1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết lê hoằng mưu trong bối cảnh tiểu thuyết quốc ngữ nam bộ đầu thế kỷ xx

86 201 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 543,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Huyền Trang ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT LÊ HOẰNG MƯU TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX Chuyên ngành : Văn học Việt Nam Mã số : 60 22 01 21 LUẬN

Trang 1

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Huyền Trang

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT LÊ HOẰNG MƯU TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ

NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Huyền Trang

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT LÊ HOẰNG MƯU TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ

NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VÕ VĂN NHƠN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Ng ười thực hiện

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 4

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Võ Văn Nhơn, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, động viên để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô đã giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học Cao học

Đồng thời, tôi xin gửi lời tri ân đến Gia đình cùng bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ để tôi hoàn thành Luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 9 năm 2015

Ng ười thực hiện

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa của đề tài 5

6 Cấu trúc đề tài 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Khái quát về tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX 7

1.1.1 Bối cảnh Nam Bộ đầu thế kỷ XX 7

1.1.2 Tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ 9

1.2 Giới thiệu tác giả Lê Hoằng Mưu 14

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH TRONG TIỂU THUYẾT LÊ HOẰNG MƯU 21

2.1 Phản ảnh những mặt trái của xã hội Nam Bộ đầu thế kỷ XX 21

2.1.1 Sự biến chất của tình cảm gia đình 21

2.1.2 Sự băng hoại đạo đức xã hội 26

2.2 Con người tự nhiên với bản năng tính dục 34

Chương 3 GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT 50

LÊ HOẰNG MƯU 50

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 50

3.1.1 Xây dựng chân dung, ngoại hình nhân vật 52

3.1.2 Xây dựng tính cách nhân vật 54

3.1.3 Xây dựng tâm lý nhân vật 59

3.2 Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu 62

3.2.1 Từ văn biền ngẫu đến văn xuôi hiện đại 62

3.2.2 Phương ngữ Nam bộ 63

Trang 6

KẾT LUẬN 71

Trang 7

chúng ta đã chưa thể sưu tầm, nghiên cứu thấu đáo những giá trị “mở đường”

của các tác phẩm đó Hầu hết những tiểu thuyết ra đời ở giai đoạn đầu của văn học hiện đại tại miền Nam bị chìm trong quên lãng, ngay cả đối với những nhà nghiên cứu văn học Đoàn Lê Giang cho rằng: “Từ sau năm 1945, văn học Quốc ngữ Nam Bộ có một thời gian khá dài bị giới nghiên cứu, phê bình quên lãng, ít được ai nhắc tới, hoặc chỉ được biết tới với vài ba gương mặt nổi bật: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh” [16, tr.7]

Mấy năm gần đây, nhờ công sức của nhiều nhà nghiên cứu và các bậc

thức giả mà những tác phẩm nói trên đã dần được sưu tầm lại, đặt vào đúng vị trí trong mạch văn chương nước nhà Những quan niệm sai lầm từng tồn tại

khá lâu, rằng miền Nam là một “vùng trắng” trong bức tranh sáng tác văn

chương tại giai đoạn nêu trên đã bị xóa bỏ dần dần Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn không ít trăn trở Vì rằng, thực tế thì cho đến thời điểm này, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu để giúp chứng minh văn xuôi Quốc ngữ Nam Bộ

lá cờ đầu trên bầu trời văn chương Việt Nam đương đại

Trang 8

Thực trạng ấy dẫn đến vấn đề vai trò, vị trí của một số cây bút “mở đường” trong buổi giao thời đó vẫn chưa được xác lập chính xác Riêng trong

địa hạt tiểu thuyết, có một thời người ta cho rằng Hoàng Ngọc Phách với Tố Tâm (1925), rồi Nguyễn Trọng Quản với Thầy Lazaro Phiền (1887) là nhà

văn và tác phẩm mở đường cho dòng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Cho đến gần đây, nhờ công trình nghiên cứu của Bằng Giang, Nguyễn Q Thắng, nhờ

sự sưu tầm, nghiên cứu của PGS.TS Võ Văn Nhơn mà chúng ta đã có cơ sở

để đặt ra câu hỏi: phải chăng tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt của nhà văn

- nhà báo Lê Hoằng Mưu, khởi đăng trên tờ Nông Cổ mín đàm năm 1912, mới

là tiểu thuyết đầu tiên được viết bằng chữ Quốc ngữ có đầy đủ những “tiêu chuẩn” của thể loại tiểu thuyết hiện đại?

Lê Hoằng Mưu được xem là nhà văn của những thử nghiệm táo bạo đầu thế kỷ XX Ông sáng tác rất khỏe, các tác phẩm của ông đã từng “bán chạy

như tôm tươi giữa chợ buổi sớm” Qua tác phẩm của ông, chúng ta thấy thi pháp tiểu thuyết phương Đông (mà cụ thể là tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc) đã hòa trộn với thi pháp tiểu thuyết phương Tây một cách hết sức thú

vị Đó cũng là đặc điểm chung trong tác phẩm của nhiều nhà văn Nam bộ thời

kỳ đó Nhưng ngòi bút Lê Hoằng Mưu lại có những điểm đặc biệt so với bút pháp của các nhà văn Nam Bộ cùng thời Sự nghiệp sáng tác và những đóng góp cho văn học, cho báo chí nước nhà của Lê Hoằng Mưu, một nhà báo, một nhà văn tiên phong, độc đáo, còn cần được chúng ta nghiên cứu một cách thấu đáo, sâu sắc hơn

Vì tất cả những lẽ trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đặc điểm tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu trong bối cảnh tiểu thuyết Quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỷ XX, với mong muốn góp một ngọn nến soi sáng thêm vào góc

còn khuất trong tiến trình văn xuôi Việt Nam, đồng thời giúp xác lập vị thế xứng đáng cho ông và tác phẩm của ông trên văn đàn

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung và tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu nói riêng là một phần quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam Tuy nhiên, đến nay, nhiều vấn đề nghiên cứu vẫn còn bị bỏ ngỏ

Tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu gần đây đã được các nhà nghiên cứu chú

ý, nhưng do một số tác phẩm của ông đã bị mất - thất tán nên vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống Quá trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những đánh giá, nhận xét mang tính khái quát nằm rải rác trong một số công trình như: Chân dung văn học của Hoài Anh; Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế

kỷ, tập 1, do Cao Xuân Mỹ sưu tầm, Mai Quốc Liên giới thiệu; Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ1865 – 1930 của Bằng Giang; Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Nguyễn Kim Anh chủ biên; Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, tập 1, của Nguyễn Q Thắng; Văn học Quốc ngữ trước 1945 ở Thành phố Hồ Chí Minh của Võ Văn Nhơn; Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối TK.XIX – đầu TK.XX, đề tài trọng điểm cấp

quốc gia, 2005 - 2007, do Đoàn Lê Giang làm chủ nhiệm

Về luận án tiến sĩ liên quan đến đề tài luận văn của chúng tôi có Tôn

Thất Dụng (1993), Sự hình thành và vận động của thể văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1932, Luận án tiến sĩ ngữ văn ,

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Lê Ngọc Thúy (2001), Đóng góp của văn học Quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm HCM; Cao Thị Xuân Mỹ (2001), Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Đại học Sư phạm Tp

Hồ Chí Minh; Võ Văn Nhơn (2008), Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -

Đại học Quốc gia TP HCM

Trang 10

Trần Hữu Tá khái quát vấn đề trong bài viết “Tiểu thuyết Nam Bộ trong

chặng đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam” (Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 309, 1999)

Các bài viết riêng về Lê Hoằng Mưu của PGS.TS Võ Văn Nhơn:

- “Bước đầu khảo sát tư liệu và đánh giá tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu”, Khoa học Xã hội và Nhân văn 31, tr.43-49 (2005);

- “Lê Hoằng Mưu - nhà văn của những thử nghiệm táo bạo đầu thế kỷ XX”, Nghiên cứu văn học 7, tr.26-35 (2006);

- “Hành trình đi tìm Hà Hương phong nguyệt”, Tuổi trẻ cuối tuần, số

Tất niên 8.2.2015;

- “Hà Hương phong nguyệt - quyển tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của

Nam Bộ”, Nghiên cứu văn học 4, tr.51-58 (2015)

Nhìn chung, chúng ta vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu đối với

sự nghiệp tiểu thuyết lớn lao mà Lê Hoằng Mưu đã để lại Từ thực tế đó, khi

nghiên cứu đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu trong bối cảnh tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX, chúng tôi mong muốn sẽ hiểu

biết thêm về tác giả, tác phẩm của Lê Hoằng Mưu nói riêng và các tiểu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu, gắn liền với thực trạng chính trị - kinh tế

- xã hội xung quanh thời điểm nó ra đời Phạm vi nghiên cứu gồm những tiểu thuyết tiêu biểu của Lê Hoằng Mưu - những sáng tác được xem là viên gạch

mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Cụ thể, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu tiểu thuyết đầu tay và cũng là tác

phẩm gây nhiều tranh cãi nhất của Lê Hoằng Mưu: tiểu thuyết Hà Hương

p hong nguyệt Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ đi sâu phân tích, đánh giá đối với

một số trong các tiểu thuyết khác của ông như:

Trang 11

Ba gái cầu chồng (1915), Tô Huệ Nhi ngoại sử (1920),

Oán hồng quần tức Phùng Kim Huê ngoại sử (1920),

Oan kia theo mãi tức Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật (1922), Đầu tóc mượn (1926), Đỗ Triệu kỳ duyên (1928),

Đêm rốt của người tội tử hình (1929), Người bán ngọc (1931)

4 Ph ương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng một số phương pháp chủ yếu:

- Phương pháp lịch sử: giúp đánh giá đúng ý nghĩa của tác phẩm trong một giai đoạn lịch sử nhất định

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: đi sâu vào phân tích các tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu trên bình diện nội dung và nghệ thuật Từ đó đưa ra những kết luận quan trọng về sự nghiệp sáng tác của ông

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: giúp người viết khảo sát những tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu trong mối tương quan với nền văn học Việt Nam hiện đại

- Phương pháp so sánh: so sánh đặc điểm tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu với một số tiểu thuyết của các tác giả cùng thời

- Phương pháp thống kê: sắp xếp, liệt kê các đặc trưng tương tự nhau của các tác phẩm thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận văn, nhằm xác lập diện mạo của chúng

5 Ý nghĩa của đề tài

5.1 Nghiên cứu đề tài sẽ cho chúng ta có cái nhìn khái quát tiểu thuyết

Lê Hoằng Mưu , từ đó đi sâu phân tích những nét truyền thống và cách tân trong nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết của tác giả, đồng thời đặt những tác phẩm đó vào bối cảnh tiểu thuyết Nam Bộ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về tác giả và giá trị của những tác phẩm

Trang 12

5.2 Đề tài được thực hiện nhằm khẳng định những đóng góp quan trọng của Lê Hoằng Mưu trong nền văn học Việt Nam hiện đại Qua việc nghiên cứu sự nghiệp văn học của một nhà văn sáng tác bằng chữ Quốc ngữ ở giai đoạn đầu sẽ phần nào giúp chúng ta thấy được quá trình vận động và phát triển của văn xuôi Việt Nam trong hơn một thế kỷ nay

5.3 Nghiên cứu đề tài này, bản thân người viết sẽ có điều kiện sưu tầm, tìm hiểu sâu rộng hơn những tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu; qua đó người viết cũng mong muốn góp thêm tài liệu bổ ích cho các bạn sinh viên trong quá trình nghiên cứu tác giả, tác phẩm của Lê Hoằng Mưu

6 C ấu trúc đề tài

Đề tài của chúng tôi được chia thành ba phần Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính được chia thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung: trình bày khái quát về tiểu thuyết Quốc

ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX và đôi nét về cuộc đời - sự nghiệp văn chương của Lê Hoằng Mưu

Chương 2: Những nội dung chính trong tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu: đi

sâu vào phân tích nội dung một số tác phẩm tiêu biểu của Lê Hoằng Mưu để thấy được ông đã phản ảnh những mặt trái của xã hội Nam Bộ đầu thế kỷ XX, đồng thời ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của con người

Chương 3: Nghệ thuật trong tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu: trình bày nghệ

thuật xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm và ngôn ngữ trong tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái quát về tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX

1.1.1 B ối cảnh Nam Bộ đầu thế kỷ XX

1.1.1.1 Bối cảnh chính trị - kinh tế

Về chính trị: Đầu thế kỷ XX, sau khi cho rằng đã hoàn thành cuộc bình

định ở Việt Nam, thực dân Pháp áp đặt bộ máy cai trị lên ba miền đất nước: Nam Kỳ là xứ thuộc địa, Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ bảo hộ Tuy có sự khác biệt trong chế độ quản lý của chính quyền thực dân ở từng miền, nhưng thực chất toàn cõi “Annam” đều nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp Mọi người Việt Nam đều có chung số phận: dân nô lệ Tuy nhiên, Nam Kỳ mới là mảnh đất bị “Tây hóa” rõ nhất, vì Nam Kỳ là xứ thuộc địa (trong khi Bắc và Trung

Kỳ là xứ bảo hộ), đồng nghĩa với việc người Pháp có toàn quyền áp đặt mọi thứ qui định, “qui chuẩn” lên xứ này

Về kinh tế: Nam Bộ từ trước đó vài trăm năm đã là vùng kinh tế mới,

vùng kinh tế mở, tài nguyên đất dồi dào, khí hậu thuận lợi, thương mại phát triển Đó là những tiền đề thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và mạnh Nền kinh tế nửa phong kiến - thuộc địa, nửa tư bản - thị trường đã làm xuất hiện các quan hệ sản xuất - sở hữu mới Từ đó, tầng lớp thị dân, tiểu tư sản ra đời

1.1.1.2 Những thay đổi về văn hóa - xã hội:

Trong bối cảnh đó, các phong trào như Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục vừa ra sức tuyên truyền, cổ động nhân dân ta thực hành nếp sống mới, tiếp thu những giá trị tích cực của văn hóa phương Tây, vừa không quên khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc Sinh hoạt văn hóa nói chung, văn học nói riêng cũng bị cuốn theo làn gió lạ ấy

Riêng ở Nam Bộ, với những đặc thù về chính trị - kinh tế - văn hóa sẵn

có, người dân nơi đây, đặc biệt là tầng lớp trí thức và thị dân mới hình thành,

Trang 14

càng có điều kiện tiếp nhận và thực hành phong hóa mới Nói cách khác, quá trình xâm thực của văn hóa phương Tây vào xã hội Nam Kỳ đã diễn ra mạnh

và nhanh hơn các nơi khác Cùng với quá trình phát triển kinh tế mà chủ yếu

là sản xuất nông nghiệp, cùng với quá trình đô thị hóa, xã hội Nam Bộ cũng chuyển mình mạnh mẽ theo Vốn có gốc gác là dân tứ xứ phiêu dạt về, người Nam Bộ ít có tư tưởng bảo thủ, ngược lại họ dễ dàng tiếp nhận cái mới Một

số con em quan chức, con nhà giàu được sang Pháp du học Tầng lớp thị dân tăng nhanh Số người biết chữ Quốc ngữ - tiếng Pháp ngày càng đông Riêng

về chữ Quốc ngữ, nó là chất liệu giúp hình thành nền văn học hiện đại với những thể loại mới như kịch, ký sự, truyện ngắn, tiểu thuyết nhờ đó giúp cho nền văn học Việt Nam xác lập và bình dân hóa một cách nhanh chóng không ngờ Theo Nguyễn An Ninh, từ chối chữ Quốc ngữ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình

Tinh thần cởi mở, hướng về cái mới còn là một nét tính cách hình thành

từ hoàn cảnh địa lý, sinh hoạt đặc biệt của miền Nam: “Thôn ấp trải dài theo kênh rạch Dân cư của làng Nam Bộ thường hay biến động (vì nơi đây còn nhiều vùng đất chưa được khai phá, người dân có thể di cư đến bất cứ chỗ nào

dễ làm ăn hơn), người dân không bị gắn chặt quê hương như làng Bắc bộ Tính cách người nông dân Nam Bộ do đó phóng khoáng hơn, ít bảo thủ, dễ tiếp cận cái mới bên ngoài từ văn hóa phương Tây” [70, tr.223] Tinh thần

hướng về cái mới như vậy là một nét riêng bổ sung vào truyền thống Việt Nam của người dân miền Nam Khi rơi vào nô lệ, thì cùng với phong trào canh tân của cả nước, ý chí đổi mới đã thúc đẩy người miền Nam nhiệt tình

hướng việc canh tân để cứu nước Điều đó không thể hiện ở đâu rõ nét hơn là trong sinh hoạt báo chí miền Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX, thời kỳ cổ võ Minh Tân, khơi gợi ý thức dân tộc, và sau đó là đấu tranh với nhiều hình thức, nhất

là đấu tranh trực diện cho độc lập, tự do và tiến bộ dân tộc

Trang 15

Nam Bộ sớm tiếp xúc với văn hóa phương Tây, số người học tiếng Tây

và đi Tây du học nhiều, sớm; các yếu tố văn hóa như báo chí, nhà in, nhà xuất bản sớm ra đời tạo tiền đề cho sự xuất hiện của những tác phẩm tiểu thuyết Quốc ngữ đầu tiên Song, do các loại hình báo chí - truyền thông chưa phát triển, người dân mỗi xứ hầu như sống và sinh hoạt văn hóa tinh thần khép kín,

điều kiện giao thông đi lại khó khăn khiến cho Hà Nội cách xa Sài Gòn như Marseille đối với Le Caire - điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ kìm hãm sự lan

tỏa, giao lưu văn hóa giữa các miền Trong bối cảnh đó, riêng ở “vùng đất mở” Nam Bộ lại có điều điện để người dân làm kinh tế, gìn giữ những giá trị truyền thống song song với thực hành nếp sống mới Vì vậy, vùng đất Gia Định đã gây ấn tượng tốt cho một du khách là Filayson đến Sài Gòn vào năm 1821: “Chúng tôi có cảm giác tốt đẹp về phong tục và cử chỉ của nhân dân

Sự ân cần, tính rộng lượng, lòng hiếu khách mà chúng tôi đã gặp , vượt quá

xa với tất cả những gì từ trước đến nay chúng tôi thấy được ở các nước châu

Á ” [61, tr.247]

Chương trình khai thác thuộc địa (lần thứ nhất và lần thứ hai) của thực dân Pháp là nhân tố làm chuyển biến sâu sắc xã hội Việt Nam Lớp trí thức Tây học và cư dân thành thị tất yếu cần được đáp ứng nhu cầu tiêu thụ những sản phẩm văn hóa mới

1.1.2 Ti ểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ

Những cây bút văn xuôi Quốc ngữ đầu tiên ở Nam Bộ đã đáp ứng kịp thời nhu cầu được thưởng thức các thể loại văn chương mới của lớp người mới Văn minh phương Đông và những sản phẩm văn hóa truyền thống đậm màu sắc Nho giáo vẫn tồn tại Nhưng các giai cấp, tầng lớp mới, những người theo Tây học đòi hỏi được hưởng thụ những sản phẩm văn chương thích hợp với tư tưởng, tư duy tình cảm, nếp sinh hoạt của họ Những bài thơ theo niêm luật vịnh cảnh gợi tình chung chung và sáo mòn, những truyện - tích vẽ lên bức tranh cuộc sống xuôi chiều từ quá khứ đến tương lai, từ đau thương

Trang 16

trắc trở rồi kết thúc đoàn viên mĩ mãn không còn phù hợp với thực tế cuộc sống mới nữa Người dân, đặc biệt là dân thành thị, đã có thói quen đọc báo, đọc sách Người ta có nhu cầu được đọc cái gì mới mẻ mỗi sáng thức dậy, được thấy chính họ trong cái mà họ đọc

Trước nhu cầu đó, một số nhà văn mới đã đáp ứng đòi hỏi của độc giả

Họ là những người mà trước đó đã ít nhiều được hấp thu Nho học, rồi tiếp tục được đào tạo theo Tây học Dù được đào tạo theo cái học mới với mục đích gì thì họ vẫn mang trong mình dòng máu Việt, vẫn ít nhiều có lòng tự tôn dân tộc bởi cái tâm biết rung cảm của nhà văn Cho nên, họ khao khát viết “cái của dân tộc mình cho dân mình đọc” Chính Lê Hoằng Mưu, khi viết lời tựa

cho tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt đã cho thấy tư tưởng đó: “Thật là

truyện đặt theo việc tình người, tình đời, chẳng mượn tích ngoại phang gio diễn, để cho đồng bang cơn rảnh mua vui, lúc buồn xem tiêu khiển Cho hay

Hà - Hương là truyện tình, song truyện tình mà đủ nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín, tình mà có báo oán nhãn tiền, tình dường ấy cũng nên đọc lấy làm gương, toan giữ mình trọn đạo” (Lê Hoằng Mưu viết trong lời tựa bản in tiểu thuyết

Hà Hương phong nguyệt)

Động cơ sáng tác của Lê Hoằng Mưu là như thế Mục đích sáng tác thì không gì ngoài ý thức phản ánh hiện thực xã hội mà họ đã sống, sự mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp, sự xung đột giữa những giá trị cũ và phong hóa mới, sự băng hoại của đạo đức trước sức mạnh kim tiền và dục vọng Ngoài

ra, như đã nói, nhà văn thời này viết không chỉ để thỏa mãn nhu cầu được viết

như trước kia, mà họ viết phục vụ cho người ta đọc để giải trí

Ở Việt Nam, sự ra đời của tiểu thuyết hiện đại có quan hệ chặt chẽ đến những biến cố lớn của lịch sử, với ảnh hưởng từ các luồng văn hóa Đông Tây (Trung Hoa thời kỳ kêu gọi cải cách, ảnh hưởng phương Tây, cụ thể và sâu sắc nhất là Pháp thế kỷ XIX), những biến chuyển của lịch sử, xã hội (sinh hoạt, đời sống thành thị) và văn hóa dân tộc (chữ Quốc ngữ và sự phát triển

Trang 17

sáng tác, nhu cầu tiếp nhận văn chương) “Chỉ trong vòng chưa đầy ba thập

kỷ đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết miền Nam đã hầu như dàn trải khá đủ, là một

sự ảnh xạ có vẻ như ‘cơ giới’ của tiểu thuyết phương Đông lẫn phương Tây:

có tiểu thuyết ‘võ hiệp - kỳ tình’, có tiểu thuyết ‘ngoại sử - dã sử’, có tiểu thuyết đạo lý, có tiểu thuyết ‘tả chân xã hội’, có tiểu thuyết phong tục, lại có tiểu thuyết luận đề…” [7, tr.15]

Trước hết, ảnh hưởng Trung Hoa trong văn học Quốc ngữ miền Nam thời kỳ này thể hiện khá phức tạp chứ không giống như văn chương Trung đại Sang nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ của các truyện Tàu

Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên đã dịch các tác phẩm kinh điển của Trung Hoa như Tứ thư, Ngũ kinh ra chữ Quốc ngữ Sau Trương Vĩnh Ký là cả một thế hệ dịch giả hùng hậu, trong đó có những người nổi tiếng và uy tín hơn cả

là Nguyễn Chánh Sắt, Trần Phong Sắc Tư tưởng đạo đức, luân lý cổ truyền của Nho giáo vốn đã Việt hóa khá dân chủ và uyển chuyển, nay tiếp tục giao thoa với những nhân cách điển hình trong truyện Tàu đã trở thành một thứ

“tiềm thức chung” và nhân sinh quan chung của cả cộng đồng Hơn nữa, lòng yêu mến mảnh đất do mình khai phá, tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt dễ dẫn đến một tình cảm yêu nước rất cụ thể, chứ không phải là lòng trung quân mơ

hồ, ước lệ và mê muội

Bên cạnh luồng ảnh hưởng từ Trung Hoa, tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn đầu còn chịu sự ảnh hưởng của văn hóa - văn chương Tây phương, nhất

Trang 18

nhiên cho thấy sự tiếp nhận văn học Pháp đã đến sớm nhất qua các tác phẩm dịch xuất hiện ở Nam Kỳ từ nửa sau thế kỷ XIX

Văn học Quốc ngữ Nam Kỳ đã tiếp nhận từ văn học Pháp cái tinh thần hài hòa, bình đẳng, không phân định ranh giới giữa văn học bác học và văn học bình dân Từ đó, đã xuất hiện tính dân chủ, tính đại chúng, tính thực tiễn trong phương thức lưu hành, truyền bá và đặc biệt là tính chọn lọc trong quá trình tiếp nhận văn học phương Tây Xã hội mới với những con người mới cần được phản ảnh, soi chiếu bởi một thứ văn chương mới, kết hợp giữa văn tải đạo của phương Đông với văn tả thực của phương Tây Đạo lý luân

thường là những điều cần nhưng không đủ trong đời sống thực tại, nên “người

ta cần tìm hiểu kỹ cuộc sống với cả những tình tiết đầy đủ, những chi tiết cụ thể, gây được cảm giác, thỏa mãn được sự tò mò Người ta muốn nếm trải cái có thật (hay có thể có thật), chứ không phải được khích lệ bằng những

gương trung hiếu, minh họa đạo nghĩa Người ta muốn xúc cảm, muốn

mở mang như những con người, những cá nhân - chứ không phải xúc động

như khi chiêm ngưỡng tấm gương cao cả của vị thánh xuất chúng”[29, tr.25]

Vì thế “Bên cạnh những nhà Nho vẫn tiếp tục làm thơ phú, người nông dân vẫn tiếp tục ca hát dân gian nền văn học cũ vẫn tồn tại khắp đất nước thì một lớp nhà văn kiểu mới, một nền văn học có tính chất khác trước xuất hiện tạo nên một cảnh tượng giao giữa hai nền văn học” [29, tr.22]

Thanh niên bế tắc, cô đơn, thử tìm lối thoát trong tình yêu, họ muốn được tự do yêu đương nhưng lại bị thế lực lễ giáo phong kiến cấm đoán Không lối thoát, họ tìm đến tiểu thuyết để nghe tiếng lòng mình trong đó, chiêm nghiệm những gì vừa nếm trải hoặc tìm ở đó những chân trời, những ước mơ thầm kín

Tiểu thuyết trở nên phù hợp với thị hiếu của đông đảo công chúng mới

“Đọc tiểu thuyết, người ta thấy có cái thú vị nồng nàn là được sống sâu rộng hơn, thấm thía hơn, vì ở đời không một ai được sống với tất cả các giác quan

Trang 19

rung động, với tất cả mọi hành vi cùng tư tưởng bồng bột và thâm trầm Chính tiểu thuyết là một loại văn có thể bổ khuyết cho ta những cái thiếu sót ấy”[56, tr.162]

Đầu thế kỷ XX, ở Nam Kỳ, một nền báo chí vừa được hình thành trước

đó không lâu đã phát triển rầm rộ, dựa trên ý thức mới hướng về mục tiêu độc lập tự do và canh tân đất nước Văn chính luận và bút chiến về những vấn đề văn hóa xã hội, kinh tế chính trị được phổ biến rộng rãi trên báo chí công khai Điều này đã kéo theo những bước phát triển đáng chú ý của nền văn học Quốc ngữ ở miền Nam “Báo chí quả là bà đỡ mát tay cho văn học” [65, tr.40] Nền văn chương báo chí là đóng góp nổi bật của văn học Quốc ngữ miền Nam trong quá trình hiện đại hóa văn học.“Chúng ta hẳn chú ý rằng đa

số các tác phẩm văn học đều đăng trước nhứt trên mặt báo, sau đó mới in thành sách Bởi vậy, theo thiển ý của chúng tôi, muốn nghiên cứu văn học hiện đại, ta nên xem qua lịch sử báo chí Các nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ

thường dùng báo chí để đăng tải lần hồi các tác phẩm do họ sáng tác” [72, tr.239]

Những nhà văn đã nhận thức về nhu cầu hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam, và mỗi người đã lần lượt đề cập đến nhiều yếu tố của tiểu thuyết hiện đại như cốt truyện, chủ đề, tư tưởng chủ đề, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ tiểu thuyết có đối chiếu so sánh với phương thức cũ Đặc biệt, những nhà văn đều tự thực hành những quan điểm của riêng mình về tiểu thuyết trong các sáng tác cụ thể Các nhà văn tiên phong đều dè dặt với ảnh hưởng Tây

phương, nhận thức sâu sắc về sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây đã tạo ra hai sắc thái văn chương khác nhau Tinh thần luân lý Việt Nam vẫn là nền tảng cho tư tưởng của tác phẩm Nhưng họ lại cũng bị thu hút bởi phương thức sáng tác kiểu Tây phương Trào lưu lãng mạn và trào lưu hiện thực đã đem lại cho nhà văn Việt Nam nhiều cánh cửa mới trong việc tìm kiếm chất liệu mới cũng như hình thức mới cho sáng tác Hầu hết, họ đều chọn nghệ

Trang 20

thuật biểu hiện theo cách thức của tiểu thuyết Pháp thế kỷ XIX, với nhiều vấn

đề được đặt ra như ngôn ngữ tiểu thuyết, nguyên tắc phản ánh hiện thực, thái

độ khách quan của nhà văn, quan điểm tiếp thu nghệ thuật phương Tây Chuyển biến mạnh mẽ nhất là cảm hứng sáng tác, với xu hướng chung trong việc lựa chọn vùng đề tài Điều này dẫn đến cái mới trong cốt truyện, trong thời gian và không gian của tác phẩm Đây cũng là nét cách tân nổi bật nhất của tiểu thuyết miền Nam đầu thế kỷ Chuyển biến thứ hai là đối tượng miêu

tả mới, điểm nhìn và tầm nhìn của nhà văn, dẫn đến sự hình thành nhân vật tiểu thuyết với những phương thức mộ tả rất mau chóng thoát ra khỏi những ảnh hưởng trung đại Chuyển biến thứ ba là về mặt kết cấu, về ngôn ngữ tiểu thuyết có chậm hơn, phức tạp hơn với những quá trình phức tạp, không đồng

bộ, đan xen lẫn nhau giữa truyền thống và hiện đại Những chuyển biến trên

thường không được thể hiện một cách tuyệt đối trong thực tế sáng tác, mà vẫn còn đan xen với nhiều yếu tố của văn chương truyền thống, phản ánh sinh động những bước đi đầu tiên trong buổi bình minh của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Trong hiện thực xã hội đó, Lê Hoằng Mưu đã mang đến cho nền tiểu thuyết vừa phôi thai những tác phẩm rất mới, rất đặc sắc

1.2 Gi ới thiệu tác giả Lê Hoằng Mưu

Là một trong những cây bút đầu tiên viết tiểu thuyết trong giai đoạn chữ Quốc ngữ vừa mới phôi thai, Lê Hoằng Mưu đã xác lập được một vị trí vững vàng trong lịch sử văn học Nam Bộ Số lượng tác phẩm của ông tương đối dày dặn, cách viết theo kiểu tiểu thuyết phương Tây, tuy một số vẫn còn được trình bày dưới hình thức tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc

Các nhà làm văn học sử từ trước đến nay thường bỏ quên tên tuổi và sự nghiệp của ông, hoặc chỉ nói qua được rất ít về sự đóng góp của ông vào gia sản văn hóa đồ sộ của miền Nam Viết lại tiểu sử của bậc tiền bối như Lê Hoằng Mưu là một công việc khó khăn, dù ông sống trước chúng ta chỉ trên

Trang 21

dưới một thế kỷ Chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu về ông qua nguồn tài liệu xuất

xứ đủ mọi nguồn gốc khác nhau nhằm cung cấp cho độc giả một cái nhìn chân thực nhất có thể về một con người trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt Theo các tài liệu chúng tôi có được, Lê Hoằng Mưu sinh năm Kỷ Mão (1879) trong một gia đình làm nông khá giả tại làng Cái Cối, tổng Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).Ngoài tên thật, ông còn được nhiều người trong làng báo làng văn biết đến với bút hiệu Mộng Huê Lầu (ghép mẫu tự của Lê Hoằng Mưu) Ông còn

ký là Le Fantaisiste, Hoằng Mưu Theo Nguyễn Liên Phong, tác giả Điếu cổ

hạ kim thi tập, Lê Hoằng Mưu có “hình trạng nho nhã, trung người, tánh nết

thông minh thiệp liệp, có khoa ngôn ngữ”

Lê Hoằng Mưu xuất thân từ một gia đình tân học Cha ông là Lê Văn Dinh, nguyên là thông ngôn đề hình, nắm giữ việc xử án Nguồn gốc xuất thân này có ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của Lê Hoằng Mưu ở nhiều

phương diện: miêu tả lớp lang những vụ án với nhiều tình tiết ly kì, cảnh phá

án, xét xử tội nhân Hơn hết, ông bộc lộ quan điểm tin tưởng vào công lý, sự công bằng

Thuở nhỏ, Lê Hoằng Mưu học ở Bến Tre [8, tr.823] Tuy nhiên, website tỉnh Bến Tre lại cho rằng "khi bước vào đời, ông chưa hết bậc trung học Pháp - Việt lúc bấy giờ, rồi gia nhập làng văn, làng báo ở Sài Gòn cho đến cuối đời

Tuổi trưởng thành, Lê Hoằng Mưu sống ở Sài Gòn Trước khi đến với nghề báo, viết văn, ông là thư ký của sở công chứng Theo Nguyễn Q Thắng thì Lê Hoằng Mưu đã có tiếng trong giới cầm bút từ những năm 1915 - 1917

Nhưng theo Cao Xuân Mỹ thì sự nổi tiếng này đến sớm hơn, khoảng những năm 1912 - 1915 Thật ra Lê Hoằng Mưu được bạn đọc biết đến từ những

năm 1912 khi ông bắt đầu cộng tác với tờ Nông Cổ Mín Đàm với tác phẩm dịch Rocambole Tome V Les drames de Paris, kịch thơ Cũng trong năm ấy

Trang 22

tiếng tăm ông bắt đầu nổi khi được mời làm chủ bút Nông Cổ Mín Đàm và cho đăng tải nhiều kỳ Truyện nàng Hà Hương Đến năm 1915, Lê Hoằng

Mưu đã chinh phục cả xứ Nam Kỳ và cả một thế hệ thanh niên Đến ngay cả những nhà văn nổi tiếng thời đó như Trương Duy Toản, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Văn Chim, Nguyễn Háo Vĩnh đều chưa thể được liệt ngang hàng với ông Bạn đọc yêu mến và hết lời khen ngợi ông là người “quảng kiến đa văn”

Năm 1921, khi tờ Nam Trung nhật báo sáp nhập với tờ Lục tỉnh tân văn,

ông được cử làm Chủ bút cho đến 1930, thì bị buộc thôi chức vì tờ báo có khuynh hướng yêu nước bài Pháp Cùng năm này, ông cùng Võ Thành Út sáng lập tờ Long Giang độc lập (xuất bản mỗi tuần 3 số) do Lưu Công Châu

làm chủ bút Đến năm 1931, tờ báo bị nhà cầm quyền ra lệnh đình bản một thời gian, sau được tục bản cho đến ngày 11 tháng 5 năm 1934 thì bị đình bản

hẳn Ngoài ra, ông là trợ bút của các tờ Điện Tín, Thần chung, Đuốc nhà

ông còn là người có lương chủ bút cao nhất thời đó Ông được đồng nghiệp kính mến và thán phục bởi tài bút chiến

Năm 1922, ông cho xuất bản tiểu thuyết Tô Huệ Nhi ngoại sử, với bút

danh Mộng Huê Lầu Tác phẩm đã ca ngợi một đôi thanh niên tân học mạnh dạn đấu tranh cho tự do hôn nhân, đã thoát khỏi sự cản trở của gia đình phong kiến để cùng nhau xây dựng hạnh phúc Ở đoạn đầu truyện, Lê Hoằng Mưu

có đề cập một khía cạnh của phong trào duy tân ở Trung Hoa: “Nói về Trung Quốc, từ năm Canh Tý (1900) đạo tặc dấy lên, nhờ triều đình xuất binh dẹp

an mới nổi” Từ đấy triều đình tỉnh ngộ, tân chánh cải hành, xuất của lập

trường mở mang đàng học vấn Nhờ ơn trên nên tỉnh Đình Cảng tuy chẳng phải đại tỉnh thành mà học đường khai bộn Nào sơ đẳng tiểu học, cao đẳng tiểu học đều hoàn toàn, duy nữ học đường còn thiếu”

Qua đó ta thấy tác giả có ý hưởng ứng phong trào Duy Tân ở ta lúc bấy giờ, vì muốn ngụy trang nên để chuyện xảy ra ở Trung Hoa

Trang 23

Năm Tân Tỵ (1941), ông mất tại Sài Gòn, thọ 62 tuổi

Lê Hoằng Mưu sinh ra và lớn lên giữa lúc xã hội Việt Nam tiếp thu nền văn minh phương Tây do người Pháp mang lại Ông là trí thức thuộc thế hệ vừa hấp thu nền giáo dục tân học, vừa am tường cổ học truyền thống.Nhà báo

Lãng Tử trong một bài báo viết về Lê Hoằng Mưu trên báo Mai năm 1939

cũng cho rằng ông “đã có cái vinh dự tối cao của kẻ đàn anh ăn trước bước

đầu mà lại có tài hoa lỗi lạc” Nguyễn Liên Phong trong Điếu cổ hạ kim thi tập đã hết lời ca ngợi ông: “Khen bấy thầy Mưu dạng mỹ miều Có khoa ngôn

ngữ nết không kiêu Điển Tòa thuở nọ công siêng nhọc Nông Cổ ngày nay bút dệt thêu Tuổi hãy xuân xanh khuôn phép đủ Phước nhờ đầu bạc đắp vun nhiều Từ đây báo quán thêm khong ngợi Rảng rảng như chuông cả tiếng kêu”

Văn học Quốc ngữ Nam Bộ cuối TK.XIX đến 1945 là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc Trong khoảng hơn nửa thế kỷ từ khi hình thành cho đến 1945, vùng văn học này đã có một đời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và hàng mấy trăm tác phẩm, cuốn hút hàng triệu độc giả, và đã để lại những vết son không phai mờ trong ký ức của nhiều người, nhất là những

người lớn tuổi ở Nam Bộ “Theo thống kê của chúng tôi, có lẽ chưa thật đầy

đủ, số người sáng tác văn học có sách đã được xuất bản ở Nam Bộ từ đầu cho đến 1945 là trên 200 tác giả Số lượng tác phẩm thì khó có thể có con số chính xác, chúng tôi từng lập ra thư mục khoảng trên 700 cuốn sách – tất nhiên phải hiểu là có nhiều cuốn khổ nhỏ, dày chừng vài trang là những bài vè, truyện

ngắn được in riêng thành quyển như: Bất cượng của Trương Vĩnh Ký- 8 tr,

v.v cho đến những tiểu thuyết dày hàng 400, 500 trang trở lên như các bộ

tiểu thuyết của Phú Đức: Bà chúa đền vàng dày 438 tr, Lửa lòng – 858 tr, v.v Trong số đó, Lê Hoằng Mưu, nhà văn của những thử nghiệm táo bạo, có

21 quyển, đã sưu tập được 17 quyển.” [16]

Trang 24

Lê Hoằng Mưu bước vào làng văn đúng lúc nền văn học Việt Nam vừa bắt đầu tiến trình hiện đại hóa Vì vậy, sự nghiệp văn chương của ông đóng góp rất lớn cho quá trình đổi mới văn học Những trang viết của Lê Hoằng

Mưu cung cấp cho người đọc một lượng thông tin khá đầy đủ về quá trình dịch chuyển của người dân Nam Bộ bởi tác động từ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Những thay đổi về phong tục tập quán, sự xuất hiện của lối sống mới, những mối quan hệ “ngoài luồng”, tình cảm nam nữ, những cung cách đối xử và quan hệ đạo lý khác trước, những tâm lý xã hội thích hợp và những mẫu người thời đại mới

Trong quá trình nghiên cứu văn học Quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chúng tôi đặc biệt lưu ý quan điểm của nhà nghiên cứu Bằng Giang trong công trình Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930:

“Còn tiểu thuyết (không nói truyện ngắn) thì cũng chỉ bắt đầu với Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu đăng báo năm 1912 và in thành sách năm

1915” Hà Hương phong nguyệt có số trang dày dặn hơn nhiều (chỉ hết

tập 6 đã có đến 284 trang) Tác phẩm này là một phản ứng, là lòng tự trọng của một nhà văn Việt Nam trước cơn sốt dịch “truyện Tàu” lúc đó Lê Hoằng

Mưu có tâm sự: “Dòm thấy trong xứ cứ ôm truyện Tàu mà dịch mãi, chưa thấy ai viết bộ tiểu thuyết nào cả Tưởng rằng dầu hay dầu dở cũng của mình

Tôi khởi đầu viết bộ Hà Hương phong nguyệt”

Sau khi tác phẩm này làm mưa làm gió thật sự, đã xảy ra các cuộc bút chiến dữ dội, phe bảo thủ cho nó là “dâm thư” Thậm chí có người còn lên án

Lê Hoằng Mưu là “một đứa tội nhơn lớn nhứt của nước An Nam” (Công luận báo, số 48, 1928) Điều này buộc chính quyền thuộc địa Pháp tại Nam Kỳ phải ra lệnh tịch thu và tiêu hủy

Đây cũng là lý do vì sao mà Hà Hương phong nguyệt gần như vắng bóng

suốt một thế kỷ qua; ngay các thư viện lớn thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt

Trang 25

Nam Thư viện Tổng hợp TP.HCM, Thư viện KHXH TP.HCM… cũng chỉ còn tản mác, rời rạc

Trước dư luận hà khắc, Lê Hoằng Mưu chỉ nói: “Viết ra từ mười năm không ai nói chi Sau này trong phe viết báo lắm kẻ người ưa đọc sanh lòng ganh gổ, kích bác; mà không nói hay dở gì, chỉ thích điều lả lơi phong nguyệt Tôi mỉm cười! Cười mấy ông này mắt mang kiếng đen, chưa hề có xem phong nguyệt của người các nước, còn lả lơi quá mười của tôi Tôi thầm nghĩ nếu phong hóa vì tiểu thuyết tình tự lả lơi mà ra thì phong hóa các nước suy

đồi biết mấy Thoảng lại phong hóa nhà Nam suy đồi từ chưa có bộ Hà Hương phong nguyệt”.Bản thân Lê Hoằng Mưu dù bị nhiều người trong văn

giới đả kích dữ dội nhưng lại được độc giả rất hâm mộ Lãng Tử cho biết sách của ông “bán chạy như tôm tươi giữa chợ buổi sớm”

Sự nghiệp sáng tác của Lê Hoằng Mưu không chỉ có cuốn tiểu thuyết

được nhiều người biết đến là Hà Hương phong nguyệt (1915) mà còn có

nhiều tác phẩm khác

Lê Hoằng Mưu bắt đầu sự nghiệp văn học của mình bằng những truyện dịch Khác với các tác giả khác, ví dụ như Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu không dịch truyện Tàu mà chọn dịch các tác phẩm của Tây phương Ông từng tâm sự trên Nông cổ mín đàm: “Tôi học văn Pháp có lấn hơn văn Tàu, nên tôi viết theo cách văn Pháp nhiều hơn”

Chồng bắt vợ chạ, một truyện ngắn của Mỹ có thể là tác phẩm dịch đầu tiên của ông, đăng trên Nông cổ mín đàm Đây là một câu chuyện hài mang ý

nghĩa châm biếm và giáo dục nhẹ nhàng

Sau giai đoạn dịch, Lê Hoằng Mưu có những tác phẩm phóng tác từ văn

học phương Tây, như một kịch thơ phóng tác từ Racambole Tom V Les drames de Paris chẳng hạn (đăng trên Nông cổ mín đàm số 18 năm 1912)

Ngoài Hà Hương phong nguyệt, ông còn có các tiểu thuyết Ba gái cầu chồng

(1915), Tô Huệ Nhi ngoại sử(1920), Oán hồng quần tức Phùng Kim Huê

Trang 26

ngoại sử (1920), Oan kia theo mãi tức Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật (1922), Đầu tóc mượn (1926), Đỗ Triệu kỳ duyên (1928), Đêm rốt của người tội tử hình (1929), Người bán ngọc (1931)

Việc nghiên cứu đặc điểm tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu sẽ được chúng tôi trình bày chi tiết hơn trong chương 2 và chương 3 của Luận văn

Đánh giá về sự nghiệp văn chương của ông, Từ điển nhân vật lịch sử

Việt Nam ghi nhận: “Lê Hoằng Mưu là một nhà báo kỳ cựu, một nhà văn tiên

phong miền Nam, đương thời còn nổi tiếng hơn cả Trương Duy Toản, Nguyễn Chánh Sắt Tiểu thuyết của ông hồi đó "viết ra thiệt nhiều và đều bán chạy như tôm tươi giữa chợ buổi sớm Ông đã có cái vinh dự tối cao của

kẻ đàn anh ăn bước trước mà lại có tài hoa lỗi lạc" [66, tr.347]

Và trong Từ điển văn học (bộ mới): “Lê Hoằng Mưu là nhà văn đi trước

thời đại, là một ngòi bút viết tiểu thuyết khá độc đáo Chịu ảnh hưởng của cả hai luồng văn chương Trung Hoa và Âu Mỹ thuở ấy, nhưng ông tìm được cho mình một hướng đi chủ động: không bị chủ đề đạo lý hoàn toàn chi phối,

mà từ rất sớm đã biết khơi sâu vào mặt trái của đời sống, dựng lên những cốt truyện khác thường, lựa chọn những mẫu người có thể nói là "tai tiếng" làm đối tượng cho tác phẩm Chẳng hạn như cốt truyện "Hà Hương phong nguyệt" “Về nghệ thuật, có một bước tiến ngày càng rõ trong bút pháp viết truyện của Lê Hoằng Mưu Từ cách viết chương hồi ảnh hưởng của tiểu

thuyết Trung Quốc trong Tô Huệ Nhi ngoại sử đến cách viết ngả hẳn sang kết cấu tiểu thuyết phương Tây trong Người bán ngọc

Nhìn chung, Lê Hoằng Mưu là một cây bút độc đáo trong dòng tiểu thuyết quốc ngữ miền Nam trong vài chục năm đầu của thế kỷ XX, Đúng như

tuần báo Mai năm 1939 nhận xét: "Buổi ấy ông là người có "tài sắc" nên tiếng

tăm nổi dậy như cồn Lời văn cũng như lý luận đã lôi cuốn, hấp dẫn, chinh phục tất cả xứ Nam Kỳ và cả thế hệ thanh niên hồi đó" [8, tr.824-825]

Trang 27

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH TRONG TIỂU THUYẾT LÊ

HO ẰNG MƯU

2.1 Ph ản ảnh những mặt trái của xã hội Nam Bộ đầu thế kỷ XX

2.1.1 S ự biến chất của tình cảm gia đình

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhất là từ khi chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo đức Nho giáo khoảng 1000 năm trước đó, đạo nghĩa vợ chồng của

người Việt luôn được đặt trong khuôn phép Cái khuôn phép “phu xướng phụ tùy”, vợ nhất nhất phụ thuộc chồng và gia tộc nhà chồng đó vừa là sợi thòng lọng trói chặt cuộc đời và hạnh phúc của người phụ nữ, nhưng cũng là động

cơ giúp người đàn ông phần nào ý thức được trách nhiệm của họ đối với gia đình Chế độ đa thê, dù tiêu cực, vẫn phần nào hạn chế những đấng trượng phu có hành vi quan hệ nam - nữ “ngoài luồng” Bức tường đạo đức đó cũng phần nào đủ sức ngăn cản những người phụ nữ đến với những mối quan hệ bất chính Nói cách khác, quan hệ vợ chồng gắn liền với gia tộc, chịu sự chi phối từ dư luận xã hội và được bao bọc giữa lũy tre làng nên nó khó bị phá

vỡ

Từ khi kinh tế - xã hội biến chuyển, các ngành nghề mới phát sinh, đời sống người dân nô lệ ngày càng khó khăn thì người phụ nữ vừa có nhu cầu vừa buộc phải vén bức màn che cửa buồng để bước ra ngoài xã hộibươn chải

Thương mại phát triển, mạng lưới giao thông mở mang, người đàn ông càng

có điều kiện đi xa hơn, giao du rộng hơn Nói cách khác, cả vợ và chồng đều bắt đầu vượt ra khỏi tầm mắt nhau, khuất luôn tầm nhìn của những người thân

và quen, lại có thêm nhiều mối giao tiếp xã hội, cho nên tầm nhìn của họ “mở mang” hơn Họ không còn chỉ biết có mỗi vợ hoặc chồng mình, không còn tâm lý an phận, tôn thờ một điều gì như nhất nữa Sự phát sinh những mâu thuẫn, tâm lý không hài lòng về nhau là có thật Cái hạnh phúc vốn ít nhiều

Trang 28

miễn cưỡng (bị gia tộc áp đặt) trước đó bị rạn nứt Hệ quả là, nếu không giải thoát được ràng buộc hôn nhân thì họ sa vào quan hệ nam - nữ bất chính.

Các tác phẩm của Lê Hoằng Mưu sáng tác vào những năm đầu thế kỷ

XX, bối cảnh chủ yếu là nông thôn các tỉnh Nam Bộ trong xã hội thực dân nửa phong kiến Dưới ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây, các mối quan

hệ gia đình, xã hội truyền thống Việt Nam dần dần bị phá vỡ Trong tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu có nhiều trường hợp ứng đúng vào luận điểm chúng tôi vừa nêu

Trường hợp đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đến là nhân vật Hồ phu

nhân trong tiểu thuyết Người bán ngọc Vốn là một mệnh phụ phu nhân của

Đô đốc Hồ Quốc Thanh, bà là một phụ nữ đẹp người đẹp nết Nhưng chính đặc điểm mối quan hệ vợ chồng của bà, cộng với sự tấn công của một chàng trai rất hiểu tâm lý đã làm bà sa ngã Hồ Đô đốc vì bận công vụ nên thường xuyên xa nhà, bà ở một mình trong khuê phòng Hơn nữa, chúng tôi cho rằng, một vị tướng quân thâm hiểm như Hồ Đô đốc thì không thể có một tình yêu nồng nàn, êm dịu đối với vợ Trong bối cảnh đó, anh chàng Tô Thường Hậu phong lưu đã cải trang thành một phụ nữ bán ngọc để tiếp cận và gần gũi với

Hồ phu nhân Hồ phu nhân - một người phụ nữ vắng chồng và chắc chắn từng khao khát được yêu thương, nâng niu, trân trọng, khi được đáp ứng bởi một chàng trai phong lưu, sành sỏi thì dễ bị sa ngã Hồ phu nhân sa ngã thật Và hậu quả bà đã chết trong tay của người chồng thâm hiểm, kết thúc một mối quan hệ vợ chồng, tan nát một gia đình

Một trường hợp khác là cặp vợ chồng Hà Hương - Nghĩa Hữu trong tiểu

thuyết Hà Hương phong nguyệt Nghĩa Hữu vốn là con một gia đình khá giả,

anh ta kết hôn với một cô gái đẹp tên là Hà Hương theo sự sắp đặt của gia đình Trong quá trình chung sống, Hà Hương dần bộc lộ bản chất lẳng lơ, tham tiền, mê đắm trụy lạc Vì thế, gia đình Nghĩa Hữu đã “bồi thường” cho

Hà Hương hai nghìn đồng để cô ta chấp thuận ly dị Sau đó, gia đình Nghĩa

Trang 29

Hữu cưới vợ khác cho anh ta, cô này tên là Nguyệt Ba, là một người phụ nữ đức hạnh và xinh đẹp Về phần Hà Hương, sau khi ly dị chồng, cô ta vừa kết hôn, vừa quan hệ “ngoài luồng” với nhiều người đàn ông khác, vì mục đích trục lợi và thỏa mãn dục tình Đến khi Nguyệt Ba mang thai thì Nghĩa Hữu cũng bộc lộ thói đam mê sắc dục, và rồi anh ta tìm đến vợ cũ và bị ả đưa vào tròng Để thực hiện âm mưu chiếm đoạt lại Nghĩa Hữu và tất cả những gì anh

ta có, Hà Hương đã không từ bất cứ thủ đoạn nào đối với Nguyệt Ba Hậu quả

là nàng Nguyệt Ba đã phải trầm mình tự tử Tấn bi kịch kết thúc bằng cái chết của Hà Hương trong sự ghẻ lạnh của Nghĩa Hữu, và chính Nghĩa Hữu cũng chết dần chết mòn bởi tự vằng vặc Đúng như Lê Hoằng Mưu đã nói, thiên tiểu thuyết này đề cập đến tình đời, tình người với đầy đủ những biến

cố, âm mưu, trả giá và đền bồi

Một điển hình nữa, năm 1922, Lê Hoằng Mưu cho xuất bản tiểu thuyết

Tô Huệ Nhi ngoại sử, với bút danh Mộng Huê Lầu Sơ lược truyện như sau:

Tại huyện Ô Sơn tỉnh Đình Cảng, có một người họ Tô, tên Kế Pha đỗ tú tài làm nghề dạy học Tô Kế Pha có con gái là Tô Tiểu Ngọc, và cháu gái kêu bằng chú là Tô Huệ Nhi - mồ côi - Tô Kế Pha đem Huệ Nhi về nuôi từ năm 7 tuổi để mong lấy tài sản cha nàng để lại gồm ngàn lượng bạc

Trong lúc đó, Tô Huệ Nhi được gởi trọ học tại một trường nữ học, Tô Kế Pha vì tham tiền đã gả nàng cho Lý Mặc Dư là cháu kêu vợ ông ta bằng cô Trong thời gian trọ học, Huệ Nhi gặp Châu Kỳ Xương, hai người yêu nhau tha thiết Nhưng oái ăm thay, Châu Kỳ Xương cũng bị gia đình đính hôn với con gái của Tào Đại Lịnh - một cô gái “hỗn quá chằn tinh, dữ hơn gấu ngựa”

Để thoát khỏi cuộc hôn nhân cưỡng ép đó, Tô Huệ Nhi trốn khỏi trường

nữ học, nên Tô Kế Pha - vì tham 1000 đồng bạc - đưa Tô Tiểu Ngọc cho Lý Mặc Dư để tráo hôn Nhưng dọc đường, Tiểu Ngọc bị bọn cướp Hải Lý Tuyền chặn bắt Sau đó Tào Tiểu Thơ (con gái của Tào Đại Lịnh) hôn thê của Châu Kỳ Xương bệnh chết Và nhờ sự giúp đỡ của bạn Khổng Sanh, đôi bạn

Trang 30

tình cùng nhau sum họp Sau Châu Kỳ Xương thi đỗ Tiến sĩ Pháp luật khoa làm quan tại triều, vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau

Tác phẩm đã ca ngợi một đôi thanh niên tân học mạnh dạn đấu tranh cho

tự do hôn nhân, đã thoát khỏi sự cản trở của gia đình phong kiến để cùng nhau xây dựng hạnh phúc Ở đoạn đầu truyện, tác giả có đề cập một khía cạnh của phong trào duy tân ở Trung Hoa:

“Nói về Trung Quốc, từ năm Canh Tý (1900) đạo tặc dấy lên, nhờ triều đình xuất binh dẹp an mới nổi” Từ đấy triều đình tỉnh ngộ, tân chánh cải hành, xuất của lập trường mở mang đàng học vấn Nhờ ơn trên nên tỉnh Đình Cảng tuy chẳng phải đại tỉnh thành mà học đường khai bộn Nào sơ đẳng tiểu học, cao đẳng tiểu học đều hoàn toàn, duy nữ học đường còn thiếu”

Qua đó ta thấy tác giả có ý hưởng ứng phong trào Duy Tân lúc bấy giờ,

vì muốn ngụy trang nên để chuyện xảy ra ở Trung Hoa

Cùng năm 1920, ông cho xuất bản tiểu thuyết Oán hồng quần (Phùng Kim Huê ngoại sử) Cốt truyện như sau:

Phùng Kim Huê, làng An Hội, tỉnh Bến Tre, năm 17 tuổi mồ côi mẹ, cha

cưới vợ sau, người vợ này cùng tuổi với nàng Kim Huê đương làm cô giáo tỉnh lỵ, vì mẹ ghẻ hà khắc, nàng phải bỏ nhà ra đi tìm cuộc sống khác Nàng theo ba người đàn bà lên Sài Gòn, họ hứa giúp nàng tìm việc làm Nhưng mới đến Chợ Lớn, nàng bị đưa vào thanh lâu của ba mụ này Mụ Tam Giẹp,

vợ của M Cochon người Ma-ní có quốc tịch Pháp, buộc nàng phải tiếp khách Mặc dầu bị đánh đập - nhưng không đến nỗi bị đánh chết như Kim - Praham và thành bệnh như Trình Liễu - và bị bắt làm thị tì, nàng vẫn không chịu làm nghề ô nhục đó Tình cờ, Triệu Bất Lượng - đã gặp Kim Huê trên đường từ ga Mỹ Tho lên Chợ Lớn - gặp thằng Thùn và được tên này dẫn mối đến gặp Kim Huê Sau khi mất ba mươi đồng để gặp Kim Huê đêm đầu, Bất

Lượng phải vay tiền bạn để lo việc giải thoát cho Kim Huê Nhờ thị tì Bảy

Trang 31

Ốm đưa kế, Kim Huê chui xuống đường mương, lần theo cống ra cổng và được Triệu Bất Lượng giải thoát

Sau khi thoát khỏi thanh lâu, theo chỉ dẫn của Triệu Bất Lượng, Kim Huê tới Biện lý cuộc tố cáo sào huyệt của bọn thanh lâu Biện lý giao công việc cho hai viên quản lý mật thám Viên thứ nhất cử thám tử Trương Thanh

và viên thứ hai cử thám tử là Trường Xuân và Trần Kiết theo dõi phá ổ mãi dâm này

Trương Thanh cải trang làm ông bang, ngủ với Sáu Mười Hai dò xét tìm được chỗ giấu thây người và giam bệnh nhân Hai thám tử kia chun vào ngả đường mương bị thằng Thùn phát giác Tám Giẹp ra lệnh cho bộ hạ bắt giữ Bọn chúng bắt trói hai thám tử sắp đem hành quyết thì thám tử Trương Thanh đến kịp giải cứu Nội bọn bị bắt giải tòa Tòa xử: Tám Giẹp 20 năm khổ sai, Sáu Mười Hai 12 năm tù, bọn thằng Thùn mỗi đứa 5 năm và 500 quan tiền vạ

Kim Huê thành hôn với Triệu Bất Lượng, sinh được một trai một gái Bất Lượng làm việc làm trong nhà máy xay lúa bị “máy ăn” Sau khi trợ cấp cho Kim Huê 200 đồng, chủ nhân thâu dụng nàng giữ việc coi kho cho hãng Tại hãng có tên Năm Hường mê nàng đang theo đuổi

Trong cuộc giao tranh này, sự bất lực của lý trí, lương tâm được ghi nhận nhiều lần: “Ấy cũng bởi cái tình sắc dục của người đời, sức mạnh dường sóng gió; người cứng cỏi cách nào nó xô cũng ngã” [39, tr.482]

“Vẫn biết lòng tà dâm mạnh hơn sức người, nên người dẫu bực nào

vương tới nó rồi cũng khó mà cượng nổi”, “Nhưng bởi sức tà dâm nó mạnh hơn lương tâm, nó ép uổng người phải theo, dẫu rằng thấy gươm treo trước mặt, cái chết sau lưng cũng không ghê gớm Cho nên khi người xiêu theo tà tâm, nhất định chẳng bỏ qua tình tệ, người dám buông lời thầm nói rằng: „Gối chung đầu dầu có thác, dạ cũng vui‟ Thế thì lương tâm nào còn theo mà cản đãng nữa đặng” [39, tr.482]

Trang 32

Nhìn chung, tình dục dưới ngòi bút của Lê Hoằng Mưu bắt đầu được nhận diện trong thuộc tính quyến rũ nhục dục

Vì thế, văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết trở nên phù hợp với tâm lý, thị hiếu của đông đảo công chúng mới “Đọc tiểu thuyết, người ta thấy có cái thú

vị nông nàn là được sống sâu rộng hơn, thấm thía hơn vì ở đời không một ai được sống trọn vẹn, không một ai được sống với tất cả các giác quan rung động, với tất cả mọi hành vi cùng tư tưởng bồng bột và thâm trầ m Chính tiểu thuyết là một loại văn có thể bổ khuyết cho ta về những cái thiếu sót ấy” [56, tr.162]

2.1.2 S ự băng hoại đạo đức xã hội

2.1.2.1 Thói tham tiền

Tiểu thuyết có đề tài xã hội, thế sự, phong tục với nhiều hình thức phong phú đa dạng là mảng quan trọng chiếm số lượng nhiều nhất, và có xu thế hiện

đại hóa rõ ràng nhất Ngoài Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Chánh Chiếu, Nghĩa hiệp kỳ duyên của Nguyễn Chánh Sắt, còn có Người bán ngọc, Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu

Chủ đề tác hại của đồng tiền xuất hiện khá phổ biến trong nhiều tiểu

thuyết thời kỳ này Nghĩa hiệp kỳ duyên của Nguyễn Chánh Sắt là câu chuyện giả mạo đứa con thất lạc để chiếm gia tài, Hà Hương phong nguyệt của Lê

Hoằng Mưu là chuyện tráo con vào chỗ nhà giàu để hưởng thừa kế

Sự thừa nhận giá trị tích cực của đồng tiền cũng được thể hiện môt các nhiệt tình không kém gì sự phê phán Điều đáng chú ý là nó được thể hiện khá thống nhất trong các tiểu thuyết ở miền Nam, cho thấy quan niệm về sự hoàn chỉnh của cuộc đời và sự hoàn chỉnh của khái niệm hạnh phúc trong tâm tình

và khát vọng của người miền Nam thuở ấy Đó là sự hài hòa giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần

“Thấy nhà không ai, mụ Lưu liền ngụ ý, bèn ẵm con của Trần Quế ra làm bộ chuồi lau, bước trái về nhà đổi con cho Thị Liến Đổi rồi trở qua, lo

Trang 33

vầy lữa như thường, vợ Trần Quế không hay chi cả” Một đại văn sĩ Tàu có nói rằng: Tiểu thuyết quan hệ với xã hội như không khí như đồ ăn; xem tiểu thuyết chánh đáng cũng như dùng đồ ăn tốt, hít không khí sạch, xem tiểu thuyết dâm tà, cũng như dùng đồ ăn độc, hít không khí bẩn dơ

Cơ cấu kinh tế, xã hội đầu thế kỷ XX có nhiều thay đổi, dẫn đến sự ra đời của nhiều ngành nghề mới Theo đó, trong xã hội xuất hiện rất nhiều kiểu

người, hạng người khác nhau gắn với ngành nghề và địa vị xã hội của họ Tất

cả đều hối hả, đua chen trên con đường làm giàu, mua danh kiếm lợi, mua quan bán tước để có được cuộc sống giàu sang, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, khiến cho xã hội trở nên náo loạn, xô bồ Tâm lý ham giàu, tham lam, ích kỷ

và độc ác của con người khi chạy theo lối sống tư sản đã được phản ánh trong nhiều tiểu thuyết giai đoạn này

Trong nền kinh tế nửa tư bản nửa thuộc địa, "danh" thường gắn liền với

"lợi", người có quyền chức thường nhiều tiền của Thực tế ấy đã xô đẩy con

người vào một lối sống tranh quyền đoạt lợi, dẫm đạp lên danh dự, nhân phẩm, tình người Từ thập niên 80 của thế kỷ XX, nhiều nhà văn đã bị ám ảnh bởi hiện thực nhức nhối này Có thể nói, trong bất kỳ tác phẩm văn học phản ánh hiện thực nào giai đoạn này, người đọc cũng có thể bắt gặp hoặc thấp thoáng, hoặc rất điển hình, ám ảnh, kiểu dạng nhân vật sống chết vì tiền Trong bối cảnh này, đọc lại nhiều tiểu thuyết ra đời từ đầu thế kỷ XX, ta vẫn thấy những nội dung hiện thực ấy như còn nóng hổi

2.1.2.2 Sự xảo trá, lọc lừa

Nguyên nhân khiến con người trở nên xảo trá, lọc lừa chính là sự quyến

rũ của tiền bạc, giàu sang Tham danh cũng chỉ cốt để kiếm được tiền nhiều hơn trước Để thỏa mãn sắc dục thì cũng phải có tiền và nhan sắc cũng là

phương tiện để người ta mưu tính chuyện chiếm đoạt tiền bạc

Những trang viết của Lê Hoằng Mưu cung cấp cho người đọc một lượng thông tin khá đầy đủ về quá trình biến động của xã hội Nam Bộ dưới tác động

Trang 34

từ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Những thay đổi về phong tục tập quán, sự xuất hiện của lối sống mới, những mối quan hệ ngoài luồng, quan hệ nam nữ “cởi mở”, những cung cách đối xử và quan hệ đạo lý khác trước, những tâm lý xã hội thích hợp và những mẫu người thời đại Cho đến ba thập niên đầu thế kỷ XX, hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của ông đã chiếm một vị trí đáng kể về mặt đề tài, cảm hứng, ở đủ các bình diện Có phụ nữ ngoại tình như Hồ phu nhân, lăng loàn trụy lạc như Hà

Hương Các nhân vật này thể hiện sự phê phán lối sống thành thị buổi giao thời

Tuy nhiên, bắt đầu từ Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Chánh Chiếu, Oán hồng quần của Lê Hoằng Mưu, cho tới các tiểu thuyết của Hồ Biểu

Chánh, hình tượng người phụ nữ gian truân vượt qua nghịch cảnh vẫn là kiểu nhân vật chiếm vị trí quan trọng nhất, vì nó phù hợp với xu hướng đạo lý của

xã hội Việt Nam

Chính Lê Hoằng Mưu đã tự đánh giá tác phẩm của ông: “Tiểu thuyết

Hoan hỉ kỳ oan này chẳng trọn ở tôi bày đặt Trừ các bộ tiểu thuyết ở tôi làm

ra, truyện này vẫn là tiểu thuyết kim thời của Trung Huê cách mạng Xem qua thật là phong tình xằng xịu nhởm nhúa lắm, trong xứ ta chưa có bộ tiểu thuyết nào dám bì Nhưng bởi trong có nhiều khúc chiếc éo le, lại cũng có vay trả nhãn tiền và có thói tục đàn bà Nên muốn có tiểu thuyết khác ý tôi viết để độc giả mua vui trong canh vắng, tôi mượn tạm bộ tiểu thuyết này chế giảm

và sửa tình cảnh lại chút ít hiến như tôn nhàn duyệt

Bộ tiểu thuyết này nói về một người chồng ghen, rất nên sâu sắc, đã giết oan thế nữ, giết thác hiền thê vì mắc mưu gian mà phải tội tư tình cùng tay bán ngọc, và hại người tình nhân của vợ là tay bán ngọc ấy can về tội trộm ngọc trong hòm mà phải bị binh quan tra tấn chết đi sống lại Sau nhờ một vị minh quan mơ màng thấy oan hồn thế nữ đầu cáo, tra khảo mới ra án, bao nhiêu tội vạ đổ về cho anh chồng ghen độc ác kia” Tiểu thuyết chứa đựng

Trang 35

nhiều yếu tố phiêu lưu rất được ăn khách tại Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX Ở vùng đất mới luôn phải đối mặt với những đe dọa bất ngờ trong cuộc sống nên họ thích phiêu lưu mạo hiểm, thích những anh hùng nghĩa hiệp sẵn sàng giúp đỡ người mắc nạn Người ta ít được đi xa, ít hiểu biết, cuộc sống đơn thuần vì thế khi tiếp xúc với thế giới tiểu thuyết này, con người có cảm giác vùng thoát khỏi khung trời nhỏ hẹp mình đang sống, đi vào một thế giới hoàn toàn mới lạ, tìm thấy những phút giây lãng mạn, vui vẻ, hấp dẫn, hồi hộp, thậm chí còn thấy được một cách sống, cách ứng xử trong câu chuyện mà mình đang đọc Loại truyện này bao giờ cốt truyện cũng hấp dẫn Và đặc biệt, các nhân vật chính bao giờ cũng là những anh tài, nghĩa hiệp luôn là việc nghĩa cho đời - phù hợp với tâm sinh lý người dân Nam Bộ Song tiểu thuyết phiêu lưu là loại truyện người ta dễ ham mê mà cũng dễ lãng quên vì khoa học ngày càng tiến bộ, phương tiện thông tin đại chúng ngày càng nhiều, những chi tiết xưa là hấp dẫn, nay người ta đã biết rồi, hiểu rồi thì sẽ không còn cuốn hút nữa Phải chăng đó là một trong những nguyên nhân làm cho nhiều tiểu thuyết ở Nam Bộ vốn rất nổi tiếng, được ưa chuộng nhiều nhưng không có sức sống lâu bền?

“ Mặc dầu kỹ thuật có đổi thay, mặc dầu muốn hướng vào sự thật trước mắt, mặc dầu ở vài trường hợp tính chất lãng mạn có dâng cao, song nhà viết tiểu thuyết thời này vẫn không rời lập trường đạo lý” [57, tr.324]

Các nhà văn, từ Nguyễn Trọng Quản đến Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng

Mưu, Hoàng Ngọc Phách, v.v đều trẻ, giàu nhiệt huyết, cùng có chung tâm huyết là “gia công bồi bổ cho cái hậu vận quốc văn” Càng ngày trình độ học vấn và sự hiểu biết của họ càng cao rộng nên chất lượng tiểu thuyết càng lúc càng được nâng cao Tuy chưa đậm nét song một số tác giả đã thể hiện ít nhiều phong cách độc đáo trong sáng tác, dần dần tạo nên hai khuynh hướng sáng tác khác nhau, một loại tiểu thuyết “giảng cho ta cõi đời này ra thế nào”

và một loại “làm cho ta quên cõi đời này đi” Sự phát sinh các khuynh hướng

Trang 36

sáng tác đó đã tạo tiền đề căn bản cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại giai đoạn sau 1932

Tô Huệ Nhi ngoại sử là một câu chuyện tình được viết theo kiểu tài tử

giai nhân giữa một đôi thanh niên nam nữ có tài, có sắc, trải qua truân chuyên, cuối cùng được đoàn tụ bên nhau Vì vậy, đó đây chúng ta gặp được những môtíp quen thuộc: chàng trai cứu được cô gái khỏi tay tên cướp hung bạo, cô gái trốn nhà đi để tránh một cuộc hôn nhân cưỡng ép, kế tráo hôn Tuy không còn lối viết chương hồi nữa mà được viết bằng giọng văn xuôi mộc mạc, độ dài cũng tương đối đáng kể (96 trang), lại lấy bối cảnh là nước Trung

Hoa khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhưng Tô Huệ Nhi ngoại sử vẫn

là tác phẩm tiểu thuyết mang màu sắc pha trộn giữa cũ và mới, giữa phương Tây và phương Đông (cô tiểu thư xinh đẹp làm giáo viên ở nữ học đường, chàng trai đi du học ở Nhựt Bổn về làm tiến sĩ luật khoa trong triều đình )

Tác phẩm Oán hồng quần ngoại sử gồm bảy cuốn nhưng hiện nay cuốn

thứ bảy chúng tôi chưa tìm thấy Dựa theo tình tiết trong truyện có thể phỏng đoán về sau mẹ con Kim Huê được đoàn tụ một nhà, quãng đời truân chuyên

của Kim Huê khép lại Với Oán hồng quần ngoại sử, Lê Hoằng Mưu đã dựng

nên được một cốt truyện ly kỳ về cuộc đời chìm nổi của một người con gái Nét đáng chú ý trong phong cách của Lê Hoằng Mưu ở tác phẩm này là vẫn xây dựng những tình tiết éo le và khắc họa tâm lý nhân vật khá sâu sắc Tuy lối viết, cách miêu tả trong truyện còn thô mộc, đôi khi tự nhiên chủ nghĩa Đây là đặc điểm văn phong riêng của Lê Hoằng Mưu nhưng cũng là văn phong chung giai đoạn chữ Quốc ngữ mới phôi thai, đang trong quá trình hình thành và phát triển ở mảnh đất Nam Bộ

Xoay quanh việc miêu tả tâm lý yêu thương, ghen giận của con người dựa trên cốt truyện đậm đầy những tình tiết ly kỳ, hấp dẫn, Lê Hoằng Mưu đã chứng tỏ được khả năng phân tích nội tâm nhân vật một cách tài tình, tinh tế

Đọc Oan kia theo mãi, cảm giác bóng dáng Thầy Lazarô Phiền đè nặng trên

Trang 37

từng trang viết nhưng đã được tác giả Lê Hoằng Mưu khai triển, tô vẽ thành những nhân vật có xương thịt, sức sống với khát vọng được sống, được yêu cháy bỏng Những “phá cách” trong kết cấu truyện cũng cần được chú ý vì

sau Oan kia theo mãi là hàng loạt tác phẩm của các nhà văn thời ấy có kết cấu

mô phỏng như Duyên phận lỡ làng hay Hà Cảnh Lạc - Năm ngày tự thuật của Phạm Minh Kiên, Sổ đoạn trường hay Lâm Kim Lang tự thuật của Nguyễn

Thành Long Và đây mới chính là tài hoa của Lê Hoằng Mưu, điều cần quan tâm ở cây bút này

Cùng một chủ đề với Hoan hỉ kỳ oan, Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật , tác phẩm Đầu tóc mượn cũng xoáy sâu vào phân tích lý giải bản chất

tính ghen tuông, nghi kỵ của con người Lê Hoằng Mưu từng có ý cho rằng, chính lòng ghen tuông, nghi kỵ là căn nguyên của biết bao bi kịch mà nhân loại đã tự tạo ra trong cuộc sống Sự ghen tuông, nghi kỵ thường biến con

người ta thành tàn nhẫn, độc ác dẫn đến đánh mất nhân tính Ông muốn dùng những tích hay lạ để làm gương cho những người có tính hay nghi nan

Đầu tóc mượn không đẩy sâu bi kịch của lòng ghen tuông, nghi kỵ lên đến đỉnh điểm như Hoan hỉ kỳ oan, Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật

theo diễn tiến ghen tuông => thù hận => trả thù (vu oan giá họa, giết người

thỏa hận) Ở Đầu tóc mượn, sự ghen tuông, nghi kỵ chỉ mới được trả giá bằng

mười năm lưu lạc của chị em họ Hồng Rất may là cuối cùng hạnh phúc cũng

Trang 38

Đêm rốt của người tội tử hình của Lê Hoằng Mưu là một tiểu thuyết dày

gần 300 trang So với tác phẩm cùng thể loại thời bấy giờ, đây hẳn là một cuốn tiểu thuyết có độ dài tầm cỡ Xoay quanh cái trục tình yêu - oan nghiệp - thù hận là câu chuyện tình của hai người con gái với hai tên cướp hoàn lương Cái chết bi thảm của cả bốn nhân vật chính cho thấy tác giả đã lìa xa lối kết thúc có hậu Đáng chú ý nhất trong tiểu thuyết này là những đoạn miêu tả tâm

lý nhân vật khá sâu sắc, dù vẫn chưa thoát khỏi những ràng buộc đạo lý, lễ giáo thông thường Quan niệm về thiện và ác của tác giả vẫn rất rõ ràng, rành mạch, theo kiểu “oan oan tương báo” Tuy vậy, so với những tiểu thuyết

đương thời, Đêm rốt của người tội tử hình vẫn là một trong số không nhiều

tác phẩm đạt đến một trình độ viết văn khá hơn cả Nó đã vượt ra khỏi lối kể chuyện thông thường, dàn trải để tập trung đào sâu vào khía cạnh tâm lý nhân vật và ít nhiều thu được thành công nhất định

Người bán ngọc là một tác phẩm có sức hấp dẫn lớn đối với người đọc

Bố cục theo kiểu tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, nhưng kỹ thuật dàn dựng với những tình tiết thắt mở (chi tiết Tô Thường Hậu giả gái vào dinh, kế giết người không tay của Hồ Quốc Thanh ), những đoạn miêu tả tâm lý độc đáo và sâu sắc (cảnh Tô Thường Hậu trong lốt phụ nữ ngồi ngắm Hồ phu nhân say ngủ, tâm trạng dằn vặt của Hồ Quốc Thanh mấy phen muốn giết vợ

nhưng vì mê nhan sắc mà chùn tay ) lại mang dáng dấp của tiểu thuyết

phương Tây Một câu chuyện tình ngang trái hay một tấn bi kịch tình yêu éo

le, bi thảm dường như đã vượt xa khỏi cái vòng kim cô rao giảng luân lý đã

trói buộc rất nhiều nhà văn lúc bấy giờ Tình yêu trong tiểu thuyết Người bán ngọc không còn là thứ tình yêu đơn giản, trong sạch, yêu như để tuyên truyền

cho một bài học đạo đức mà là một thứ tình yêu đượm màu sắc xác thịt, vượt lên trên mọi lễ giáo cang thường Nếu không có những đoạn văn biền ngẫu xen lẫn những đoạn văn vần cổ lỗ thì chắn hẳn Người bán ngọc dưới bàn tay

“chế giảm” của Lê Hoằng Mưu sẽ đạt được những giá trị khác hẳn Một đại

Trang 39

văn sĩ Trung Hoa từng nói rằng: Tiểu thuyết quan hệ với xã hội như không khí, như đồ ăn Xem tiểu thuyết chánh đáng cũng như dùng đồ ăn tốt, hít không khí sạch, xem tiểu thuyết dâm tà, cũng như dùng đồ ăn độc, hít không khí bẩn dơ [74]

Theo Lê Hoằng Mưu: “Trước kia nói bên Pháp, các đằng học thức cũng trách những tiểu thuyết nói về phong tình lỏa lúa, nhởm nhúm, e trẻ xem mà nhiễm lấy thói hư Sau đây nhiều bậc tài ba lại phản đối hữu lý rằng: nên hư ở giống nòi, chẳng ở nơi xem tiểu thuyết Lại rằng: bọn thiếu niên thường tọc mạch, hay moi mó những gì cha mẹ cấm nhặt mà coi, vì ý nghĩ, không biết trong có gì lạ lùng ngộ nghĩnh lắm sao cha mẹ mới ra lịnh cấm Làm gì cũng moi móc, lén lút dối cha mẹ đặng mới nghe Mà hễ coi đặng rồi lại lén coi hoài cấm sao cho đặng Chi bằng để thong thả mà coi Nhà biết dạy con, cứ lấy đó làm gương mà dạy con, gương nên học đòi, thói hư xa lánh Có thấy cái xấu mới biết cái kia tốt Bằng giấu cái xấu, cứ đem cái tốt mà chỉ dạy trẻ mãi đi, thì trẻ có biết sao là tốt Vì vậy, bấy giờ bên Pháp dầu là đại gia thế phiệt cũng không cấm ngăn con cháu, tự ý muốn đọc chi thì đọc, cha mẹ cần dẫn giải, dạy biểu cho mình thôi Ấy là kế hay đó

“Nước ta từ có chữ Quốc ngữ thông dụng ra thì tất cả các văn nhơn trong nước, đều ham trau dồi về lối quốc văn, nào lối văn xuôi, tả chơn, lối thi, ca, từ, phú v.v đều dùng rặt quốc văn cả” [32]

Trước khi mở đầu (giới thiệu tác phẩm dịch Tiền căn báo hậu của Trần

Chánh Chiếu), tôi xin nhắc lại cho độc giả nhớ rằng nước nào thời nấy, không những Đông - Tây, bề ăn lẽ ở, thói tục khác nhau thôi, cho đến lễ nghi cũng khác hẳn nhau, phong hóa cũng khác hẳn; nên truyện nào người phương Âu làm ra, thì có nhiều lối không hạp ý người Đông nghe lãng nhách, bởi cớ, tôi nhất định đạo ý mà diễn là nhiều, tùy văn chương mà dịch là phần ít, độc giả khá thứ cho Ấy là ý tôi muốn mượn lấy tích diễn dịch ra làm một bộ tiểu

Trang 40

thuyết Annam, dẫu không đặng hạp lễ nghi phong hóa Annam, thì cũng không có chỗ phản [36]

Dưới thời phong kiến, các đô thị chủ yếu đóng vai trò trung tâm hành chính Từ khi Pháp xâm lược, đô thị không chỉ là thủ phủ về chính trị, kinh tế, văn hóa mà còn là nơi tập trung quân đội, nhà kho, các nhà máy, xí nghiệp, trung tâm buôn bán, trường học, bệnh viện Nhìn chung, những quan hệ giao

lưu với nước ngoài đã làm thay đổi hẳn bộ mặt đô thị Việt Nam Nơi đây mở

ra rất nhiều cơ hội về việc làm, cũng có nghĩa là cuộc mưu sinh có nhiều hứa hẹn Trong khi đó, ở những vùng nông thôn, công cuộc bình định và nạn chiếm hữu đất đai đã khiến đời sống người nông dân trở nên điêu đứng Không còn tư liệu sản xuất, nông dân từ các vùng nông thôn nghèo khó, xác

xơ phải trôi dạt về đô thị tìm kế mưu sinh Thay vì các mối quan hệ họ hàng, làng xóm - những quan hệ mà con người đem tình nghĩa để ứng xử với nhau, trong môi trường đô thị náo loạn, xô bồ, đồng tiền trở thành thước đo của mọi giá trị Thêm vào đó, xã hội mới bày ra rất nhiều cạm bẫy khiến người ta dễ mắc phải Con người tha hóa trong môi trường đô thị đồng thời con người cũng là nạn nhân của một đời sống thị thành nhiều cạm bẫy được thể hiện trong các tiểu thuyết Quốc ngữ đầu thế kỷ XX

2.2 Con ng ười tự nhiên với bản năng tính dục

Để tạo cơ sở cho những lập luận sau đây, chúng tôi xin lạm bàn về vấn

đề tính dục Tính dục là một hiện tượng văn hóa Nó không phải là nguyên

mẫu của cơ chế sinh học, mà chỉ là cái cơ chế sinh học kia đã được thiết chế văn hóa nhào nặn, định hình lại trong những không - thời gian cụ thể Nói

cách khác, quan niệm và hành vi tính dục của đều là con người thuộc mỗi dân tộc khác biệt, tại mỗi thời điểm khác nhau cũng khác nhau Trong từng bối

cảnh lịch sử, môi trường văn hóa cụ thể thì tính dục mới thể hiện ra với đầy

đủ đặc điểm riêng của nó Do đó, chỉ đến đầu thế kỷ XX, chỉ riêng tại miền

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w