tác giả nước ngoài là A.Pazzi để có thể qua được chế độ kềm kẹp của chính quyền Sài Gòn

Trang 22

Những nỗ lực của thế hệ các nhà văn, nhà báo như Thẩm Thệ Hà đã góp phần

không nhỏ để làm nên điểm son của lịch sử Sài Gòn như trong bài viết Báo chí Sài Gòn

30 năm kháng chiến (1945 – 1975), tác giả Tầm Nguyên đã nhận định: “Trong suốt 30 năm kháng chiến, ở trong thành phố Sài Gòn, quả thật đã có một mặt trận báo chí, hàng chục hàng trăm người cầm bút đã can đảm làm nhiệm vụ chiến sĩ yêu nước, cách mạng ngay trước mũi súng của giặc ngoại xâm và tay sai bản sứ của chúng Phải chăng đó cũng là một đặc điểm của kháng chiến Việt Nam, một điểm son của lịch sử Sài Gòn” [21, tr.410]

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Thẩm Thệ Hà đã tham gia cách mạng ngay từ những ngày đầu Mọi hoạt động của Ban Điệp báo Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định từ năm 1945 đến năm 1952 đều được ông và những người bạn như Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Nam Quốc Cang… chung tay góp sức Họ đã sáng tác và đấu tranh có tổ chức, có lãnh đạo trên quan điểm thống nhất tổ quốc, hình thành dòng văn học yêu nước cách mạng miền Nam với sự phát triển đa dạng về chất lượng và cả số lượng với nhiều thể loại phong phú ở các thể loại thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, tạp bút… Vì vậy, hiệu quả phong trào đem lại trong quần chúng là hết sức to lớn Cũng từ đây, bút danh Thẩm Thệ Hà được nhiều người biết đến Đó cũng là thời điểm mà ngòi bút Thẩm Thệ Hà có những chuyển biến

Tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất của dân tộc chống xâm lăng là những mạch nguồn xuyên suốt các tác phẩm của Thẩm Thệ Hà Trước năm 1945,

những vần thơ trong Bến đò chiều, Dòng mơ chung thủy, Rồi một chiều xuân, Xuân

thanh sắc làm say đắm người đọc bởi chất trữ tình, bay bổng thì sau năm 1945, Thẩm

Thệ Hà lại gieo vào lòng người khí thế hừng hực của tinh thần dân tộc chống ngoại

xâm qua những bài thơ như: Việt Nam mến yêu, Khóe mắt u hoài, Trường thành sông

Đua… Những vần thơ như tiếp thêm sức mạnh cho người chiến sĩ, gieo vào lòng họ

niềm lạc quan cách mạng:

“Ta sống nơi này đất Việt Nam

Trang 23

Giữa mùa binh lửa động giang san Lòng ta là cả niềm yêu nước

Là cả san hà chí dọc ngang”

(Việt Nam mến yêu)

Chính vì vậy mà nhà văn Lý Văn Sâm đã nhận định: “Thẩm Thệ Hà là cây bút

có chuyển biến nhanh, thích nghi với thời cuộc một cách hiệu quả.” [54, tr.40] Sự

chuyển biến tư tưởng trong thơ của Thẩm Thệ Hà được giải thích như sau:

Trong các nhà thơ trẻ ở Nam Bộ, ngòi bút mềm mại, câu thơ óng chuốt có mãnh lực gợi cho ta những u hoài của thi sỹ Thành Kỉnh, trước đây rất được làng thơ đất Bắc như Xuân Diệu, Xuân Việt chú ý Thời cuộc gần đây tự nhiên có ảnh hưởng đến tâm hồn thi sỹ, nhưng là thi nhân có cốt cách, Thành Kỉnh bao giờ cũng viết nên những câu thơ “rất nên thơ”

Nhà thơ họ Tạ đã biệt lập hẳn với phần đông thi nhân ngày nay, trong thơ chỉ có đầy những máu, những đầu lâu mà không thấy thơ đâu

cả

Thơ Thành Kỉnh không khi nào có thể là thơ bình dân, chàng có giọng thơ quý phái và đài cát của Ôn Như Hầu Câu thơ chàng là những viên ngọc chạm trổ rất công phu, kiểu riêng để cho những mỹ nhân và tú

sĩ ngắm nghía, nâng niu

Gần đây, thi sĩ viết giúp cho Việt Bút những bài thơ ký tên Thẩm Thệ Hà [63, tr.310]

Bút danh Thẩm Thệ Hà với ý nghĩa là lời thề với non sông đất nước đã nói lên tất cả tâm nguyện được viết và dùng ngòi bút của mình để làm vũ khí đấu tranh, hòa nhịp vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Chính sự chuyển biến trong tư tưởng đã giúp nhà văn hun đúc lòng nhiệt huyết, hoạt động hăng say giữa lòng

Trang 24

đô thị tạm chiếm Những năm tháng đó cũng chính là nguồn vốn phong phú và sinh động để ông dệt nên những tiểu thuyết của mình

Những biến cố lịch sử diễn ra ngay trong lòng đô thị miền Nam đã có sức tác động rất lớn đến văn nghệ sĩ Họ đã sẵn sàng từ bỏ thế giới riêng tư của mình để nhập cuộc, hòa vào dòng chảy lịch sử của dân tộc Sau hiệp định Genève 1954, Mỹ đã chính thức thay Pháp thực hiện chính sách xâm lược đối với miền Nam Nhiều chính sách gắt gao, tàn bạo về chính trị, quân sự, kinh tế được Mỹ thực hiện Bên cạnh đó, chính sách xâm lăng về văn hóa, tư tưởng được Mỹ hết sức chú trọng và tiến hành trên quy mô rộng lớn Vì vậy, nhiều tổ chức đã bị lộ, nhiều nhà văn yêu nước chiến đấu ngay trong lòng địch như Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Hoàng Tấn… lần lượt được rút về chiến khu để trực tiếp chiến đấu với thực dân và ngụy quyền

Trước sự đàn áp, khủng bố của chính quyền Sài Gòn với phong trào văn chương đấu tranh yêu nước, Thẩm Thệ Hà chuyển sang làm nghề dạy học Ông càng hoạt động hăng say hơn Năm 1965, Thẩm Thệ Hà cùng với Tô Nguyệt Đình (Nguyễn Bảo Hóa) sáng lập nhà xuất bản Lá Dâu Đây chính là cơ sở xuất bản những tác phẩm yêu nước,

có tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn Hai tiểu thuyết

Đời tươi thắm và Bạc áo hào hoa của Thẩm Thệ Hà ra đời trong giai đoạn này đã chĩa

mũi nhọn vào chủ nghĩa thực dân mới, phơi bày bức tranh xã hội đậm nét Trong lòng Sài Gòn tạm chiếm đầy hiểm nguy luôn bủa vây, rình rập, nhờ vỏ bọc kín đáo và hợp pháp dưới danh nghĩa một giáo sư mà Thẩm Thệ Hà được tham gia giảng dạy tại nhiều trường trung học suốt từ năm 1952 đến năm 1975 như: Nguyễn Văn Khuê, Chi Lăng, Đức Trí, Dân Trí, Tân Thanh, Trần Hưng Đạo… Vì vậy, nhà văn Thẩm Thệ Hà đã có điều kiện hoạt động bền bỉ và hiệu quả trên mặt trận văn hóa tư tưởng Trong quãng thời gian dạy học, Thẩm Thệ Hà đã để lại nhiều kỉ niệm đẹp trong lòng đồng nghiệp và

học trò của mình với hình ảnh “một người thầy dạy văn mẫu mực, thậm chí là lý tưởng

Cách giảng bài của thầy phải nói là rõ ràng, mạch lạc, hệ thống Giọng của thầy ấm, sôi nổi, rất thuyết phục” [54, tr.40]

Trang 25

Thẩm Thệ Hà còn là người biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa có giá trị, ảnh

hưởng sâu sắc đến học sinh và những người dạy văn thời bấy giờ như: Phương pháp

làm văn nghị luận, Phân tích và nghị luận văn chương, Chính tả văn phạm, Giảng văn, Quốc văn toàn thư…

Đối với Thẩm Thệ Hà, giáo dục phải được bắt nguồn từ thời ấu thơ, từ thấp đến cao Vì vậy, Thẩm Thệ Hà đã hướng ngòi bút của mình đến với lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng Những truyện ngắn Thẩm Thệ Hà viết cho thiếu nhi nhằm giáo dục đạo đức truyền thống, rèn luyện nếp sống lành mạnh, khơi gợi sự hứng thú phiêu lưu, khám

phá, khẳng định cá tính Bài học thương nhau, Con chim xanh, Thiên tài lạc lối… là

những truyện ngắn tiêu biểu của ông mang đậm nội dung giáo dục thiếu nhi tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ mọi người xung quanh Phương pháp giáo dục bằng cách nêu gương và thực hành cũng được ông đặc biệt chú trọng Thẩm Thệ Hà là tấm gương về một nhân cách sống mà học trò và nhiều thế hệ người yêu văn học kính trọng Hình ảnh người thầy với dáng người mảnh khảnh, tính tình điềm đạm như đã khắc sâu vào tâm trí mọi người ngay cả khi ông đã ra đi:

“Trảng Bàng chúng tôi nổi tiếng vì bánh tráng phơi sương, bánh canh

bột gạo Nông dân thì đông, người biết viết chỉ đếm trên đầu ngón tay Nay bác Kỉnh ra đi, xứ Trảng vắng một con người nổi tiếng hiếm hoi trên văn đàn cả nước Chia tay bác Kỉnh, tôi vẫn thấy cái dáng người thanh mảnh, cao cao bước

đi trên con đường Đặng Văn Trước giữa hai dãy nhà cũ kỹ phố Trảng quê mình

[7, tr.18]

Có thể nói những trải nghiệm với nghề thầy giáo đã giúp ông có thêm nhiều cảm hứng và tư liệu sáng tác trên hành trình sáng tạo văn chương không mỏi mệt Đối với Thẩm Thệ Hà, sự nghiệp văn học và sự nghiệp giáo dục chính là hai sự nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc đời nhà văn Trong hành trình của một đời thơ, đời văn lặng lẽ ấy, sẽ là một thiếu sót lớn nếu không nhắc đến trắc diện nhà báo của Thẩm Thệ

Hà Ở lĩnh vực báo chí, Thẩm Thệ Hà cũng đã lưu lại nhiều dấu ấn trong báo giới Sài

Trang 26

Gòn Trước năm 1975, Thẩm Thệ Hà đã từng cộng tác với rất nhiều tờ báo như: Văn

Hóa, Việt Bút, Tiếng Chuông, Tin Sớm, Ánh Sáng, Dân tộc, Tin lửa, Nhân loại, Phổ Thông… Ông còn là người phụ trách mục “Phê bình sách mới” và “Những áng thơ hay” trên tạp chí Phổ thông (1958 – 1965) của Nguyễn Vỹ (1912 – 1971) Với vai trò

này, Thẩm Thệ Hà thường có những bài phân tích văn chương rất bổ ích về Truyện

Kiều của Nguyễn Du, những bài viết đáng chú ý về Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công

Trứ, Hồ Xuân Hương… Ngoài ra, có thể kể đến những bài phê bình văn học tiêu biểu

của Thẩm Thệ Hà như: “Lịch tiến trình của thi ca Việt Nam” trên Phụ trương Văn

nghệ (12/1956); “Nghệ thuật làm thơ” trên Phụ trương Văn nghệ (1957); “Phan Đình

Phùng thi sỹ” trên Phổ thông (số 2/1963)…

Sau năm 1975, Thẩm Thệ Hà cộng tác với các báo và tạp chí Văn, Văn nghệ

Thành phố Hồ Chí Minh, Bách khoa văn học, Sân khấu, Sài Gòn giải phóng thứ bảy, Giác ngộ Giai đoạn này, Thẩm Thệ Hà viết hồi ký Bâng khuâng nhớ mãi một thời với

“mong muốn qua những trang ký ức này, các bạn trẻ hiểu được phần nào hoạt động

hăng say của những người đi trước để nung thêm ý chí phấn đấu trong thời kỳ xây dựng đất nước hôm nay” [63, tr.308] Hồi ký là những kỷ niệm của nhà văn về những

người bạn, những người đồng chí đã cùng ông chiến đấu trong suốt những năm tháng chống Pháp và chống Mỹ Những dòng tâm sự cảm động của Thẩm Thệ Hà viết cho Dương Tử Giang, cho Vũ Anh Khanh… như chạm vào trái tim người đọc bởi tình đồng chí thiêng liêng của họ:

Tôi rưng rưng nước mắt nhớ đến hai câu thơ anh thường ngâm để nâng cao tinh thần đồng chí, giờ đây tôi có cảm giác như lời trăn trối nghẹn ngào:

Một thuở ra đi vì nghĩa lớn Ngàn năm trẻ mãi với quê hương

Trong tâm tưởng tôi, Dương Tử Giang chẳng những trẻ mãi mà sẽ sống mãi với quê hương…[63, tr.318]

Trang 27

Thẩm Thệ Hà là một trong số những nhà văn tiền chiến còn sót lại trên văn đàn thời hậu chiến khi những người bạn văn, những người đồng chí của ông lần lượt về nơi chín suối Thẩm Thệ Hà viết lời ai điếu cho những người bạn, người đồng chí của mình trong niềm tiếc thương vô hạn Đã có lần ông trăn trở trong bài viết “Phê bình cần có

trí tâm sáng”: “Tôi còn lại một mình như một cây đại thụ đơn độc, bơ vơ giữa một

không khí văn chương trẻ trung còn tập tễnh, hợp với thị hiếu nhất thời nhưng chờ đợi

sự biến đổi hay ổn định ở tương lai Tôi cầu mong cho giới trẻ nhà văn sẽ tạo cho mình những bản sắc tân kỳ, gây ấn tượng sâu đậm khó phai trong lòng bạn đọc hôm nay và mai sau” Đó cũng là những trăn trở của không ít nhà văn thời hậu chiến như Thẩm

Thệ Hà khi đời sống văn học đang đứng trước nhiều thử thách

Chiến tranh đi qua, Thẩm Thệ Hà trở về với cuộc sống thường nhật, với bao

gánh nặng phải lo toan nhưng ông vẫn hăng say sáng tác để “mong góp thêm những

viên gạch nhỏ bé trong lâu đài văn hóa nước nhà như ông đã từng đóng góp trong Phong Trào Báo Chí Thống Nhất hồi chống Pháp, cũng như suốt mấy chục năm dài trong cao trào chống Mỹ” [63, tr.19] Hình ảnh một nhà giáo khiêm tốn, giản dị ấy đã

đi vào tâm trí nhiều bạn đọc yêu mến ông qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Dù tuổi cao, sức yếu nhưng Thẩm Thệ Hà vẫn một lòng sống trọn vẹn với văn chương đúng như tâm nguyện ngày nào của nhà văn Ông trở thành hội viên của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khóa đầu tiên và hội viên Hội Văn nghệ Tây Ninh Sáng tác của ông đều đặn xuất hiện trên nhiều báo và tạp chí Giữa dòng chảy của cuộc sống hiện đại xô bồ, Thẩm Thệ Hà tiếp tục dành những năm tháng cuối đời để cần mẫn, nâng niu từng con chữ Trong bản thảo “Tri ân các nhà văn, nhà thơ thời tiền

chiến, Thẩm Thệ Hà đã tâm sự: “mặc dầu không có huân chương, huy chương gì

nhưng tôi cảm thấy mãn nguyện, phấn khởi vì đã làm tròn thiên chức của một nhà văn

và sứ mạng của một nhà giáo trong thời chiến cũng như trong thời bình” Ngày 20 – 6

– 2009, nhà văn Thẩm Thệ Hà đã lặng lẽ ra đi trong sự tiếc thương của gia đình và người yêu văn học

Trang 28

Trong cuộc đời của Thẩm Thệ Hà, mỗi giai đoạn đều gắn với những vai trò, sứ mệnh quan trọng của một nhà văn, nhà thơ và một nhà chiến sĩ cách mạng Đến với văn chương không chỉ giúp Thẩm Thệ Hà dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu với kẻ thù mà văn chương còn giúp ông trút những ưu tư, trăn trở về cuộc đời, về thế sự Chiến tranh đã cướp đi người vợ của ông ở quê nhà Tây Ninh Khoảng thời gian nhiều ký ức đau buồn đó đã được ông trải lòng qua văn chương Cũng chính từ sự rung cảm sâu sắc với văn thơ Thẩm Thệ Hà mà Nguyễn Thị Chờ (bút danh Phương Lan) – một người học trò của Thẩm Thệ Hà đã rất cảm mến, quan tâm chân tình đến ông Sau bao thăng trầm, Thẩm Thệ Hà tìm được người bạn đời hiền hậu, lặng lẽ đi bên ông cho

đến những ngày tháng cuối đời khi nhà văn phải nằm trên giường bệnh Bài thơ Mộng

đào như một minh chứng đậm nét cho tình yêu sâu nặng của nhà văn dành cho người

Hà về với cõi vĩnh hằng, người vợ hiền của nhà văn hằng ngày lặng lẽ nâng niu, đánh máy lại toàn bộ những bản thảo ông để lại và lưu giữ cẩn thận đến khi có điều kiện sẽ

xuất bản tuyển tập Thơ văn Thẩm Thệ Hà Đó chính là tâm nguyện lớn nhất của gia

đình nhà văn hiện nay

Con đường đến với văn chương của nhà văn Thẩm Thệ Hà cũng đầy trắc trở, chông gai nhưng với tinh thần, trách nhiệm cao với ngòi bút, Thẩm Thệ Hà đã neo lại lại trong lòng người đọc một ngòi bút chân thật và một nhân cách tri thức đáng trân trọng

1.1.2 Vai trò, vị trí của Thẩm Thệ Hà trong dòng văn học yêu nước cách mạng

Trang 29

Là người song hành với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thơ văn Thẩm Thệ Hà luôn đề cao, cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất của dân tộc Theo thời gian, nhà văn cũng đã thể hiện sự trưởng thành trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật và tạo nên nhiều sắc thái sinh động cho văn đàn tranh đấu miền Nam Cùng với những nhà văn đương thời, Thẩm Thệ Hà đã hoàn thành sứ mệnh của một nhà văn tranh đấu yêu nước với những đóng góp nhất định cho nền văn học yêu nước giai đoạn

này Trong Văn chương tranh đấu miền Nam, tác giả Nguyễn Văn Sâm đã xếp Thẩm

Thệ Hà vào hàng ngũ những nhà văn tiên phong cho phong trào văn chương tranh đấu

ở miền Nam Thẩm Thệ Hà đã cùng với Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang… giữ vai trò tiên phong, mở đường cho nền văn học yêu nước cách mạng

Trước cách mạng, Thẩm Thệ Hà cũng như bao thi sĩ tiền chiến khác đều chịu ảnh hưởng của phong trào Thơ Mới, Tự lực văn đoàn nên trong hầu hết các sáng tác của ông đều mang hơi thở của một ngòi bút lãng mạn trữ tình Tất cả các cung bậc của tình yêu đều làm trái tim ông thổn thức

“Rồi anh thỏ thẻ bảo em rằng:

Có một lời thơ em nhớ chăng:

Gấm vóc giang sơn xinh đẹp thế, Sao bằng khóe mắt của giai nhân?”

(Làm thơ) Dường như hơi thở của phong trào thơ Mới và làn gió của thơ ca lãng mạn Pháp vẫn còn in dấu trong thơ ca Thẩm Thệ Hà ở giai đoạn này nên thi nhân đắm mình trong những câu thơ ủy mị, sầu thương Đắm say, thổn thức là thế nhưng có lúc người thi sĩ

ấy lại trăn trở đầy khổ đau:

“Anh biết tình anh đóa mộng đầu,

Xa anh, em có ngậm ngùi đâu

Vì anh phạm tội yêu nhiều quá, Nên tránh làm sao khỏi thảm sầu”

Trang 30

(Giận dỗi) Thơ văn Thẩm Thệ Hà đã có sự vận động, biến đổi qua từng giai đoạn lịch sử nhất định Nếu như trước cách mạng ta bắt gặp một Thẩm Thệ Hà với những dòng thơ ngan ngát hương nồng của tình yêu thì sau cách mạng ta bắt gặp một Thẩm Thệ Hà hoàn toàn mới mẻ Đứng trước thời cuộc, Thẩm Thệ Hà nhận thức rõ vai trò của mình, ông từ bỏ tháp ngà đài các để đi sâu vào quần chúng nhân dân, hòa cùng với những đau thương mất mát của dân tộc Viết về tình yêu, Thẩm Thệ Hà cũng đã gạt bỏ những mối tình ủy mị, sầu thương:

“Ta đau đớn… nhưng giờ ta đã hiểu, Tại vì sao mắt đẹp động u hoài

Em đã gửi mộng hồn cho đất nước, Tấm lòng son muôn thuở vẫn không phai”

(Khóe mắt u hoài)

Trong hồi ký Bâng khuâng nhớ mãi một thời, Thẩm Thệ Hà tâm sự:

Tôi thấy hổ thẹn với mình và hổ thẹn với những người đang chiến đấu quanh mình bằng vũ khí hay bằng ngòi bút Tôi thấy lời giới thiệu vừa thành thật, vừa mỉa mai Thời bây giờ, toàn quốc chủ trương: Văn chương dân tộc, khoa học, đại chúng Thơ chỉ dành cho mỹ nhân và tú sĩ thì rõ ràng là văn chương xa rời đại chúng, tác giả bị phê phán là “Thi sĩ Tháp ngà” Thật ê chề biết bao!

Lời khen ngợi trở thành một bài học đáng giá cho tôi Từ đó, tôi biến ngòi bút lãng mạn trữ tình thành ngòi bút chiến đấu đanh thép Tôi rời xa Tháp Ngà để hòa mình với đại chúng dùng văn học phục vụ đại chúng [63, tr.311]

Sự chuyển biến rõ rệt trong tư tưởng, quan điểm sáng tác ấy đã giúp Thẩm Thệ

Hà bắt nhịp với dòng văn học yêu nước cách mạng và để lại những dấu ấn riêng Ngòi bút Thẩm Thệ Hà đã trải nghiệm qua rất nhiều thể loại Ông làm thơ, sáng tác truyện

Trang 31

ngắn cho thiếu nhi, viết sách, phê bình văn học… Có thể nói thành tựu văn học của Thẩm Thệ Hà lưu dấu ấn ở cả hai mảng thơ và văn xuôi Tuy nhiên, để lại ấn tượng đậm nét trong lòng người đọc là những tiểu thuyết và truyện ngắn

Tác phẩm của Thẩm Thệ Hà gồm:

 Thơ:

- Thâm thúy (viết trước 1945, chưa xuất bản)

- Trời nổi phong yên (viết sau 1945, chưa xuất bản)

- Tình phi (kịch thơ ngắn, Tân Việt, 1950)

Tuy phần lớn những sáng tác thơ của Thẩm Thệ Hà chưa xuất bản nhưng đã có

nhiều bài được đăng trong các tuyển tập như: Thi nhân Việt Nam hiện đại của Phạm Thanh, Thơ mùa giải phóng (Nhà xuất bản Sống Chung), Thi ca Việt Nam hiện đại của Trần Tuấn Kiệt, Mùa xuân tuổi trẻ tình yêu (Nhà xuất bản Long An, 1989)…

 Tiểu thuyết:

- Vó ngựa cầu thu (Tân Việt, 1949)

- Gió biên thùy (Tân Việt, 1949)

- Người yêu nước (Tân Việt Nam, 1949)

- Đời tươi thắm (Lá dâu, 1956)

- Hoa trinh nữ (Sống mới, 1957)

- Bạc áo hào hoa (Miền Nam, 1969)

- Tủi phấn thẹn hồng (Di cảo)

 Chính luận:

Việt Nam trên đường cách mạng tân văn hóa

 Truyện dịch:

- Con đường cứu nước (Maroussia, tiểu thuyết của P J Satahn, Việt Nam, 1947)

- Mũi tên đen (The Black Arrow của S L Stevenson, Sống mới, 1965)

- 1001 truyện ngắn hay thế giới

 Truyện thiếu nhi:

Trang 32

Khoảng 14 truyện đã được xuất bản Sống mới và Khai trí ấn hành trước năm 1975 gồm: Bài học thương nhau, Con chim xanh, Tiểu anh hùng, Tàn giấc mơ tiên, Thần

điểu và hoa hồng, Thiên tài lạc lối, Nhân ngư công chúa, Ngọc Tuyền thảm sử, Đoàn quân áo đen, Chưa tròn tuổi mộng, Tài không đợi tuổi, Rửa tay gác kiếm, Ông Nghè

Dê, Con chim vàng anh

88 năm sống và lao động miệt mài, sự nghiệp văn học của Thẩm Thệ Hà cho thấy sức lao động cật lực của một nhà văn Với những đóng góp quan trọng cho nền văn học yêu nước cách mạng, Thẩm Thệ Hà đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên

cứu và dư luận Trong bài viết “Một cây bút khả kính” đăng trên báo Tuổi trẻ Chủ nhật

ngày 9 – 3 – 2003, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá đã khái quát lại sự nghiệp

sáng tác của Thẩm Thệ Hà với những tình cảm trân trọng: “Hơn 100 bài thơ, 7 cuốn

tiểu thuyết, 14 tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi, 3 tác phẩm dịch, nhiều bài phê bình, hồi ký, chân dung văn học… kể ra chưa phải nhiều Nhưng trong hoàn cảnh đặc biệt của ông, vừa phải làm tròn nhiệm vụ một giáo sư văn chương cho các trường trung học và chuyên khoa, vừa tham gia hoạt động bí mật trong vùng tạm chiếm có được ngần ấy trang in là đáng nể Càng đáng quý hơn khi nhiều tác phẩm của ông được bạn đọc thành thị miền Nam, nhất là thanh niên thời ấy niềm nở đón nhận” [60, tr.24]

Sự đóng góp của nhà văn Thẩm Thệ Hà đối với lịch sử văn học, đặc biệt là văn học

Nam Bộ cũng đã được khẳng định trong nhiều chuyên luận và tuyển tập như: Thi nhân

Việt Nam hiện đại của Phạm Thanh; Thơ mùa giải phóng (Nxb Sống chung); Văn chương tranh đấu miền Nam của Nguyễn Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà – thân thế và sự nghiệp của Thanh Việt Thanh; Nhìn lại một chặng đường văn học của Trần Hữu Tá;

Từ điển văn học (bộ mới) của nhóm các tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng

Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên); Văn học miền Nam nơi miền đất mới (tập 3) của Nguyễn Q.Thắng; Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam của Trần Thanh Phương và

Phan Thu Hương…

Trang 33

1.2 TIỂU THUYẾT THẨM THỆ HÀ – SẮC MÀU RIÊNG CỦA DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG

1.2.1 Tiểu thuyết – thành tựu nổi bật của văn học yêu nước, cách mạng

Nói đến văn học Nam Bộ, cần phải dành một vị trí quan trọng cho tiểu thuyết

Tác phẩm Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản được xem là cuốn tiểu

thuyết quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, ghi đậm dấu ấn của tư duy tiểu thuyết hiện đại Đến năm 1930, những nhà văn tên tuổi như Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt đã làm nên mô hình của tiểu thuyết văn học mới với lời văn trau chuốt hơn, nội dung có tư tưởng, luân lý rõ, tình tiết câu chuyện dồi dào Tuy văn phong còn chịu nhiều ảnh hưởng của lối văn biền ngẫu nhưng những tác phẩm này đã tạo tiền đề cho những thế hệ nhà văn sau này

Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, thể loại tiểu thuyết đã khởi đầu ở mảnh đất Nam Bộ, nó gắn liền với sự xuất hiện của chữ quốc ngữ và sự phát triển của báo chí xuất bản Với tư cách là một phương tiện thông tin mới, báo chí là nơi nuôi dưỡng đội ngũ các nhà văn, nhà báo đầu tiên Báo chí cũng là mảnh đất ươm mầm cho các thể loại văn học viết bằng chữ quốc ngữ sinh sôi và nảy nở, hay như cách nói của nhà

nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá thì “báo chí là bà đỡ mát tay cho văn học kể cả thơ

cũng như ký, truyện” Người dân Nam Bộ từ chỗ xa lạ với tiểu thuyết văn xuôi quốc

ngữ, họ đã dần say mê Tiểu thuyết thu hút được một tầng lớp công chúng rộng rãi Tâm lý thích thơ, tuồng giờ đã có thêm niềm say mê với tiểu thuyết Tâm lý ấy càng được phổ biến rộng hơn khi văn học Nam Bộ chuyển mình sang giai đoạn mới

Nam Bộ những năm 1945 – 1975 mang trong mình quá nhiều những biến động

và có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội Sài Gòn là trung tâm văn hóa, là nơi có nhiều điều kiện để phát huy tài năng, để được sống với niềm đam mê văn chương nên tập trung khá nhiều những cây bút Đế quốc Mỹ đã dùng nhiều chiêu bài để mua chuộc các nhà văn, dùng họ làm công cụ để tuyên truyền, kích động và

truyền bá những sản phẩm văn hóa của Mỹ vào Nam Bộ, chúng đã “cố gắng hình

Trang 34

thành một nền văn hóa thực dân kiểu mới phản động, dâm ô, lai căng, đồi trụy, mặc dầu về mặt văn hóa chúng đã nỗ lực và nuôi dưỡng một lực lượng đông đảo những nhà văn, nhà thơ của chế độ, nhưng đi song song với nền văn hóa phản động ấy, đi song song với luồng văn học thực dân kiểu mới ấy, là một luồng văn hóa lành mạnh, tiến bộ, cách mạng do ta chi phối” [23, tr.317] Khi ý thức xã hội phát triển, con người có nhu

cầu thẩm định lại những thang bậc giá trị thì văn học là nơi in dấu ấn đậm nét Tiểu thuyết chính là tấm gương phản ánh đời sống nhưng không phải là bản sao của cuộc sống Văn học Nam Bộ ba mươi năm kháng chiến đã ghi dấu một sự chuyển mình mạnh mẽ của văn học Việt Nam Tiểu thuyết cũng đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của quần chúng lúc bấy giờ Cũng từ đây, vấn đề lý luận về tiểu thuyết cũng được nhắc đến nhiều hơn So với những thể loại khác, tiểu thuyết ra đời muộn hơn

Trước yêu cầu lịch sử đặt ra, nhiều nhà văn thuộc dòng văn học yêu nước, cách mạng đã chọn tiểu thuyết làm thể loại sáng tác Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, tiểu thuyết chưa tạo được dấu ấn vì trước những những khúc quanh của lịch sử, nhà văn vẫn đang trong giai đoạn “nhận đường” Tuy không phát triển mạnh bằng truyện ngắn nhưng vượt lên hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, tiểu thuyết của dòng văn học yêu nước cách mạng miền Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Cuối thập niên 1950 đầu 1960, nhiều nhà văn đã khẳng định tên tuổi của mình ở mảng tiểu thuyết như Bình

Nguyên Lộc với tiểu thuyết Đò dọc, Gieo gió gặt bão, Võ Hồng với Người về đầu non, Nguyễn Văn Xuân với Bão rừng, Vũ Hạnh với Cô gái Xà – niêng, Lửa rừng… Lúc

bấy giờ, Thẩm Thệ Hà, Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh… đã là những nhà văn thành danh trên địa hạt của tiểu thuyết

Ở đô thị miền Nam, tiểu thuyết cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lý

luận phê bình Một số công trình tiêu biểu, mang dấu ấn một thời như: Tiểu thuyết Việt

Nam hiện đại (Thanh Lãng, Đại học, số 2 tháng 4/1961), Nhân vật trong tiểu thuyết

(Nhiều tác giả, Sáng tạo, số 1/1960), Sự hình thành của tiểu thuyết mới trong Việt Nam

Trang 35

giản sử ước tân biên (Phạm Thế Ngũ, Quốc học tùng thư xuất bản, 1965), Văn học và tiểu thuyết (Doãn Quốc Sĩ, Sáng tạo, 1973) Điểm gặp gỡ của các công trình này là

các tác giả đều dành nhiều tâm huyết để đi sâu vào nhiều khía cạnh, đặt ra cái nhìn đa diện, đa chiều của tiểu thuyết như: Cốt truyện trong tiểu thuyết, Quan niệm về tiểu thuyết, nhân vật và phương thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Có thể nói trong giai đoạn 1954 – 1975, tiểu thuyết đã dần khẳng định được vị trí của mình trong dòng chảy văn học nước nhà khi những đặc điểm quan trọng của tiểu thuyết như: nội dung thể tài, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ lần lượt được phân tích trong cái nhìn theo quan điểm lý luận văn học

Đối với những nhà văn thuộc dòng văn học yêu nước cách mạng như Thẩm Thệ

Hà, mục đích sáng tác của họ là phục vụ tranh đấu Vì vậy, tiểu thuyết là một cách tham dự của nhà văn đối với kháng chiến nên những yêu cầu về kỹ thuật viết tiểu thuyết không phải là yếu tố họ đặt lên hàng đầu Do đó, xét một cách khác quan thì trên bình diện thi pháp, tiểu thuyết thuộc dòng văn học yêu nước cách mạng không đạt

được nhiều thành tựu, “nó chưa có được nghệ thuật điêu luyện như các bậc thầy hiện

thực chủ nghĩa, chưa xây dựng được các bức tranh toàn cảnh vừa sâu sắc vừa rộng lớn Nhưng trong quá trình phát triển mạnh mẽ, nó mang một sắc thái rất đáng quý”

[59, tr.69] Những cây bút trẻ như Thẩm Thệ Hà đã vượt ra khỏi những khuôn khổ của chủ nghĩa hiện thực phê phán và tìm một lối đi riêng để vươn đến khuynh hướng hiện

thực cách mạng “mạnh mẽ hơn, giàu tính chiến đấu hơn, tiên tiến hơn” [59, tr.69]

Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng mang tính hai mặt Tiểu thuyết của dòng văn học yêu nước cách mạng cũng không nằm ngoài quy luật đó Vì vậy, khi nghiên cứu tiểu thuyết giai đoạn này nói chung và tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà nói riêng, chúng ta cần

có cái nhìn biện chứng để đặt tác phẩm, tác giả trong mối liên quan xã hội, chính trị

để thấy được những nỗ lực, đóng góp của họ đối với di sản văn học nước nhà

1.2.2 Những sắc màu riêng trong tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà

Trang 36

Lặng lẽ trong cuộc đời và cả trong văn chương nhưng Thẩm Thệ Hà đã để lại trong trí nhớ người đọc một dấu ấn khó phai Thẩm Thệ Hà viết văn, làm thơ, dịch sách, biên soạn sách giáo khoa, phê bình văn học… Ở mỗi thể loại, sáng tác của ông đều có những nét đặc trưng riêng và mang đậm dấu ấn phong cách tác giả nhưng có lẽ

thành công nhất của Thẩm Thệ Hà là ở mảng tiểu thuyết vì “tiểu thuyết mới là thế giới

mà ông tung hoành thoải mái và thoải chí” [54, tr.40]

Không thu hút người đọc bằng những cốt truyện lạ, không đưa ra những triết lý cao xa, tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà nhẹ nhàng đi vào lòng người với nội dung yêu nước tha thiết và những triết lý thực tế về cuộc đời Dù hướng ngòi bút của mình về đối tượng nào, ẩn đằng sau những trang văn của Thẩm Thệ Hà cũng là tư tưởng nhân văn sâu sắc mà tác giả mà muốn gửi gắm Khám phá 6 tiểu thuyết của Thẩm Thệ Hà độc giả sẽ nhận thấy điều làm nên sắc màu riêng trong tác phẩm của ông chính là sự chân thật của một ngòi bút và nhân cách tri thức của nhà văn Có thể nói tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà tập trung đi vào ba nguồn cảm hứng chính: cảm hứng yêu nước cách mạng, cảm hứng phê phán, cảm hứng về tình yêu Những trang văn nhẹ nhàng, đầy tinh thần nhân văn của Thẩm Thệ Hà đã giăng vào lòng người đọc những ấn tượng khó phai dẫu

cho “thời gian đi qua, giờ đây đọc lại người đọc dễ thấy những khiếm khuyết của tác

giả về phương diện dựng truyện, khắc họa tâm lý… nhưng vẫn không thể không xúc động: người viết đã gửi vào trang sách của mình một tấm lòng nặng tình với đất nước”

[60, tr.25]

Trong diện mạo chung của tiểu thuyết văn học yêu nước cách mạng, tên tuổi Thẩm Thệ Hà cũng đã khẳng định một thế giới riêng Đó là thế giới của những con người lạc quan, yêu đời, đầy sức sống sau khi được giác ngộ với lý tưởng cách mạng Những nhân vật ấy sống mãi trong lòng người đọc nhờ vào quá trình thay đổi dần nhận thức trước thời cuộc

Đọc tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà, người đọc còn thấy thấp thoáng chân dung nhà

văn qua những nhân vật có tâm hồn yêu văn chương như Hoàng trong Bạc áo hào hoa,

Trang 37

Tuấn trong Đời tươi thắm Thông qua hình tượng những nhân vật này, Thẩm Thệ Hà

đã bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình Quan điểm của Tuấn về một nhà văn chân chính dường như cũng chính là quan điểm, là sự đổi mới tư duy trong sáng tác của Thẩm Thệ Hà:

Nhiều khi thiên tài và nghệ thuật cũng chưa đủ để tạo cho ta thành một nhà văn chân chính Một nhà văn chân chính cần phải luôn luôn học hỏi, tìm tòi: phải hòa mình vào đời sống của nhân dân, phải biết khơi những nguồn chưa ai khơi, biết dùng nghệ thuật mà xây dựng những cái

gì lớn lao chung cho cả loài người Chính anh đây, anh vẫn chưa xây dựng được cái gì có thể gọi là giá trị vượt hẳn thời gian Anh hãy còn học hỏi, tìm tòi, tìm nguồn để khơi, đào sâu ý để xây dựng, mà chẳng biết bao giờ mình mới xây dựng nổi [63, tr.223]

Là một thầy giáo dạy văn nên chính điều này đã ảnh hưởng nhiều đến sáng tác của Thẩm Thệ Hà Nhạy cảm với những vấn nạn xảy ra trong môi trường giáo dục, nhà văn Thẩm Thệ Hà đã bộc bạch nỗi niềm đau đáu của mình trước sự ảnh hưởng của lối sống thực dụng phương Tây đang làm suy thoái đạo đức của một bộ phận thanh niên mới lớn trong xã hội đương thời Mỗi nhân vật tạo nên ám ảnh day dứt không nguôi trong lòng người đọc

Những chất liệu đời sống có được từ những năm tháng chiến đấu, từ cuộc đời giảng dạy đầy nhiệt huyết đã làm cho tác phẩm của Thẩm Thệ Hà có cái âm vang ấm

áp của tình đồng chí, của tình người khiến độc giả đương thời phải ngậm ngùi, thổn thức sau khi gấp lại trang sách Trong một lần Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang bị địch bắt giam về bót Catina, Thẩm Thệ Hà đã vô cùng ngạc nhiên và xúc động khi nhiều người trong phòng giam đều nhận ra hai nhà văn mà họ mến mộ Thẩm Thệ Hà

đã kể lại trong hồi ký của mình:

“Không khí ảm đạm của phòng giam bỗng trở nên sôi động

Những lời thăm hỏi vang lên, truyền từ miệng này sang miệng khác Đêm

Trang 38

ấy, có một cơn mưa đổ xuống tầm tã Phòng giam không có nóc, tất cả tù nhân đều tắm tập thể dưới cơn mưa Họ vừa dội mưa vừa hát vang những bài hát hùng hồn như nhắn nhủ nhau giữ vững tinh thần chiến đấu Nhiều người yêu cầu Dương Tử Giang và tôi ngâm thơ Tôi quên cả nỗi buồn lo, cất tiếng và ngâm vang những bài thơ yêu nước mà tôi sáng tác Trận mưa kéo dài, gió lạnh buốt thịt da, tù nhân run rẩy vừa nhảy múa ca hát, vừa ngâm thơ Thật là một buổi dạ hội bất ngờ, kỳ lạ mà tôi nhớ mãi suốt đời” [63, tr315]

Câu chuyện đó như một minh chứng cho sức lan tỏa của văn chương Thẩm Thệ

Hà trong lòng độc giả đương thời khi những sáng tác của ông có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao ý chí, tinh thần chiến đấu của những người yêu nước Chất liệu làm nên những sắc màu riêng trong tiểu thuyết của ông có được từ những năm tháng đau thương nhưng rất đỗi hào hùng mà ông đã trải qua Dù ở vai trò là nhà văn, nhà báo, nhà giáo hay một nhà hoạt động tình báo, Thẩm Thệ Hà cũng đều nỗ lực để hoàn thành vai trò, sứ mệnh của mình Những câu chuyện trong tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà là những mảnh ghép số phận trong thời chiến với những tình cảm gắn bó sâu nặng cùng mảnh đất quê hương, cùng những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Thẩm Thệ Hà đã góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của tiểu thuyết thuộc dòng văn học yêu nước cách mạng

Nhìn chung, tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà đã góp phần làm bức tranh văn học tranh đấu miền Nam thêm đa sắc Cả cuộc đời cầm bút, Thẩm Thệ Hà đã miệt mài sáng tác bằng tất cả lòng nhiệt huyết và sự tài hoa của mình Gia tài tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà tuy ít ỏi so với một đời văn nhưng đã minh chứng cho quá trình lao động nghệ thuật đầy nỗ lực của người nghệ sĩ khi phải sống, chiến đấu và viết trong một môi trường đầy khắc nghiệt Những sắc màu riêng trong tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà chính là nền tảng, là căn cứ để chúng tôi đi vào khám phá những giá trị nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông

Trang 39

Chương 2

NỘI DUNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN NHÂN VĂN

Trang 40

TRONG TIỂU THUYẾT THẨM THỆ HÀ

2.1 NỘI DUNG YÊU NƯỚC

2.1.1 Ca ngợi lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, ý chí đấu tranh bất khuất của dân tộc

Văn học bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống và hiện thực cuộc sống ấy được thể hiện qua lăng kính của người nghệ sĩ Như những loại hình khác của nghệ thuật, tiểu thuyết cũng đi ra từ cuộc đời và lớn lên từ mảnh đất hiện thực Nói đến tiểu thuyết người ta thường nghĩ đến tính chất hư cấu vì tiểu thuyết gia đã dùng trí tưởng tượng của mình để sáng tạo ra một câu chuyện không có thật Tuy nhiên, người viết tiểu thuyết dù có dùng trí tưởng tượng của mình để sáng tạo ra một câu chuyện thì cũng không thể hoàn toàn rời xa thực tế xã hội mà họ đang sống

Tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà ra đời trong bối cảnh không gian miền Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945 và những ngày đầu toàn quốc kháng chiến Chiến tranh luôn là đề tài có sức hút lớn vô cùng đối với các nhà văn, nhà thơ Là người song hành với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc, Thẩm Thệ Hà đã nhận thấy trách nhiệm trí thức của mình phải là tiếng nói của lương tri thời đại, của đông đảo quần chúng nhân dân Tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà là một câu chuyện tưởng tượng nhưng chất liệu làm nên câu chuyện trong tiểu thuyết của ông là những điều ông ghi nhận từ tâm tư, tình cảm, từ những khát vọng sống của cả một cộng đồng, trong đó chính bản thân nhà văn là một cá nhân hiện hữu

Thẩm Thệ Hà cũng như bao nhà văn chiến sĩ khác đều muốn dùng ngòi bút của mình để thể hiện những mất mát hy sinh của đồng bào, đồng chí đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình lớn lao Vì vậy, đối với những người cầm bút trong chiến tranh như nhà văn Thẩm Thệ Hà, việc viết tiểu thuyết để màng danh lợi, để kiếm nhiều tiền là điều hoàn toàn xa lạ Trước yêu cầu của lịch sử, của thời đại, điểm chung gặp gỡ của

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Hoài Anh (2008), “Quan niệm về tiểu thuyết trong lý luận phê bình văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975”, Nghiên cứu Văn học số 2/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về tiểu thuyết trong lý luận phê bình văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975”, "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Trần Hoài Anh
Năm: 2008
2. Trần Hoài Anh (2009), Lý luận – phê bình văn học đô thị Miền Nam 1954 – 1975, Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận – phê bình văn học đô thị Miền Nam 1954 – 1975
Tác giả: Trần Hoài Anh
Năm: 2009
3. Nguyễn Thị Kim Anh (chủ biên), (2004), Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Đại học Quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh (chủ biên)
Năm: 2004
4. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2004
5. M.Bakhtin (2003), M.Bakhtin lý luận và thi pháp tiểu thuyết (người dịch: Phạm Vĩnh Cư), Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M.Bakhtin lý luận và thi pháp tiểu thuyết (người dịch: Phạm Vĩnh Cư)
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 2003
6. Vũ Bằng (1955), Khảo về tiểu thuyết, Phạm Văn Tươi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo về tiểu thuyết
Tác giả: Vũ Bằng
Năm: 1955
7. Hồ Thi Ca (2009), “Chia tay bác Kỉnh”, Công An TP.HCM, 23 – 6 – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chia tay bác Kỉnh”," Công An TP.HCM
Tác giả: Hồ Thi Ca
Năm: 2009
8. Đặng Dương Côn (2002), “Hình dung đề tài tiểu thuyết là gì?”, Sông Hương, số 158/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình dung đề tài tiểu thuyết là gì?”, "Sông Hương
Tác giả: Đặng Dương Côn
Năm: 2002
9. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1998
10. Tôn Thất Dụng (1993), “Thể loại tiểu thuyết trong quan niệm của các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX”, Văn học, số 2, tr. 36 – 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại tiểu thuyết trong quan niệm của các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX”, "Văn học
Tác giả: Tôn Thất Dụng
Năm: 1993
11. Nguyễn Đức Đàn (1969), “Những diễn biến mới trong văn học miền Nam vùng bị tạm chiếm những năm gần đây”, Văn học, (7), tr.57 – 69Website: http://172.22.1.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những diễn biến mới trong văn học miền Nam vùng bị tạm chiếm những năm gần đây”, "Văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Năm: 1969
12. Đặng Anh Đào (1992), “Nguồn gốc và tiền đề của tiểu thuyết”, Văn học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và tiền đề của tiểu thuyết”, "Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1992
13. Đặng Anh Đào (2001), “Gió đông gió tây: ảnh hưởng và giao thoa trong văn học Việt Nam hiện đại”, Văn học, số 1/2001, tr.23 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gió đông gió tây: ảnh hưởng và giao thoa trong văn học Việt Nam hiện đại”, "Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 2001
14. Phan Cự Đệ (chủ biên)(2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Năm: 2004
15. Quốc Định (2000), “Nhà văn Thẩm Thệ Hà: “Phê bình cần có trí tâm sáng”, Sài Gòn giải phóng thứ Bảy, ngày 9 – 12, tr.30 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Thẩm Thệ Hà: “Phê bình cần có trí tâm sáng”, "Sài Gòn giải phóng thứ Bảy
Tác giả: Quốc Định
Năm: 2000
16. Nguyễn Văn Đông (2005), Văn hóa và con người Nam Bộ trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc, Luận văn thạc sĩ văn học Việt Nam, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Nam Bộ trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc
Tác giả: Nguyễn Văn Đông
Năm: 2005
17. Trương Võ Anh Giang (2000), “Nhà văn Thẩm Thệ Hà vẫn tiếp tục góp phần cho cuộc sống thêm chân, thiện, mỹ”, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, (43), ngày 16 – 11, tr.3 – 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Thẩm Thệ Hà vẫn tiếp tục góp phần cho cuộc sống thêm chân, thiện, mỹ”, "Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Võ Anh Giang
Năm: 2000
18. Đoàn Lê Giang (2006), “Văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 - thành tựu và triển vọng nghiên cứu”, Phát triển Khoa học và Công nghệ, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 - thành tựu và triển vọng nghiên cứu"”, Phát triển Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Năm: 2006
19. Dương Tử Giang (1949), Tranh đấu, Nam Việt, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh đấu
Tác giả: Dương Tử Giang
Năm: 1949
20. Trần Văn Giàu (1983), “Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam: tư tưởng yêu nước”, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam: tư tưởng yêu nước”
Tác giả: Trần Văn Giàu
Năm: 1983

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w