Giáo trình môn học Kinh tế phát triển gồm có 5 chương với những nội dung cơ bản sau: Các nước đang phát triển và sự lựa chọn con đường phát triển; tổng quan về tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội; cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; các nguồn lực với phát triển kinh tế; phát triển các ngành kinh tế; đường lối và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Mời các bạn cùng tham khảo.
Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển
2.1 Sự khác biệt giữa các nước đang phát triển
- Quy mô của đất nước: Quy mô về diện tích và dân số
Lịch sử phát triển của các nước đang phát triển chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ nguồn gốc lịch sử khác nhau, dẫn đến những xu hướng phát triển đa dạng Cấu trúc kinh tế, giáo dục và xã hội của các quốc gia này thường phản ánh mô hình của các nước từng có quyền cai trị họ trong quá khứ.
Khu vực nhà nước và khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển Mặc dù cả hai khu vực này thường tồn tại song song, nhưng tầm quan trọng tương đối của chúng lại phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế và chính trị riêng của từng quốc gia.
2.2 Những đặc điểm chung của các nước đang phát triển
Mức sống thấp thể hiện qua thu nhập hạn chế, thiếu nhà ở, sức khỏe kém, ít hoặc không được giáo dục, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao, cùng với tuổi thọ và thâm niên lao động ngắn.
- Năng suất thấp: Thiếu vật chất và đội ngũ quản lý có kinh nghiệm
- Tốc độ tăng dân số cao và gánh nặng người ăn theo
- Mức thất nghiệp và bán thất nghiệp cao
- Phụ thuộc đáng kể vào SX nông nghiệp và xuất khẩu hàng sơ chế
- Ngoài ra các nước đang PT còn có một điểm chung về sự thống trị sự phụ thuộc và tính dễ bị tổn thương
2.3 Sự cần thiết lựa chọn con đường phát triển
Các nước đang phát triển đối mặt với những đặc trưng cơ bản tạo ra trở ngại cho sự phát triển, dẫn đến vòng luẩn quẩn của nghèo khổ Điều này làm gia tăng khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển Để vượt qua tình hình này, các nước đang phát triển cần thực hiện các biện pháp hiệu quả nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn đó.
Trong quá trình phát triển, các quốc gia đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, tập trung vào việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Một số nước đã nhầm lẫn giữa phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế, dẫn đến việc ưu tiên tăng trưởng nhanh chóng Ngược lại, một số quốc gia lại chú trọng vào công bằng xã hội như một yếu tố then chốt của phát triển Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra ba mô hình phát triển cụ thể, mỗi mô hình mang những đặc trưng riêng và kết cục khác nhau.
Năng suất thấp Tỷ lệ tích lũy nhỏ
Trình độ kỹ thuật lạc hậu Thu nhập thấp
Hình 1: Vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ
TỔNG QUAN VỀ SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1 Bản chất của tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế XH
1.1 Khái niệm về tăng trưởng phát triển kinh tế và phát triển bền vững a Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế đề cập đến sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm, và được thể hiện qua cả quy mô lẫn tốc độ.
Thu nhập của nền kinh tế có thể được thể hiện dưới dạng vật chất hoặc giá trị, với các chỉ tiêu GDP và GNI phản ánh tổng thu nhập của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định GDP (Tổng sản phẩm nội địa) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng sản xuất trong một lãnh thổ, thường là một năm Trong khi đó, GNI (Thu nhập quốc dân) đo lường tổng thu nhập của một quốc gia, không tính thuế gián thu và khấu hao, và phản ánh sức mạnh kinh tế của quốc gia Ví dụ, lợi nhuận của công ty Mỹ tại Anh được tính vào GNI của Mỹ và GDP của Anh, nhưng không tính vào GNI của Anh hay GDP của Mỹ.
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, tuy nhiên, ngày nay, yêu cầu về tăng trưởng không chỉ dừng lại ở con số mà còn phải gắn liền với tính bền vững và đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng cao.
Phát triển kinh tế là quá trình gia tăng toàn diện của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm sự tăng trưởng về quy mô sản lượng, cải thiện cơ cấu kinh tế và tiến bộ xã hội.
Trong khái niệm phát triển bao hàm 3 vấn đề cơ bản sau:
Mức độ gia tăng sản lượng quốc gia và sự tăng trưởng sản xuất, cùng với sự cải thiện mức sống của người dân trong một khoảng thời gian nhất định, là những yếu tố quan trọng phản ánh sự phát triển kinh tế bền vững của một quốc gia.
Mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia được thể hiện qua tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản lượng quốc dân Tỷ lệ này càng cao thì mức độ phát triển kinh tế của quốc gia càng lớn.
Thứ ba, sự tiến bộ trong cơ cấu xã hội và đời sống của người dân thể hiện qua mức thu nhập thực tế ngày càng tăng và sự công bằng xã hội được cải thiện, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.
Phát triển bền vững là khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai, theo tuyên bố tại Hội nghị Rio de Janeiro năm 1992.
Hội nghị thƣợng đỉnh về Phát triển bền vững, Johannesburg, Nam Phi, 2002 đã xác định:
Phát triển bền vững là quá trình kết hợp hài hòa ba yếu tố chính: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
1.2 Đánh giá sự phát triển kinh tế a Nhóm chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế
Tổng giá trị sản xuất (GO) hay Gross Output là tổng giá trị của các sản phẩm và dịch vụ vật chất được tạo ra trong lãnh thổ của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là trong vòng một năm.
Trong đó: C: Chi phí về lao động quá khứ
V: Chi phí về lao động sống M: Giá trị thặng dƣ
Trong đó: - VAi : Là giá trị gia tăng ngành i
- ICi : Là chi phí trung gian của ngành i
Tổng quan về tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
Bản chất của tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội
1.1 Khái niệm về tăng trưởng phát triển kinh tế và phát triển bền vững a Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm, và được thể hiện qua cả quy mô lẫn tốc độ.
Thu nhập của nền kinh tế được thể hiện dưới dạng vật chất hoặc giá trị, với các chỉ tiêu như GDP và GNI GDP (Tổng sản phẩm nội địa) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng sản xuất trong một lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Trong khi đó, GNI (Thu nhập quốc dân) xác định tổng thu nhập của một quốc gia trong cùng thời gian, phản ánh sức mạnh kinh tế của quốc gia đó GNI tương tự như GNP (Tổng sản lượng quốc gia), nhưng không trừ thuế gián thu và khấu hao Ví dụ, lợi nhuận của công ty Mỹ hoạt động tại Anh được tính vào GNI của Mỹ và GDP của Anh, nhưng không tính vào GNI của Anh hay GDP của Mỹ.
Tăng trưởng kinh tế phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, tuy nhiên, ngày nay, yêu cầu về tăng trưởng không chỉ dừng lại ở con số mà còn phải gắn liền với tính bền vững và chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Phát triển kinh tế cần phải đảm bảo cả yếu tố bền vững để mang lại lợi ích lâu dài cho xã hội.
Phát triển kinh tế là quá trình nâng cao mọi khía cạnh của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm sự tăng trưởng về quy mô sản lượng, cải thiện cơ cấu kinh tế và tiến bộ xã hội.
Trong khái niệm phát triển bao hàm 3 vấn đề cơ bản sau:
Mức độ gia tăng sản lượng quốc gia và sự tăng trưởng trong sản xuất cùng với mức sống của người dân trong một khoảng thời gian nhất định là yếu tố quan trọng để đánh giá sự phát triển kinh tế.
Mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia, đặc biệt là tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản lượng quốc dân, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển Tỷ lệ ngành công nghiệp càng cao trong tổng sản phẩm quốc dân thì mức độ phát triển kinh tế của quốc gia càng lớn.
Sự tiến bộ về cơ cấu xã hội và đời sống xã hội, cùng với mức tăng thu nhập thực tế của người dân, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao công bằng xã hội tại quốc gia Điều này góp phần vào phát triển bền vững, đảm bảo mọi người đều được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế.
Phát triển bền vững là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Điều này được nhấn mạnh tại Hội nghị Rio de Janeiro năm 1992.
Hội nghị thƣợng đỉnh về Phát triển bền vững, Johannesburg, Nam Phi, 2002 đã xác định:
Phát triển bền vững là quá trình kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố quan trọng: tăng trưởng kinh tế, cải thiện vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
1.2 Đánh giá sự phát triển kinh tế a Nhóm chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế
Tổng giá trị sản xuất (GO) hay Gross Output là tổng giá trị của các sản phẩm và dịch vụ vật chất được tạo ra trong lãnh thổ của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Trong đó: C: Chi phí về lao động quá khứ
V: Chi phí về lao động sống M: Giá trị thặng dƣ
Trong đó: - VAi : Là giá trị gia tăng ngành i
- ICi : Là chi phí trung gian của ngành i
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị của các sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được tạo ra từ hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ xác định.
Cách 1: Theo phương diện tiêu dùng
C: Là các khoản tiêu dùng của các hộ gia đình
I : Là tổng đầu tƣ cho sản xuất của các doanh nghiệp G: Là chi tiêu của chính phủ
X-M: Là phần xuất nhập khẩu ròng trong năm Cách 2 : Theo phương diện thu nhập
GDP = Cp + Ip + T Trong đó:
Cp: Các khoản các hộ gia đình đƣợc quyền tiêu dùng
Ip: Các khoản doanh nghiệp tiết kiệm dùng để đầu tƣ
T: Chi tiêu của nhà nước từ nguồn thuế
GDP = W + In + R + PR + Dp + TI
Trong đó : W : Là thu nhập của người lao động dưới hình thức tiền công và tiền lương
In: Là thu nhập của người có tiền cho vay R: Là thu nhập của người có đất cho thuê
P R : Là Thu nhập của người có vốn
DP: Là khấu hao vốn cố định
TI: Là thuế kinh doanh Cách 3: Theo phương diện sản xuất
GDP = GOi – ICi Trong đó : GO i : Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
IC i : Là chi phí trung gian của
- Tổng thu nhập quốc dân (GNI): Chỉ tiêu này thay cho chỉ tiêu GNP
GNI, hay Tổng thu nhập quốc gia, là tổng giá trị thu nhập từ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng do công dân một quốc gia tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu này không chỉ bao gồm thu nhập trong nước mà còn tính đến các khoản thu nhập từ nước ngoài và chuyển giao ra nước ngoài, phản ánh sự hình thành và phân phối lại thu nhập.
- Thu nhập quốc dân (NI)
NI là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới được tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, phản ánh tổng thu nhập quốc dân sau khi đã loại trừ khấu hao vốn cố định (Dp) của nền kinh tế.
- Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI)
Là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ thuần trong một thời kỳ nhất định
NDI được tính bằng tổng NI và chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài Chênh lệch này được xác định bằng cách lấy thu chuyển nhượng hiện hành từ nước ngoài vào trừ đi chi chuyển nhượng hiện hành ra nước ngoài.
- Thu nhập bình quân đầu người
Chỉ tiêu GDP và GNI không chỉ phản ánh tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập quốc gia mà còn được sử dụng để đánh giá mức thu nhập bình quân đầu người của mỗi quốc gia thông qua các chỉ số GDP/người và GNI/người Đồng thời, chúng cũng giúp đánh giá cơ cấu kinh tế của quốc gia.
Các vấn đề cơ bản trong phát triển kinh tế
3.1 Phát triển con người và phát triển kinh tế
Con người là tài sản quý giá nhất của mỗi quốc gia, và mục tiêu phát triển là tạo ra môi trường thuận lợi để mọi người có thể sống lâu, khỏe mạnh và sáng tạo.
Phát triển con người bao gồm hai khía cạnh chính: thứ nhất là hình thành và phát triển các năng lực cá nhân, thứ hai là ứng dụng những năng lực đã tích lũy vào các hoạt động kinh tế và chính trị.
Do đó mục đích của phát triển là mở rộng mọi sự lựa chọn của con người chứ không phải chỉ có thu nhập
3.2 Vấn dề bất bình đẳng và phát triển kinh tế
Đường cong Lorenz thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm dân số và tỷ lệ phần trăm thu nhập của họ trong tổng thu nhập quốc dân, giúp phân tích sự phân phối thu nhập trong xã hội.
- Vẽ đồ thị : T39 GGT nghề
Trục hoành trong biểu đồ thể hiện phần trăm cộng dồn của dân số được sắp xếp theo thứ tự thu nhập tăng dần, cho thấy ví dụ điểm 20% chỉ ra 20% nghèo khổ nhất trong tổng dân số Trong khi đó, trục tung biểu thị tỷ lệ thu nhập mà mỗi phần trăm dân số nhận được; như trong hình, điểm I cho thấy 20% nghèo nhất chỉ nhận được 10% tổng thu nhập.
Đường kẻ chéo 45 độ trong hình minh họa cho thấy rằng tại bất kỳ điểm nào trên đường này, tỷ lệ phần trăm thu nhập nhận được tương ứng chính xác với tỷ lệ phần trăm số người có thu nhập.
Điểm giữa của đường chéo biểu thị rằng 50% thu nhập được phân phối cho 50% dân số, trong khi điểm ắ cho thấy 75% thu nhập được phân phối cho 75% dân số Đường chéo này đại diện cho sự phân phối thu nhập “hoàn toàn công bằng”.
Đường Lorenz thể hiện mối quan hệ định lượng giữa tỷ lệ phần trăm dân số có thu nhập và tỷ lệ phần trăm tổng thu nhập trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Khoảng cách giữa đường chéo 45 độ và đường Lorenz phản ánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Khi đường Lorenz càng xa đường 45 độ, mức độ bất bình đẳng càng tăng, dẫn đến việc phần trăm thu nhập mà người nghèo nhận được sẽ giảm.
Đường Lorenz là công cụ đo lường mức độ bình đẳng, nhưng có hạn chế trong việc lượng hóa mức độ bất bình đẳng Khi so sánh hai phân phối thu nhập, nếu đường Lorenz của chúng cắt nhau, không thể xác định được sự bất bình đẳng một cách rõ ràng.
Hệ số Gini là một chỉ số phổ biến trong nghiên cứu thực nghiệm, được tính toán dựa trên đường Lorenz Nó thể hiện tỷ lệ giữa diện tích nằm giữa đường Lorenz và đường 45 độ so với diện tích tam giác dưới đường 45 độ.
- Công thức tính: Diện tích (A)
Hệ số Gini (G) Diện tích (A+B)
Hệ số Gini, một chỉ số đo lường sự phân phối thu nhập, thường nằm trong khoảng từ 0 đến 1 (0 < G < 1), nhưng Ngân hàng Thế giới (WB) chỉ ra rằng nó thực tế thay đổi trong khoảng hẹp hơn từ 0,2 đến 0,6 Đặc biệt, các nước có thu nhập thấp thường có hệ số Gini dao động từ 0,3 đến 0,6.
+ Những nước thu nhập cao hệ số Gini biến động từ 0,2 đến 0,4
Hệ số Gini là công cụ đo lường mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, nhưng chỉ phản ánh tổng quát và có thể không đánh giá đầy đủ các vấn đề cụ thể trong thực tế.
3.3 Vấn đề nghèo khổ và phát triển kinh tế
Nghèo đói là tình trạng mà một bộ phận dân cư không thể đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống, như thực phẩm, nước sạch, và chỗ ở Những nhu cầu này được xã hội công nhận và có thể thay đổi tùy theo mức độ phát triển của từng quốc gia.
Nghèo đói thể hiện sự không thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, ở, giáo dục, văn hoá, y tế, đi lại, giao tiếp
Nhu cầu cơ bản được đo lường một cách định lượng và phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể của từng khu vực, quốc gia và địa phương trong những thời kỳ nhất định.
- Về thu nhập :Người được coi là nghèo có sự khác nhau giữa các khu vực trên thế giới cụ thể nhƣ sau:
+ Các nước LDCs: thu nhập < 1 $/người/ngày
+ Các nước châu Mỹ và vùng Cariber: thu nhập < 2 $/người/ngày
+ Các nước Đông Âu: thu nhập < 4 $/người/ngày
+ Các nước công nghiệp phát triển: thu nhập < 14,4 $/người/ngày
Nghèo đói, hay còn gọi là nghèo khổ, được định nghĩa là tình trạng không đáp ứng được các nhu cầu cơ bản tối thiểu, bao gồm lương thực, thực phẩm và dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe.
- Về phương diện tri thức
Nghèo đói (nghèo khổ) có nghĩa là không được hưởng đầy đủ về giáo dục, các thông tin khoa học, kỹ thuật
Tóm lại: Người nghèo là những người bị thiệt thòi về phương diện sức khoẻ, thu nhập, tri thức về cuộc sống bền vững
Mở rộng: Đo lường nghèo đói
Người được coi là nghèo nếu thu nhập trung bình < 2 $/người/ngày
Người được coi là cực nghèo nếu thu nhập trung bình < 1 $/người/ngày
Khu vực miền núi & hải đảo, người được coi là nghèo nếu TNTB < 80000đ/tháng
Khu vực nông thôn đồng bằng,người được coi là nghèo nếu TNTB < 100000đ/tháng
Khu vực thành thị, người được coi là nghèo nếu thu nhập TB < 150 000đ/tháng
Ngoài ra người ta còn chia nghèo đói thành 02 ngưỡng:
+ Ngưỡng nghèo 1: Số tiền tối thiểu cho hàng hoá lương thực