1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tìm hiểu về thuế nhà nước: Phần 1

158 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 6,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 cuốn giáo trình cung cấp cho người học các kiến thức: Những ván đề chung về thuế, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 2

LỜI NÓI DẦU

Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới của đất nước, chính sảch, c h ế độ về tài chính, k ế toán không ngừng được đổi mới

và hoàn thiện đ ể phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã, hội trong nước và hợp tác, hội nhập quốc tể Nhằm đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa về nội dung, chương trình đào tạo cán bộ tài chính, k ế toán có trình độ trung học trong giai đoạn hiện nay, Bộ Tài chính tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn giáo trình “ThuếN hà nước” Giáo trình do cô giáo Đ ỗ Thị Thanh Vân, Phó Hiệu trưởng - Trường Trung học Tài chính k ế toán I chủ biên và các giáo viên: Nguyễn Thị Lân, Hoàng Lan Anh, Đoàn Thị Nga, H ồ Ngọc Hà, Nguyễn Thị Thịnh, Lê Xuân Trường cùng tham, gia biên soạn.

Giáo trình “T h u ế Nhà nước” hoàn thành là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học của tác giả và được các chuyên gia đầu ngành tham gia góp ý kiến.

Giáo trình đã, được Hội đồng thẩm định Bộ Tài chính xét duyệt

do PGS.TS Trần Vãn Tá - Thứ trưởng Bộ Tài chính Chủ tịch và các thành viên: TS Quách Đức Pháp Vụ trưởng Vụ Chính sách Tài chính, Cử nhân Trương Chí Trung Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, TS Đ ỗ Thị Thìn Trưởng phòng Tổng cục Thuế, Th.s Phạm Mạnh Hùng Phó Vụ trưởng Vụ TCCB & ĐT, Cử nhân Đ ỗ Đình Lâm Trưởng phòng Quẩn lý đào tạo - Vụ TCCB & ĐT, c ử nhân Nguyễn Vãn Túc Phó Trưởng phòng - Vụ TCCB & ĐT, PGS.TS Lê Văn Á i

3

Trang 3

Phố Viện trưởng Viện khoa học tài chính - Học viện Tài chính, TS Nguyễn Thị Liên Phó Trưởng khoa Học viện Tài chính, T h.s Vương Thu Hiền Giảng viên Học viện Tài chính.

Mong rằng giáo trình s ẽ là tài liệu hữu ích trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo bậc trung học về kinh tế, tài chính -

k ế toán.

Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn và xuất bản không tránh khỏi những khiếm khuyết, Bộ Tài chính và tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc.ỉ.

Hà Nội, ngày 03 thắng 4 năm 2002

BỘ TÀI CHÍNH

Trang 4

Chương I

NHŨNG VẤN ĐỂ CHUNG VỂ THUẾ

I- THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONỌ NỂN k i n h

TẾ THỊ TRƯỜNG

1- Sự ra đời và tính tất yếu khách quan của thuế:

Lịch sử phát triển của xã hội loài ngưòi đã chứng minh rằng thuế ra đời là đòi hỏi cần thiết khách quan gắn liền vói sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước

Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt

ra để cai trị xã hội Nhà nước xuất hiện đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo cho Nhà nưóe tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình Do đó, Nhà nước phải dùng quyền lập pháp và hành pháp vốn

có để tập trung một bộ phận của cải của xã hội vào trong tay Nhà nưóe Việc huy động, tập trung của cải đó có tính chất bắt buộc đối vói mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế

Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, song quan niệm về thuế ở mỗi hình thái xã hội có khác nhau Trong chế độ phong kiến phân quyền, mọi khoản chi tiêu của các chư hầu đều được trang ữải từ phần tài sản riêng của họ, do đó, ý niệm về thuế khóa rất đơn giản và thường có tính chất tượng trưng Lúc đó các cá nhân cung cấp dịch vụ trực tiếp cho các chủ thái ấp và chư hầu được coi là khoản nộp thuế, song nó không được quy định một cách rõ ràng và thống nhất

Đến chế độ phong kiến tập quyền, nhà nước quân chủ ra đời, Nhà nước chịu trách nhiộm thành lập và nuôi dưỡng quân đội, tổ

5

Trang 5

chức bộ máy công quyền, quan lại để cai trị Đ ể cung cấp lương bổng cho quân sĩ và quan lại, nhà cầm quyền đã đạt ra một hệ thống thuế khóa nhằm huy động sự đóng góp tiền bạc của dân chúng cho

đế chế

Khi cuộc cách mạng tư sản thế giới thành công, giai cấp tư sản lên nắm chính quyền đã chủ trương xây dựng Nhà nước tự do, không can thiệp vào hoạt động kinh tế của các lực lượng thị trường Nhà nước chỉ đảm nhận nhiệm vụ giữ gìn bờ cõi và an ninh xã hội, do đó nhu cầu chi tiêu của Nhà nước không nhiều Vì vậy thuế khóa chỉ đóng vai trò huy động nguồn lực tài chính tối thiểu để nuôi sống bộ máy nhà nước và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc bảo vệ quốc phòng và giữ vững an ninh

Vào những năm 1929 - 1933, nền kinh tế của các nước tư bản lâm vào khủng hoảng, qua đó người ta nhận thấy rằng mô hình Nhà nước không can thiệp vào nền kinh tế đã bộc lộ những hạn chế và không còn phù hợp vói tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người Từ đó cho đến nay, một mô hình kinh tế mới ra đời tỏ ra phù họp và có hiệu quả đã được đa số các nước trên thế giới áp dụng, đó

là nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường có sự can thiệp của Nhà nước Tức là Nhà nước phải can thiệp vào hoạt động kinh tế bằng cách lập ra các chương trình đầu tư lón và thực hiện việc phân phối lại sản phẩm xã hội thông qua công cụ Ngân sách Nhà nước Thuế lúc này được Nhà nước sử dụng như là một công cụ sắc bén để điều chỉnh nền kinh tế

Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Thuế phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồivtại

và phát triển của Nhà nước Cùng vói việc mở rộng các chức năng của Nhà nước và sự phát triển các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, các hình thức thuế ngày càng phong phú hơn, công tác quản lý thuế ngày càng hoàn thiện hơn và thuế đã trở thành công cụ quan trọng,

Trang 6

có hiệu quả của Nhà nước để tác động đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước.

2- Khái niệm và đặc điểm của thuế.

2 1 - Khái niệm.

ở nước ta cho đến nay vẫn chưa ẹó một định nghĩa thống nhất

về thuế Theo từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tụỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định

Nếu xét trên giác độ phạm trù tài chính cũng có thể hiểu thuế là hình thức động viên, phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và người dân tạo ra để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Tuy nhiên, xét về thực chất, thuế được đặc trưng bed các quan

hệ tiền tệ giữa Nhà nước vối các tổ chức và cá nhân trong xã hội, các mối quan hệ này được nảy sinh một cách khách quan và có tính chất

xã hội đặc biệt - việc nộp thuế có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước Nhà nước quy định mức thu và thời hạn thu bằng pháp luật đối với mọi thành viên trong xã hội

Vì vậy, có thể nêu khái niệm tổng quát về thuế như sau:

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thòi hạn được pháp luật quy đinh nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội

2.2- Đặc điểm.

Từ khái niệm trên đây có thể phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác biểu hiện qua các đặc điểm cơ bản sau:

7

Trang 7

- T h u ế là m ột khoản động viên bắt buộc gắn với quyền lực của Nhà nước Tính chất bắt buộc của thuế là một tất yếu khách quan xuất phát từ tính chất cung cấp hàng hoá công cộng và đặc điểm sử dụng hàng hoá công cộng Hàng hoá công cộng phần lớn do Nhà nước sản xuất và cung cấp Nhưng hàng hoá công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị ừường để bù đắp các chi phí bỏ ra Chính vì vậy, trong việc cung cấp hàng hoá công cộng đã xuất hiện những “người ăn không”, nghĩa là không ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hoá công cộng Bởi vậy, Nhà nước chỉ

có thể sử dụng thuế để buộc “người ăn không” chuyển giao thu nhập

từ khu vực tư sang khu vực công nhằm tái tạo và phát triển hơn nữa các hàng hoá và dịch vụ công cộng

Tuy nhiên, thuế là một khoản đóng góp bắt buộc không mang tính hình sự, nghĩa là hành động đóng thuế cho Nhà nước là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân, không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện của vi phạm pháp luật

- T h u ế không mang tính hoàn trả trực tiếp:

Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được b;ểu hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội đóng góp cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp mà người nộp thuế được thừa hưởng Ngưòi nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng cho mình rồi mới nộp thuế Mặt khác, mức độ cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết phải ngarig bằng mức độ đóng góp cỷia người nộp thuế cho Nhà nước Mức đóng góp dưới hình thức thuế nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cũng như nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước

Trang 8

Thứ hai, thuế không mang tính chất hòàn trả trực tiếp có nghĩa

là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một phần các địch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá tri phần dịch vụ đó không nhất thiết phải tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước Đặc điểm này giúp tà phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa thuế với các khoản phí và lệ phí Khác với thuế, phí và lệ phí cũng là khoản thu của Nhà nước nhưng có tính chất đối giá

- T huế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định

Việc đánh thuế của Chính phủ không thể thoát ly yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội bed vì nguồn thu nhập của thuế chính là kết quả của quá trình hoạt động kinh tế Không có hoạt động kinh tế hoặc hoạt động kinh tế kém hiệu quả không thể tạo ra được nguồn thu của thuế Ngược lại việc đánh thuế của Chính phủ tất yếu sẽ ảnh hưởng đến quá trình kinh tế-xã hội

Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tărig trưởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của Ngân sách Nhà nước

Yếu tố chính trị xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị của Nhà nưóc, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc

Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội nên ngưòd ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp

- Thuê được giói hạn trong phạm vỉ biên giới quốc gia bằng quyền lực pháp lý của Nhà nưóc đối với con ngưòd và tài sản

Tóm lại, những đặc điểm cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất, nội dung bên trong của thuế Từ những đặc điểm đó giúp

9

Trang 9

ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của Ngân sách Nhà nước như phí và lệ phí trên nhiều phương diện khác nhau.

3- Vai trò của thuế trong nền kỉnh tế nước ta.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối vói quá trình phát triển kinh tế xã hội Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường ở nước ta được thể hiện trên các m ặt sau đây :

3.1- T huế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách N hà nước

Về bản chất, thu Ngân sách Nhà nước là hệ thống những quan

hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tầng lớp dân cư trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của mình

Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng các hình thức khác nhau:

- Phát hành thêm tiền để ữang ữải các nhu cầu chi tiêu cần thiết của Nhà nước

- Phát hành trái phiếu để vay trong và ngoài nước

- Bán một phần tài sản quốc gia

- Thu thuế

Phát hành thêm tiền để chi tiêu là cách thức đơn giản nhất, song

phát hành thêm tiền để chi tiêu thiếu cơ sở vật chất đảm bảo sẽ dẫn

đến hậu quả lạm phát đưa nền kinh tế đến bên bờ vực thẳm, càng làm khó khăn thêm cho Ngân sách Nhà nước

Phát hành trái phiếu để Vay trong và ngoài nước vừa phải chịu những ràng buộc về kinh tế và chính trị từ phía người cho vay, vừa phải tìm nguồn để hoàn trả cả gốc lẫn lãi Nếu không hoàn trả được

nợ vay sẽ để lại gánh nặng nợ nần cho Chính phủ

Trang 10

Bán tài sản quốc gia dẫn đến nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt và không đảm bảo được nguồn thu ổn định, lâu dài cho NSNN.

Do đó, nhìn chung ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, để huy động tập trung nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, vai trò quan trọng thuộc về thuế Việc sử dụng công cụ thuế để huy động sự đóng góp có ưu điểm:

- Nguồn thu vào Ngân sách Nhà nước thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra Thuế lại là công cụ phân phối có phạm vi rộng lớn, bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực Đối tượng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phát sinh nguồn thu nhập Do vậy, thuế đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định và thường xuyên cho Ngân sách Nhà nước

- Phương thức huy động tập trung nguồn lực của thuế sử dụng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc Do vậy, Nhà nước đảm bảo thực hiện sự công bằng trong việc phân bố gánh nặng của các khoản chi tiêu công cộng

- Nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước chỉ có thể tăng nhiều và nhanh trên cơ sở nền kinh tế có sự tăng ừưởng và đạt hiệu quả cao, đồng thời với ý thức triệt để tiết kiệm của mọi người dân trong cả sản xuất và tiêu dùng Thuế kết hợp giữa phương thức bắt buộc, được quy định dưới hình thức pháp luật cao với kích thích vật chất đã tạo

ra sự quan tâm của các chủ thể kinh tế đến chất lượng và hiệu quả kinh doanh Trên cơ sở đó, thuế đã góp phần tích cực vào việc bồi dưỡng và khai thác nguồn thu ngày càng tăng cho NSNN

3.2- Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kỉnh tế.

Nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những khuyết tật vốn có của nó như mất công bằng, thiếu ổn định, lạm phát Để khắc phục những khuyết tật đó, Nhà nước phải

11

Trang 11

can thiệp vào quá trình hoạt động của nền kinh tế thị trường Trong quá trình can thiệp vào nền kinh tế, Nhà nước đã sử dụng các biện pháp hành chính mang tính chất cưỡng chế và hàng loạt các công cụ kinh tế, đặc biệt là thuế Cùng với việc mở rộng chức năng của Nhà nước, thuế trở thành một công cụ quan trọng để thực hiện quản lý

và điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Nội dung quản lý và điều tiết vĩ mô của thuế đối vói nền kinh tế quốc dân được thể hiện ở những khía canh sau:

Thuế có vị trí quan trọng ữong việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý, hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo định hướng phát triển của Nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân (giữa tích luỹ và tiêu dùng, tiền và hàng, cung và cầu )

Thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm họp lý Nhà nước đã khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết, làm ăn có hiệu quả cao, đồng thời kìm hãm những ngành nghề, m ặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống xa hoa, lãng phí Như vậy, bằng cách áp dụng các chế độ thuế phân biệt đối vói từng ngành kinh tế, từng mặt hàng khác nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển các ngành quan ữọng nhất, giữ vị trí then chốt trong nền kinh

tế hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng Thuế đã góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà nước trong từng giai đoạn

Điều chỉnh nền kinh tế chu kỳ là một trong những nội dung quan trọng của quá trình điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường sự phát triển theo chu kỳ là điều khó ữánh khỏi

Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn đinh, Nhà nước sử dụng thuế để

Trang 12

điều chỉnh quá trình đó Trong những năm khủng hoảng và suy thoái kinh tế, Nhà nước có thể hạ thấp mức thuế, tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng đầu tư và mở rộng sức sản xuất, đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng nhanh chóng Ngược lại, trong thời kỳ phát triển quá mức, có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đặt ra.

Thuế có thể được sử dụng để điều tiết việc làm và thất nghiệp Khi nền kinh tế có mức thất nghiệp cao thì cùng vói việc mở rộng các khoản chi tiêu của Chính phủ, thuế cần phải được cắt giảm để tăng tổng cầu và việc làm Trong thòi kỳ nền kinh tế lạm phát thì cùng vói việc cắt giảm các khoản chi tiêu của Chính phủ, thuế lại được gia tăng để giảm tổng cầu và hạn chế gia tăng lạm phát

Thuế được sử dụng như một công cụ có hiệu quả để góp phần thực hiện chính sách đối ngoại, bảo hộ nền sản xuất trong nước và thúc đẩy sự hội nhập kinh tế trong khu vực và thế giới

Thông qua điều chỉnh mức thuế nhập khẩu mà gây áp lực tăng giá hàng nhập khẩu, làm giảm khả năng cạnh tranh so với hàng hóa sản xuất trong nước, từ đó điều chỉnh khối lượng hàng hóa nhập khẩu để thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nước và bảo vệ lợi ích của thị trường nội địa Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, mở cửa tự

do hoá nền kinh tế, thuế quan dần dần giảm bớt vai trò bảo hộ của

nó Để phát triển hoạt động ngoại thương, tạo nên sức mạnh cạnh tranh mang tính tập thể, những thoả thuận về vấn đề thuế quan nhằm

mở rộng tự do lưu thông hàng hoá giữa các nước vói nhau được hình thành Trên cơ sở đó liên minh thuế quan ra đời Thuế còn góp phần khuyến khích, thu hút yốn đầu tư nước ngoài thông qua việc Chính phủ các nước ký kết Hiệp định tránh đánh thuế trùng và quy định những điều kiện ưu đãi đầu tư Như vậy, việc thi hành chính sách thuế xuất, nhập khẩu, thực hiện liên minh thuế quan và Hiệp định tránh đánh thuế trùng đã góp phần thực hiện chính sách đối ngoại,

13

Trang 13

thúc đẩy sự hội nhập giữa các nước trong khu vực và trên thế giới.

3.3- T h u ế góp phần đảm bảo sự bình đẳng trong chính sách động viên đóng góp cho Nhà nước giữa các thành phần kinh t ế và thực hiện công bằng x ã hội.

Công bằng và bình đẳng là một đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử Trong một xã hội dân chủ, tính công bằng phải được thực hiện trước hết đối với việc phân chia gánh nặng của thuế khoá Có công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế mới động viên các thành viên hăng hái ữong hoạt động sản xuất kinh doanh, giữ vững được thể chế chính trị Tính công bằng, bình đẳng của thuế được biểu hiện trên những khía cạnh sau:

- Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư

Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa những tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau và có thu nhập giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng về quyền lợi

và nghĩa vụ đối vói mọi công dân, không có những đặc quyền, đặc lợi bất hợp lý cho đối tượng nào

- Công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa, đòi hỏi mọi người trong xã hội chỉ có thể có thu nhập ngang nhau Người có thu nhập cao phải đóng thuế cao hơn người có thu nhập thấp, hay nói cách khác, người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác nhưng phải để cho người làm ăn hiệu quả cao có thu nhập cao, thậm chí rất cao so với người làm ăn lưòi biếng, kém hiệu quả, khuyến khích cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi để co thu nhập cao một cách chính đáng

- Bình đẳng, công bằng xã hội không thể chỉ là đạo lý, lý thuyết

mà phải được biểu hiện bằng những luật pháp, chế độ, quy đinh rõ

Trang 14

ràng của Nhà nước Phải có những biện pháp chống thất thu có hiệu quả về đối tượng nộp thuế, về căn cứ tính thuế, về tổ chức quản lý thu thuế, về chế độ miễn giảm, về kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với các vụ vi phạm, khắc phục trường hợp xử lý không đúng pháp luật, quá nặng hoặc quá nhẹ.

Nhận thức đúng đắn và ý thức tự nguyện, tự giác chấp hành các nghĩa vụ khai báo, chế độ sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn, thu nộp thuế theo đúng pháp luật cũng là những yếu tổ quan trọng để chính sách thuế đảm bảo bình đẳng và công bằng xa hội

n - PHÂN LOẠI THUẾ.

Cơ sở nộp thuế suy cho cùng đều bắt nguồn từ thu nhập, song

do yêu cầu của quá trình tái sản xuất, thu nhập trải qua một quá trình vận động ữong một chu trình kinh tế và thay đổi ưạng thái biểu hiện của nó Ban đầu người lao động làm việc cho doanh nghiệp, được doanh nghiệp ứả tiền lương, tiền công, người lao động dùng khoản tiền này để mua hàng hóa của doanh nghiệp, đến lượt các doanh nghiệp lại dùng số tiền thu được để mua vật tư, máy móc, trả lương, trả công cho ngưòi lao động

Chính sự biến đổi trạng thái đa dạng này đã tạo ra khả năng đánh thuế của Chính phủ trên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín Trong quá trình vận động khép kín của dòng thu nhập đó

nảy sinh các cơ sở thuế khác nhau và do đó đòi hỏi các hình thức

thuế cũng phải khác nhau Các hình thức thuế này có mối quan hệ mật thiết vói nliau được xây dựng theo một nguyên tắc nhất đinh và được tổng hợp trong một hệ thống thống nhất gọi là hệ thống thuế

Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Để định hướng xây dựng và quản lý hệ thống thuế, người ta tiến hành sắp xếp các sắc thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác nhau gọi là phân loại thuế

15

Trang 15

Phân loại th u ế là việc sắp xếp cấc sắc th u ế trong hệ thống th u ế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định.

Phân loại thuế có ý nghĩa quan ữọng ừong quản lý thu thuế từ khâu xây dựng chính sách đến khâu triển khai thực hiện

Mỗi hình thức thuế có vai ữò và tác dụng khác nhau trong việc tập trung huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước và tác động đến đời sống kinh tế xã hội trong cả nước Để phát huy vai trò và tác dụng của thuế, trọng quá trình xây dựng hệ thống thuế cần kết hợp những ưu thế của từng hìủh’ thức thuế và hạn chế tiến tói loại bỏ những điểm hạn chế của chúng Việc phân loại thuế sẽ giúp ta hiểu

rõ đặc thù của từng loại thuế nói riêng và ảnh hưởng của chúng trong

hệ thống thuế nói chung để vận dụng đúng đắn trong quá trình xây dựng chính sách thuế cho phù hợp

Mặt khác, do những đặc điểm riêng của từng loại thuế mà mỗi hình thức thuế đòi hỏi những quy trình thu thuế riêng biệt Phân loại thuế chính xác là cơ sở quan ừọng để tổ chức việc thu nộp thuế phù hợp với quy trình thu từng loại thuế

Thuế có nhiều loại, tùy theo yêu cầu của việc xem xét, đánh giá

và phân tích mà có thể phân loại thuế theo những tiêu thức khác nhau Thông thường, thuế được phân loại theo tính chất chuyển dịch của thuế và theo đối tượng đánh thuế

1- Phán loại theo tính chất chuyển dịch của thuế.

Các hình thức thuế suy cho cùng đều đánh vào thu nhập của người nộp thuế, tức là gánh nặng của thuế nhiều hay ít đối vói người nộp tùy theo thu nhập của người nộp thuế cao hay thấp Tuy nhiên, gánh nặng đó trong nền kinh tế thị trường có thể chỉ tập trung vào một đối tượng nhất định nào đó và cũng có thể được chia sẻ cho nhiều chủ thể, tức là thuế có thể chuyển dịch từ người này sang người khác do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau làm gánh

Trang 16

nặng của thuế không hoăn tơăn phu thuộc, văo ithu nhập của người nộp thuế Vrvậy, tùy theo sự chuyển dịẻh.của thuế đối vối người nộp thuế mă' người ta chia hệ thống thuế thănh hai loại': âi

- Thuếtrực thu: Lă loại thuế đânh ứực tiếp vằ thụ nhập họặc

tăi sản của người nộp'thuế

Thuế trực thu có đặc điểm lă người nộp thuế đồng thời cũng lă người chịu thuế Loại thuế trực thìU-hưqtpg l^ ọ gồm câc_sâc thuế có

đối tượng đânh thuế lă thu nhập kẾrhĩtítíiKQổỊ mióẹđa, íhnl^rực thu

bao gồm : Thuế thu nhập doanh n|hiệp;% uế fhỉrfthập đối vpri người

có thu nhập cao ' ■ Ị; ỊL 1 T H | j t V Ì Ẽ H *

- Thuế giân thu: Lă loặi thuế không trựờ ổềpT ỉắntrvằồ thu nhập

vă tăi sản của người nộp thuế mă đânh một câch giân tiếp thông qua giâ cả hăng hóa vă dịch vụ Người tiíu dùng hoặc người được cung cấp nhũng hăng hóạ vă dịch vụ lă: người chịu thuế năy i

Thuế giân thu có đặc điểm lă người trực’ tiếp nộp thuế không phải lă người chịu thuế; Lóại thuế năy có sự chuyển dịch gânh nặng thuế trong những trường hợp nhất định Thuế giân thủ có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giâ cả trẽn thị trường Tuy nhiín, sự ảnh hưởng đó của thuế giân: thu không những chịu sự chi phối của mối quan hệ cung cầu trín thị trường mă còn phụ thuộc văo bản chất của thị trường mă trong đó có sự tâc động của thuế, ở nước ta, thuế giân thu bao gồm; Thuế giâ trị gia tăng, thuế tiíụ thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Việc phđn loại thuế như: trín cung chỉ mang tính tương đối vì trong nền kinh tế thị trường, nếu người kinh doanh có giâ thănh sản xuất cao, giâ bân có Gẳ thuế không được xê hội chấp nhận thì một phần thuế giân thu trở thănh thuế trực thu vă động viín trực tiếp văo thu nhập của ngứời kinh doanh Mặt khâc, trong một số trường hợp

cụ thể, việc tính thuế văo chi phí hay văo thu nhập cũng ảnh hưởng tới việc phđn loại thuế như trín Chẳng hạn như một số loại thuế

17

Trang 17

(thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà, đất) mà người nộp thuế trực tiếp bỏ thu nhập của mình ra để nộp thuế thì coi

đó là thuế trực thu, nhưng nếu những loại thuế đó liên quan đến hoạt đông sản xuất kinh doanh, được trừ vào chi phí để xác định thu nhập chịu thuế thì khi đó lại mang tính chất của thuế gián thu

Việc phân loại thuế theo tiêu thức này giúp cho việc nghiên cứu chính sách, xây dựng thuế suất, thuế biểu và định phương pháp hạch toán phù hợp

2- Phân loại theo cơ sở đánh thuế

Cơ sở đánh thuế chỉ rõ thuế được đánh trên cái gì Căn cứ vào

cơ sở đánh thuế thì có thể chia các sắc thuế thành ba loại:

2.1- T huế tiêu dùng.

Thuế tiêu dùng là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập được mang tiêu dùng trong hiện tại Trong thực tế, loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt

Mục đích của thuế đánh vào tiêu dùng là điều tiết» thu nhập của người mua hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc thu thuế, người ta thường thu ở khâu bán hàng để giảm đầu mối thu thuế

và dễ dàng hơn nhiều so với thu trực tiếp ở người mua hàng nên còn

có thể gọi thuế tiêu dùng là thuế bán hàng

Thuế tiêu dùng là loại thuế có tính chất gián thu do người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ gánh chịu Thuế tiêu dùng có khả năng đem lại số thu thường xuyên và ổn định cho Ngân sách Nhà nước vì thuế tiêu dùng có phạm vi đánh thuế rộng, bao gồm hầu hết các giao jlịch mua bán phát sinh ứong nền kinh tế Có thể nói thuế tiêu dùng chủ yếu phụ thuộc vào quy mô tiêu dùng của xã hội nên số thu về thuế tiêu dùng tương đối ổn định Ở nhiều nước ữên thế giới, thuế tiêu dùng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng số thu của Ngân

Trang 18

sách Nhà nước Ỏ Việt Nam, tỷ trọng thuế tiêu đừng chiếm gần 50%

số thuế thu được hàng năm

2.2- Thuế thu nhập.

Thuế thu nhập ỉà các loại thuế có cơ sở đánh thuế ỉà thụ nhập thực tế kiếm được của các thể nhân hoặc các pháp nhân Thu nhập thực tế kiếm được hình thành từ nhiều nguồn: từ ỉao động dưới dạng tiền lương, tiền cổng; thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức, cổ phần

Thu nhập được biểu hiện dưới nhiều dạng, do đó, thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thuế thu nhập đối với ngưòi có thu nhập cao

Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu vì người nộp thuế theo luật cũng chính là người chịu th u ế

Thuế thu nhập giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu nhập, đảm bảo tính công bằng xã hội Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn tài chính thông qua thuế thu nhập ngày càng nhiều Ở hầu hết các nước thuế thu nhập được áp dụng nhằm đảm bảo sự công bằng ữong việc thực hiện nghĩa vụ thuế khóa của công dân

2.3- Thuế tài sản.

Thuế tài sản là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản lưu giữ hay chuyển dịch

Tài sản có nhiểu hình thức biểu hiện: tài sản tài chính gồm có

tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thương phiếu ; tài sản cố định gồm

nhà cửa, đất đai, máy móc, nhà máy, xe cộ ; tài sản vố hình như nhãn hiệu, kỹ th u ậ t

19

Trang 19

Đánh thuế tài sản chính là một hình thức đánh thuế thu nhập bổ sung cho việc đánh thuế thu nhập từ vốn Đánh thuế tài sản nhằm mục đích góp phần giải quyết hậu quả về mặt xã hội do sự phân phối tài sản không công bằng trong xã hội.

Việc phân loại thuế theo tiêu thức này cho thấy tính đa dạng của các sắc thuế, đảm bảo thực hiện tính toàn diện của cả hệ thống thuế

III- CÁC YẾU TỔ CHỦ YẾU CẤU THÀNH MỘT SẮC THUÊ

Khác với các hình thức động viên tài chính khác, thuế thực hiện chuyển giao thu nhập dưới các hình thức biểu hiện cụ thể của mình bằng một sắc thuế Trong mỗi sắc thuế, thông thường chứa đựng các yếu tố chủ yếu sau đây:

Tên gọi của mỗi sắc thuế nói lên cơ sở tính thuế hoặc nội dung chủ yếu của sắc thuế đó như thuế giá ữ ị gia tăng có cơ sở tính thuế

là giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế, còn thuế thu nhập doanh nghiệp có cơ sở tính thuế là thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp

Luật thuế chỉ rõ tổ chức, cá nhân phải thực hiện việc khai báo, hoặc không phải thực hiện khai báo, nộp thuế theo quy định của sắc thuế đó Tức là khoản thuế đó do chủ thể nào phải nộp thì chủ thể

Trang 20

đó chính là đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế là thể nhân hoặc pháp nhân theo quy định của pháp luật.

3- Đối tượng chịu thuế.

Đối tượng làm căn cứ để đánh thuế chính là đối tượng chịu thuế Căn cứ đánh thuế có thể là thu nhập, hàng hóa hay tài sản, do đó đối tượng chịu thuế cũng có thể là thu nhập, hàng hóa hoặc tài sản Ví

dụ đối với thuế giá trị gia tăng thì đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của Luật thuế GTGT Đối với thuế

sử dụng đất nông nghiệp là đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp

4- Căn cứ tính thuế.

Luật thuế quy định mức thuế phải nộp Ngân sách Nhà nước được xác định trên căn cứ nào Thông thường, mức thuế phải nộp đối vói từng sắc thuế được xác định dựa vào hai căn cứ sau:

4.1- Cơ sở tính thuế.

Cơ sở tính thuế là một trong những căn cứ để xác định mức thuế

phải nộp Cơ sở tính thuế có thể được tính theo đơn vị vật lý hay theo đơn vị giá trị Môi sắc thuế có một cơ sở tính thuế riêng Chẳng hạn như thuế tiêu thụ đặc biệt có cơ sở tính thuế là giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp có cơ sở tính thuế là thu nhập chịu thuế, còn thuế sử dụng đất nông nghiệp có cơ sở tính thuế là diện tích và hạng đất

4.2- Mức thuế, thuế suất.

Mức thuế, thuế suất là linh hồn của một sắc thuế, thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Vì vậy, việc xác định mức thuế, thuế suất trong một luật thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi ữọng lợi ích

21

Trang 21

chung của quốc gia, vừa phải chú ý thích đáng đến lọi ích của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế.

4.2.1- Mức thuế.

Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn

vị của đối tượng chịu thuế Trong ngôn ngữ luật thuế người ta gọi mức thuế phải nộp trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế là định suất thuế Ví dụ định suất thuế sử dụng đất nông nghiệp trên một hécta (ha) đất trồng cây hàng năm hạng I là 550kg thóc/năm Thuế môn bài bậc một là 850.000 đồng/năm

4.2.2- T h uế suất.

Thuế suất biểu hiện quan hệ tỷ lệ phần trăm huy động trên cơ

sở tính thuế Thuế suất bao gồm:

T h u ế suất ổn định là loại thuế suất cố định không thay đổi trong mọi trường hợp tăng, giảm của cơ sở tính thuế Ví dụ thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh vũ trường, masage, karaoke là 20%, kinh doanh casino, trò chơi bằng máy jackpot là 25%

T h u ế suất lũy tiến là thuế suất tăng theo mức tăng của cơ sở tính thuế Thuế suất lũy tiến bao gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và thuế suất lũy tiến từng phần

T h u ế suất lũy tiến toàn phần là thuế suất tăng trên toàn bộ phần tăng của cơ sở tính thuế

T h u ế suất lũy tiến từng phần là thuế suất tăng trên từng phần

tăng của cơ sở tính thuế

V í dụ: Trích biểu thuế thu nhập đối vói người có thu nhập cao đối với công dân Việt Nam ở trong nước và cá nhân khác định cư ở Việt Nam

Trang 22

Bậc Thu ríhậpbìhh quâíì thang n iu ế s u ấ t ( % )

Thuế thu iỊhập của một ugười có thu nhập chịu thuế là

9.020.000dỊ/tháiỊg (tương ứng vdịỊ bậc 4 trong biểu) được tíụh theo 2 phương pháp: luỹ tiến toàn phần và luỹ tiến từng phán nhự sạu:

+ Tính theo thuế suất lũy tiến toàn phần: í

Thuế phải nộp là: 9.020.000 đ X 30% = 2.706.000đ ?Sau khi nộp thuế, thu nhập còn lại là:

9.020.000 - 2.706.000 = 6.314.000đ+ Tính theo thuế suất lũy tiến từng phần:

Bậc 1: Thu nhập đến 3.000.000đ không thu

Bậc 2: Thu nhập trên 3.000.000đ đến 6.000.000 đ, thuế suất 10%, số thuế phải nộp là: (6.Ó00.Ờ00 đ - 3.000.000 đ) X 10% = 300.000đ

Bậc 3: Thu nhập trên 6.000.000 đ đến 9.000.000 đ, thuế suất 20%, số thuế phải nộp là: (9.000.000 đ - 6.000.000 đ) X 20% = 600.000đ

Bậc 4: Thu nhập trên 9.000.000 đ đến 12.000.000 đ, thuế suất 30%, ngưòi này có thu nhập chịu thuế 9.020.000 đ thì số thuế phải nộp là:

23

Trang 23

(9.020.000 đ - 9.000.000 đ ) X 30% = 6.000 đ

Tổng số thuế phải nộp = 300.000 đ + 600.000Ổ + 6.000 đ =906.000đ

Sau khi nộp thuế, thu nhập còn lại là:

9.020.000Ổ - 906.000đ = 8.114.000đ

Với ví dụ trên, ta thấy việc áp dụng thuế suất lũy tiến khác nhau

số thuế phải nộp cũng sẽ khác nhau Thuế suất lũy tiến từng phần tỷ

lệ động viên tăng dần theo từng bậc thuế, đảm bảo yêu cầu động viên công bằng, hợp lý hơn giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau nhưng việc tính toán có phần phức tạp Ngược lại, thuế suất lũy tiến toàn phần đơn giản hơn trong cách tính toán nhưng người chịu thuế phải đóng góp theo thuế suất cao trên toàn bộ thu nhập, tạo nên sự động viên quá cao và tình trạng bất hợp lý về thu nhập còn lại sau khi nộp thuế giữa những người có thu nhập chịu thuế ở mức bản lề giữa hai bậc thuế Có thể thấy rõ điều này thông qua ví dụ sau:

•VÔng A có thu nhập chịu thuế là 9.000.000đ/tháng; ông B có thu nhập 9.020.000đ/tháng Theo biểu thuế lũy tiến toàn phần trên đây, ông A phải nộp thuế 9.000.000đ X 20% = í.800.000đ Thu nhập còn lại sau khi nộp thuế là (9.000.000đ - 1 800.000đ) = 7.200.000đ Ông

B phải nộp thuế 2.706.000đ Thu nhập còn lại của ông B sau khi nộp thuế là 6.314.000đ Như vậy là số thu nhập trước khi nộp thuế ông

B hơn ông A là 20.000đ, nhưng sau khi nộp thuế theo biểu lũy tiến toàn phần, ông B lại có số thu nhập kém ông A là (7.2OO.OO0đ- 6.314.000đ) = 886.000đ Đó là nhược điểm cơ bản của biểu thuê lũy tiến toàn phần nên dẫu cấch tính đơn giản, trên thực tế ít được sử dụng hơn biểu thuế lũy tiến từng phần

Trang 24

5- Chế độ miễn thuế, giảm thuế.

Miễn thuế, giảm thuế là yếu tố ngoại lộ được quy định trong một

số sắc thuế Thực chất đó là số tiển thuế mà người nộp thuế phải nộp cho Nhà nưóc, song vì những lý do kinh tế-xã hội mà Nhà nước quy định cho phép không phải nộp toàn bộ (miễn thuế) hoặc chỉ phải nộp một phần (giảm thuế) trong số tiền thuế đó

Việc quy định miễn, giảm thuế là nhằm mục đích:

- Tạo điều kiện giúp đỡ người nộp thuế khắc phục hoàn cảnh khó khăn do nguyên nhân khách quan làm giảm thu nhập hoặc ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế của họ

- Thực hiện một số chủ trương chính sách kinh tế xã hội trong khuyến khích hoạt động của người nộp thuế

Thông thường trong một sắc thuế có quy định chế độ miễn, giảm thuế bao gồm:

- Các trường hợp được xét miễn, giảm thuế

- Điều kiện và thủ tục xét miễn, giảm thuế

- Mức độ được xét miễn, giảm thuế

- Thẩm quyên của từng cấp về việc xét miễn, giảm thuế

6- Trách nhiệm và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế.

Luật thuế quy định đối tượng nộp thuế phải có trách nhiệm và nghĩa vụ trong quá trình đóng góp cho Nhà nước, gồm:

- Thựo hiện việc đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế

- Thực hiện chế độ sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn

- Thực hiện việc khai báo, cung cấp số liệu theo yêu cầu của cơ quan thuế

- Thực hiện kê khai, nộp thuế, nộp phạt đầy đủ, đúng hạn

25

Trang 25

Việc quy định trách nhiệm và nghĩa vụ nhằm nâng cao ý thức tự g iát chấp hành nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà nước của các đối tượng nộp thuế, đưa việc thực hiện quy định trong các sắc thuế vào nền nếp, kỷ cương và là cơ sở pháp lý để xử lý các vụ vi phạm

về thuế, đảm bảo sự kiểm soát của cơ quan thuế đối với quá trình chấp hành luật thuế của người nộp thuế được chặt chẽ, kịp thời

7- Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan thuế.

- Quản lý, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh

- Lập sổ thuế, duyệt sổ thuế và ra thông báo nộp thuế

- Lập biên bản và xử phạt theo thẩm quyền đối vói các vi phạm

về thuế, xem xét và giải quyết các khiếu tố về thuế

8- Thủ tục thu nộp thuế.

Bao gồm những quy định về thủ tục kê khai, về địa điểm, thời gian và trình tự nộp thuế Thủ tục thu nộp thuế là căn cứ pháp lý để thực hiện đúng đắn việc nộp thuế đúng, đủ, kịp thời và là cơ sở pháp

lý để xử lý đối vái trường hợp nộp chậm, dây dưa tiền thuế

9- Xử lý vi phạm.

Để đảm bảo cho luật thuế được thực thi một cách nghiêm minh, trong mỗi sắc thuế đều có quy định xử lý vi phạm về thuế, bao gồm việc xác định các hành vi vi phạm, mức xử lý và thẩm quyền xử lý của từng cấp đối với từng vi phạm

Trang 26

IV- QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THUẾ VÀ T ổ CHỨC BỘ MÁY THU THUẾ Ở VIỆT NAM

Việt Nam từ 1945 đến nay.

Hộ thống thuế của nứớc ta được hình thành và phát triển từng bước gắn với sự ra đời và phát triển của Nhà nước dân chủ nhân dân

và Nhà nước xã hội chù nghĩa

Ngay sau Cách mạng tháng 8 thành công, đi đôi với việc bãi bỏ

một số sắc thuế mang tính chất hà khắc (thuế thân, thuế điền ờ vùng

bão lụt ) Nhà nước ta tạm thòi cho duy trì một số sắc thuế cũ thời Pháp (như thuế môn bài, thuế tiêu thụ thuốc lá, rượu, muối, thuế quan v.v ) nhưng do chính sách không còn thích hợp, nên số thu không đáng kể

Nhằm tạo thêm điều kiên vật chất để khắc phục các khó khăn

về chống thù ữong, giặc ngoài, chống giặc đói, diệt giặc dốt , Nhà nước đã tổ chức các hình thức động viên đóng góp tự nguyện dựa trên lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng của nhân dân (quỹ độc lập, tuần lễ vàng, quỹ kháng chiến, quỹ công lương, quỹ đảm phụ quốc phòng )

Đến năm 1951, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ n , thực hiện

sự chuyển hướng vể công tác tài chính theo phương châm “tăng thu, giảm chi, thống nhất quản lý thu chi tài chính”, Nhà nước đã ban hành chính sách thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật và một số sắc thuế thu bằng tiền như thuế doanh nghiệp, (bao gồm thuế doanh thu

và thuế thực lãi), thuế quán hàng, thuế buôn chuyến, thuế hàng hoá, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ và tem

Hệ thống thuế này được tiếp tục duy trì và bổ sung cho đến sau ngày miền Bắc hoàn toàn^giải phóng Từ năm 1957, do yêu cầu của việc xây dựng và phát triển kinh tế quốc doanh, các chế độ thu tài

27

Trang 27

chính đối với xí nghiệp quốc doanh lần lượt được xây dựng, bao gồm chế độ thu quốc doanh trích nộp lọi nhuận, nộp khấu hao cơ bản Tất cả các loại thuế và thu tài chính nói trên được bổ sung, sửa đổi nhiều lần vào các năm 1966, 1974, 1980, 1983, 1986, 1987 và đầu năm 1989.

Thực hiện đổi mới nền kinh tế theo Ngiiị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đã có bước chuyển mình lớn, kinh tế quốc doanh đã chủ động kinh doanh theo nhu cầu thị trường Các thành phần kinh tế trong nước phát triển nhanh, đa dạng

về loại hình, về quy mô, về phương thức kinh doanh Quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế

Để phù hợp với cơ chế quản lý mới, năm 1990 Nhà nước quyết định thực hiện cuộc cải cách thuế lần thứ nhất, xây dựng và ban hành hệ thống thuế thống nhất cả nước thay thế cho các hình thức thu trước đây Thuế trở thành cồng cụ quan trọng để quản lý kinh tế

và là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Hệ thống thuế bao gồm:

- Luật thuế doanh thu áp dụng từ 01/10/1990

- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng từ 01/10/1990

- Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu áp dụng từ 01/3/1992

- Luật thuế lợi tức áp dụng từ 01/10/1990

- Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp áp dụng từ 01/1/1994

- Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất áp dụng từ 01/6/1994

- Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngưcã có thu nhập cao áp ấụng

từ 01/4/1991

- Pháp lệnh thuế tài nguyên áp dụng từ 01/1/1991

- Pháp lệnh về thuế nhà, đất áp dụng từ 01/10/1992

Trang 28

Ngoài ra còri áp dụng một số loại lệ phí Ìihư lệ'phí trước bạ, lệ phí giaò thông, lệ phí chứng thư và các loại lệ phí khác, Ü "

Công cuộc cải cách thuế bước I (1990-1996) đã đạt được nhiều kết quả đáng kể; thu iigâh sách tăng nhánh qua các năm, đáp ứng về

cơ bản nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của Nhà nước, gíảm tỷ lệ bội chi, gổp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả/phát huy được tác dụng quản lý và điều tiết vĩ ứiổ nền kinh tế, góp phần

mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các hước trong khu vực và thế giới Tuy nhiên, so vói yêu cầu phát triển kinh tế trọng tình hình mới, hệ thống chính sách thuế đã bộc lở một số nhượcị điểm sau : chưa bao quát hết các nguồn thu, hệ thống thuế cũng như từng sắc thuế cỏ nội dung vừa phức tạp, vừa trùng lặp nện hiệu quả chưa cao, gây tâm lý trong xã hội cho rằng thuế quá nặng Các sắc thuế còn

có những điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, làm cản trở quá trình mở rộng quan hệ hợp tác về kinh tể với các nước trong khư vực

Xuất phát từ tình hình đó việc cải cách thuế bước n được đặt ra

là đòi hỏi tất yếu và cấp bách Yêu cầu và các quan điểm chỉ đạo về xây dựng nội dung các luật thuế trong giai đoạn này là:

- Cải cách hệ thống thuế trên cơ sở mở rộng diện thu thuế, điều chỉnh thuế suất của từng sắc thuế và cả hệ thống thuế nhưng phải đảm bảo ổn định tỷ lệ động viên cho Nhà nước tròng khoảng từ 19%

- 20% GDP để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

- Cải cách thuế phải tiến hành dẩn từng bước trên cơ sở rà soát lại hệ thống thuế hiện hành, xem xét lại từng sắc thuế để xác định thứ tự ưu tiên hoàn thiện tránh gây ra những xáo trộn trong đời sống kinh tế xã hội

- Cải cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản, ít thuế suất, tránh đánh trùng, loại trừ dần miễn giảm thuế cho đối tượng chính sách

xã hội, giảm bớt các miễn giảm khác

29

Trang 29

- Cải cách thuế phải làm cho các chính sách thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, làm cho thuế nước ta hòa nhập được với thuế các nước trên thế giói.

- Cải cách hệ thống thuế tạo ra chuyển biến mới về quy trình quản lý thuế tiến tói các đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế,

tự nộp thuế, nâng cao ý thức tự giác và trách nhiệm pháp lý của các đối tượng nộp thuế Phát huy cao vai trò kiểm tra, thanh tra của ngành Thuế và các cơ quan chức năng

Những quan điểm trên được thể hiện trong quá trình cải cách

thuế bước n Bắt đầu từ năm 1996, hệ thống thuế nước ta đã được

nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng sau:

- Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu

- Luật thuế giá ữ ị gia tăng đã được Quốc hội Khóa IX, kỳ họp thứ 11 thông qua và chính thức áp dụng từ 1/1/1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu

- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ

3 thông qua ngày 20/5/1998, thay thế Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ngày 30/6/1990

- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã được Quốc hội khoá IX,

kỳ họp thứ 11 thông qua thay cho Luật thuế lợi tức

- Thay đổi căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế tài nguyên

- Ban hành Pháp lệnh phí và lệ phí thống nhất chung cả nước

- Ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập • cao thay cho pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhâp cao trước đây

Hiện nay, hệ thống thuế ở nước ta bao gồm các Luật thuế do Quốc hội ban hành, Pháp lệnh thuế do u ỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành, Nghị định thuế do Chính phủ ban hành Cụ thể:

Trang 30

Cắc Luật thuế bao gồm:

- Luật thuế xuất nhập khẩu

- Luật thuế GTGT

- Luât thuế tiêu thu đăc biêt.• • • •

- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

- Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Luật, thuế chuyển quyền sử dụng đất

Các Pháp lệnh thuế bao gồm :

- Pháp lệnh thuế tài riguyên

- Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

- Pháp lệnh thuế nhà đất

- Pháp lệnh phí, lệ phí

Các Nghị định thuế gồm các Nghị định của Chính phủ về thúế môn bài, lệ phí trước bạ, các khoản thu khác

2,1- Sự hình thành bộ máy quản lý thu th u ế ở Việt Nam.

Sau cách mạng tháng 8/1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đci, những năm đầu nguồn thu chủ yếu là động viên, quyên góp nên chưa thành lập bộ máy thu thuế Từ năm 1951, Nhà nước ban hành 7 thứ thuế áp dụng thống nhất cả nước, khi đó Nhà nước thành lập bộ máy thu thuế với tên gọi là Nha thuế vụ Tổ chức Nha thuế

vụ bao gồm Nha thuế vụ Trung ương, Nha thuế vụ tỉnh và phòng thuế vụ huyện

Năm 1954, Miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, tình hình kinh tế xã hội thay đổi cơ bản Quan điểm kinh tế và sử dụng

31

Trang 31

thuế cũng thay đồi Nhà nước bãi bỏ Nha thuế vụ và tổ chức công tác quản lý thu thành 3 bộ phận:

- Bộ phận thu quốc doanh thực hiện quản lý thu thuế phát sinh

từ khu vực kinh tế quốc doanh nằm trong phòng quản lý quốc doanh của cơ quan Tài chính

- Bộ phận thu thuế công thương nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản

lý thu thuế công thương nghiệp đối với kinh tế tập thể, cá thể kinh doanh công thương nghiệp Bộ phận này nằm trong phòng quản lý công thương nghiệp tập thể, cá thể của cơ quan Tài chính

- Bộ phận thu thuế nông nghiệp thực hiện nhiệm vụ thu thuế nông nghiệp hợp tác xã và cá thể Bộ phận này nằm trong phòng quản lý nông, lâm nghiệp của cơ quan Tài chính

Như vậy giai đoạn này nước ta không có bộ máy thu thống nhất,

ba bộ phận hoạt động độc lập với nhau, chịu sự quản lý của cơ quan Tài chính các cấp

Đối với hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, từ năm 1954, sau khi Miền Bắc được giải phóng, chủ trương của Chính phủ là “giữ độc quyền ngoại thương đối vói mậu dịch quốc doanh” (không thu thuế xuất, nhập khẩu đối với hàng mậu dịch) nên bộ phận quản lý

thuế xuất, nhập khẩu trước đây ở trong Sởthuế Trung ương (Bộ Tài chính) được chuyển sang Bộ Ngoại thương để quản lý khâu độc quyền ngoại thương Nhà nước thực hiện quản lý và thu thuế xuất, nhập khẩu thông qua bộ máy thu thuế là Tổng cục Hải quan Tổng cục Hải quan đã được thành lập theo cơ cấu ngành dộc bao gồm :

- Tổng cục Hải quan ở Trung ương

- Hải quan cửa khẩu

Để phù hợp vói tình hình mới, đòi hỏi phải tổ chức bộ máy thu thuế thống nhất trong cả nước, ngày 7/8/1990 Hội đồng Bộ trưởng

Trang 32

ban hàiib Nghị đựih số 281/ HĐ0T thành lập-bộ máy thu thuế Nhà nước ữụte ứiuôe Bò Tài ehánk Ngày 21/8/1991 B ộ T ầ ì chánh sa

Quyết đinh số 31Ộ T Q QẸtyTCCB thành lập Tổng cục Thuế nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính làm nhiêm vụ quản lý thuế nội địa Việc quẳn lý thuế xuất, nhập khẩú do Tổng cục, Hảĩ quan tỉếp tục thực hiện ■' i/lỉ "’'’ : ■ ' ■' •; • ' U:d " '-J ■■

2.2- Những nguyên tắc chung về tổ chức bộ máy quản lý thu thuế .

2.2.1 - Hệ tkổng quản lý thu thuế Nhẻ nước được tổ chức thống nhất, thành hộ thống dọc từ Trung ương xuống đến quận, huyện Ở

Trung ương có Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính Ở các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Ih m g ương có các Cục thuế hực thuộc Tổng cục Thuế và chịu sự chỉ đạo song trùng của Uỷ ban nhân dân cùng cấịx

Ở các quân, huyên có các Chi cục thuế hực thuộc Cục thuế đồng thời chịu sự chỉ đạo song trùng của Uỷ ban nhân dân cùng cấp Tính thống nhất và hệ thống trong tổ chúc bộ máy thu thuố được thé hiện

ở những điểm sau:

Một là, hệ thống quản lý thu thuế Nhà nựớc quản lý thống nhất

trong cả nựớe công tác thu thuế và các khoản thu khác của Ngân sách Nhà nước, không một tổ chức hay cá nhân nàọ được đứng ra tổ chức thu thuế nếu không được sự ủy quyền của cơ quan thuế

Hai là, các nghiệp vụ thu thuế và thu khác đối với các đối tượng

nộp thuế được chi đạo và tổ chức thực hiện thống nhất trong tòàn ngành thuế, nhằm đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh Luật, Pháp lệnh thuế và các chế đô thu cùa Nhà nước ban hành

Ba là, cơ quan thuế các cấp được tổ chức theo một mô hình

thống nhất Việc quản lý biên chế cán bộ, kinh phí chi tiêu, thực hiện các chính sách đối với cán bộ cũng như việc vận dụng các chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ của viên chức thuế được thục hiện thống nhất trong toàn ngành thuế

33

Trang 33

2.2.2- Cơ quan thuế đặt tại địa phương chịu sự lãnh đạo song trùng của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chủ tịch u ỷ ban nhân dân tỉnh.

Nguyên tắc này được biểu hiện ở các điểm sau đây:

- Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ về công tác thu thuế trong cả nước thông qua bộ máy thu thuế Nhà nước

- Trong phạm vi quyền hạn do luật định, Chủ tịch ủ y ban Nhân dân các cấp chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác thu thuế trên địa bàn, kiểm tra, giám sát cơ quan thuế trong việc thi hành các quy định của Nhà nước về thuế và thu khác; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn

có liên quan phối hợp chặt chẽ vói cơ quan thuế đảm bảo thực hiện tốt k ế hoạch thu ngân sách trên địa bàn

- Cơ quan thuế có trách nhiệm báo cáo ủ y ban nhân dân về chủ trương, biện pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế và tình hình thực hiện kế hoạch thu thuế trên địa bàn, phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính GÙng cấp trong vịệc thống nhất k ế hoạch thu và quản

lý thu, cung cấp thông tin, số iiệù có liên quan đến việc quản lý ngân sách của địa phương

- Việc bổ nhiệm các cán bộ lãnh đạo cấp trưởng cơ quan thuế ở địa phương cần có sự thỏa thuận của ủ y ban nhân dân cùng cấp Việc đề bạt cán bộ lãnh đạo từ trưởng, phó phòng trở lên ở các Cục thuế và Chi cục thuế phải có sự tham gia ý kiến của tổ chức chính quyền địa phương cùng cấp

2.2.3- Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuếlà tổ chức trong hệ

thống hành chính Nhà nước, có tư cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước

Cán bộ trực tiếp làm công tác thu thuế được cấp ữang phục, phù hiệu, số hiệu, chứng minh thư, phương tiện làm việc theo quy định của Chính phủ Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoặc chống cán bộ thuế thi hành công vụ

Trang 34

_ Ãbẽqrt '%Ẫ ííĩ.d b k>.MÙIr ' > ■ ; ỉ/âii •' ■ ’ •■;;;■ ŨẼ um,.:; í'Un- ■ •;

- Giúp Bộ Tài chính soạn ứiậo các văn bản pháp quỵ về thụế và

các khọản thủ khác để trìínhxáq cố qíịan co tẩỊíui qụýei) batì hành

- Soạn thảo trình Bộ Tài chính ban hành hoặc tựibđnhành thẹo

sự ủy quyền củạ Bộ trưởng Bộ Tài chính các văn bản về nghiệp vụ

quản lý thu ịhụế Hướng dẫu cợ quàn thụế ẹấp tỊựdi vắqấè đối tượng

- Hừớíig đẫn việc Ìâp kế*hoạch» và tổhg hớp kếhơạch th u th u ếv àthu khác tmllí Bổ trưốhg Bộ Tài chốđí xéni xét để trìiiH các cầp c ó ' thẩm quyền quyết'ếịrih ’ - fỉf :M ■ ff;,: - ■W- ' À: ‘

- Giao ctìĩrìếủ tỉiuí ih u ể Và thu k h á c c h ò c b quan thụế cấp dưới,hướng dẫn cơ quan thuế Cấp dưới giao mức thuế ptíẳi nộp òho các

- M /: r:;‘ ú ỉ u k ' u k?■ 4v d iid ’ l ỵ}' i;U)Y:'-':M.'ỵy',}ị h d -ĩỉ.'

- Chỉ đạo, kiểm toa, đôn đốc cơ quan thuế cấp dưới toong việc tổ chức công tác thu thuế và thu khác trên địa bàn, đảm bảo thu nộp đầy đủ, kịp thời mọi khoản thu vào Ngân sách Nhậ nước

- Tổ chức công tác thanh toa việc chấp hành các quy định vềthuế, ixử lý các vi phạm chính sách, chế độ thuế, giải quyết các khiếu

- Quản lý vệ tổ chức, biên chế, cán bộ, kinh phí chi tiêu và ấn chỉ của toàn bộ hệ thống thu thuế theo đủng quy định của Nhà nước

và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính Tổ chức công tác tuyên truyển thi đua, tổ chức bồi dựỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thuế toong cả hước

- • ỹ "■ \ (' * : ; •; ' rt 1 < ; - - (■■■’ ■ • : ' -■•••• 'Y ' : • , 'VQ ■ * ' \ • X ; J •'

35

Trang 35

- Được quyền yêu cầu các Bộ, ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh cung cấp các tài liệu, số liệu, các bản k ế hoạch kinh tế-xã hội- tài chính có liên quan đến việc lập k ế hoạch và quản lý thu thuế và thu khác.

3.2- Cục thuế.

Cục thuế là tổ chửc trực thuộc Tổng cục thuế được đặt tại các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương Nhiệm vụ chủ yếu của Cục thuế là:

- Hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện thống nhất các chính sắch, chế độ, thể lệ, nguyên tắc về quản lý thu thuế trên địa bàn theo đúng các luật, pháp lệnh cẩc vằn bản quy định cửa Quốc hội, Chỉnh phủ, các hướng dẫn của Bộ Tài chính và cờ quan thuế cấp trên Tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách thuế cho các đối tượng nộp thuế, các ngành, các cấp và toàn dân hiểu để chấp hành

- Lập kế hoạch thu thuế và thu khác trên địa bàn, báo cáo Bộ Tài chính và UBND tỉnh theo quy định Phối hợp vói Sở Tài chính-Vật giá trong việc xây dựng kế hoạch thu chi Ngân sách của địa phương Phân bổ, giao chỉ tiêu kế hoạch thu thuế và thu khác cho các Chi cục thuế trực thuộc

“ Tổ chức thu thuế đối vói các đối tượng do Cục trực tiếp quản

lý thu thuế Thực hiện cầc nghiệp vụ thu thuế theo đúng qui định của Nhà hước và hưóhg dẫn của Bộ Tài chính hay Tổng cực th u ế : tính thuế, lập sổ thuế* thỗng báo số thuế phải nộp, phát hành các lệnh thu thuế , đôn đốc các đối tượng nộp thuế nộp đầy đủ, kịp thời mọi khoản thu vào Kho bạc Nhà nước; Xem xét và đề nghị xét miễn, giảm thuế và các khoản thu khác thuộc thẩm quyền theo qui ^inh của Nhà nước, thực hiện thanh quyết toán kểt quả thu nộp thuế đến từng đối tượng nộpi thuế

- Chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên các Chi cục thuế trong việc tổ chức công tác thu thuế, thực hiện luật, pháp

Trang 36

lệnh, kế hoạch thu thuế, tổng kết đúc rút kinh nghiệm về các biện pháp tổ chức thu thuế.

- Thực hiện công tác thanh tra việc chấp hành chính sách, chế

độ thuế, kỷ luật thu nộp thuế của các đối tượng nộp thuế và trong nội bộ ngành thuế địa phương, kiểm tra, kiểm soát sổ sách kế toán, chứng từ có liên quan đến số thuế phải nộp, xử lý các vi phạm về thuế, các khiếu tố theo thẩm quyền được luật thuế quy định

- Thực hiện xét duyệt đăng ký thuế, trưc tiếp quản lý tờ khai đăng ký thuế và các tài liệu có liên quan đến việc tính thuế của các đối tượng nộp thuế do Cục thuế trực tiếp quản lý thu thuế

- Tổ chức cỏng tác kế toán thuế, kế toán ấn chỉ, kế toán hàng tạm giữ và tịch thu đầy đủ, kịp thòi, chính xác, hướng dẫn các Chi cục thuế thực hiện các quy định về kế toán thu, tổ chức công tác thống kẽ các chỉ tiêu kinh tế và thu nộp thuế, lập các báo cáo về tình hình và kết quả thu nộp thuế phục vụ cho việc chỉ đạo điều hành của

cơ quan cấp trên, ƯBND cùng cấp và các cơ quan có liên quan

- Quản lý biên chế, cán bộ, kinh phí chi tiêu của hệ thống thuế

ở địa phương, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, thi đua, tuyên truyền về công tác thuế

3.3- Chi cục thuế.

Chi cục thuế là tổ chức trực thuộc Cục thuế, được đặt tại tất cả các quận, huyện và cấp tương đương Nhiệm vụ chủ yếu của Chi cục thuế là:

- Lập kế hoạch thu thuế hàng năm, quí, tháng trên địa bàn

- Xét duyệt đăng ký thuế, trực tiếp quản lý tờ khai đăng ký thuế của các đối tượng nộp thuế do Chi cục quản lý

- Tổ chức các biện pháp thu thuế, tính thuế, lập sổ thuế, thông báo số thuế phải nộp, đôn đốc thực hiện đầy đủ, kịp thời mọi khoản

37

Trang 37

thu vào Kho bạc Nhà nước, xem xét và đé nghị xét miễn, giảm thuế

và các khoản khác theo quy định của Nhà nước, thực hiện thanh, quyết toán kết quả thu thuế đến từng hộ nộp thuế

- Tổ chức công tác kiểm tra và xử lý các vi phạm về thuế, giải quyết các đơn khiếu tố theo thẩm quyền

- Tổ chức công tác thống kê, kế toán, thông tin báo cáo tình hình

và kết quả thu nộp thuế theo chế độ quy định

Quản lý kinh phí chi tiêu, trang phục, ấn chỉ của bộ máy thuế ở quận huyện

Những chức trách và nhiệm vụ được giao cho cơ quan thuế và các cấp trên đây có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực, trình độ của cán bộ thuế và sự phối kết hợp với các ngành có liên quan Bởi vậy, công tác tổ chức cán bô được coi là nhân tố quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan thuế mỗi cấp và của toàn ngành thuế Ngày 12/10/1991, Bộ trưởng Trưởng ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đã ban hành quyết định về chức danh viên chức và tiêu chuẩn của từng chức danh viên chức thuế Quyết định này là cơ sở để Tổng cục thuế đào tạo, sắp xếp, sử dụng cán bộ và là mục tiêu, là thước đo để từng cán bộ phấn đấu nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao

Trang 38

Chương II

THUẾ GIÁ TRỊ GIA TẢNG

I- KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC DỤNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TẢNG.

1- Khái niệm ^

Thuế tiêu dùng có thề đánh vào nhiều giai đoạn của quá trình chuyển dịch sản phẩm từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Nếu thuế được tính trên tổng giá trị giao dịch mỗi giai đoạn gọi là thuế doanh thu, còn nếu thuế chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của từng giai đoạn (giá trị gia tăng) thì gọi là thuế giá trị gia tăng (GTGT) Thuế doanh thu có nhược điểm là số thuế bị trùng lặp bởi số thuế của giai đoạn trước lại là cơ sở tính thuế của giai đoạn sau, Do vậy,

để khắc phục nhược điểm này, rất nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu

Ở nước ta, ngay sau khi tiến hành cải cách thuế bước I (1990), thuế giá trị gia tăng đã được đưa vào nghiên cứu, áp dụrig thữ nghiệm năm 1993 ở 11 đơn vị (ngành đường, dệt, xi màng) Tiếp đó tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá 9, ngày 10/5/1997, Luật thuế GTGT đã được thông qua và có hiệu lực chính thức từ 1/1/1999 thay cho Luật thuế doanh thu trước đây

Thuê GTGĨ là thuê tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

39

Trang 39

- Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thong đến tiêu dùng nhưng chỉ tính ữên phần giá trị gia tăng của mỗi giai đoạn Giá trị gia tăng là phần giá trị mới được tạo ra trong sản xuất kinh doanh, nỏ được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ửng Tổng số thuế thu được ở các giai đoạn sẽ bằng với số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.

Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng là đủ Tuy nhiên trên thực tế rất khó phân biệt đâu là tiêu dùng cuối cung và đâu là tiêu dùng ưung gian Vì thế cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế Nếu đó là tiêu dùng trung gian thì số thuế sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng cho người mua ở giai đoạn sau

- Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao được thể hiện trên cấc khía cạnh sau:

+ Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là m ột khoản được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ

+ Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, nghĩa là việc phân đoạn chu trình kính tế nhiều hay ít đều không ảnh hưởng đến số thuế GTGT thu được bởi

tổng số thuế thu được ở các giai đoạn bằng số thuế tính theo giá bán

cho người tiêu dùng cuối cùng

Trang 40

3- Tác dụng toửa ^ nế^ rlK ỈT ’ f

Luật thuế G T G T jadöi ỉà m ệttfongi& ững bước đột phá có tính chất quyết định của công cuộc cải cách !ÉhUjế bước ,1Ị của Việt Nam Đến nay, Luật thuế GTGT đã bước đầu đi vào CUỘC sống và đã phát huy tác dụng tích cực đối với nền kirìh tế, phùịhợp vói phát triển sản xuất theo hưdng công nghiập hóa-hiệnđại hóa và hội nhập quốc tế Tác dụng của thuế GTGT được thể hiện b những khíạ cạnh sau :

Thuế GTGT không thu trùng lắp, cơ chế thu-hiện đại, góp phần kích thích sản xuất kinh doanh, tăng cường đầu tư, đổi mối tài sản

cố định, nâng caó năng suất, chất lượng, hạ giá thành sạn phẩm

- Thuế GTGT thuộc loại thuếđánh vào ìtìêu dùng, có phạm vi rất rộng (thu vào mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ) nên đảm bảo S ố thu kịp thời, thường xuyên và có thể tạo ra nguồn thu ngày càng tăng cho Ngân sách Nhà nước Ở nước ta thuế GTGT chiếm tỷ trọng từ 20-23% trong tổng số thu về thuế hàng năm của NSNN

- Thuế GTGT góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc sản xuất hàng hổa xưất khẩu do được áp dụng thuế suất 0% và được thoái trả lại toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở khâu trước Đồng thời nó còn kết họp vói thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn của hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích bảo vệ sản xuất kinh doanh nội địa

- Thuế GTGT góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, tạo điều kiện chống trốn lậu thuế

có hiệu quả và nâng cao tính tự giác của các đối tượng kirih doaiih

- Thuế GTGT góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta, đưa hệ thống thuế ở nước ta từng bước phù họp với thông

lệ quốc tế, thúc đẩy mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w