Giáo trình môn học Kinh tế học vĩ mô - Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Trình độ: Cao đẳng nghề (Phần 1) trình bày khái quát về kinh tế học và kinh tế học vĩ mô, tổng sản phẩm và tổng thu nhập quốc dân, tổng cầu và chính sách tài khóa. Giáo trình được biên soạn cho những học sinh, sinh viên cao đẳng lần đầu tiên tiếp cận với kinh tế học vĩ mô.
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẢNG NGHỀ YÊN BÁI
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: KINH TẾ HỌC VĨ MÔ NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ : CAO ĐẲNG NGHỀ
Tháng 8 năm 2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương I:
1 Khái niệm về kinh tế học và những đặc trưng của kinh tế học 7
2.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô 8
3.1 Ba chức năng cơ bản của một nền kinh tế học 10
3.2 Tổ chức kinh tế của một nền kinh tế hỗn hợp 11
Chương II
1 Tổng sản phẩm quốc dân, thước đo thành tựu của nền kinh tế 24
2.2.1 Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm 31
2.2.2 Phương pháp xác định GDP theo luồng chi phí 33
2.2.3 Phương pháp xác định GDP theo giá trị gia tăng 34
Trang 33.2 Trong nền kinh tế đóng 36
Chương III
1 Tổng cầu và sản lượng cân bằng của nền kinh tế 40
1.2 Cách xây dựng hàm tổng cầu và xác định sản lượng cân bằng
1.2.1 Trong mô hình kinh tế giản đơn
1.2.2 Trong mô hình kinh tế đóng có sự tham gia của Chính
2.2 Cách thức và tác động của chính sách tài khóa 53
2.3 Vấn đề thêm hụt ngân sách và các biện pháp tài trợ 55
4.2 Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 74
Trang 41.3 Sự cân bằng thị trường lao động 79
Chương VI
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu những sự lựa chọn mà các cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ và toàn xã hội đưa ra khi họ phải đối mặt với sự khan hiếm
về nguồn lực Theo truyền thống, kinh tế học được chia thành hai phân ngành: Kinh
tế học vi mô và Kinh tế học vĩ mô Đối với sinh viên khối kinh tế, đây là các môn học
cơ sở, cung cấp khung lý thuyết cho các môn định hướng ngành và kinh tế ngành
Cuốn sách “ Giáo trình: Kinh tế học vĩ mô” được biên soạn cho những học
sinh, sinh viên cao đẳng lần đầu tiên tiếp cận với kinh tế học vĩ mô Mục tiêu của cuốn sách là cung cấp cho người học những thuật ngữ, nguyên lý và các mô hình kinh
tế vĩ mô, giúp cho người học vận dụng lý thuyết để lý giải các hiện tượng, các vấn đề kinh tế vĩ mô trong thực tiễn đời sống hằng ngày
Cuốn sách này bao gồm 6 chương:
Chương 1: Khái quát về kinh tế học và kinh tế học vĩ mô
Chương 2: Tổng sản phẩm và thu nhập quốc dân
Chương 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
Chương 4: Tiền tệ và chính sách tiền tệ
Chương 5: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
Chương 6: Thất nghiệp và lạm phát
Trong quá trình biên soạn cuốn sách này, bên cạnh việc dựa vào chương trình khung do Tổng cục dạy nghề ban hành, tác giả đã kế thừa, tham khảo cuốn đề cương bài giảng Kinh tế học vĩ mô của trường Cao đẳng Công nghiệp Hà nội, và tham khảo
nhiều giáo trình: Kinh tế học vĩ mô; Bài tập nguyên lý kinh tế vĩ mô của Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân Chúng tôi tin rằng cuốn sách này sẽ giúp ích cho người học trong quá trình học tập, nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết kinh tế học vĩ mô Mặc dù
đã hết sức cẩn trọng trong quá trình biên soạn nhưng chắc chắn cuốn sách sẽ không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi mong muốn nhận được sự đóng góp và phê bình từ người đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bài tập Nguyên Lý kinh tế vĩ mô - Trường đại học kinh tế quốc dân
2 Đề cương bài giảng môn: kinh tế vĩ mô - Trường cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên
3 Giáo trình Nguyên lý kinh tế vĩ mô - Trường đại học Kinh tế quốc dân
4 Giáo trình Kinh tế vĩ mô - Bộ giáo dục và đào tạo
Trang 7Chương I KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC VÀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
1.Khái niệm về kinh tế học và những đặc trưng của kinh tế học
1.1 Khái niệm về kinh tế học
Kinh tế học là môn khoa học ra đời cách đã hơn hai thế kỷ Từ đó đến nay, kinh
tế học trải qua nhiều giai đoạn phát triển và cũng đã xuất hiện nhiều định nghĩa Sau đây là một trong những định nghĩa thông dụng về kinh tế học được nhiều nhà kinh tế hiện nay thống nhất:
Kinh tế học là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hóa cần thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội
Các vấn đề kinh tế xuất hiện do chúng ta mong muốn nhiều hơn so với cái mà chúng ta nhận được Chúng ta muốn một thế giới an toàn và hòa bình, chúng ta muốn
có không khí trong lành và nguồn nước sạch, chúng ta muốn sống lâu và sống khỏe, chúng ta muốn có trường đại học, bệnh viện hiện đại, chúng ta muốn sống trong căn
hộ tiện nghi Mỗi thứ mà chúng ta nhận được luôn bị hạn chế bởi thời gian và thu nhập Kết quả là chúng ta luôn có những mong muốn không thế được thỏa mãn Cái
mà tổng thể xã hội có thể nhận được bị giới hạn bởi các nguồn lực sản xuất mà chúng
ta có thể sử dụng Các nguồn lực này bao gồm tài nguyên thiên nhiên, lao động và tri thức công nghệ cùng các công cụ và thiết bị mà chúng ta tạo ra Việc chúng ta thất bại trong việc thỏa mãn mong muốn đó là do khan hiếm nguồn lực và vì vậy chúng ta phải lựa chọn phương án tối ưu nhất trong các phương án sẵn có Và kinh tế học là môn học nghiên cứu những sự lựa chọn mà các cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ và toàn xã hội đưa ra khi họ đối mặt với sự khan hiếm
Kinh tế học được chia ra thành hai phân ngành lớn: Kinh tế học vĩ mô và Kinh
tế học vi mô Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu hoạt động của toàn bộ tổng thể rộng lớn của nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, sự biến động của giá cả, việc làm, lạm phát của cả nước, cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái Trong khi đó, Kinh tế vi mô lại nghiên cứu sự hoạt động của các tế bào trong nền kinh tế là các doanh nghiệp riêng lẻ
Kinh tế học cũng có thể được chia thành kinh tế học Thực chứng và Chuẩn tắc tùy
vào cách thức sử dụng Kinh tế học thực chứng là việc mô tả và phân tích các sự kiện,
những mối quan hệ trong nền kinh tế và để trả lời những câu hỏi: “Là bao nhiêu?”
“Là gì?” “Như thế nào?” Ví dụ: Hiện nay tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu? Nếu lạm phát
giảm đi 2% thì thất nghiệp có tăng lên không và tăng lên bao nhiêu? Còn Kinh tế học chuẩn tắc lại đề cập đến mặt đạo lý được giải quyết bằng sự lựa chọn và để trả lời câu
hỏi : “Nên làm gì?” Ví dụ: Tỷ lệ thất nghiệp cao đến độ nào thì chấp nhận được? Có
nên tăng chi phí quốc phòng hay không Khi nghiên cứu các vấn đề kinh tế thường được tiến hành từ kinh tế học thực chứng rồi chuyển sang kinh tế học chuẩn tắc
Trang 81.2 Những đặc trưng của kinh tế học
Đặc trưng cơ bản và quan trọng của kinh tế học gắn liền với tiền đề nghiên
cứu và phát triển của môn học này Đó là việc kinh tế học nghiên cứu sự khan hiếm của các nguồn lực một cách tương đối với nhu cầu kinh tế, xã hội Nếu có thể sản xuất với số lượng vô hạn về mọi hàng hóa, thì sẽ không có hàng hóa kinh tế và cũng không cần tiết kiệm hay nghiên cứu kinh tế học
Đặc trưng quan trọng thứ hai của kinh tế học là tính hợp lý của nó Nghĩa là,
khi phân tích hoặc lý giải một sự kiện kinh tế nào đó, cần phải dựa trên những giả thiết nhất định về diễn biến của sự kiện kinh tế này Ví dụ: Nếu muốn phân tích xem người tiêu dùng muốn mua thứ gì, với số lượng bao nhiêu, kinh tế học giả định rằng người tiêu dùng tìm cách mua được nhiều hàng hóa nhất với thu nhập có hạn của mình Tương tự như vậy, khi xem xét xem doanh nghiệp sản xuất cái gì, với số lượng
là bao nhiêu và bằng cách nào, kinh tế học giả định rằng doanh nghiệp tìm cách tối đa hóa thu nhập của mình với những rằng buộc nhất định về các yếu tố sản xuất Tuy nhiên, tính chất hợp lý của những giả thiết này chỉ có ý nghĩa tương đối
Đặc trưng phổ biến thứ ba của kinh tế học là: Kinh tế học là bộ môn nghiên
cứu về mặt lượng Việc thể hiện các kết quả nghiên cứu kinh tế bằng những con số có tầm quan trọng đặc biệt Khi phân tích kết quả của các hoạt động kinh tế, nếu chỉ nhận định nó tăng lên hay giảm đi thì chưa đủ, mà còn phải xác định xem sự thay đổi
đó là bao nhiêu
Đặc trưng thứ tư của kinh tế học là: tính toàn diện và tính tổng hợp của nó,
tức là khi xem xét các hoạt động và sự kiện kinh tế phải đặt nó trong mối liên hệ với các hoạt động và sự kiện kinh tế khác trên phương diện một nước, thậm chí trên phương diện nền kinh tế thế giới Ví dụ: Để chống lạm phát, Ngân hàng TW của một nước quyết định giảm mức cung tiền Kết quả là tổng cầu giảm làm cho không chỉ giá
cả giảm mà cả sản lượng và việc làm giảm Mặt khác, do giảm mức cung tiền làm cho đồng tiền nước này tăng giá, hàng xuất khẩu tăng giá tương đối và hàng nhập khẩu giảm giá, làm cho xuất khẩu ròng giảm dẫn đến sản lượng và việc làm giảm, trong khi
đó các nước có quan hệ buôn bán với nước này lại tăng được xuất khẩu làm cho việc làm và sản lượng của họ lại tăng
Đặc trưng cuối cùng của kinh tế học là: các kết quả nghiên cứu chỉ xác định
được ở mức trung bình vì các kết quả này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau và không thể xác định tất cả các yếu tố này
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học
2.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu hoạt động tổng thể nền kinh tế Hằng ngày tại
Trang 9tháng nào đó, hàng ngàn doanh nghiệp có thể tăng giá cho các sản phẩm của mình, trong khi nhiều doanh nghiệp khác lại giảm giá Để hiểu được sự thay đổi giá cả nói chung, kinh tế học vĩ mô sẽ xem xét sự biến động của mức giá trung bình chứ không phải giá cả của từng mặt hàng hay từng nhóm hàng Tương tự như vậy, trong kinh tế học vĩ mô người ta quan tâm tới tổng sản lượng của nền kinh tế, chứ không phải sản lượng của từng loại hàng riêng lẻ
Như vậy đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô là những xu hướng chung của nền kinh tế chứ không phải các vấn đề liên quan đến từng đơn vị kinh tế riêng lẻ Các câu hỏi lớn của đời sống kinh tế được kinh tế vĩ mô tìm cách giải quyết : Điều gì làm cho một nước giàu hơn hay nghèo đi theo thời gian? Công dân của một nước sẽ tiết kiệm được bao nhiêu cho tương lai? Tại sao mức giá ở một số nước có xu hướng tăng nhanh trong khi ở các nước khác giá cả lại giảm hay ổn định và tăng chậm? Một nội dung lớn trong kinh tế học vĩ mô là nghiên cứu các chính sách của chính phủ có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động chung của nền kinh tế Đa số các nhà kinh tế cho rằng các chính sách có ảnh hưởng rộng khắp và có thể dự tính được chiều hướng chung của mức sản xuất, việc làm, mức giá cả chung và thương mại quốc tế Nhiều nhà kinh tế lại cho rằng chính phủ nên chủ động sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để cải thiện thành tựu kinh tế vĩ mô
Nói tóm lại: Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước
những vấn đề kinh tế và xã hội cơ bản như: Tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hóa và tư bản, sự phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội
2.2 Phương pháp nghiên cứu kinh tế học
Khác với khoa học tự nhiên, khi nghiên cứu các hiện tượng kinh tế người ta thường áp dụng phương pháp quan sát Điều đó là do các hiện tượng kinh tế hết sức phức tạp, thường xuyên biến động và chịu nhiều yếu tố tác động Khi nghiên cứu cần phải thu thập các số liệu Muốn biết xem lạm phát có xảy ra không, mức độ như thế nào, thì cần phải biết được số liệu về sự tăng lên của mức giá nói chung, nền kinh tế đang tăng trưởng hay suy thoái thì phải có số liệu về GNP, GDP
Sau khi đã có số liệu, cần phải tiến hành phân tích với các phương pháp phân tích thích hợp Đời sống kinh tế luôn diễn ra hết sức phức tạp với hàng ngàn loại giá
cả và hàng triệu hộ gia đình, với vô vàn các mối quan hệ chằng chịt và đan xen với nhau Và để nghiên cứu được vấn đề kinh tế mà chúng ta quan tâm, chúng ta phải sử dụng một phương pháp quan trọng đó là phương pháp trừu tượng hóa, bóc tách các nhân tố không định nghiên cứu (cố định các nhân tố này) để xem xét các mối quan hệ kinh tế giữa những biến số cơ bản Khi phân tích trừu tượng như vậy, việc sử dụng các phương pháp thống kê có ý nghĩa rất lớn
Trang 10Sau đó cần rút ra những kết luận, đối chiếu với thực tế, phát hiện ra những điểm bất hợp lý, đề ra các giả thiết mới, rồi lại kiểm nghiệm bằng thực tế để rút ra những kết luận sát thực tế hơn với đời sống kinh tế
Tóm lại: Các nhà kinh tế học cố gằng nghiên cứu đối tượng của mình với tính
khách quan của một nhà khoa học Cũng giống như các ngành khoa học khác, các nhà kinh tế quan sát các sự kiện, phát triển các lý thuyết và thu thập dữ liệu để kiểm định chúng Việc nghiên cứu kinh tế học có một đóng góp rất lớn vào nhận thức của bạn về thế giới và nhiều vấn đề xã hội của nó Tiếp cận nghiên cứu kinh tế với một tư duy
mở sẽ giúp bạn hiểu được các sự kiện mà bạn chưa từng biết trước đó
3 Tổ chức kinh tế của một nền kinh tế hỗn hợp
3.1 Ba chức năng cơ bản của một nền kinh tế
Tất cả các nền kinh tế quốc dân đều phải thực hiện ba chức năng cơ bản sau:
Chức năng thứ nhất: Sản xuất ra những hàng hóa và dịch vụ nào, với số lượng
bao nhiêu Cơ sở của chức năng này là sự khan hiếm nguồn lực so với nhu cầu của xã hội Nếu một nước có số lượng không hạn chế các nguồn lực kinh tế, thì không cần phải giải quyết vấn đề là xem sản xuất cái gì, tức là không có nhu cầu sản xuất đúng những thứ cần thiết hay những thứ mà mọi người muốn có Khi đó trong xã hội sẽ thừa thãi những hàng hóa không dùng đến gây ra một sự lãng phí rất lớn Tuy nhiên, trong thực tế không bao giờ nguồn lực là vô hạn, chỉ có nhu cầu của con người là ngày càng tăng lên Nhiệm vụ chủ yếu mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần phải giải quyết đó là, giảm đến mức tối thiểu sự lãng phí trong việc sản xuất ra những sản phẩm không cần thiết và tăng cường đến mức tối đa việc sản xuất ra những sản phẩm cần thiết Nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này là nền kinh tế đã sử dụng có hiệu quả nguồn lực của mình để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội
Chức năng thứ hai: Các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra như thế nào
Việc lựa chọn đúng đắn vấn đề này thông thường cũng đồng nghĩa với việc sử dụng
số lượng đầu vào ít nhất để sản xuất ra một số lượng sản phẩm nhất định
Chức năng thứ ba: Hàng hóa và dịch vụ được sản xuất cho ai hay sản phẩm
quốc dân được phân chia như thế nào cho các thành viên của xã hội
Ba chức năng trên là những vấn đề mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải thực hiện, bất kế hình thức hay trình độ của nó phát triển như thế nào Tất cả các chức năng này đều mang tính lựa chọn, bởi vì các nguồn lực cần thiết để sản xuất ra sản phẩm đều khan hiếm Sở dĩ có sự lựa chọn là do tồn tại rất nhiều các cách sử dụng nguồn lực khác nhau trong việc sản xuất ra những sản phẩm khác nhau Cũng như có nhiều phương pháp khác nhau để sản xuất ra sản phẩm cụ thể và có nhiều phương pháp khác nhau để phân phối các hàng hóa và thu nhập cho các thành viên trong xã hội
Trang 11Cách thức để giải quyết ba vấn đề cơ bản nêu trên, hay thực hiện ba chức năng
cơ bản của một nền kinh tế tùy thuộc vào lịch sử, hệ tư tưởng và chính sách của từng đất nước
3.2 Tổ chức kinh tế của nền kinh tế hỗn hợp
Các hệ thống kinh tế khác nhau có những cách tổ chức kinh tế khác nhau để thực hiện ba chức năng cơ bản của nền kinh tế Trong lịch sử phát triển của loài người cho thấy có các kiểu tổ chức kinh tế : Tập quán truyền thống; chỉ huy, thị trường, hỗn hợp Dù theo hình thức nào thì các nền kinh tế đều phải thực hiện tốt ba chức năng cơ bản của mình
Nền kinh tế tập quán truyền thống tồn tại dưới thời công xã nguyên thủy Trong
xã hội này vấn đề sản xuất cái gì, cho ai, như thế nào được thực hiện theo thói quen, theo kinh nghiệm, theo tập tục được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác
Nền kinh tế chỉ huy (kế hoạch hóa tập trung), tại đó chính phủ đóng vai trò quyết định tất cả trong việc sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai Việc sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm không theo nhu cầu thực tế mà theo kế hoạch tập trung thống nhất của nhà nước Chính vì vậy sẽ dẫn đến việc lãng phí khi sử dụng nguồn lực để sản xuất ra những sản phẩm không cần thiết, chưa đáp ứng được tối đa nhu cầu của xã hội
Nền kinh tế thị trường, trong đó ba chức năng cơ bản được thực hiện thông qua
cơ chế thị trường Trong nền kinh tế này, cá nhân người tiêu dùng, doanh nghiệp tác động lẫn nhau trên thị trường để xác định một hệ thống giá cả thị trường, lợi nhuận, thu nhập Các doanh nghiệp sẽ sản xuất ra những mặt hàng (cái gì) đem lại lợi nhuận cao nhất, bằng những kỹ thuật sản xuất rẻ nhất (như thế nào) và tiêu dùng của các hộ gia đình (cho ai) được xác định bởi tiền công có được nhờ lao động và lợi tức thu được nhờ sở hữu tài sản của mình
Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế kết hợp các nhân tố thị trường, chỉ huy và truyền thống Trong nền kinh tế này các thể chế công cộng và thể chế tư nhân đều kiểm soát kinh tế Thể chế tư nhân kiểm soát thông qua bàn tay vô hình của cơ chế thị trường, còn thể chế công cộng kiểm soát thông qua những mệnh lệnh và những chính sách nhằm kích thích về tài chính và tiền tệ của chính phủ Trong nền kinh tế hỗn hợp các thể chế kinh tế được chia thành bốn nhóm: người tiêu dùng, doanh nghiệp, chính phủ, người nước ngoài
Người tiêu dùng: là tất cả các cá nhân và hộ gia đình, họ mua hàng hóa và dịch
vụ để thỏa mãn những nhu cầu về thực phẩm, quần áo, dịch vụ, đi lại Những hàng hóa này được gọi là hàng tiêu dùng, vì chúng được cá nhân và gia đình tiêu dùng cho đời sống Cần phân biệt giữa hàng tiêu dùng với hàng tư bản (máy móc, thiết bị ) là hàng hóa mua về để sản xuất ra những hàng hóa khác thường được Chính phủ và các doanh nghiệp mua Người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn trong việc quyết định sản
Trang 12xuất cái gì trong nền kinh tế, vì họ mua và tiêu dùng phần lớn sản phẩm của nền kinh
tế Mặc dù người tiêu dùng không gặp nhau để thống nhất mua cái gì nhưng người ta vẫn thấy rằng hành vi tiêu dùng của ho bị thúc đẩy bởi một số yếu tố chung nào đó và
có thể dự báo một cách đáng tin cậy về hành vi mua hàng của họ Yếu tố chung nhất,
dễ nhận thấy nhất của người tiêu dùng là luôn muốn thỏa mãn tối đa nhu cầu của họ với số thu nhập có hạn Điều này lý giải tại sao khi đứng trước một loại hàng hóa bán
ra với những mức giá khác nhau người tiêu dùng sẽ lựa chọn hàng hóa với giá thấp
để thỏa mãn các nhu cầu khác
Các doanh nghiệp: Người sản xuất hàng hóa và dịch vụ tư nhân giữ một vai
trò quan trọng trong vấn đề quyết định sản xuất cái gì và như thế nào Tầm quan trọng của vai trò này tùy thuộc vào vị trí quan hệ của các nhà sản xuất tư nhân và Chính phủ trong từng nước Yếu tố cơ bản nhất nhằm giải thích cho phương thức hoạt động của các nhà sản xuất tư nhân trong nền kinh tế, dù đó là nông trại gia đình, hộ kinh doanh thương nghiệp hay doanh nghiệp công nghiệp là mục đích kiếm được lợi nhuận cao nhất Nguyện vọng này không phải lúc nào cũng đúng với tất cả các nhà sản xuất nhưng nhìn chung, đó là giả định hợp lý để dùng cho phân tích kinh tế về hành vi của các nhà sản xuất tư nhân
Trong nền kinh tế chỉ bao gồm hai tác nhân kinh tế chủ yếu đó là người tiêu dùng và các doanh nghiệp (Chính phủ không can thiệp vào đời sống kinh tế) được gọi
là nền kinh tế thị trường tự do Trong nền kinh tế này các hộ gia đình mua hàng tiêu dùng và bán các yếu tố sản xuất Giá cả ở thị trường hàng hóa được xác định trên cơ
sở cân đối mức cầu của người tiêu dùng và mức cung của hãng kinh doanh, còn giá cả
ở thị trường yếu tố sản xuất được xác định trên cơ sở can đối mức cầu của các hãng kinh doanh và mức cung của ngườ tiêu dùng Trong nền kinh tế thị trường, mọi lợi ích riêng của từng cá nhân trong xã hội sẽ được cơ chế thị trường dẫn dắt đến chỗ đạt được lợi ích tốt đẹp nhất cho tất cả mọi người Tuy nhiên cơ chế thị trường có những hạn chế và thất bại mà đòi hỏi phải có sự can thiệp quản lý của Chính phủ
Chính phủ: Trong nền kinh tế hỗn hợp Chính phủ (Từ Trung ương tới địa
phương) vừa là người mua hàng hóa dịch vụ cũng vừa là nhà sản xuất Ngoài những nhiệm vụ thông thường: công an, tòa án, giáo dục, y tế (người mua) Chính phủ còn cung cấp các dịch vụ khác: vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước Với tư cách là người sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ Chính phủ tác động vào việc sản xuất ra cái gì, như thế nào giống như các doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, với tư cách là thể chế công cộng Chính phủ chi phối nền kinh tế phức tạp hơn các doanh nghiệp tư nhân
Chính phủ tham gia vào nền kinh tế với ba chức năng chủ yếu: Chức năng hiệu quả;
Chức năng công bằng; Chức năng ổn định để chi phối điều tiết nền kinh tế
Chức năng hiệu quả: Với cơ chế thị trường, nền kinh tế sẽ gặp phải tình trạng
cạnh tranh không hoàn hảo hay có nhân tố độc quyền Một người cạnh tranh không
Trang 13nào đó, thì ta sẽ thấy giá cả thường cao hơn mức hiệu quả, làm méo mó nhu cầu và tạo ra lợi nhuận siêu ngạch cho nhà độc quyền Chính vì vậy chính phủ có thể đề ra những đạo luật chống độc quyền Một trường hợp nữa cho thấy mặt không hiệu quả của cơ chế thị trường, một doanh nghiệp hoặc cá nhân nào đó gây ra những tác động tới xã hội nhưng lại không phải trả phí hay nhận đúng số tiền cần được trả cho những tác động này Ví dụ, một nhà máy điện chạy bằng than nhả khói làm ô nhiễm môi trường xung quanh, mà không phải trả lệ phí cho những người xung quanh đó Để hạn chế tác động bên ngoài này, Chính phủ đề ra các luật lệ điều tiết nhằm ngăn chặn các tác động tiêu cực Ngoài ra Chính phủ còn phải quản lý các ngành then chốt của nền kinh tế, trợ giá cho những mặt hàng thiết yếu : xăng dầu, điện nước
Chức năng công bằng: Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa được phân phối
cho những người có nhiều tiền mua nhất chứ không phải theo nhu cầu lớn nhất Như vậy, ngay cả khi nền kinh tế hoạt động có hiệu quả thì nó cũng có thể dẫn tới sự bất bình đẳng rất lớn trong xã hội Người ta có nhiều tiền không phải chi do lao động giỏi, lao động chăm chỉ mà cũng có thể là do trúng sổ số, hưởng thừa kế Do vậy, cần phải
có chính sách phân phối lại thu nhập: sử dụng thuế lũy tiến, đánh thuế vào người giầu cao hơn người nghèo, xây dựng hệ thống hỗ trợ thu nhập nhằm giúp đỡ cho những người già, người tàn tật xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Có nghĩa
là biện pháp thu thuế sẽ lấy đi một số hàng hóa của một nhóm người, thu hẹp khả năng mua sắm của họ Và việc chi tiêu tiền thuế cho các quỹ trơ cấp, bảo hiểm sẽ tăng thêm việc tiêu dùng hàng hóa dịch vụ của một nhóm người khác Chính phủ làm rất tốt vai trò này và do đó ảnh hưởng tới việc phân phối cho ai trong nền kinh tế
Chức năng ổn định: Ngoài hai chức năng trên Chính phủ còn có chức năng là
duy trì sự ổn định kinh tế Lịch sử phát triển cho thấy rằng, có những thời kỳ nền kinh
tế phát triển rất mạnh, lạm phát tăng vọt nhưng cũng có thời kỳ suy thoái nặng nề với thất nghiệp tăng cao Đó chính là những bước thăng trầm của chu kỳ kinh doanh Chính phủ có thể sử dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để tác động đến sản lượng, việc làm và lạm phát nhằm giảm bớt những giao động của chu kỳ kinh doanh
Một nền kinh tế nếu chỉ có ba tác nhân kinh tế trên thì đó là một nền kinh tế đóng Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều có nền kinh tế mở có
thêm sự tham gia của tác nhân kinh tế nữa : Người nước ngoài
Người nước ngoài: Các doanh nghiệp, chính phủ nước ngoài tác động đến các
hoạt động kinh tế diễn ra ở một nước thông qua việc mua bán hàng hóa và dịch vụ, vay mượn, viện trợ, đầu tư nước ngoài Một số nước có nền kinh tế khá mở thì người nước ngoài có vai trò quan trọng, bởi vì xuất khẩu, nhập khẩu, vay nợ, viện trợ và đầu
tư nước ngoài tác động đáng kể đến quy mô, cơ cấu và thành tựu kinh tế của những nước này
Tóm lại: Nền kinh tế hỗn hợp là một nền kinh tế trong đó cơ chế thị trường
xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, còn Chính phủ thì điều tiết thị
Trang 14trường thông qua các chương trình thuế, chi tiêu và ban hành các luật lệ Mô hình
“kinh tế hỗn hợp” của từng nước có thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ can thiệp của Chính phủ đối với thị trường
4 Một số khái niệm liên quan cơ bản
4.1 Yếu tố sản xuất
Nhìn chung cái mà con người có là các yếu tố sản xuất, còn cái mà con người cần là các sản phẩm, là hàng hóa, là dịch vụ Quá trình biến đổi các yếu tố sản xuất thành những thứ mà con người cần gọi là quá trình sản xuất Yếu tố sản xuất là các đầu vào của quá trình sản xuất và được chia thành ba nhóm:
Đất đai (theo nghĩa rộng) bao gồm toàn bộ đất dùng cho canh tác, xây dựng
nhà ở, đường sá và tài nguyên thiên nhiên: than, quặng, cây lấy gỗ
Lao động: là năng lực của con người được sử dụng theo một mức độ nhất định
trong quá trình sản xuất Người ta đo lao động bằng thời gian của người lao động sử dụng trong quá trình sản xuất
Tài sản cố định: là những hàng hóa như máy móc, đường sá, nhà xưởng được
sản xuất ra để rồi lại được sử dụng để sản xuất ra những hàng hóa khác Việc tích lũy các tài sản này trong nền kinh tế có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất
Trong nền kinh tế hiện đại, nhiều nhà kinh tế cho rằng quản lý và công nghệ cũng là đầu vào, một yếu tố sản xuất
4.2.Giới hạn khả năng sản xuất
Nguồn lực là luôn luôn khan hiếm, nhưng nhu cầu của con người ngày càng tăng Để đáp ứng được nhu cầu của xã hội, nền kinh tế phải sử dụng có hiệu quả nguồn lực khan hiếm Ta hãy xét một nền kinh tế với số lượng các yếu tố sản xuất và trình độ công nghệ cho trước (có giới hạn) Khi sản xuất cái gì, như thế nào nền kinh
tế này phải quyết định xem các yếu tố hạn chế này được phân phối như thế nào giữa hàng ngàn, hàng vạn các loại hàng hóa khác nhau có thể được sản xuất
Ví dụ: Một nền kinh tế với nguồn lực hạn chế của mình chỉ sản xuất hai loại hàng hóa : thực phẩm và quần áo Ta có bảng 1.1 trình bày những khả năng thay thế khác nhau giữa quần áo và thực phẩm
Trang 15Khả năng Thực phẩm (tấn) Quần áo (bộ)
Bảng 1.1: Những khả năng sản xuất thay thế khác nhau
Biểu diễn những khả năng này trên đồ thị và nối những điểm này lại ta được đường giới hạn khả năng sản xuất
Hình 1.1
L ¬ng thùc
QuÇn ¸o
6,0 4,5 3,0 1,5
7,5 A
B C D E F
N
*
M
*
Trong hình 1.1, dọc theo đường từ A đến B,C xã hội ngày càng có ít quần áo
và nhiều lương thực hơn Việc chuyền quần áo thành lương thực được thực hiện thiện thông qua việc chuyển tài nguyên được sử dụng trong việc sản xuất ra quần áo sang sản xuất lương thực Trong ví dụ này ta đã ngầm định là nền kinh tế đang ở trên đường giới hạn khả năng sản xuất của mình ( sử dụng hết tài nguyên) và khi đó ta nói nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả Như vậy, một nền kinh tế có hiệu quả khi nó không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Những điểm nằm ở phía trong đường giới hạn khả năng sản xuất (như điểm M ) là điểm thể hiện nền kinh tế chưa đạt hiệu quả, là do sử dụng không hết nguồn tài nguyên hoặc do một yếu tố nào đó về mặt công nghệ, về chính trị hoặc độc
Trang 16quyền, khiến không thể kết hợp một cách có hiệu quả các yếu tố đầu vào của sản xuất Những điểm nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất (như điểm N) là không thể đạt được của nền kinh tế vì không đủ nguồn lực
Xét trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn một năm thì mỗi nền kinh
tế đều có một đường giới hạn khả năng sản xuất tiềm tàng của mình Theo thời gian,
số lượng các yếu tố sản xuất và công nghệ có thể thay đổi, nên bản thân đường giới hạn khả năng sản xuất có thể thay đổi dịch chuyển ra ngoài hoặc vào trong
4.3 Chi phí cơ hội
Do các nguồn tài nguyên là khan hiếm nên xã hội hoặc từng con người luôn luôn phải lựa chọn xem sẽ tiến hành những hoạt động cụ thể gì trong những hoạt động
có thể được tiến hành: đọc một quyển truyện hay, xem một bộ phim truyền hình, nghỉ
hè hay đi làm thêm để kiếm tiền Trong những trường hợp này, khi chúng ta quyết định làm một việc gì đó, tức là đã bỏ mất cơ hội để làm các việc khác và khả năng
việc khác đó mất đi được gọi là chi phí cơ hội
Ví dụ: Giả sử bạn có 300 nghìn đồng, bạn có thể mua một chiếc quạt bàn hoặc mua một đôi giày mới Nếu bạn quyết định mua chiếc quạt bàn thì ta có thể nói rằng chi phí cơ hội của chiếc quạt bàn là đôi giày mới
Khái niệm chi phí cơ hội có thể được minh họa thông qua giới hạn khả năng sản xuất Trở lại đường giới hạn khả năng sản xuất ở hình 1.1 Giả sử nước này muốn sản xuất thêm quần áo từ 4,5 nghìn bộ ở điểm D lên 6 nghìn bộ ở điểm C Chi phí cơ hội của quyết định này là gì? Đó là lượng lương thực bị mất đi để có nguồn lực sản xuất thêm quần áo Và chi phí cơ hội của 1,5 nghìn bộ quần áo chính là 1 tấn lương thực Chi phí cơ hội của một quyết định là giá trị hàng hóa hoặc dịch vụ bỏ qua khi chúng ta lựa chọn quyết định đó và bỏ qua các quyết định khác trong điều kiện khan hiếm các yếu tố thực hiện quyết định
Khái niệm chi phí cơ hội cho thấy rằng các chi phí tính bằng số tiền thực tế bỏ
ra không phải luôn là một số phản ánh chính xác các chi phí thực tế Ví dụ, với quyết định đi học đại học, chi phí của việc đi học được tính toán như thế nào Nếu bạn quyết định đi học đại học, bạn có thế tính toán toàn bộ chi phí ăn ở, học phí, đi lại trong một năm là 5.000.000đ Vậy đã hết chi phí của việc học đại học trong một năm? Chưa hết chúng ta phải tính cả chi phí cơ hội của việc đi học đại học, đó chính là thời gian thay vì học bạn có thể đi làm kiếm tiền Nếu bạn đi làm có thể kiếm được 5.000.000đ/năm thì như vậy chi phí cho việc đị học lúc này của bạn không còn là 5.000.000đ nữa mà là 10.000.000đ
4.4 Một số khái niệm khác
a) Tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế
Trang 17Tổng sản phẩm quốc dân (GDP) là giá trị của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ mà một quốc gia sản xuất ra trong một thời gian nhất định Tổng sản phẩm quốc dân là thước đo cơ bản hoạt động của nền kinh tế
Tổng sản phẩm tính theo giá hiện hành gọi là tổng sản phẩm danh nghĩa (GNPn)
Tổng sản phẩm tính theo giá cố định gọi là tổng sản phẩm thực tế (GNPr) Tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa thường tăng nhanh hơn tổng sản phẩm quốc dân thực tế Sự khác nhau đó là do giá cả của hàng hóa và dịch vụ tăng lên, nói cách khác là do có lạm phát Còn tổng sản phẩm quốc dân thực tế tăng lên là do hai nguyên nhân chủ yếu sau:
- Số lượng nguồn lực (tư bản, lao động, tài nguyên) trong nền kinh tế đã tăng lên
- Hiệu quả sử dụng nguồn lực đó cũng tăng lên
Tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc dân thực tế gọi là tỷ lệ tăng trưởng Hay nói cách khác, khi nói tăng trưởng kinh tế là đã hàm ý tăng tổng sản phẩm quốc dân thực
tế (GNPr)
b) Chu kỳ kinh tế (kinh doanh) và sự thiếu hụt sản lượng
Nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển tiêu biểu thường phải chống đối với vấn đề chu kỳ kinh tế Liên quan đến chu kỳ kinh tế là sự đình trệ sản xuất, thất nghiệp và lạm phát
Chu kỳ kinh tế là sự giao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng tăng lên của sản lượng tiềm năng
Độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là sự thiếu hụt sản lượng
Nghiên cứu sự thiếu hụt sản lượng giúp cho việc tìm ra những biện pháp chống lại chu kỳ kinh tế nhằm ổn định kinh tế
c) Tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát
Khi một nền kinh té có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một nguyên nhân là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Như vậy tăng trưởng nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm đi Bên cạnh đó, khi tăng trưởng cao thì lạm phát lại có xu hướng tăng lên và ngược lại Muốn giảm lạm phát trong thời kỳ ngắn thì các chính sách kinh tế đều hướng vào việc thắt chặt chi tiêu, giảm tổng cầu và do đó nền kinh tế phải trải qua một thời kỳ đình đốn, suy thoái và thất nghiệp Mặt khác, trong thời kỳ ngắn lạm phát càng cao thì thất nghiệp sẽ giảm Các mối quan hệ tăng trưởng-lạm phát, lạm phát-thất nghiệp, tăng trưởng-thất nghiệp đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả chưa có câu trả lời rõ ràng, nhưng các mối quan hệ này là căn cứ để chính phủ đưa ra các chính sách kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ cụ thể của nền kinh tế
Trang 185.Hệ thống kinh tế vĩ mô
Có nhiều cách mô tả hoạt động của nền kinh tế Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế được xem như là một hệ thống-gọi là hệ thống kinh tế vĩ mô Hệ thống này được mô tả đặc trưng bởi ba yếu tố: Đầu vào, đầu ra và hộp đen kinh tế vĩ mô Các yếu tố đầu vào bao gồm những tác động từ bên ngoài như thời tiết, dân số, chiến tranh hay những tác động của các chính sách của nhà nước nhằm điều chỉnh hộp đen kinh tế vĩ mô để đạt được các muc tiêu đã định trước Các yếu tố đầu ra bao gồm: sản lượng, việc làm, giá cả Là kết quả hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô Yếu tố trung tâm của hệ thống kinh tế vĩ mô là hộp đen kinh tế vĩ mô Hoạt động của hộp đen như thế nào sẽ quyết định chất lượng của các biến đầu ra Hai lực lượng quyết định hoạt động của hộp đen là tổng cung (AS) và tổng cầu (AD)
5.1.Tổng cung (AS)
Tổng cung bao gồm tổng khối lượng sản phẩm quốc dân mà các doanh nghiệp
sẽ sản xuất và bán ra trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất đã cho Lượng tổng cung phụ thuộc vào quyết định của các doanh nghiệp trong việc sử dụng lao động và các đầu vào khác để sản xuấ ra hàng hóa, dịch vụ bán cho các tác nhân trong nền kinh tế Tổng cung liên quan đến sản lượng tiềm năng Sản lượng tiềm năng là sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất trong điều kiện toàn dụng nhân công mà không gây nên lạm phát Tổng cung phụ thuộc vào giá cả và chi phí Khi giá cả và chi phí sản xuất thấp, các doanh nghiệp có thể sản xuất ít hơn sản lượng tiềm năng nhưng với mức giá cao hơn thì ngược lại Tuy nhiên các doanh nghiệp luôn muốn tăng sản lượng của mình để đạt được sản lượng tiềm năng Do vậy ngoài giá cả và chi phí, tổng cung còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố làm tăng sản lượng tiềm năng : lao động, vốn, tài nguyên, công nghệ
Đường biểu diễn tổng cung trên đồ thị là đường có hướng dốc lên về phía phải Cần phân biệt đường tổng cung trong ngắn hạn và trong dài hạn Trong dài hạn, tổng cung là một đường song song với trục tung và cắt trục hoành ở mức sản lượng tiềm năng Điều này cho thấy, trong dài hạn chi phí đầu vào đã điều chỉnh thì các doanh nghiệp không còn động lực để tăng sản lượng Giá cả sẽ tăng lên nhanh chóng để đáp
ứng với sự thay đổi của tổng cầu Do đó mà đường cung dài hạn sẽ thẳng đứng (hình
1.2a)
Trong ngắn hạn tổng cung là một đường ban đầu tương đối nằm ngang, khi vượt qua điểm sản lượng tiềm năng đường tổng cung sẽ dốc ngược lên Điều này nói lên rằng, ở dưới mức sản lượng tiềm năng, một sự thay đổi nhỏ về giá cả đầu ra sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tăng nhanh sản lượng để đáp ứng nhu cầu đang tăng lên Sở dĩ họ làm như vậy vì trong khoảng thời gian ngắn đứng trước giá đầu vào cố
định họ có thể đồng thời tăng sản lượng và tăng giá để thu lợi nhuận.(hình 1.2b)
Trang 19Đường biểu diễn tổng cầu trên đồ thị có độ dốc xuống Điều này hàm ý khi mức giá chung giảm đi, khối lượng chi tiêu của toàn bộ nền kinh tế có xu hướng tăng lên Nguyên nhân dẫn đến điều đó là do khi giá cả giảm, thu nhập thực tế của công chúng tăng lên, tiêu dùng thực tế sẽ cao hơn, tổng cầu do đó cao hơn
Hình 1.3
P
Q AD
5.3 Cân bằng tổng cung, tổng cầu
Nếu ghép hai mặt của nền kinh tế - mặt cung và mặt cầu lại với nhau bằng cách đưa hai đồ thị AD và AS vào cùng một hệ trục tọa độ, ta sẽ thấy hai đường đó
Trang 20cắt nhau tại môt điểm E Điểm E gọi là điểm cân bằng của nền kinh tế mà tại đó tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp sản xuất và bán ra đúng bằng khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế có nhu cầu sử dụng Tại điểm cân bằng tổng cung bằng tổng cầu, nói cách khác toàn bộ nhu cầu của nền kinh tế được các doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ Giao điểm của của hai đường AS và AD xác định mức giá cân bằng P0 và sản lượng cân bằng Y0
Cần phân biệt sự di chuyển theo đường tổng cung, tổng cầu và sự dịch chuyển toàn bộ hai đường đó trong hệ trục
Sự di chuyển theo đường AS và AD biểu thị những thay đổi trong tổng mức cung hoặc tổng mức cầu tùy thuộc vào giá cả thay đổi
Sự dịch chuyển toàn bộ đường AS hoặc AD biểu thị những thay đổi của tổng cung hoặc tổng cầu phụ thuộc vào các tác động của các biến số khác Đường tổng cầu dịch chuyển sang trái hoặc sang phải chủ yếu tùy thuộc vào tác động của các biến chính sách như thuế, chi tiêu của chính phủ, lãi suất Đường tổng cung dịch chuyển sang trái hoặc sang phải phụ thuộc vào các tác động của lao động, tài nguyên, kỹ thuật
và chi phí đầu vào khác Khi nghiên cứu tác động của yếu tố nào đó đến AD hoặc AS người ta thường cố định những nhân tố khác làm cho việc phân tích trở nên dễ dàng hơn
6 Mục tiêu và công cụ trong nền kinh tế vĩ mô
6.1 Các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một đất nước thường được đánh giá theo 3 dấu hiệu chủ yếu: ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội Sự ổn định kinh tế là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh tế cấp bách như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết tốt những vấn
đề dài hạn hơn, có liên quan đến tằng trưởng kinh tế Công bằng trong xã hội vừa là vấn đề xã hội, vừa là vấn đề kinh tế Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng, các chính sách kinh tế vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:
a) Mục tiêu sản lượng:
- Đạt được sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng
- Tốc độ tăng trưởng cao và bền vững
b) Mục tiêu việc làm
- Tạo được nhiều việc làm tốt
- Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp (duy trì ở mức thất nghiệp tự nhiên)
c) Mục tiêu ổn định giá cả
Trang 21- Ổn định tỷ giá hối đoái
- Cân bằng cán cân thanh toán
e) Phân phối công bằng
Một số nước coi mục tiêu phân phối công bằng là một trong các mục tiêu quan trọng Tuy nhiên, khi nghiên cứu các mục tiêu trên chúng ta cần lưu ý:
Những mục tiêu trên đây thể hiện trạng thái lý tưởng trong đó sản lượng đạt ở mức toàn dụng nhân công, lạm phát thấp, cán cân thanh toán cân bằng và tỷ giá hối đoái là không đổi Trong thực tế, các chính sách kinh tế vĩ mô chỉ có thể tối thiểu hóa các sai lệch thực tế so với trạng thái lý tưởng
Các mục tiêu trên thường bổ sung cho nhau, trong chừng mực chúng hướng vào việc đảm bảo tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế Song trong một số trường hợp có thể xuất hiện các mâu thuẫn, xung đột cục bộ Lúc đó các nhà hoạch định chính sách cần phải lựa chọn thứ tự ưu tiên và đôi khi phải chấp nhận một sự hy sinh nào đó trong một thời kỳ ngắn
Về mặt dài hạn, thứ tự ưu tiên giải quyết các mục tiêu trên đây cũng khác nhau giữa các nước Ở các nước đang phát triển tăng trưởng thường có vị trí ưu tiên số 1 Tuy nhiên nhiều nước đã thành công trong việc giải quyết đồng thời các mục tiêu kinh
tế trong quá trình phát triển của mình
6.2 Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu
Để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã nêu, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau Mỗi chính sách lại có những công cụ riêng biệt
có thể tác động tới đầu tư và sản lượng về mặt dài hạn Về mặt ngắn hạn chính sách tài khóa có tác động đến sản lượng thực tế và lạm phát phù hợp với mục tiêu ổn định kinh tế Về mặt dài hạn chính sách tài khóa có thể tác động điều chỉnh cơ cấu kinh tế giúp cho sự tăng trưởng và phát triển lâu dài
b) Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ chủ yếu nhằm tác động đến đầu tư tư nhân hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn Chính sách tiền tệ có hai công cụ chủ yếu là lượng cung về tiền và lãi suất Khi Ngân hàng trung ương thay đổi lượng cung
về tiền thì lãi suất thay đổi tăng hoặc giảm sẽ tác động tới đầu tư tư nhân, do vậy ảnh
Trang 22hưởng tới tổng cầu và sản lượng Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến GNP thực tế về mặt ngắn hạn, song do tác động đến đầu tư nên nó cũng ảnh hưởng lớn đến GNP trong dài hạn
c) Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập bao gồm hàng loạt các biện pháp mà Chính phủ sử dụng nhằm tác động trực tiếp đến tiền công giá cả để kiềm chế lạm phát Chính sách này sử dụng nhiều loại công cụ, từ các công cụ có tính chất cứng rắn như giá, lương, những chỉ dẫn chung để ấn định tiền công và giá cả, những quy tắc pháp lý rằng buộc sự thay đổi giá cả và tiền công .đến những công cụ mềm dẻo hơn như việc hướng dẫn, khuyến khích bằng thuế thu nhập
d) Chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế đối ngoại trong các nước thị trường mở là nhằm ổn định tỷ giá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận được Chính sách này bao gồm các biện pháp giữ cho hối đoái cân bằng, các quy định về hàng rào thuế quan bảo hộ mậu dịch và cả những biện pháp tài chính và tiền tệ khác, tác động vào hoạt động xuất khẩu
Trên đây là tập hợp các chính sách và công cụ chính sách chủ yếu mang sắc thái lý thuyết phù hợp với nền kinh tế thị trường đã phát triển Trong thực tế, biểu hiện và sự vận dụng các chính sách này rất đa dạng đặc biệt là ở các nước có nền kinh
tế đang phát triển Trong các chương sau chúng ta sẽ nghiên cứu
Câu 1: Tổng cầu là gì? Vì sao đường tổng cầu là đường dốc xuống?
Câu 2: Phân biệt tổng cung dài hạn và tổng cung ngắn hạn?
Câu 3: Bạn nhận được 1 triệu đồng trong trò chơi cá cược bóng đá Bạn có thể chọn cách tiêu tiền ngay hoặc để dành sau một năm bằng cách gửi tiết kiệm với lãi suất 10% Chi phí cơ hội của việc tiêu ngay 1 triệu đồng là gì?
Câu 4: Theo bạn, trong các mục tiêu kinh tế vĩ mô mục tiêu nào là quan trọng nhất đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Thứ tự ưu tiên các mục tiêu là như thế nào?
Câu 5: Công ty do bạn quản lý đã đầu tư 5 tỷ đồng để đưa ra thị trường một sản phẩm mới, nhưng quá trình chưa hoàn tất Trong một cuộc họp gần đây, các nhân viên bán hàng của bạn thông báo rằng sự xuất hiện của các sản phẩm cạnh tranh sẽ làm giảm doanh thu dự kiến của sản phẩm mới xuống còn 3 tỷ đồng Nếu chi phí để hoàn tất quá trình triển khai và chế tạo sản phẩm là 1 tỷ đồng, thì bạn có nên tiếp tục phát triển sản phẩm đó nữa không? Mức chi phí cao nhất mà bạn có thể trả để hoàn tất quá
Trang 23a) Gia đình bạn cần đưa ra quyết định có nên mua một chiếc ô tô mới hay không
b) Một đại biểu quốc hội cần quyết định chi tiêu bao nhiêu cho các công viên quốc gia
c) Một giám đốc công ty đang cân nhắc xem có nên khai trương một nhà máy mới không
d) Một vị giáo sư cần quyết định sử dụng bao nhiêu thời gian để chuẩn bị bài giảng
Câu 7: Bạn đang cân nhắc xem có nên đi nghỉ mát hay không Hầu hết chi phí của kỳ nghỉ (vé máy bay, khách sạn, tiền lương không được nhận) được tính bằng tiền, nhưng lợi ích của kỳ nghỉ lại có tính chất tâm lý Bạn so sánh các lợi ích và chi phí này như thế nào?
Trang 24Chương II
TỔNG SẢN PHẨM VÀ THU NHẬP QUỐC DÂN
Khi nghiên cứu các mục tiêu kinh tế vĩ mô chúng ta đã coi sản lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá thành tựu của một nền kinh tế Mức sản lượng cao hay thấp có liên quan đến mức giá cả, việc làm, lãi suất và những biến số kinh tế vĩ mô khác Vì vậy, chương này sẽ trình bày khái niệm, phương pháp tính toán, đo lường tổng sản phẩm và thu nhập quốc dân và mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tổng sản phẩm, thu nhập quốc dân và các đồng nhất hình thức kinh tế vĩ mô cơ bản
1.Tổng sản phẩm quốc dân, thước đo thành tựu của nền kinh tế
1.1 Các khái niệm cơ bản
b) Khái niệm tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Khái niệm : Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất trong một thời kỳ (thường lấy là 1 năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình
Như vậy, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động kinh tế do công dân của một nước tiến hành trong một thời kỳ nhất định Đó chính là con số đạt được khi dùng thước đo tiền tệ tính toán giá trị của các hàng hóa khác nhau mà các hộ gia đình, các hãng kinh doanh, Chính phủ mua sắm và tiêu dùng trong một thời kỳ nhất định Những hàng hóa và dịch vụ đó là các hàng hóa
và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình; thiết bị, nhà xưởng mua sắm và xây dựng lần đầu của các hãng kinh doanh; nhà mới xây dựng; hàng hóa và dịch vụ
mà các cơ quan quản lý nhà nước mua sắm và phần chênh lệch giữa hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu
Dùng thước đo tiền tệ để đo lường giá trị sản phẩm là thuận lợi vì thông qua giá
cả thị trường chúng ta có thể cộng giá trị của các loại hàng hóa có hình thức, nội dung vật chất khác nhau : cam, chuối, xe hơi, tầu du hành vũ trụ Nhờ vậy, có thể đo lường kết quả sản xuất của toàn bộ nền kinh tế chỉ bằng một con số, một tổng lượng duy nhất
b)Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Khái niệm : Tổng sản phẩm quốc nội đo lường giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, trong thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)
Như vậy, GDP là kết quả của hàng triệu triệu hoạt động kinh tế xảy ra bên trong lãnh thổ của đất nước Những hoạt động này có thể do công ty, doanh nghiệp của công dân nước đó hay công dân nước ngoài sản xuất tại nước đó Nhưng GDP
Trang 25Trong thực tế, một hãng kinh doanh của nước ngoài sở hữu một nhà máy ở nước ta, dưới hình thức bỏ vốn đầu tư hay liên doanh với các công ty ở nước ta, thì một phần lợi nhuận của họ sẽ chuyển về nước họ để chi tiêu hay tích lũy Ngược lại, công dân nước ta sinh sống và làm việc ở nước ngoài cũng gửi một phần thu nhập về nước Tuy vậy phần lớn các khoản thu nhập chu chuyển giữa các nước không phải là thu nhập từ lao động mà là thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cổ phần, lợi nhuận Khi hạch toán người ta thường dùng thuật ngữ “thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài” để chỉ phần chênh lệch giữa thu nhập của công dân nước sở tại ở nước ngoài và công dân nước ngoài ở nước sở tại Đây là dấu hiệu để nhận biết mối quan hệ giữa GNP và GDP mà chúng ta sẽ nghiên cứu
Để hiểu một cách thấu đáo khái niệm GDP cần phải lưu ý tới nội dung chuyền tải trong các cụm từ:
“GDP là giá trị thị trường”: hàm ý là mọi hàng hóa và dịch vụ tạo ra trong nền
kinh tế đều được quy về giá trị tính bằng tiền hay tính theo giá cả của hàng hóa được người mua và người bán chấp nhận trên thị trường hàng hóa và dịch vụ
“Tất cả” : GDP tìm cách tính toán tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất
và bán hợp pháp trên thị trường GDP không tính tới các giá trị giao dịch ngầm
“Cuối cùng” : Nhấn mạnh rằng GDP chỉ bao gồm những hàng hóa và dịch vụ
cuối cùng
“Hàng hóa và dịch vụ” :Bao gồm cả hàng hóa hữu hình và vô hình
“Được sản xuất ra”: Sản xuất ra vào kỳ nào thì được tính vào kỳ đó
“Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia”: theo vị trí địa lý
“Trong một thời kỳ nhất định” : Thường là 1 năm
c) Tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP)
Tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP) là phần GNP còn lại sau khi trừ đi khấu hao Như đã biết các tư liệu lao động bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất Sau khi tiêu thụ sản phẩm các doanh nghiệp phải bù đắp ngay phần hao mòn này Chúng không trở thành nguồn thu nhập của các cá nhân, xã hội và chúng không tham gia vào quá trình phân phối cho các thành viên trong xã hội Như vậy, không phải tổng đầu
mà là đầu tư ròng cùng với chi tiêu của các hộ gia đình, chính phủ và xuất khẩu ròng mới là những bộ phận quyết định tốc độ tăng trưởng, nâng cao mức sống người dân Những bộ phận này tạo nên tổng sản phẩm quốc dân ròng NNP Tuy nhiên, việc xác định tổng mức khấu hao trong nền kinh tế đòi hỏi nhiều thời gian và rất phức tạp Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu phân tích và tránh phiền phức và đạt hiệu quả trong việc nghiên cứu các nhà kinh tế thường sử dụng GNP
d) Thu nhập quốc dân (Y) và thu nhập có thể sử dụng (YD)
Trang 26Nếu lấy tổng sản phẩm quốc dân ròng trừ đi phần thuế gián thu (Te) ta được chỉ tiêu thu nhập quốc dân ròng (Y) Thu nhập quốc dân phản ánh tổng số thu nhập từ các yếu tố sản xuất: lao động, vốn, đất đai,tài nguyên, khả năng quản lý của nền kinh tế hay đồng thời cũng là thu nhập của tất cả các hộ gia đình (các cá nhân) trong nền kinh
tế Thu nhập quốc dân chính bằng tổng sản phẩm quốc dân ròng trừ đi phần thuế
gián thu
Y = W + i + r + л (2.1)
Chi phi thuê vốn (lãi suất) i Chi phí thuê nhà, thuê đất r
tác động đến tiêu dùng và tích lũy Đó là thu nhập có thể sử dụng(YD)
Thu nhập có thể sử dụng (YD) là phần thu nhập quốc dân còn lại sau khi các
hộ gia đình nộp lại các loại thuế trực thu(Td) và nhận được các khoản trợ cấp(Tr) của Chính phủ hoặc doanh nghiệp
YD = Y- Td + Tr (2.2)
Thuế trực thu (Td) chủ yếu là các loại thuế đánh vào thu nhập do lao động, thu nhập do thừa kế tài sản, thu nhập do trung số, các loại đóng góp của cá nhân như bảo hiểm xã hội, lệ phí giao thông Thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh cá thể hay chung vốn cũng là một dạng bị đánh thuế trực thu và phải trừ ra khỏi thu nhập quốc dân Tương tự các loại thuế lợi tức đánh vào các công ty cổ phần và phần lợi nhuận không chia của các công ty để lại để tích lũy tái sản xuất mở rộng cũng không nằm trong thành phần của thu nhập có thể sử dụng (YD)
Toàn bộ thu nhập có thể sử dụng (YD) chỉ bao gồm thu nhập mà các hộ gia đình có thể tiêu dùng (C) và để dành hay tiết kiệm (S)
Qua các khái niệm trên chúng ta có thể tổng hợp mối quan hệ giữa các chỉ tiêu GNP, GDP, NNP, Y, YD thành sơ đồ như sau:
Trang 27Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tổng sản phẩm và thu nhập
1.2 Biến danh nghĩa và biến thực tế
Như chúng ta đã biết, tính toán GDP hay GNP bằng giá cả thị trường có thể tính toán toàn bộ giá trị của các hàng hóa và dịch vụ khác nhau của nền kinh tế Nhưng giá cả lại là một thước đo co dãn Lạm phát thường đưa mức giá chung lên cao Do vậy, GNP tính bằng tiền có thể tăng nhanh chóng khi giá trị thực của tổng sản phẩm tính bằng hiện vật có thể không tăng hoặc tăng rất ít Để khắc phục nhược điểm này các nhà kinh tế sử dụng biến danh nghĩa và biến thực tế
Trong đó: i: biểu thị loại sản phẩm thứ i
t: biểu thị thời kỳ tính toán Q: Số lượng sản phẩm P: Giá của sản phẩm Nếu thống kê cho thấy GNPn của năm sau cao hơn năm trước, điều này cho thấy rằng nền kinh tế đã sản xuất ra một số lượng sản phẩm lớn hơn năm trước hoặc giá bán cao hơn năm trước GNPn không cho chúng ta biết sự gia tăng của nó chủ yếu
là do đóng góp của sự gia tăng về số lượng hay giá cả Các nhà kinh tế muốn có một chỉ tiêu về tổng lượng hàng hóa và dịch vụ được nền kinh tế tạo ra mà không chịu tác động bởi sự thay đổi của giá cả Và họ đã sử dụng một chỉ tiêu khác: GNP thực tế
b GNP thực tế (GNP r )
GNPr đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kỳ, theo giá
cả cố định ở một thời kỳ được lấy làm gốc
Trang 28Mục tiêu tính toán GNPr là để nắm bắt được hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế GNPr phản ánh lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong nền kinh tế nên nó cũng cho biết năng lực thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của dân cư trong nền kinh tế Do đó, GNPr phản ánh kết quả của nền kinh tế tốt hơn GNPn
Cầu nối giữa GNPn và GNPr là chỉ số giá cả, còn gọi là chỉ số lạm phát (D) tính theo GNP Chỉ số giá D đo lường mức giá trung bình của tất cả các hàng hóa và dịch
vụ được tính trong GNP Nó phản ánh mức giá hiện hành so với mức giá năm cơ sở,
và cho biết sự biến động về giá cả làm thay đổi GNPn
GNP n
D = - 100 (2.7)
GNP r GNP n Hay GNP r = - (2.7.1)
D Sau khi đã loại trừ sự biến động về giá cả, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế (g) là
tỷ lệ % thay đổi của GNPr của thời kỳ này so với thời kỳ trước
1.3 Mối quan hệ giữa GNP và GDP
Một quốc gia cũng giống như một doanh nghiệp luôn tìm cách đo lường kết quả hoạt động của mình sau mỗi thời kỳ nhất định Tuy vậy, doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến lợi nhuận thu được Lợi nhuận là thước đo tốt nhất kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi đó, thành tựu kinh tế của một quốc gia phản ánh trong việc quốc gia đó sản xuất ra được bao nhiêu, nói cách khác, nó đã sử dụng yếu
tố sản xuất của mình đến mức độ nào, để tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống nhân dân đất nước mình
Chỉ tiêu GNP hay GDP là những thước đo tốt nhất về thành tựu kinh tế của một
Trang 29khác nhau trên thế giới sau khi tính chuyển số liệu về GNP hay GDP tính bằng đồng
đô la Mỹ
GNP thống kê sản phẩm được sản xuất ra của một quốc gia trên cơ sở nguồn lực, nghĩa là tính theo người dân của quốc gia đó Người dân của nước sở tại, dù sinh sống ở đâu, trong nước hay nước ngoài nếu tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thì đều được tính vào GNP của nước sở tại
GDP thống kê sản phẩm được sản xuất ra của một đất nước tính trên phạm vi lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó Dù là ai, là dân của nước sở tại hay người nước ngoài, là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài, nếu tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên phạm vi lãnh thổ của nước sở tại đều được tính vào GDP của nước sở tại
Vì vậy GNP và GDP khác nhau phần giá trị hàng hóa và dịch vụ mà người dân nước sở tại sản xuất ra ở nước ngoài và phần giá trị hàng hóa , dịch vụ mà người nước
ngoài tạo ra trong phạm vi lãnh thổ nước sở tại Phần này được gọi là thu nhập ròng
từ tài sản ở nước ngoài được tính bằng phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa dịch vụ
mà người dân nước sở tại sản xuất ra ở nước ngoài trừ đi phần giá trị hàng hóa dịch
vụ mà người nước ngoài sản xuất ra tại nước sở tại Do vậy mối quan hệ giữa GNP và GDP có thể được thể hiện bởi:
GNP = GDP + Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài (2.9)
Hay GDP = GNP - thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài (2.9.1)
GDP và GNP chỉ tiêu nào lớn hơn tùy thuộc vào từng quốc gia và từng thời kỳ kinh tế của quốc gia đó Muốn có số liệu chính xác về GDP, GNP cần có phương pháp khoa học để tính toán GDP và GNP
2 Các phương pháp xác định GDP
Trong phần này, ta chỉ quan tâm tới cách tính toán đo lường tổng sản phẩm mà không chú ý tới sự khác nhau giữa các chỉ tiêu GNP và GDP Chúng ta tìm cách xác định một trong hai chỉ tiêu và bằng một điều chỉnh nhỏ ta có thể xác định được chỉ tiêu còn lại
2.1 Vòng chu chuyển kinh tế vĩ mô
Một nền kinh tế hoàn chỉnh bao gồm hàng triệu đơn vị kinh tế: Các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước Trung ương và địa phương Các đơn vị kinh
tế này tạo nên một mạng lưới chằng chịt các giao dịch kinh tế trong quá trình tạo ra tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Để tìm được cái cốt lõi bên trong của các giao dịch và đưa ra các phương pháp tính toán tổng sản phẩm một cách có cơ sở khoa học, chúng ta hãy bắt đầu bằng một trường hợp đơn giản nhất: Bỏ qua khu vực nhà nước
và khả năng tiến hành giao dịch với khu vực nước ngoài, xét một nền kinh tế khép kín, tự cấp tự túc, chỉ bao gồm hai tác nhân kinh tế : cá nhân hộ gia đình và các doanh nghiệp