1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

100 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 767,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1: MỞ ĐẦU (10)
    • 1. Tính cấp thiết của đề tài (3)
    • 2. Mục tiêu nghiên cứu (3)
    • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 4. Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 5. Kết cấu của luận văn (13)
  • PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU (14)
  • CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN (15)
    • 1.1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ (BHYT) (15)
      • 1.1.1. Một số khái niệm (15)
      • 1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm y tế (17)
      • 1.1.3. Vai trò của bảo hiểm y tế và sự cần thiết của phát triển bảo hiểm y tế toàn dân (21)
    • 1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHI ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN (22)
      • 1.2.1. Nội dung phát triển bảo hiểm y tế toàn dân (22)
      • 1.2.2. Các tiêu chí đánh giá phát triển bảo hiểm y tế toàn dân (28)
    • 1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN (29)
      • 1.4.1. Kinh nghiệm tại một số quốc gia trong khu vực (32)
      • 1.4.2. Kinh nghiệm thực hiện BHYT ở Việt Nam (34)
      • 1.4.3. Bài học kinh nghiệm phát triển BHYT toàn dân cho BHXH huyện Bố Trạch (37)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH-TỈNH QUẢNG BÌNH (39)
    • 2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG BHYT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH (39)
      • 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên của huyện Bố Trạch (39)
      • 2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình dân số, lao động năm 2014-2016 (40)
      • 2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BHXH huyện Bố Trạch (43)
    • 2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BHYT VỀ SỐ LƯỢNG VÀ CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH TẠI HUYỆN BỐ TRẠCH (48)
      • 2.2.1. Thực trạng Bao phủ BHYT (48)
      • 2.2.2. Thực trạng bao phủ về cơ sở khám chữa bệnh BHYT (55)
      • 2.2.3. Thực trạng về phát triển quỹ BHYT (56)
      • 2.2.4. Thực trạng về công tác khám chữa bệnh trên địa bàn huyện (57)
      • 2.2.5. Thực trạng về công tác tổ chức khám chữa bệnh và chất lượng dịch vụ BHYT (65)
    • 2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TẠI HUYỆN BỐ TRẠCH (67)
      • 2.3.1. Tổ chức mạng lưới đại lý và cộng tác viên BHYT (67)
      • 2.3.2. Tổ chức mạng lưới các cơ sở khám chữa bệnh BHYT (68)
      • 2.3.3. Công tác tổ chức truyền thông, vận động người dân tham gia BHYT (69)
    • 2.4. PHÂN TÍCH Ý KIẾN CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN (71)
      • 2.4.1. Thông tin chung về đối tượng điều tra (71)
      • 2.4.2. Kết quả số người tham gia BHYT tại các đơn vị nghiên cứu (75)
    • 2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH (78)
      • 2.5.1. Đánh giá kết quả đạt được (78)
      • 2.5.2. Những tồn tại (81)
      • 2.5.3. Nguyên nhân của những tồn tại (83)
  • CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH (85)
    • 3.1. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH (85)
      • 3.1.1. Quan điểm chung (85)
      • 3.1.2. Mục tiêu (85)
    • 3.2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VỀ PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH (87)
      • 3.2.1. Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện (87)
      • 3.2.2. Nhóm giải pháp điều kiện đảm bảo (89)
  • PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (14)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (96)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng phát triển Bảo hiểm y tế toàn toàn dân giai đoạn 2014-2016, đề xuất một số giải pháp nhằm Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN

Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ (BHYT)

Bảo hiểm y tế (BHYT) có nhiều định nghĩa khác nhau trên toàn thế giới, nhưng mục tiêu chung của BHYT là huy động nguồn tài chính nhằm chi trả chi phí khám chữa bệnh cho những người tham gia khi gặp phải ốm đau, bệnh tật.

Bảo hiểm y tế (BHYT) được định nghĩa bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là một hình thức đóng góp định kỳ nhằm tạo ra một quỹ chung, cho phép chia sẻ rủi ro và thanh toán chi phí khám chữa bệnh từ quỹ bảo hiểm.

Bảo hiểm y tế là một trong chín nội dung của Bảo hiểm Xã hội, được quy định theo Công ước 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) vào ngày 28/6/1952, nhằm thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Từ thực tế ở trên thế gới và vận dụng vào điều kiện Việt Nam, khái niệm về Bảo hiểm Y tế đãđịnh nghĩa như sau:

BHYT, theo cuốn “Từ điển Bách khoa Việt Nam I” (1995), là bảo hiểm do nhà nước tổ chức nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân và cộng đồng để chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho nhân dân Tại Việt Nam, BHYT được xem là một đổi mới trong lĩnh vực y tế, giúp giảm dần sự phân biệt giàu nghèo trong khám chữa bệnh, phát huy tính nhân đạo cộng đồng và đảm bảo công bằng xã hội Quỹ BHYT đóng vai trò quan trọng trong ngân sách của ngành y tế.

Theo điều 39 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm

Nhà nước có trách nhiệm đầu tư và quản lý thống nhất sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) để đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội chăm sóc sức khoẻ Điều 61 của Hiến pháp khẳng định quyền lợi của công dân trong việc được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ.

Luật Bảo hiểm Y tế số 25/2008/QH12, được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 14/11/2008, quy định rằng Bảo hiểm Y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm phục vụ chăm sóc sức khỏe, được tổ chức thực hiện bởi Nhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận, với các đối tượng có trách nhiệm tham gia.

Bảo hiểm y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm chăm sóc sức khỏe do Nhà nước tổ chức, không nhằm mục đích lợi nhuận và yêu cầu người dân tham gia.

1.1.1.2 B ảo hiểm y tế to àn dân

BHYT toàn dân là một nguyên tắc quan trọng trong hệ thống bảo hiểm y tế, với nghĩa là tất cả mọi người dân đều có quyền tham gia và được bảo vệ bởi hệ thống này Theo từ điển tiếng Việt, “toàn” có nghĩa là tất cả, do đó “toàn dân” ám chỉ đến mọi người Mục tiêu của BHYT toàn dân là hướng tới việc đảm bảo quyền lợi cho tất cả công dân, điều này phản ánh cam kết của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong việc thực hiện bảo hiểm y tế cho toàn dân.

Bảo hiểm y tế toàn dân là chế độ BHYT áp dụng cho toàn bộ dân số, nhằm đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe Theo Nghị quyết số 58.33 của Đại hội đồng Y tế Thế giới, hệ thống tài chính y tế cần có phương thức chi trả trước để chia sẻ rủi ro và ngăn ngừa nghèo đói do chi phí y tế Tại một số quốc gia, BHYT toàn dân có thể là dịch vụ chăm sóc sức khỏe miễn phí cho công dân, được tài trợ bằng thuế hoặc qua hệ thống BHYT xã hội Ở Việt Nam, BHYT không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của công dân, thể hiện trách nhiệm xã hội giữa cá nhân, cộng đồng và Nhà nước Nó thúc đẩy sự bình đẳng trong khám chữa bệnh, với quyền lợi được quy định rõ ràng bởi Luật, khác với các cơ chế miễn giảm viện phí trước đây.

1.1.1.3 Phát tri ển bảo hiểm y tế to àn dân

Phát triển BHYT toàn dân là 100% dân số trong một quốc gia tham gia BHYT, phát triển BHYT trong chăm sóc sức khỏe.

Cam kết chính trị mạnh mẽ nhằm chăm sóc sức khỏe toàn dân là yếu tố then chốt Điều này bao gồm việc hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) và huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện Đồng thời, cần đổi mới chính sách tài chính y tế để đảm bảo ngân sách đóng BHYT cho các nhóm đối tượng chính sách và những người yếu thế trong xã hội.

Để thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, cần tuân thủ chiến lược mở rộng từng bước và xây dựng lộ trình cho từng nhóm đối tượng một cách bền vững Đồng thời, việc thay đổi nhận thức của người dân về BHYT là rất quan trọng, cần thông qua chế tài và các hoạt động truyền thông hiệu quả Cần thực hiện BHYT bắt buộc cho toàn dân, áp dụng chế tài cưỡng chế đối với những hành vi trốn tránh tham gia, đồng thời tăng cường thông tin và giáo dục phù hợp với từng nhóm đối tượng để nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin.

Nâng cao năng lực và quản trị chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là cần thiết Cần xây dựng và triển khai chương trình khám chữa bệnh đạt tiêu chuẩn chất lượng, đồng thời tăng cường đầu tư để nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh tại tuyến cơ sở.

Thứ năm, phát triển công nghệ thông tin, ứng dụng sâu rộng trong quản lý thu và chi trả.

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm y tế

Theo luật BHYT và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện

Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) xác định rõ các đối tượng bắt buộc tham gia BHYT và lộ trình hướng tới BHYT toàn dân Mỗi nhóm đối tượng sẽ có mức đóng góp và trách nhiệm cụ thể trong việc tham gia BHYT, cùng với sự hỗ trợ từ phía nhà nước được quy định chi tiết.

Căn cứ Điều 12 Luật BHYT đang quy định có 25 đối tượng và được xếp thành

5 nhóm theo trách nhiệm đóng gồm:

Người lao động bao gồm cả người nước ngoài làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cụ thể là: doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư; hợp tác xã theo Luật hợp tác xã; các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị và xã hội; các tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam, trừ các trường hợp có quy định khác trong điều ước quốc tế; cùng với các tổ chức khác sử dụng lao động theo quy định pháp luật Ngoài ra, cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách tại xã, phường, thị trấn cũng được quy định bởi pháp luật.

Người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH được cơ quan BHXH đóng toàn bộ. Người thuộc đối tượng được ngân sách nhà nước đóng toàn bộ mức đóng BHYT.

Người thuộc đối tượngngân sách hỗ trợ một phần mức đóng BHYT.

Người tự nguyện tham gia BHYT, thuộc nhóm đối tượng phải tự đóng toàn bộ mức đóng BHYT.

Mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) là khoản phí mà các bên liên quan, bao gồm Nhà nước, chủ sử dụng lao động và người lao động, phải nộp cho cơ quan BHYT để được hưởng quyền lợi Theo quy định hiện hành, mức đóng BHYT được tính dựa trên tỷ lệ phần trăm (%) của tiền lương hoặc tiền công của người tham gia, hoặc dựa vào mức lương tối thiểu do nhà nước quy định Tỷ lệ nộp BHYT khác nhau tùy thuộc vào từng đối tượng và được chia thành hai nhóm chính.

NỘI DUNG VÀ TIÊU CHI ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN

1.2.1 Nội dung phát triển bảo hiểm y tế toàn dân

1.2.1.1 Phát tri ển về số lượng a Mở rộng và phát triển đối tượng tham gia BHYT

Mở rộng và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) là quá trình quan trọng, bắt đầu từ việc ban hành và thực thi các chính sách của nhà nước Cần thực hiện các giải pháp tạo động lực để khuyến khích người dân tham gia BHYT, từ đó gia tăng số lượng người và nhóm đối tượng tham gia thông qua nhiều phương thức đóng góp khác nhau.

Để phát triển số lượng người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), cần tăng cường tỷ lệ tham gia của các nhóm đối tượng Mục tiêu là đạt 100% người tham gia BHYT bắt buộc và từng bước chuyển đổi nhóm người tham gia BHYT tự nguyện sang BHYT bắt buộc Đồng thời, cần xã hội hóa BHYT tự nguyện nhằm đảm bảo 100% dân số đều có bảo hiểm y tế.

Hiện tại, các nhóm đối tượng tham gia BHYT được phân loại như sau:

Nhóm 1: do người lao động và người sử dụng lao động đóng BHYT.

Nhóm 2: do quỹ bảo hiểm xã hội đóng BHYT.

Nhóm 3: do ngân sách nhà nước (NSNN) đóng BHYT.

Nhóm 4: do cá nhân đóng BHYT và NSNN hỗ trợ mức đóng.

Nhóm 5: do cá nhân tự đóng BHYT.

Quyết tâm của chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân thể hiện qua việc xây dựng và triển khai các cơ chế chính sách y tế hiệu quả Các giải pháp từ việc ban hành chính sách đến tổ chức bộ máy thực thi sẽ góp phần mở rộng và gia tăng số lượng người tham gia BHYT Sự phát triển đối tượng tham gia BHYT không chỉ tăng số lượng mà còn nâng cao tỷ lệ người tham gia trong các nhóm đối tượng, từ đó là yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân với tiêu chí bao phủ về dân số tham gia Đồng thời, việc gia tăng số lượng cơ sở khám chữa bệnh BHYT cũng là một yếu tố quan trọng trong quá trình này.

Gia tăng số lượng cơ sở khám chữa bệnh BHYT là việc đưa các cơ sở chưa tham gia vào hệ thống BHYT vào danh sách và đầu tư xây dựng mới các cơ sở khám chữa bệnh, bao gồm cả cơ sở nhà nước và tư nhân Điều này áp dụng cho tất cả các tuyến từ phòng khám đa khoa, trạm y tế xã đến bệnh viện đa khoa, chuyên khoa cấp thành phố, huyện, tỉnh và trung ương Qua đó, tạo ra một mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh BHYT hoàn chỉnh, phân cấp theo yêu cầu chuyên môn và phân tuyến kỹ thuật của mạng lưới.

Gia tăng số lượng cơ sở khám chữa bệnh BHYT sẽ giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe hơn, rút ngắn khoảng cách địa lý giữa cơ sở y tế và nơi cư trú của bệnh nhân Điều này mang lại nhiều lựa chọn cho người tham gia BHYT trong việc đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu và chuyển tuyến theo nhu cầu Hơn nữa, việc tăng cường cơ sở khám chữa bệnh BHYT còn giảm tải cho hệ thống y tế, từ đó nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho cộng đồng.

Gia tăng số lượng cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng tốt hơn Điều này khuyến khích người dân chuyển từ việc sử dụng dịch vụ y tế thương mại sang dịch vụ y tế qua BHYT, từ đó làm tăng số lượng người tham gia BHYT và nâng cao tỷ lệ bao phủ dân số tham gia BHYT.

Những điều kiện cơ bản để thực hiện gia tăng số lượng cơ sở khám chữa bệnh BHYT bao gồm:

Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh hiện tại cần có cơ sở vật chất và kỹ thuật đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) Đội ngũ y bác sỹ phải có trình độ chuyên môn cao và số lượng đủ để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.

Chính phủ cần chú trọng đầu tư cả khu vực nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực khám chữa bệnh để đạt được mục tiêu bao phủ cơ sở khám chữa bệnh cho bảo hiểm y tế (BHYT) Đặc biệt, cần có cơ chế khuyến khích nhằm thu hút sự đầu tư từ khu vực tư nhân vào lĩnh vực này.

Chính phủ cần thiết lập cơ chế khuyến khích để các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân tham gia vào hệ thống bảo hiểm y tế (BHYT) Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát giá dịch vụ khám chữa bệnh BHYT để đảm bảo chất lượng và tính hợp lý trong chi phí.

Sự gia tăng số lượng cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) đòi hỏi phải phát triển hệ thống mạng lưới cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) để nâng cao hiệu quả quản lý khám chữa bệnh và thực hiện thu chi quỹ BHYT Do đó, việc mở rộng cơ sở khám chữa bệnh BHYT cần phải đi đôi với việc phát triển mạng lưới quản lý BHXH một cách đồng bộ.

Người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) có quyền đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu và được chuyển tuyến theo yêu cầu chuyên môn, dựa trên phân tuyến kỹ thuật của hệ thống khám chữa bệnh Các cơ sở thực hiện KCB BHYT bao gồm cả nhà nước và tư nhân, với đa dạng các tuyến như phòng khám đa khoa, trạm y tế xã, và bệnh viện đa khoa, chuyên khoa ở cấp thành phố, huyện, tỉnh và trung ương Để nâng cao chất lượng dịch vụ, việc gia tăng mức đóng góp BHYT là cần thiết.

Một trong những mục tiêu của bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân là đạt được 100% độ bao phủ chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia Để thực hiện điều này, cần có nguồn quỹ BHYT đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán Việc gia tăng mức đóng BHYT sẽ tạo ra quỹ tài chính, từ đó nâng cao gói quyền lợi dịch vụ khám chữa bệnh và tăng cường độ bao phủ chi phí khám chữa bệnh Đồng thời, chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cũng được cải thiện nhờ vào mức chi trả hợp lý.

Khi gói quyền lợi và mức bao phủ chi trả của bảo hiểm y tế (BHYT) được cải thiện, cùng với chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tăng cao, người dân sẽ có động lực tham gia BHYT nhiều hơn Việc thu hút bộ phận dân cư có nhu cầu khám chữa bệnh với dịch vụ chất lượng cao tham gia BHYT không chỉ làm tăng nguồn quỹ mà còn nâng cao số lượng người tham gia, từ đó góp phần sớm đạt được mục tiêu phát triển BHYT toàn dân.

Những điều kiện cơ bản để thực hiện gia tăng số lượng cơ sở khám chữa bệnh BHYT bao gồm:

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của bảo hiểm y tế (BHYT), nền kinh tế quốc dân cần đạt mức tăng trưởng cao và ổn định, cùng với việc nâng cao thu nhập bình quân của người dân Khi có nguồn tài chính dồi dào, người dân sẽ dễ dàng chi trả cho phần tăng thêm của mức đóng BHYT Hơn nữa, chính phủ cũng phải cân đối nguồn ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội để hỗ trợ đóng BHYT cho những đối tượng cần được trợ giúp (nhóm 2, 3).

Chính phủ đã quyết định tăng lương tối thiểu cho cả khu vực tư nhân và nhà nước, nhằm nâng cao mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) dựa trên tiền công và tiền lương của người lao động.

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN

Thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân là một thách thức lớn đối với các nước đang phát triển Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, việc tổ chức BHYT toàn dân không hề đơn giản Tổ chức Y tế Thế giới đã xác định 7 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT của người dân.

Sự phát triển kinh tế ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính sách bảo hiểm y tế (BHYT), với tác động tích cực hoặc tiêu cực tùy thuộc vào sự điều tiết của nhà nước trong từng giai đoạn Hiện tại, thu nhập bình quân của người lao động trong nông lâm, ngư nghiệp và tiểu thủ công còn thấp so với cán bộ công chức và nhân viên doanh nghiệp, khiến việc trích một phần thu nhập cho BHYT trở nên khó khăn Mức thu nhập càng cao và ổn định thì càng thúc đẩy sự phát triển của BHYT toàn dân, đảm bảo đáp ứng nhu cầu chi phí y tế cơ bản Bên cạnh đó, cấu trúc nền kinh tế với quy mô lao động chính quy và không chính quy cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện BHYT toàn dân; khu vực lao động không chính quy lớn sẽ gây khó khăn trong việc xác định đối tượng và mức thu nhập để tính toán mức đóng BHYT.

Khả năng tổ chức thực hiện của hệ thống bảo hiểm y tế (BHYT) liên quan đến cơ sở khám chữa bệnh và chất lượng chuyên môn của đội ngũ y tế Hiện tại, vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa người có thẻ BHYT và người không có thẻ, dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế Chất lượng khám chữa bệnh chưa đáp ứng nhu cầu, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở, với cơ sở vật chất và trang thiết bị còn hạn chế Nhiều trạm y tế thiếu bác sĩ, thái độ phục vụ chưa tốt, làm giảm lòng tin của người tham gia BHYT Hệ thống y tế cơ sở chỉ đáp ứng một phần nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu, gây chậm trễ trong việc đăng ký khám chữa bệnh Việc phân tuyến kỹ thuật chưa phù hợp với mô hình bệnh tật, dẫn đến tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Điều này khiến người dân ngần ngại tham gia BHYT, chỉ coi trọng khi mắc bệnh nặng hoặc cần điều trị nội trú, do đó họ vẫn dè dặt trong việc mua BHYT tự nguyện.

Công tác thông tin tuyên truyền về chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân cần được nâng cao để tổ chức, cá nhân và người dân hiểu rõ vai trò quan trọng của BHYT đối với xã hội Mặc dù đã có lộ trình tiến tới BHYT toàn dân, nhưng các cấp ủy Đảng và chính quyền vẫn chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm trong việc tuyên truyền, dẫn đến việc thiếu quan tâm và đầu tư cho công tác này ở nhiều địa phương Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền về BHYT không chỉ thiếu về số lượng mà còn chưa đáp ứng yêu cầu chất lượng và tính chuyên nghiệp Việc phân công nhiệm vụ tuyên truyền chưa rõ ràng, không có cơ quan đầu mối, và công tác truyền thông chưa được thực hiện thường xuyên, không phù hợp và thiếu chiều sâu, khiến người dân khó tiếp cận thông tin và chưa hiểu rõ về chính sách BHYT.

Sự quan tâm và nhận thức của người dân về bảo hiểm y tế (BHYT) còn hạn chế, dẫn đến khó khăn trong việc triển khai thực hiện Mặc dù đã có nhiều nỗ lực tuyên truyền, một bộ phận người dân vẫn không muốn tham gia BHYT Thực trạng này cho thấy nhiều người chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và giá trị của BHYT Để phát triển BHYT toàn dân hiệu quả, cần nâng cao nhận thức của người dân về chăm sóc sức khỏe, coi sức khỏe là tài sản vô giá.

Truyền thống đoàn kết và chia sẻ khó khăn của nhân dân trong mỗi quốc gia phản ánh bản chất của Bảo hiểm y tế toàn dân, nơi mỗi cá nhân đều có trách nhiệm vì cộng đồng Để đảm bảo hiệu quả, hệ thống chính sách văn bản cần thống nhất từ các bộ ngành đến địa phương, tránh chồng chéo và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận và triển khai đồng bộ.

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC VÀỞVIỆT NAM

1.4.1 Kinh nghiệm tại một số quốc gia trong khu vực a Nh ật Bản

Nhật Bản đã thực hiện luật bảo hiểm y tế (BHYT) bắt buộc từ năm 1922, trở thành quốc gia châu Á đầu tiên ban hành Luật BHYT toàn dân, nhưng đến năm 1961, chính sách này mới hoàn thiện Mức thu nhập bình quân khởi điểm khi triển khai BHYT toàn dân là 4.700 USD/người/năm Nhật Bản có hai loại quỹ BHYT chính: quỹ BHYT quốc gia không có nghề nghiệp với khoảng 45 triệu thành viên và quỹ BHYT của người làm công ăn lương với khoảng 61 triệu thành viên Chi phí khám chữa bệnh do bệnh nhân BHYT chi trả khác nhau: lao động tự do 30%, công chức 20% và lao động hưởng lương 10% Tuy nhiên, hệ thống BHYT Nhật Bản đang đối mặt với khủng hoảng tài chính do mất cân đối thu chi, với dự báo quỹ bội chi khoảng 4,9 tỷ USD vào năm 2001 và quỹ dự phòng hoàn toàn cạn kiệt Hiện nay, nhu cầu cấp bách là giảm thiểu chi phí y tế thông qua việc sử dụng thuốc hợp lý, thay đổi phương thức thanh toán và thực hiện khám chữa bệnh theo tuyến chuyên môn kỹ thuật.

BHYT ở Trung Quốc được chia thành hai loại: BHYT nông thôn và BHYT thành phố, với các hình thức bảo hiểm khác nhau cho nhân viên nhà nước và công nhân các xí nghiệp Trung Quốc tập trung đầu tư vào dịch vụ y tế cơ bản nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Kể từ tháng 9/2009, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lên kế hoạch cải cách y tế với ngân sách 850 tỷ nhân dân tệ trong ba năm, nhằm đảm bảo 1,3 tỷ dân được hưởng BHYT tối thiểu đến năm 2020 Năm 2010, Trung Quốc đã đưa 8 loại bệnh nặng vào danh mục BHYT, bao gồm ung thư và bệnh tim bẩm sinh trẻ em, và dự kiến mở rộng thêm 12 bệnh khác trong các khu vực nông thôn.

Năm 2011, số người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) tại Trung Quốc đạt gần 1,3 tỷ, chiếm trên 95% tổng dân số Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là sự chênh lệch thu nhập giữa các khu dân cư và mức đóng BHYT cao Để khắc phục vấn đề này, Trung Quốc đang tiến hành cải cách mức đóng và cung cấp hỗ trợ cho người dân, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ.

Năm 1997, Thái Lan khởi xướng chiến lược bảo hiểm y tế toàn dân khi thu nhập bình quân vượt 2000 USD/người/năm, với số lao động trong nông nghiệp và công chức Nhà nước vẫn được hưởng chế độ bao cấp Đối tượng chính tham gia bảo hiểm y tế là khoảng 7 triệu người lao động trong doanh nghiệp, với tỷ lệ đóng góp 4,5% chia đều giữa Nhà nước, chủ sử dụng và người lao động 46 triệu dân còn lại được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo chương trình “30 baht”, trong đó mỗi lần khám bệnh hoặc nhập viện người dân phải nộp 30% chi phí Thái Lan đang đối mặt với nhiều thách thức như lạm dụng bảo hiểm y tế, chi phí gia tăng và sự khác biệt về quyền lợi giữa các khu vực Tuy nhiên, nước này đã thành công trong việc triển khai phương thức thanh toán chi phí y tế theo định suất và đang tích cực áp dụng phương thức thanh toán theo chẩn đoán.

(Nguồn số liệu về mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người: Deutschland- Bundesstatistilsamt-2003).

1.4.2 Kinh nghiệm thực hiện BHYTởViệt Nam

Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, việc thu hút đông đảo người dân tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) thường chỉ thành công khi có quy định bắt buộc Do đó, phát triển BHYT là bước đầu tiên hướng tới thực hiện BHYT bắt buộc cho toàn dân Đối với Việt Nam, mở rộng diện bao phủ BHYT cần tập trung vào việc phát triển từ cộng đồng, nhằm khuyến khích người dân tham gia và tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng cao Việc học hỏi từ kinh nghiệm thực hiện BHYT dựa trên cộng đồng của các nước đi trước sẽ là bài học quý giá cho Việt Nam trong quá trình phát triển BHYT toàn dân.

1.4.2.1 Kinh nghi ệm thực hiện BHYT tại th ành ph ố Đà Nẵng Đà Nẵng được mệnh danh là thành phố đáng sống nhất của Việt Nam, một thành phố năng động và phát triển nhất miền Trung, là thành phố trực thuộc Trung ương Tính đến tháng 12/2015, dân số là 1.046.838người, trong đó dân cưthành thị là chiếm85,47% và dân cưnông thôn chiếm14,53% Đây là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế biển, du lịch, công nghệ thông tin và an ninh quốc phòng của khu vực miền Trungvà cả nước.

Thành phố Đà Nẵng đã thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân theo Luật BHYT số 25/2008/QH12, với nhiều chuyển biến tích cực trong hơn 8 năm qua Sự phát triển này thể hiện rõ nét trong việc nâng cao nhận thức và tỷ lệ người dân tham gia BHYT, góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.

- Độ bao phủ BHYT tăng từ khoảng 57,8% cuối năm 2008 lên 94,4% vào cuối năm 2016 (tăng bình quân 4,6%/năm).

- Tổng số thu BHYT tăng từ 130.745 triệu đồng năm 2008 lên 941.600 triệu đồng năm 2016 (gấp 7,2lần).

Tổng chi phí khám bệnh, chữa bệnh (KCB) BHYT đã tăng từ 164.908 triệu đồng năm 2008 lên 953.368 triệu đồng năm 2016, tương đương gấp 5,78 lần Chính sách BHYT ngày càng đi vào cuộc sống, mang lại ý nghĩa thiết thực trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và đảm bảo an sinh xã hội tại thành phố Đà Nẵng Qua nghiên cứu của BHXH thành phố, có một số điểm nổi bật trong việc thực hiện chính sách BHYT.

Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) đang được mở rộng để bao gồm nhiều đối tượng tham gia hơn, với đề xuất từ các địa phương sử dụng ngân sách hỗ trợ nông dân tham gia BHYT Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục, sự phối hợp giữa các cơ sở giáo dục và Sở Giáo dục và Đào tạo đã giúp 98% học sinh tham gia BHYT, trong khi tỷ lệ thực hiện BHYT cho người nghèo đạt 100%.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH-TỈNH QUẢNG BÌNH

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG BHYT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH

2.1.1.Đặc điểmtự nhiên của huyện Bố Trạch

Bố Trạch, huyện phía Bắc thành phố Đồng Hới, có diện tích tự nhiên 212.417,63 ha, chiếm 26,33% tổng diện tích tỉnh Huyện này bao gồm 30 xã và thị trấn, trong đó có 2 xã vùng rẻo cao, 9 xã miền núi, 7 xã ven biển, và 8 xã thuộc vùng công giáo.

Là một huyện nằm trên dải đất hẹp và dốc, núi và gò đồi chiếm trên 80% diện tích tự nhiên Địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông.

Huyện Bố Trạch có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của vùng ven biển miền Bắc Trung Bộ, với hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình đạt 27,6°C và có thể lên trên 40°C; mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, đặc trưng bởi thời tiết hanh khô và lạnh.

Huyện Bố Trạch nổi bật với hai con sông chính là sông Gianh và sông Dinh, cùng với nhiều sông, suối nhỏ phân bố rộng khắp Các con sông này có đặc điểm chung là chiều dài ngắn, độ uốn khúc lớn và lưu vực nhỏ dốc, dẫn đến tốc độ dòng chảy nhanh, đặc biệt trong mùa lũ.

Bố Trạch là huyện có điều kiện sinh thái phong phú với cảnh quan đa dạng như núi rừng, bờ biển, đồng bằng và đồi Nơi đây có tiềm năng phát triển các điểm du lịch sinh thái, tắm biển, nghỉ dưỡng và các hoạt động giải trí, thu hút du khách trong và ngoài nước.

Quảng Bình sở hữu tiềm năng du lịch độc đáo với bãi tắm biển Đá Nhảy nằm dưới chân đèo Lý Hòa và khu du lịch Sao Biển tại xã.

Lý Trạch đang được xúc tiến xây dựng và đặc biệt có vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ

Bàng và động Thiên Đường là những kỳ quan thiên nhiên nổi bật của thế giới, cùng với hệ thống đường Hồ Chí Minh và bến phà Xuân Sơn, tạo nên di tích lịch sử hang Tám Cô nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Những địa điểm này được coi là tài sản vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người Bố Trạch Huyện Bố Trạch có 24 km bờ biển và 40 km đường biên giới giáp với Lào, tiếp giáp với 5 huyện, thị xã và thành phố khác.

Huyện Bố Trạch được kết nối bởi các tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh, cùng với ga đường sắt Bắc Nam, chỉ cách trung tâm thành phố Đồng Hới 15 km và sân bay Đồng Hới 12 km Những điều kiện thuận lợi này đang thúc đẩy Bố Trạch phát triển du lịch và dịch vụ, hướng tới xây dựng huyện theo tiêu chuẩn đô thị hiện đại và đẩy mạnh tiến trình đô thị hóa.

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình dân số, lao động năm 2014-2016 2.1.2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội năm 2016

Năm 2016, huyện đối mặt với nhiều khó khăn trong kinh tế, bao gồm điều kiện thời tiết không thuận lợi và tăng trưởng chậm Giá cả, đặc biệt là giá nông sản, không ổn định, trong khi nhiều vấn đề xã hội bức xúc vẫn chưa được giải quyết, dẫn đến ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, tình hình an ninh chính trị, tôn giáo và an ninh thông thôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân.

Nhờ nỗ lực phấn đấu và phát huy nội lực, huyện đã đạt được những chuyển biến tích cực trong tình hình kinh tế xã hội Sự đoàn kết nhất trí và kết hợp sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cùng với sự hỗ trợ từ Trung ương, tỉnh và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện đã góp phần quan trọng vào những thành tựu đáng kể trên tất cả các mặt.

Một số chỉ tiêu thực hiện trong năm 2016 trên địa bàn huyện như sau:

- Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng từ 3,5- 4,5%;

- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 8,5- 9%;

- Giá trị sản xuất dịch vụ tăng từ 10- 11%;

- Thu nhập bình quânđầu người khoảng 33 triệu/người/năm.

Trong những năm gần đây, huyện Bố Trạch đã chứng kiến sự chuyển biến rõ rệt trong cơ cấu kinh tế Ngành dịch vụ phát triển nhanh chóng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương Cụ thể, cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Bố Trạch năm 2016 được thể hiện qua Biểu đồ 2.1.

Nông nghiệp Công nghiệp - XD Dịch vụ

Biểu đồ2.1.Cơ cấu kinh tế huyện Bố Trạch năm 2016

Năm 2016, tổng giá trị sản xuất nông lâm, thủy sản đạt 2.019,3 tỷ đồng (theo giá cố định năm 2010), tăng 4,10% so với năm 2015 Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 6,8%, lâm nghiệp tăng 10%, trong khi giá trị sản xuất thủy sản giảm 2% so với năm trước.

Trong 6 tháng đầu năm 2016, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 315,2 tỷ đồng (theo giá so sánh), tương đương 43,1% kế hoạch và tăng 108,2% so với cùng kỳ năm trước So với năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2016 (theo giá so sánh năm 2010) tăng 110%, với tổng giá trị cả năm đạt 735 tỷ đồng, hoàn thành 101% kế hoạch đề ra.

Hoạt động thương mại nội địa duy trì ổn định với mạng lưới dịch vụ thương mại hoạt động hiệu quả, cung ứng đầy đủ các mặt hàng thiết yếu Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong năm đạt 4.150 tỷ đồng, vượt 112% kế hoạch và tăng 13% so với cùng kỳ Doanh thu ngành dịch vụ du lịch đạt 1.420 tỷ đồng, đạt 53% kế hoạch và tăng 4,4% so với năm trước.

2.1.2.2 Tình hình dân số, lao động

Bố Trạch là một huyện của tỉnh Quảng Bình, năm 2016 dân số toàn huyện có hơn 183.600 người, chiếm tỷ trọng 20,9% dân số toàn tỉnh, với hơn 60% dân số trong độ tuổi lao động, Bố Trạch có một nguồn lao động dồi dào nhưng phần lớn là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, năng suất lao động chưa cao.

Tuy nhiên, huyện Bố Trạchcó nhiều tiềm năng chosự phát triểncác ngành, nghề nhưdu lịch và dịch vụ nhờ vào nguồn lực lao động tương đối dồi dào.Được phân bố như sau:

Bảng 2.1 Dân số và mật độ dân số trên địa bàn huyện (người/km 2 )

TT Tên xã/thị trấn Diện tích

Mật độ dân số (người/km 2 )

(Nguồn: UBND huyện Bố Trạch)

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BHYT VỀ SỐ LƯỢNG VÀ CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH TẠI HUYỆN BỐ TRẠCH

2.2.1.1 Thực trạng bao phủ BHYT trên tổng dân số

Tại huyện Bố Trạch, thực hiện BHYT toàn dân là một mục tiêu phấn đấu mà Cấp ủy đảng, Chính quyền huyện Bố Trạch đã khởi động từ nhiều năm trước và đã chính thức triển khai thực hiện vào năm 2012 Có thể khẳng định, cả hệ thống chính trị của huyện Bố Trạch đã vào cuộc với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện đã triển khai thực hiện đồng bộ, với các chương trình, kế hoạch cụ thể và giải pháp phù hợp để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh lộ trình bao phủ BHYT toàn dân, góp phần bảo đảm tốt hơn chính sách an sinh xã hội của huyện Tính đến31/12/2016, tổng số người tham gia BHYT ở huyện Bố Trạch là 141.787 người,tăng so với năm 2015 là 17.343 người, đạt tỷ lệ bao phủ 77,2% dân số Tỷ lệ dân số tăng 0,36%.

Bảng2.2 Đối tượng, số lượng ngườitham gia BHYT T

2 Người nghèo và cận nghèo 26.956 43.667 47.600 61,9 9

Các đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT khác

5 Hưu trí, Mất sức LĐ 6.105 6.220 6.554 1,9 5,4

II Đối tượng tham gia

1 Các đối tượng tự nguyện khác 7.505 8.671 15.284 15,5 76,2

C Tỷ lệ dân số tham gia

(Nguồn: BHXHvà Niên giám thống kê) Đối tượng tham gia BHYT bắt buộc đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, có sự tăng từ năm 2014, số người tham gia BHYT bắt buộc là 101.106 người, tương ứng tỷ lệ bao phủ là 55,4% dân số; năm2015, số người tham gia BHYT bắt buộc là 115.773người, tăng14.667người so với năm 2014, đạt tỷ lệ bao phủ 63,3% dân số; năm 2016, số người tham gia BHYT bắt buộclà 126.503 người, tăng 10.730 người so với năm 2015, đạt tỷ lệ bao phủ68,9% dân số. Đối tượng tham gia BHYT tự nguyện đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, có sự tăng trưởng nhanh từ năm 2014, số người tham gia BHYT tự nguyện là 7.505 người, tương ứng tỷ lệ bao phủ là 4,11% dân số; năm 2015, số người tham gia BHYT tự nguyện là 8.671 người, tăng 1.166 người so với năm 2014, đạt tỷ lệ bao phủ 4,74% dân số; nhưng đến năm 2016, số người tham gia BHYT tự nguyện là 15.284người, tăng6.613người so với năm 2015, đạt tỷ lệ bao phủ8,32% dân số. Độ bao phủ dân số về BHYT từ năm 2014 đến năm 2016 tăng ổn định, bình quân hàng năm tăng hơn 17% Đối tượng chiếm số lượng và tỷ trọng lớn nhất là nhóm đối tượng bảo hiểm bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động đóng BHYT nhưng có tốc độ tăng thấp hơn mức bình quân. Đối tượng có số lượng và tỷ trọng lớn là học sinh sinh viên, đối tượng được nhà nước hỗ trợmột mức đóngphần từnguồn NSNNđóng BHYT, đây là đối tượng tham gia BHYT năm2014, số học sinh tham giaBHYTlà 24.149 người;năm 2015, số học sinh tham gia BHYT là 21.444 người, giảm 2.705 người so với năm 2014; nhưng đến năm 2016, số học sinh tham gia BHYT là 21.551người, tăng107 người so với năm 2015 Số lượng học sinh, sinh viên tham gia BHYT giảm và tăng chậm trong các nămlà do công tác tuyên truyền, vận động chưa kịp thời Đồng thờicũng do mức hổ trợ đóng BHYT từ NSNN cho đối tượng học sinh, sinh viên thấp chỉ 30% (mức hổ trợ đóng BHYT từ NSNN đối tượnghộ cận nghèo là 70%). Độ bao phủ dân số về BHYT những năm vừa qua tăng tương đối đều đặn chủ yếu là do Luật về Bảo hiểm y tế được triển khai kịp thời, việc triển khai áp dụng về trách nhiệm tham gia BHYT đã được thực hiện đúng đối tượng, đúng thời điểm theo quy định, chính phủ triển khai mở rộng các chính sách về hỗ trợ BHYT cho các nhóm đối tượng như đối tượng người có công, hộ nghèo.

Tuy nhiên thực tế tăng trưởng về độ Bao phủ dân số về BHYT cũng chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, sự cố môi trường, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, thu nhập người lao động giảm, việc làm tăng không đáng kể, do vậy làm giảm tốc độ tăng số lượng lao động và nguồn thu nhập của lao động chính quy tham gia BHYT Bên cạnh đó cũng không thể không nói tới một nhân tố khác đó là các doanh nhiệp, các tiểu thương buôn bán nhỏ và các tổ chức do quá khó khăn về tài chính cũng đã tìm cách thỏa thuận với người lao động trong khi xác lập hợp đồng lao động để tránh nghĩa vụ đóng BHYT cho người lao động. Đặc biệt, nhóm đối tượng hộ nghèo, cận nghèo giảm cả về số lượng và tỷ trọng trong khi các chính sách của nhà nước mở rộng đối tượngnày, cho thấy tổng sốhộ nghèo, cận nghèo cần được hỗ trợ bảo hiểm trên địa bàn huyện Bố Trạch đang có xu hướng giảm, đây là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển BHYT toàn dân.

2.2.1.2 Thực trạng bao phủ BHYT theo địa bàn hành chính (xã/thị trấn)

Trên địa bàn huyện Bố Trạch có 30 xã thị trấn được chia thành 02 khu vực tương đối; khu vực thị trấn là các trung tâm hành chính của huyện với thành phần dân cư chủ yếu là kinh doanh thương mại, lao động chính thức trong các doanh nghiệp và người nghĩ hưu, khu vực nông thôn gồm các xã vùng ven và miền núivới thành phần dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và lao động tự do Độ bao phủ BHYT trên địa bàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư, ngành nghề Cụ thể:

Bảng2.3 Thực trạng bao phủ dân số BHYT theo địa bàn

II Khu vực nông thôn 164.872 98.128 59,5 165.436 112.387 67,9 166.034 126.540 76,2

(Nguồn:UBND huyện và BHXH huyện)

Qua báo cáo số liệu bảng trên cho thấy Bao phủ về dân số tham gia BHYT giữa các địa bàn của huyện Bố Trạch có sự khác biệt, khu vực thị trấn dân cư tập trung có độ bao phủ bình quân 86,7%, khu vực nông thôngồm 28 xã (trongđócó 8 xãđặc biệt khó khăn được nhà nước hổ trợ thẻ BHYT) nhưng nên tính bình quân tỷ lệ bao phủ đạt 76,2% thấp hơn so với khu vực thị trấn Trong khu vực thị trấn như Hoàn Lão, Nông trường Việt Trung với thành phần dân cư đa dạng, tỷ lệ lao động trong các doanh nghiệp và hành chính sự nghiệp nhiều và chủ yếu nên có tỷ lệ bao phủ về dân số tham gia BHYT đạt cao hơn mức bình quân toàn huyện Những thông tin về phânbố mức độ Bao phủ về dân số tham gia BHYT theo địa bàn là cơ sở để xây dựng giải pháp lộ trình tăng bao phủ về dân số theo đặc thù của từng địa phương Độ bao phủ dân số tham gia BHYT của hai khu vực được biểu diễn theo biểu đồ sau:

Biểu đồ2.2 Thực trạng bao phủ về dân số BHYTtheo địa bàn

Như vậy, trong những năm qua mặc dù kinh tế suy thoái, tốc độ tăng trưởng chậm nhưng độ bao phủ về dân số tham gia BHYT trên địa bàn huyện Bố Trạch tăng ổn định, trong những năm tới tình hình kinh tế sẽgặp không ít những khó khăn do sự cố môi trường biển mang lại cho huyện Bố Trạch dẫn đến các giải pháp,mục tiêu BHYT toàn dân gặp phải những khó khăn nhất định.

Bao phủ BHYT khu vực thị trấn

Tỷ lệ tham gia BHYT

Tỷ lệ không tham gia BHYT

Bao phủ BHYT khu vực thị trấn

Tỷ lệ tham gia BHYT

Tỷ lệ không tham gia BHYT

Bao phủ BHYT khu vực nông thôn

Tỷ lệ tham gia BHYT

Tỷ lệ không tham gia BHYT

2.2.2 Thực trạng bao phủ về cơ sở khám chữa bệnh BHYT

Từ năm 2014đến 2016 số lượng cơ sở y tế khám chữa bệnh trên địa bàn huyện

Bố Trạch không tăng do không được đầu tư xây dựng mới, mở rộng cơ sở y tế của nhà nước, bên cạnh đó các cơ sở y tế tư nhân cũng chưa được đưa vào tham gia khám chữa bệnh cho đối tượng được hưởng dịch vụ BHYT Cụ thể:

Bảng2.4 Thực trạng về cơ sở khám chữa bệnh BHYT

1 Tiêu thức Đơn vị tính

1 Số cơ sở KCB BHYT 31 31 31

Trạm y tế xã phường đơn vị 30 30 30

Trạmy tế xã, thị trấn cái 130 130 130

4 Y sỹ, kỷ thuật viên người 10 15 16

5 Số lượng người tham gia BHYT người 108.611 124.444 141.787

6 Số người tham gia BHYT/1 bác sỹ người/1 bác sỹ 639 579 644

7 Số người tham gia BHYT/số giường bệnh người/cái 339 366 386

(Nguồn: UBNDhuyện Bố Trạch- BHXH tỉnh Quảng Bình )

Số lượng giường bệnh chủ yếu tăng ở các bệnh viện, trong khi khối trạm y tế xã, thị trấn không có sự gia tăng Nguyên nhân là do nhu cầu điều trị ngoại trú ngày càng tăng, tỷ lệ thuận với số người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) Các trạm y tế xã, thị trấn chủ yếu thực hiện khám chữa bệnh bằng hình thức điều trị ngoại trú, do đó không cần đầu tư tăng số giường bệnh Tỷ lệ người tham gia BHYT so với số giường bệnh giữ ổn định cho thấy tần suất sử dụng giường bệnh không thay đổi nhiều, không tạo áp lực lên khả năng chịu tải của các bệnh viện.

Số lượng người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) trên mỗi bác sĩ đang có xu hướng tăng, cho thấy nguồn nhân lực tại các cơ sở khám chữa bệnh đang được cải thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về BHYT.

Số bác sỹ trên 1000 người dân đang gia tăng, không tính số bác sỹ không làm việc trong các cơ sở khám chữa bệnh về bảo hiểm y tế (BHYT) Điều này cho thấy các cơ sở y tế đã nâng cao nguồn nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục vụ khám chữa bệnh khi số người tham gia BHYT tăng lên.

Tình hình phát triển bảo hiểm y tế (BHYT) tại huyện Bố Trạch đang có sự gia tăng về cơ sở khám chữa bệnh, số giường bệnh và nguồn nhân lực Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa đủ điều kiện để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân trong tương lai Để khắc phục tình trạng này, UBND huyện cần chỉ đạo các cấp phối hợp với BHXH huyện và BHXH tỉnh tiến hành rà soát, xây dựng đề án tăng cường cơ sở vật chất và báo cáo UBND tỉnh phê duyệt, nhằm triển khai thực hiện trong những năm tới và chuẩn bị cho lộ trình phát triển BHYT toàn dân.

2.2.3 Thực trạng về phát triển quỹ BHYT Đánh giá được sự gia tăngthu quỹ BHYT trong những năm tớicũng nhưmức độ gia tăngthu quỹ BHYT trên người tham gia và xu thế huy động thu quỹBHYT.

Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) đang có xu hướng tăng trưởng nhằm đáp ứng nhu cầu chi cho khám chữa bệnh Cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) đảm bảo nguồn tài chính để chủ động phân bổ và dự toán gói lợi ích BHYT, từ đó từng bước mở rộng bao phủ gói lợi ích cho người tham gia.

Bảng2.5 Tình hình thu Quỹ BHYT

TT Tiêu thức Đơn vị tính Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016

I Tổng thu quỹ BHYT triệu đồng 61.843 71.074 99.475

II Số lượng đối tượng BHYT đối tượng 105.191 121.839 124.051

III Bình quân quỹ BHYT/đối tượng triệu đồng/người 0,59 0,58 0,80

( Nguồn:BHXH huyện Bố Trạch )

Tổng thu quỹ BHYT năm 2015 đạt 9.231 triệu đồng, tăng 14,9% so với năm 2014 nhờ vào sự gia tăng số người tham gia BHYT và mức đóng BHYT được nâng cao.

Mức đóng BHXH bình quânhàng năm tăng do tăng mức lương tối thiếu chung.

Số lượng người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) ngày càng tăng, dẫn đến tổng quỹ BHYT cũng tăng theo Điều này đã cải thiện đáng kể mức quỹ trên mỗi đối tượng, giúp BHYT có khả năng chi trả tốt hơn cho người khám chữa bệnh (KCB) bằng quỹ BHYT.

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TẠI HUYỆN BỐ TRẠCH

2.3.1 Tổ chức mạng lưới đại lý và cộng tác viên BHYT

Huyện Bố Trạch đã tích cực hình thành và phát triển hệ thống đại lý thu BHXH, BHYT, góp phần quan trọng trong công tác tuyên truyền và vận động phát triển đối tượng tham gia Những nỗ lực này đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc củng cố và xây dựng hệ thống đại lý thu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trong những năm qua.

Bố Trạch, chú trọng, đặc biệt là xây dựng hệ thống đại lý thu BHYT rộng khắp các xã, thị trấn.

Bảng 2.12 Thực trạng tổ chức đại lý thu BHYT

TT Tiêu thức Đơn vị tính

2 Nhân viên đại lý thu người 41 58 76

II Đại lý Bưu điện huyện 10 15 22

2 Nhân viên đại lý thu người 11 20 32

Từ năm 2014 đến 2016, số lượng đại lý thu BHYT tại các xã, thị trấn đã tăng lên 28 đại lý, nâng tổng số lên 41 đại lý tại BHXH huyện và 22 đại lý bưu điện, với 93 điểm thu và 108 nhân viên Tuy nhiên, năng lực của các đại lý thu BHYT chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đối tượng tham gia, do nhân viên chưa được đào tạo và thiếu kiến thức về chính sách BHYT Ngoài ra, nhiều nhân viên là cán bộ công chức xã làm kiêm nhiệm, dẫn đến việc họ không đầu tư đủ thời gian cho công tác phát triển đối tượng Ở các vùng nông thôn và vùng sâu, hoạt động thu BHYT gặp khó khăn do trình độ dân trí thấp và điều kiện sống khó khăn, khiến việc vận động người dân tham gia BHYT trở nên thách thức.

2.3.2 Tổ chức mạng lưới các cơ sở khám chữa bệnh BHYT Để tiếp tục nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn huyện trong tình hình mới, đây thực sự là thách thức không nhỏ của huyện Bố Trạch trong việc kiện toàn, củng cố và nâng cao chất lượng mạng lưới cơ sởkhám chữa bệnh trong thời gian tới.

Bảng 2.13 Thực trạng tổ chức các cơ sởkhám chữa bệnhBHYT

TT Cơ sở khám chữa bệnh Đơn vị tính

1 Bệnh viện đa khoa đơn vị 1 1 1

3 Trạm y tế xã, thị trấn đơnvị 30 30 30

Huyện với dân số 183.611 người và diện tích rộng chỉ có một Bệnh viện đa khoa, dẫn đến tình trạng quá tải giường bệnh và bệnh nhân điều trị nội trú, ngoại trú Sự quá đông bệnh nhân khiến thời gian khám chữa bệnh bị rút ngắn, đặc biệt tại Khoa Khám bệnh, làm giảm chất lượng khám chữa bệnh và an toàn cho bệnh nhân Việc kê thêm giường bệnh và tiếp nhận quá nhiều bệnh nhân trong khi cơ sở vật chất không được mở rộng và thiếu nhân lực đã khiến bệnh viện không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật Ngoài ra, cơ sở vật chất và đội ngũ y bác sĩ tại trạm y tế xã, thị trấn chưa đáp ứng đủ yêu cầu khám chữa bệnh, cùng với tâm lý e ngại của bệnh nhân và người nhà, càng làm tình trạng quá tải tại Bệnh viện tuyến huyện trở nên nghiêm trọng hơn.

Trên địa bàn huyện, hiện có 5 phòng khám tư nhân chủ yếu hoạt động khám ngoại trú Tuy nhiên, các phòng khám này chưa đáp ứng đủ cơ sở vật chất và số giường bệnh theo quy định để thực hiện điều trị nội trú, cũng như chưa đăng ký khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT.

2.3.3 Công tác tổ chứctruyền thông,vận động người dân tham gia BHYT

Để nâng cao tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của người dân huyện Bố Trạch, các giải pháp tuyên truyền và vận động đã được triển khai mạnh mẽ Huyện đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền sáng tạo, như tổ chức các buổi nói chuyện và đối thoại trực tiếp tại các thôn xóm, giúp người dân nhận thức rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình khi tham gia BHYT Thông qua các tiểu phẩm sân khấu hóa với những tình huống gần gũi, thông điệp về thủ tục, chính sách và quyền lợi khi tham gia BHYT đã được truyền tải hiệu quả, khuyến khích người dân tích cực tham gia.

Bảng 2.14 Tình hình tổ chức tuyên triền về BHYT

TT Tiêu thức Đơn vị tính

2 Băng rôn, áp phích cái 68 72 86

3 Hội nghị tuyên truyền hội nghị 2 2 3

4 Hội nghị đối thoại hội nghị 0 1 2

Công tác tuyên truyền Bảo hiểm y tế (BHYT) đã được triển khai hiệu quả thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa Bảo hiểm xã hội huyện và các cơ quan, đơn vị địa phương Bảo hiểm xã hội huyện đã chủ động cung cấp thông tin cho báo chí về các hoạt động và chính sách mới liên quan đến người dân Hàng năm, huyện phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn thực hiện tuyên truyền trực quan, phát hành 58.000 tờ rơi với nội dung thiết thực như “Những điều cần biết về BHXH tự nguyện, BHYT tự nguyện” và “Những điều cần biết đối với học sinh, sinh viên” Tuy nhiên, kinh phí cho công tác tuyên truyền còn hạn chế, và đội ngũ tuyên truyền mỏng nên việc nâng cao nhận thức về BHYT trong cộng đồng vẫn gặp nhiều khó khăn Tóm lại, mặc dù có sự kiên trì trong thực hiện chính sách BHYT, nhưng công tác tuyên truyền chưa đáp ứng đủ yêu cầu để phát triển BHYT toàn dân.

PHÂN TÍCH Ý KIẾN CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN

2.4.1 Thông tin chung về đối tượng điều tra Để tiến hành đánh giá thực trạng triển khai công tác phát triểnBHYT toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tác giả đã triển khai đánh giá theo phương pháp điều tra mẫuvới 2 nhóm đối tượng là những ngườithuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc và những người thuộc đối tượng chưatham gia BHYT tự nguyện, cụ thể:

* Nhóm 1 những người thuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc làngười lao động và SDLĐ: (gồm 03 đơn vị nghiên cứu là Chi nhánh Lâm trường Rừng Thông

Bố Trạch; Công ty Cổ phần Đại Thành; Trường THPT Lê QuýĐôn)

+ Đơn vị Chi nhánh Lâm trường Rừng Thông Bố Trạch với dung lượng mẫu:

20 (số người thuộc đơn vị);

+ Đơn vị Công ty Cổ phần Đại Thành với dung lượng mẫu: 20 (số người thuộc đơn vị);

+ Đơn vị Trường THPT Lê Quý Đônvới dung lượngmẫu: 20 (số người thuộc đơn vị);

Qua thực tế điều tra đánh giá về chất lượng dịch vụ KCB bằng thẻ BHYT và tổng hợp tính toán ta được bảng kết quả dưới đây:

Bảng2.15 Tổng hợp kết quả điều tra nhóm NLĐ & chủ SDLĐ

Mức độ Rất hài lòng Hài lòng Chưa hài lòng

Tiêu chí SL(ng) % SL(ng) % SL(ng) %

Cơ sở vật chất phục vụ KCB

(phòng, gường, thiết bị máy móc…)

2 Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế (Y, bác sỹ) 6 10 31 51,7 23 38,3

3 Tinh thần, thái độ của nhân viên y tế 5 8,3 30 50 25 41,7

Giải quyết các thủ tục trong

KCB (nhập viện, ra viện, chuyển viện)

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra đánh giá của tác giả

Theo nhận xét về cơ sở vật chất phục vụ khám chữa bệnh, có 14 người (23,3%) rất hài lòng, 22 người (36,7%) hài lòng, và một số người cho rằng mức độ chưa hài lòng.

Khoảng 40% người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) không hài lòng với cơ sở vật chất phục vụ khám chữa bệnh (KCB), cho thấy rằng phòng, giường, và thiết bị máy móc chưa đáp ứng đủ nhu cầu Cơ sở vật chất đã xuống cấp và thiếu đồng bộ, không gian chật hẹp do tăng thêm giường bệnh Mặc dù có một số người rất hài lòng, tỷ lệ này vẫn còn thấp Điều này khẳng định cần thiết phải đầu tư thêm máy móc và thiết bị để nâng cao chất lượng KCB, từ đó cải thiện nhận thức của người lao động và chủ sử dụng lao động khi đến cơ sở y tế.

Kết quả điều tra cho thấy trong 60 mẫu về trình độ chuyên môn của cán bộ y tế, chỉ có 10% người rất hài lòng, 51,7% hài lòng và 38,3% chưa hài lòng, cho thấy chất lượng chuyên môn ở tuyến cơ sở chưa đạt yêu cầu Sự phân biệt trong phục vụ người có thẻ BHYT cùng với tình trạng quá tải ở tuyến tỉnh và trung ương đã khiến người dân không mặn mà với việc khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT Đặc biệt, có 41,7% người không hài lòng với tinh thần thái độ phục vụ của đội ngũ y, bác sĩ.

Giải quyết các thủ tục trong khám chữa bệnh (KCB) như nhập viện, ra viện, và chuyển viện hiện còn rườm rà và phức tạp, khiến 33,3% người dân không hài lòng Việc chuyển viện thường phụ thuộc vào cơ chế xin cho, dẫn đến tâm lý thiếu tin tưởng vào chính sách và giảm sự tham gia vào bảo hiểm y tế (BHYT).

Qua thực tế điều tra đánh giá về kinh phí tham gia BHYT và tổng hợp tính toán ta được bảng kết quả dưới đây:

Bảng2.16 Tổng hợp kết quả điều tra nhóm NLĐ & chủ SDLĐ

Mức độ Cao Trung bình Thấp

Tiêu chí SL(ng) % SL(ng) % SL(ng) %

2 Định mức kinh phí thanh toán KCB 6 10 34 56,7 20 33,3

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra đánh giá của tác giả

Mức phí nộp BHYT hiện tại được quy định là 4,5% tiền lương, trong đó NLĐ đóng 1,5% và chủ SDLĐ đóng 3% Chỉ có 15% người cho rằng mức phí này cao, trong khi 65% cho rằng mức phí đóng là trung bình và 20% xem là thấp Điều này cho thấy sự tác động của mức phí BHYT đến việc tham gia BHYT của nhóm đối tượng này là rất ít, bởi họ thực hiện đóng nộp theo tổ chức và hầu hết đều đồng tình với mức đóng quy định Về định mức kinh phí thanh toán KCB, trong 60 mẫu điều tra, chỉ 10% cho rằng mức này cao, 56,7% cho rằng trung bình, và số còn lại cho rằng thấp.

Trong số 20 người, có 33,3% thuộc nhóm đối tượng có thu nhập ổn định, có khả năng quản lý chi tiêu hợp lý Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số ít người gặp khó khăn và cần sự hỗ trợ từ Nhà nước cùng các tổ chức về mức phí tham gia bảo hiểm y tế (BHYT).

* Nhóm 2 những người thuộc đối tượng chưa tham gia BHYT tự nguyện: (gồm 02 đơnvịnghiên cứu là xãĐồng Trạchvà xã Trung Trạch)

+ Đơn vịxãĐồng Trạchvới dung lượng mẫu: 30 (số người thuộc đơn vị);

+ Đơn vị xã Trung Trạch với dung lượngmẫu:30 (số người thuộc đơn vị);

Tổng dung lượng mẫu cần điều tra cho nhóm này là 60 qua thực tế điều tra và tổng hợp tính toán ta được bảng kết quả dưới đây:

Bảng 2.17 Tổng hợp kết quả điều tra nhóm người chưatham gia BHYT tự nguyện (Dung lượng mẫu là: 60)

Mức độ Chưa biết Đã biết

Tiêu chí SL(ng) % SL(ng) %

1 Sự hiểu biết về ý nghĩa tác dụng của việc tham gia bảo hiểm y tế 38 63,3 22 36,7

2 Sự hiểu biết về quyền lợi, nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm y tế 32 53,3 28 46,7

3 Sự hiểu biết về mức kinh phí đóng góp khi tham gia bảo hiểm y tế 31 51,7 29 48,3

4 Sự hiểu biết về thủ tục tham gia bảo hiểm y tế 36 60 24 40

Nguồn: Tổng hợptừ phiếu điều tra đánh giá của tác giả

Công tác tuyên truyền về chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) chưa hiệu quả, dẫn đến 63,3% người dân chưa hiểu rõ ý nghĩa và lợi ích của việc tham gia BHYT, trong khi 53,3% không nắm được quyền lợi và nghĩa vụ của mình Hình thức tuyên truyền hiện tại chưa phong phú và không phù hợp với nhu cầu của người dân, do thời gian làm việc trùng khớp với giờ tuyên truyền Việc phổ biến thông tin trực tiếp tại thôn xóm là cần thiết, nhưng cán bộ phải làm ngoài giờ, trong khi thông tin qua đài báo, ti vi cần kinh phí và sự can thiệp của chính phủ Đánh giá về công tác khám chữa bệnh (KCB) cho thấy, mặc dù địa phương có nhiều cơ sở y tế chất lượng cao, 50% người dân vẫn cho rằng thủ tục KCB phức tạp, và 55% đánh giá chất lượng KCB bằng thẻ BHYT chưa tốt Nhóm đối tượng như nông dân và lao động tự do cũng gặp khó khăn trong việc nắm bắt thủ tục tham gia BHYT, với 60% cho rằng thủ tục khó khăn và 51,7% không biết mức đóng Mặc dù đã triển khai nhiều hình thức tuyên truyền như văn bản hướng dẫn và tờ rơi, nhưng sự đa dạng và phong phú còn hạn chế Địa phương có điều kiện kinh tế tốt, nhưng để nâng cao tỷ lệ tham gia BHYT, cần cải thiện công tác triển khai, tổ chức thực hiện chính sách và chất lượng dịch vụ KCB, giúp người dân nhận thức rõ hơn về lợi ích của việc tham gia BHYT.

2.4.2 Kết quả số người tham gia BHYT tại các đơn vị nghiên cứu

Bảng 2.18 Kết quả số người tham gia BHYT tại các đơn vị điều tra 2014-2016 Đơn vị: người

Nhóm Đơn vị Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016

I Nhómđối tượngtham gia BHYT bắtbuộc 441 401 390

1 Chi nhánh Lâm trường Rừng thông Bố Trạch 125 122 103

2 Công ty Cổ phần Đại Thành 87 39 28

II Nhómđối tượngtham gia BHYT tự nguyện 776 1.036 1.821

Nguồn: Tổng hợp Báo cáoBHXH 2014 - 2016

Bảng số liệu cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong tỷ lệ tăng và giảm người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) giữa các nhóm đối tượng tại các đơn vị nghiên cứu, điều này được thể hiện qua việc tổng hợp theo nhóm và biểu đồ dưới đây.

Biểu đồ2.4 Số ngườitham gia BHYT 02nhóm điềutra

- Nhóm 1 những người thuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc là NLĐ và chủ SDLĐ có trách nhiệm tham gia BHYT:

Chi nhánh Lâm trường Rừng Thông Bố Trạch, thành lập năm 2010, là doanh nghiệp nhà nước chuyên quản lý và bảo vệ rừng, với các hoạt động như trồng, chăm sóc rừng cao su và khai thác lâm sản Hiện tại, chi nhánh có 103 cán bộ và công nhân, nhưng từ năm 2014 đến 2016, số lao động đã giảm 22 người, tương đương 17,6%, do quy mô sản xuất thu hẹp và công nghệ lạc hậu Mặc dù đơn vị tham gia bảo hiểm y tế cho 100% người lao động, nhưng gặp khó khăn trong việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, dẫn đến tình trạng chậm nộp trên 6 tháng.

Công ty Cổ phần Đại Thành là một doanh nghiệp cổ phần chuyên sản xuất và gia công sản phẩm may mặc Từ năm 2014 đến năm 2016, số lao động của công ty đã tăng 59 người, tương đương 67,8%, nhờ vào giai đoạn phát triển và mở rộng sản xuất Tuy nhiên, từ năm 2014 trở lại đây, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, công ty đã phải điều chỉnh quy mô sản xuất Theo điều tra thực tế, hiện có 36 lao động có hợp đồng từ 3 tháng trở lên chưa tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), và 8 lao động kê khai đóng BHYT không đúng với thu nhập trên bảng lương Việc nộp tiền BHYT của công ty đang gặp khó khăn, với số nợ đọng từ 6 đến 8 tháng, cho thấy việc chấp hành pháp luật về BHYT của doanh nghiệp chưa nghiêm túc.

Trường trung học phổ thông Lê Quý Đôn là một đơn vị sự nghiệp có thu trong lĩnh vực y tế, chuyên hoạt động khám và chữa bệnh Hàng năm, số lượng lao động tại trường tăng lên, tuy nhiên, việc trích nộp bảo hiểm y tế (BHYT) luôn được thực hiện nghiêm túc và đều đặn Hiện tại, trường có 259 cán bộ, trong đó tất cả 259 người đều tham gia BHYT, đạt tỷ lệ 100%.

- Nhóm 2 những người thuộc đối tượng tham gia BHYT tự nguyện

Xã Trung Trạch có dân số 5.102 người (tính đến 31/12/2016), chủ yếu sống tại 8 thôn và làm nghề nông nghiệp cũng như thủ công mỹ nghệ Tại thời điểm điều tra, chỉ có 3.548 người có thẻ BHYT, chiếm 69,5%, trong khi 1.554 người (30,5%) chưa tham gia Mặc dù số người tham gia BHYT tự nguyện tăng trung bình 141 người mỗi năm, tỷ lệ này vẫn thấp so với mục tiêu 90% dân số có BHYT vào năm 2019, tương đương với 4.592 người Để đạt được mục tiêu này, cần vận động thêm 1.044 người tham gia BHYT trong những năm tới.

Xã Đồng Trạch có dân số 5.638 người, sinh sống tại 10 thôn, chủ yếu làm nghề buôn bán, lao động tự do và sản xuất nông nghiệp Tính đến 31/12/2016, có 3.666 người có thẻ BHYT, chiếm 65% dân số, trong khi 1.972 người, tương đương 35%, chưa tham gia BHYT Mục tiêu đến năm 2019 là đạt 90% dân số có BHYT, tương ứng với 5.074 người, đòi hỏi cần vận động thêm 1.408 người tham gia Việc điều tra và xử lý thông tin qua bảng hỏi cho các đối tượng nghiên cứu mang lại kết quả có ý nghĩa lớn, giúp nhận diện điểm mạnh và hạn chế trong công tác BHYT, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện BHYT toàn dân.

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH

2.5.1 Đánh giá kết quả đạt được

Từ khi thành lập, BHXH huyện Bố Trạch đã đạt được nhiều kết quả quan trọng dưới sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam và các cơ quan địa phương Sự đoàn kết và nỗ lực của cán bộ công chức đã giúp ổn định công tác tổ chức, cải cách hành chính và các hoạt động nghiệp vụ Những nỗ lực này đã góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống người lao động và tình hình chính trị, xã hội tại huyện Bố Trạch.

Công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) đã thu hút sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị cấp quận, huyện Các hình thức tuyên truyền đa dạng như sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, phát hành ấn phẩm miễn phí, tổ chức tập huấn và hội nghị đã mang lại hiệu quả tích cực Ngoài ra, việc phối hợp với các ngành để tổ chức tuyên truyền trực tiếp tại các đơn vị sử dụng lao động, tổ chức hội thi và viết tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng được thực hiện tích cực Qua thời gian triển khai, chính sách BHXH, BHYT và bảo hiểm thất nghiệp đã dần đi vào cuộc sống, giúp doanh nghiệp và người sử dụng lao động nắm rõ nội dung cơ bản, nâng cao nhận thức về trách nhiệm và tuân thủ pháp luật liên quan.

Công tác phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) tại huyện Bố Trạch ngày càng được mở rộng, đặc biệt sau khi thực hiện Luật BHYT sửa đổi, bổ sung năm 2014 Số lượng người tham gia BHYT tăng liên tục qua các năm, với 141.787 đối tượng tham gia vào năm 2016, đạt tỷ lệ bao phủ 77,2% theo lộ trình của Chính phủ BHXH huyện đã chủ động phối hợp với các ngành để kiểm tra, giám sát và phát triển đối tượng tham gia BHYT, coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội Mặc dù số người tham gia BHYT đã tăng đáng kể, huyện Bố Trạch vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với toàn tỉnh Quảng Bình, cho thấy hiệu quả trong công tác phát triển đối tượng của BHXH huyện.

Công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT là nhiệm vụ trọng tâm trong tổ chức và triển khai của ngành BHXH huyện Bố Trạch đã tiến hành rà soát và tham mưu cho UBND huyện giao chỉ tiêu phát triển BHYT cho các xã, thị trấn, đồng thời phân công cán bộ chuyên quản theo dõi từng khu vực Mặc dù gặp khó khăn do sự cố môi trường biển vào năm 2016, nhờ sự chỉ đạo và nỗ lực của toàn thể công chức, viên chức, BHXH huyện Bố Trạch đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu được giao.

Từ tháng 1/2012, BHXH huyện Bố Trạch đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính liên thông “một cửa”, cắt giảm nhiều thủ tục nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và đơn vị tham gia BHYT Thời gian cấp thẻ BHYT đã được rút ngắn từ 10 ngày xuống còn 5 ngày cho thẻ cấp mới, và từ 5 ngày xuống còn trong ngày làm việc cho thẻ cấp lại do sai, mất, hỏng BHXH huyện cũng đã áp dụng dịch vụ công trong việc tiếp nhận và chuyển trả thẻ BHYT qua hệ thống Bưu điện huyện Hiện tại, 100% các xã, thị trấn có đại lý thu BHYT, với 63 đại lý hoạt động qua hai hệ thống là UBND các xã, thị trấn và Bưu điện huyện, được bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng thường xuyên.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chế độ BHYT tại huyện đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt từ cuối năm 2015 với việc áp dụng khai BHXH, BHYT qua giao dịch điện tử và chữ ký số Các phần mềm này không chỉ giúp quản lý đối tượng tham gia và thu nộp BHYT hiệu quả mà còn nâng cao chất lượng công tác hành chính, giảm thiểu phiền hà và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục Sự đồng tình và hưởng ứng từ các cơ quan, đơn vị cho thấy tính tiện lợi của hệ thống, đồng thời tạo ra cơ sở dữ liệu chính xác và thông suốt từ tỉnh đến huyện, phục vụ tốt cho công tác quản lý của ngành.

Vào thứ sáu, ý thức và trách nhiệm của cán bộ, viên chức BHXH ngày càng được nâng cao Để thực hiện chỉ thị số 725/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cần phát động phong trào thi đua nhằm hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2011 và kế hoạch 5 năm (2011-2015) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ.

BHXH huyện Bố Trạch đã yêu cầu cán bộ, viên chức và hợp đồng lao động quán triệt tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường lãnh đạo trong các phong trào thi đua Mục tiêu là biến thi đua thành ý thức tự giác và trách nhiệm thường xuyên của từng cá nhân, đồng thời thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng phong trào thi đua, gắn liền với nhiệm vụ chính trị và mục tiêu phát triển BHYT Đổi mới công tác khen thưởng để đảm bảo đánh giá thành tích một cách chính xác, dân chủ và công khai Cán bộ, viên chức tại BHXH huyện Bố Trạch cần chuyển đổi nhanh chóng từ tác phong hành chính sang phục vụ, hướng tới sự hài lòng của nhân dân và đơn vị.

Bảo hiểm xã hội huyện Bố Trạch đang nỗ lực cải thiện hiệu quả công việc thông qua việc cải cách thủ tục hành chính và nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ, công chức Đơn vị cũng khuyến khích cán bộ tham gia tích cực vào các phong trào thi đua, nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trong năm.

Năm 2016, phong trào "Đoàn kết, sáng tạo, quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch được giao" đã được phát động, với các cuộc thi đua hàng quý nhằm thúc đẩy phát triển đối tượng tham gia BHXH và BHYT Cán bộ, viên chức đã nỗ lực thực hiện 18 chữ vàng "Năng suất, chất lượng, hiệu quả; kỷ cương, dân chủ, đoàn kết, năng động, sáng tạo, tiết kiệm" Nhờ phát huy sức mạnh tập thể, các chỉ tiêu nhiệm vụ của BHXH huyện đã được hoàn thành xuất sắc.

Mặc dù huyện Bố Trạch đã đạt được những kết quả bước đầu trong việc phát triển bảo hiểm y tế (BHYT) hướng tới BHYT toàn dân, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được xem xét và khắc phục trong quá trình thực hiện.

Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) tại huyện chỉ đạt 77,2% dân số, với sự tham gia của người lao động nông lâm ngư nghiệp, lao động trong doanh nghiệp tư nhân và lao động tự do còn thấp Mặc dù Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng BHYT cho người cận nghèo, nhưng tỷ lệ tham gia vẫn chưa cao Người dân tham gia BHYT tự nguyện chủ yếu là những người mắc bệnh mạn tính, dẫn đến thu nhập từ quỹ BHYT luôn thấp hơn chi phí khám chữa bệnh, gây ra nguy cơ mất cân đối Đặc biệt, tình trạng trẻ em dưới 6 tuổi chưa được cấp thẻ BHYT, phải dùng giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh khi khám chữa bệnh, làm giảm tỷ lệ tham gia BHYT và gây khó khăn trong việc quản lý chi phí.

Việc xác định tình trạng “cấp cứu” để hưởng bảo hiểm y tế (BHYT) trong trường hợp khám chữa bệnh không đúng cơ sở y tế đăng ký ban đầu và thiếu giấy chuyển viện hiện chưa có quy định cụ thể Điều này có thể dẫn đến việc lạm dụng khám chữa bệnh trái tuyến, vượt tuyến, làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh và khó kiểm soát, từ đó tăng nguy cơ bội chi Quỹ khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện.

Quản lý đấu thầu và mua sắm thuốc, vật tư y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Bố Trạch hiện đang gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sự chênh lệch giá thuốc không hợp lý so với các bệnh viện khác trong tỉnh, gây lãng phí Quỹ BHYT Việc thực hiện thanh toán chi phí KCB BHYT theo định suất cũng bộc lộ nhiều hạn chế, khi bệnh viện có xu hướng giữ bệnh nhân lại để điều trị, hạn chế chuyển tuyến và chi phí KCB tuyến xã, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bệnh Hơn nữa, quy định tính suất phí chung toàn tỉnh theo 6 nhóm đối tượng để khoán chi phí KCB cho Bệnh viện đa khoa huyện Bố Trạch là chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng thẻ BHYT tại huyện có nhu cầu KCB cao nhưng Quỹ KCB không đủ, tiềm ẩn nguy cơ vượt Quỹ KCB.

Tại Bệnh viện đa khoa huyện Bố Trạch và các Trạm Y tế, tình trạng các y bác sĩ chỉ định thuốc và dịch vụ kỹ thuật không hợp lý cho bệnh nhân có thẻ BHYT vẫn diễn ra, dẫn đến lãng phí Quỹ BHYT và gây phiền hà cho bệnh nhân.

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Ngày đăng: 28/06/2021, 10:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[7] BHXH Việt Nam (2015), Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/9/2015 của BHXH Việt Nam về Ban hành quy trình quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN;quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/9/2015 củaBHXH Việt Nam về Ban hành quy trình quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN
Tác giả: BHXH Việt Nam
Năm: 2015
[9] Bảo hiểm y tế, Điều lệ Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm y tế sự ra đời và đổi mới chính sách an sinh xã hội, Nhà xuất bản Y học, tr. 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm y tế sự ra đời và đổi mới chínhsách an sinh xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
[19] Hiến pháp (1992), Điều 61 Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều 61 Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Tác giả: Hiến pháp
Năm: 1992
[20] Nhà xuất bản từ điển Bách khoa (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam I, tr.151 [21] Nguyễn Văn Định, (2008), Giáo trình An sinh xã hội, NXB Đại học kinh tếquốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam I
Tác giả: Nhà xuất bản từ điển Bách khoa (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam I, tr.151 [21] Nguyễn Văn Định
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển Bách khoa (1995)
Năm: 2008
[22] Nguyễn Khang (Theo Today in Asia & Pacific) (2009), “Trung Quốc xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân”, Báo BHXH Việt Nam (10), tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc xâydựng kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân
Tác giả: Nguyễn Khang (Theo Today in Asia & Pacific)
Năm: 2009
[23] Nguyễn Vinh Quang (2005), “Kinh nghiệm BHYT toàn dân”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (05), Tr.57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm BHYT toàn dân
Tác giả: Nguyễn Vinh Quang
Năm: 2005
[25] Hoàng Trang, Hải Hồng (2006), “BHYT- thực trạng, thách thức và giải pháp”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (11), Tr.19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BHYT- thực trạng, thách thức và giải pháp
Tác giả: Hoàng Trang, Hải Hồng
Năm: 2006
[28] Tạp chí BHXH (2015), Đẩy mạnh lộ trình bao phủ BHYT toàn dân, số 270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh lộ trình bao phủ BHYT toàn dân
Tác giả: Tạp chí BHXH
Năm: 2015
[18] Đổi mới phương thức chi trả và phát triển bảo hiểm y tế toàn dân: bài học từ Thái Lan (16/03/2011), http://www.vhea.org.vn/ Link
[1] Bảo hiểm xã hội (2010), 15 năm thực hiện chính sách BHXH, BHYT góp phần đảm bảo ASXH Khác
[3] BHXH huyện Bố Trạch (2015), Báo cáo tổng kết năm 2015 Khác
[4] BHXH huyện Bố Trạch (2016), Báo cáo tổng kết năm 2016 Khác
[5] BHXH Quảng Bình (2016), Báo cáo tổng kết năm 2015, Phương hướng nhiệm vụ năm 2016 Khác
[6] BHXH Việt Nam (2011), Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25/10/2011 của BHXH Việt Nam về Ban hành quy trình quản lý thu BHXH, BHYT; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT Khác
[8] Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2016), Quyết định số 1414/QĐ-BHXH, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa phương Khác
[10] Bộ chính trị (2012), Nghị quyết số 21 ngày 22/11/2012 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Công tác BHYT,BHXH giai đoạn 2012-2020 Khác
[11] Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23-02-2005 về công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới Khác
[12] Bộ Y tế - Bộ Tài chính (2009), Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-TC ngày 14-8-2009, của liên Bộ Y tế, Tài chính, Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế Khác
[13] Bộ Y tế - Bộ Tài chính (2014), Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT-BTC Khác
[14] Chính phủ (2013), QĐ số 538/QĐ ngày 29/03/2013 của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt đề án thực hiện lộ trình bảo hiểm y tê toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2.2. Tình hình dân số, lao động - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
2.1.2.2. Tình hình dân số, lao động (Trang 41)
Bảng 2.1. Dân số và mật độ dân số trên địa bàn huyện (người/km2) - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.1. Dân số và mật độ dân số trên địa bàn huyện (người/km2) (Trang 42)
Bảng 2.2. Đối tượng, số lượng người tham gia BHYT T - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.2. Đối tượng, số lượng người tham gia BHYT T (Trang 49)
Bảng 2.3. Thực trạng bao phủ dân số BHYT theo địa bàn - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.3. Thực trạng bao phủ dân số BHYT theo địa bàn (Trang 52)
Qua báo cáo số liệu bảng trên cho thấy Baophủ về dân số tham gia BHYT giữa các địa bàn củahuyện Bố Trạchcó sự  khác biệt, khu vực thị  trấn dân cư tập trung có độ bao phủ bình quân 86,7%, khu vực nông thôngồm 28 xã (trongđócó 8 xãđặc biệt khó khăn được nh - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
ua báo cáo số liệu bảng trên cho thấy Baophủ về dân số tham gia BHYT giữa các địa bàn củahuyện Bố Trạchcó sự khác biệt, khu vực thị trấn dân cư tập trung có độ bao phủ bình quân 86,7%, khu vực nông thôngồm 28 xã (trongđócó 8 xãđặc biệt khó khăn được nh (Trang 54)
Baophủ BHYTkhu vực thị trấn - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
aoph ủ BHYTkhu vực thị trấn (Trang 54)
Bảng 2.4. Thực trạng về cơ sở khám chữa bệnh BHYT - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.4. Thực trạng về cơ sở khám chữa bệnh BHYT (Trang 55)
Bảng 2.5. Tình hình thu Quỹ BHYT - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.5. Tình hình thu Quỹ BHYT (Trang 56)
Bảng 2.6. Thực trạng năng lực khám chữa bệnh BHYT - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.6. Thực trạng năng lực khám chữa bệnh BHYT (Trang 58)
Bảng 2.7. Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu theo nhóm đối tượng - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.7. Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu theo nhóm đối tượng (Trang 59)
Bảng 2.8. Thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh ban đầu theo tuyến TTCơ sở khám chữa bênhNăm 2014Năm 2015 Năm 2016 - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.8. Thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh ban đầu theo tuyến TTCơ sở khám chữa bênhNăm 2014Năm 2015 Năm 2016 (Trang 60)
Bảng 2.9. Thực trạng Baophủ về chi phí khám chữa bệnh (đúng tuyến) - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.9. Thực trạng Baophủ về chi phí khám chữa bệnh (đúng tuyến) (Trang 62)
Bảng 2.10. Thực trạng Baophủ về chi phí khám chữa bệnh (không đúng tuyến) - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.10. Thực trạng Baophủ về chi phí khám chữa bệnh (không đúng tuyến) (Trang 63)
Biểu đồ 2.3. Tình hình cân đối quỹ BHYT - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
i ểu đồ 2.3. Tình hình cân đối quỹ BHYT (Trang 65)
Việc hình thành và phát triển hệ thống đại lý thu BHXH,BHYT đã hỗ trợ - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
i ệc hình thành và phát triển hệ thống đại lý thu BHXH,BHYT đã hỗ trợ (Trang 67)
Bảng 2.13. Thực trạng tổ chức các cơ sở khám chữa bệnh BHYT TTCơ sở khám chữa bệnhĐơn vị - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.13. Thực trạng tổ chức các cơ sở khám chữa bệnh BHYT TTCơ sở khám chữa bệnhĐơn vị (Trang 68)
Bảng 2.14. Tình hình tổ chức tuyên triền về BHYT - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.14. Tình hình tổ chức tuyên triền về BHYT (Trang 70)
2.4. PHÂN TÍCH Ý KIẾN CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
2.4. PHÂN TÍCH Ý KIẾN CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHYT TOÀN DÂN (Trang 71)
Bảng 2.16. Tổng hợp kết quả điều tra nhóm NLĐ & chủ SDLĐ (Dung lượngmẫu là: 60) - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.16. Tổng hợp kết quả điều tra nhóm NLĐ & chủ SDLĐ (Dung lượngmẫu là: 60) (Trang 73)
Bảng 2.18. Kết quả số người tham gia BHYT tại các đơn vị điều tra 2014-2016 - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.18. Kết quả số người tham gia BHYT tại các đơn vị điều tra 2014-2016 (Trang 75)
Nhằm khảo sát về tình hình thực hiện Phát triển BHYT toàn dân tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
h ằm khảo sát về tình hình thực hiện Phát triển BHYT toàn dân tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (Trang 99)
Nhằm khảo sát về tình hình thực hiện Phát triển BHYT toàn dân tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
h ằm khảo sát về tình hình thực hiện Phát triển BHYT toàn dân tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (Trang 100)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w