1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dân tộc học đại cương: Người Hmông

7 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 418,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhà người HmôngVới môi trường sống trên các triền núi cao, khí hậu lạnh, khắc nghiệt…thì ngôi nhà trình tường bằng đất, lợp ngói hay tranh của người HMông có ưu điểm mát mẻ về mùa hè,

Trang 1

- Nhà người Hmông

Với môi trường sống trên các triền núi cao, khí hậu lạnh, khắc nghiệt…thì ngôi nhà trình tường bằng đất, lợp ngói hay tranh của người HMông có ưu điểm mát mẻ về mùa hè, giữ

ấm về mùa đông, chống thú dữ… Người Tày Nùng cũng thíchw ở nhà trình tường đất.Nhà người HMông thường thống nhất 3 gian 2 cửa, một cửa chính, một cửa phụ và phải có hai cửa sổ trở lên Trong 3 gian nhà chính, gian bên trái dùng để đặt bếp lò và chỗ ngủ của vợ chồng chủ nhà Gian bên phải đặt bếp sưởi và giường khách Gian giữa rộng hơn để đặt bàn thờ tổ tiên và là nơi tiếp khách, ăn uống của gia đình Hai gian trái đặt cối xay ngô, giã gạo… Bàn thờ tổ tiên của người HMông rất đơn giản, chỉ là một mảnh ván hoặc 3 ống cắm hương làm bằng tre nứa cắm vào tường Trong gia đình người HMông, phòng ngủ của vợ chồng con cái được bố trí riêng Người HMông ngủ bằng phản hoặc giát bằng tre mai đập giập Người HMông rất khắt khe, nơi ngủ của con dâu, em dâu thì

bố chồng và anh chồng không được vào và ngược lại, con dâu, em dâu không được vào chỗ ngủ của bố chồng, anh chồng

- Nhà của người HMông bao giờ cũng có sàn gác để cất giữ đồ đạc, lương thực, thực phẩm Ngô lúa khi mang từ nương về bao giờ cũng được câta lên gác Khói bếp sẽ làm khô và giữ cho không bị sâu mọt Phong tục người HMông không cho con gái, đàn bà được ngủ trên gác Khi đàn ông trong nhà đi vắng thì con dâu không được phép lên gác Nhà của người HMông không bao giờ làm dính sát vào nhau, cho dù là anh em ruột thịt Khi chọn đất làm nhà, người Mông lấy 3 hạt gạo hoặc ngô đặt xuống khu đất đã chọn rồi đặt bát hoặc chậu gỗ lên trên, sau đó thắp 3 nén hương khấn thần đất, đốt 3 tờ giấy bản xin thổ công thổ địa cho gia chủ làm nhà Sáng hôm sau hoặc sau 3 tháng, chủ nhà quay lại xem số hạt ngô đặt dưới đất, nếu thấy vẫn còn nguyên thì coi như đất ở nơi

đó tốt, làm nhà được Nếu những hạt gạo hay ngô đó đã bị sâu hay kiến ăn thì coi như đất

ở đó dữ, không làm nhà được Chọn được đất ở, người HMông tiến hành san nền, kê móng, trình tường nhà Công việc trình tường được làm khá công phu Trong quá trình trình tường, người lạ không được đến, nhất là phụ nữ Để trình tường người ta phải làm những chiếc khuôn gỗ có chiều dài 1,5 mét, rộng 0,45- 0,5 mét Khi trình tường người ta

đổ đất vào khuôn gỗ và dùng những chiếc vồ nện chặt đất Đất dùng để trình tường được loại bỏ sạch rễ cây, đá to, cỏ rác Trình tường xong, cây cột cái thường được đem thẳng từ rừng về, không được đặt xuống đất mà phải đưa lên nóc ngay Người HMông coi hai cây cột cái là cột chủ đạo trong nhà, thể hiện sự ngay thẳng, cứng cáp, vững vàng của chủ nhà nên cây cột phải là cây rừng không bị sâu thối cụt ngọn Hai cây cột này có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người HMông, nhất là trong tang ma Cây cột cái

ở giữa phía bếp lò dùng để treo trống khi có người chết ( ma tươi); cây cột cái giữa ở phía bếp sưởi để treo trống khi làm ma khô Cây cái nóc gần trời nhất nên là nơi người trời về

Trang 2

nghỉ ngơi, xem xét mọi việc làm trong nhà Người trời thường thanh cao nên khi đưa cây đòn nóc ở rừng về người ta phải đưa lên nóc ngay, không đựoc đặt xuống đất

- Đặc biệt khi vào rừng chặt hạ cây cột cái, cây đòn nóc thường phải chọn ngày tốt hợp với tuổi của của gia chủ Tìm được cây gỗ, phải thắp 3 nén hương, tiếp đó cắm 3 tờ giấy bản vào gốc cây khấn thần rừng, thần cây cho xin cây gỗ về làm nhà Họ quan niệm rằng như thế thần cây, thần rừng mới không quở mắng và nhà cửa mới yên vui, mọi người khoẻ mạnh, ăn nên làm ra Cửa chính nhà của ngưòi HMông cũng phải tìm gỗ tốt để làm, nếu

là tre nứa thì phải là thân trúc hoặc mai già Cửa bao giờ cũng mở vào trong chứ không

mở ra ngoài Người HMông không sử dụng bản lề, then chốt bằng sắt mà hoàn toàn bằng

gỗ, bởi người HMông coi cửa mở ra đóng vào là lòng bụng con người, trong khi đó bản

lề sắt thép là những vật cứng được ví như dao kiếm Ngoài cửa chính, nhà của người HMông còn có cửa phụ, là lối để đưa đồ dùng cho người chết vào nhà lúc tang ma Chỉ khi đưa ra nghĩa địa mới đi qua cửa chính Làm nhà được coi là một việc hệ trọng trong đời người HMông, do vậy ngày về nhà mới là ngày đại sự của gia chủ Ngày hôm ấy, người ta tổ chức ăn uống vui vẻ, chúc nhau mọi sự tốt lành

- Cùng với việc làm nhà mới là làm chuồng gia súc Chuồng gia súc được làm chếch với cửa chính, tuỳ thuộc vào hướng gió Để làm chuồng gia súc, người ta cũng phải xem tuổi gia chủ, tính ngày tháng rồi mới làm Người HMông rất yêu quý gia súc, có khi còn làm chuồng gia súc tốt hơn làm nhà ở Khi làm chuồng gia súc người HMông đều thắp hương cúng ma chuồng, ma trại phù hộ cho gia súc hay ăn chóng lớn, dễ nuôi Nhà người HMông thường được xếp đá xung quanh làm hàng rào che chắn hàng rào đá xếp xung qunah một nhà hoặc 2,3 nhà có quan hệ anh em nội tộc với nhau, làm thành một khu riêng biệt.Người HMông cũng làm nhà dựa lưng vào núi, kiêng làm nhà quay lưng ra khe, vực sâu Bản của người HMông có từ vài ba nóc nhà trở lên, có bản chỉ có một dòng

họ, nhưng không nhiều, còn lại đa số là một bản có nhiều dòng họ sống cùng nhau.

Trangphục

Quần áo của người Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt Đậm đà tính cách tộc người trong tạo hình và trang trí với kỹ thuật đa dạng.

Trang phục nam Hmông độc đáo khác nhiều tộc người trong khu vực; trang phục nữ khó lẫn lộn với các tộc khác bởi phong cách tạo dáng và trang trí công phu, kết hợp kỹ thuật nhuộm, vẽ sáp ong, thêu, ghéo, dệt hoa văn với kiểu váy rộng và đẹp.

Trang 3

+ Trang phục nam

Nam thường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thân hẹp, ống tay hơi rộng Aáo nam có hai loại: năm thân và bốn thân Loại bốn thân xẻ ngực, hai túi trên, hai túi dưới Loại năm thân xẻ nách phải dài quá mông Loại bốn thân thường không trang trí loại năm thân được trang trí những đường vằn ngang trên ống tay Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc trong khu vực Đầu thường chít khăn, có nhóm đội mũ xung quanh có đính những hình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi mang vòng bạc cổ, có khi không mang.

Người HMông có nhiều nhóm khác nhau, trang phục nữ các nhóm cũng có sự khác biệt Tuy nhiên nhìn chung có thể thấy phụ nữ Hmông thường mặc áo bốn thân, xẻ ngực không cài nút, gấu áo không khâu hoặc cho vào trong váy Ôống tay áo thường trang trí hoa văn những đường vằn ngang từ nách đến cửa tay, đường viền cổ và nẹp hai thân trước được trang trí viền vải khác màu (thường là đỏ và hoa văn trên nền chàm) Phụ nữ Hmông còn dùng loại áo xẻ nách phải trang trí cổ, hai vai xuống ngực giữa và cửa ống tay áo Phía sau gáy thường được đính miệng và trang trí hoa văn dày đặc bằng chỉ ngũ sắc Váy phụ nữ Hmông là loại váy kín, nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe

ra có hình tròn Váy là một tiêu chuẩn nhiều người đã dựa vào để phân biệt các nhóm Hmông (Hóa, Xanh, Trắng, Đen ) Đó là các loại váy trắng, váy đen, váy in hoa, vẽ sáp ong kết hợp thêu Váy được mang trên người với chiếc thắt lưng vải được thêu trang trí ở đoạn giữa Khi mặc váy thường mang theo tạp dề Tạp dề mang trước bụng phủ xuống chân là 'giao thoa' giữa miếng vải hình tam giác và chữ nhật; phần trang trí hoa văn là miếng vải hình tam giác cân phía trên, miếng hình chữ nhật là màu chàm đen, kích thước tùy từng bộ phận người Hmông Phụ nữ thường để tóc dài quấn quanh đầu, có một số nhóm đội khăn quấn thành khối cao trên đầu Đồ trang sức bao gồm khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, vòng chân, nhẫn.

Một bộ trang phục hoàn chỉnh của người Dao gồm: áo, yếm, xà cạp, cùng đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu tất cả đều làm nổi bật trang phục phụ nữ Dao giữa đại ngàn núi rừng Tây Bắc

Trước đây thì người Dao tự dệt vải để may trang phục của mình nhưng ngày nay thì còn rất ít người tự dệt lấy mà hầu như là dùng vải mua rồi mang về thêu hoa văn trang trí vào bộ trang phục Trang phục phụ nữ Dao thường có áo dài yếm kết hợp với quần

Theo quan niệm của người Dao, trong bộ y phục của người phụ nữ quan trọng nhất là chiếc áo được thiết kế dài đến gần đầu gối Cổ áo được thiết kế theo hình chữ V có thêu hoa văn Sau lưng áo của phụ nữ Dao cũng có phần thêu hoa văn Ở phần thêu này, người Dao cho rằng sẽ làm chiếc áo thêm đẹp, thêm độc đáo và để dễ phân biệt dân tộc Dao với các dân tộc khác

Trang 4

Trang phục nữ Dao

Áo người Dao có hai tà và phần cầu kỳ nhất để làm nên sự độc đáo trong chiếc áo của phụ nữ Dao chính là những nét hoa văn được thêu ở phần đuôi áo Người Dao cho rằng, nhìn áo để biết người phụ nữ khéo hay không, nhìn áo

để biết người phụ nữ có đảm đang hay không chính là nhìn vào cách thêu hoa văn ở phần đuôi áo mà người phụ nữ mặc

Trang 5

Trong khi đó, quần của phụ nữ Dao được thêu ở đoạn cuối ống giống với phần thêu trên áo để tạo ra một bộ trang phục mang vẻ đẹp thẩm mỹ và rất tinh tế Kiểu quần thường mặc là quần chân què, cát hình lá tọa, đũng rộng có thể

cử động thoải mái trong mọi tư thế lao động Đồng bào thường đeo thắt lưng được dệt bằng vải thủ công, rộng khoảng 40cm gấp làm tư, chiều dài đủ quấn quanh thân người hai vòng, buộc lại ở phía sau, để buông dải đuôi xuống sau lưng

Những hoa văn trên áo phụ nữ Dao được thêu sặc sỡ với nhiều họa tiết phong phú như hình cỏ cây, hoa lá hay bất kỳ vật dụng nào mà người dân nơi đây cảm thấy gần gũi trong sinh hoạt hàng ngày Cùng ý tưởng đó nhưng trên mỗi bộ trang phục, hoa văn không giống nhau bởi mỗi người có một cách làm và gửi vào tác phẩm của mình những nỗi niềm khác nhau

Trang phục nam nữ dân tộc

Dao Điểm nhấn quan trọng trong bộ trang phục của phụ nữ Dao chính là khăn vấn đầu Khăn quấn đầu dài hơn 1 mét được thêu nhiều hoa văn sặc sỡ góp phần làm nổi bật trang phục của người phụ nữ Dao Khăn có 3 loại: khăn vuông, khăn chữ nhật và khăn dài Ngoài trang phục chính, người phụ nữ Dao còn ưa dùng đồ trang sức làm cho bộ trang phục của mình thêm sang trọng: vòng cổ, nhẫn, túi ăn trầu, các đồ trang sức bằng bạc hình bán cầu, hình sao 8 cánh

Có những cô gái Dao đeo 10 chiếc vòng cổ, 12 chiếc nhẫn, cùng những chiếc khuy bạc đường kính 6-7cm, nổi bật trên màu áo chàm

Trang 6

Trang phục phụ nữ Dao đặc sắc và cầu kỳ bao nhiêu thì trang phục nam giới lại đơn giản bấy nhiêu Đó là những chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực và thường cài 5 cúc Quần rất rộng đũng, có thể cử động trong mọi tư thế

Cả nam, nữ và trẻ con người Dao đều thích đeo trang sức như vòng cổ, chân, tay Ngoài việc làm đẹp thì chúng còn mang giá trị nhân văn, tín ngưỡng Theo truyền thuyết kể lại, người dân đeo trang sức bằng bạc thì sẽ trừ tà ma, tránh gió và thậm chí là được thần linh phù hộ

Ngày nay, trang phục của người Dao đã bị mai một do tác động của kinh tế thị trường và quá trình giao lưu văn hóa

Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp tích cực, đặc biệt

là tổ chức các cuộc thi “Trang phục dân tộc” để người dân gìn giữ những gì mà cha ông đã để lại

Lễ Cấp Sắc của người Dao

Người Dao quan niệm, đàn ông nếu chưa trải qua lễ cấp sắc thì dù già vẫn coi là trẻ con vì chưa có thầy Cấp sắc, chưa được cấp đạo sắc, chưa có tên âm Người đã qua Cấp sắc dù ít tuổi vẫn được coi là người trưởng thành, được tham gia vào các công việc hệ trọng của làng, được giúp việc cho thầy cúng, được cúng bái Họ cũng quan niệm rằng có trải qua lễ Cấp sắc mới biết lễ phải trái ở đời, mới đích thực là con cháu Bàn Vương, khi chết hồn mới được đoàn tụ với tổ tiên Nếu gạt bỏ những yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng thì lễ Cấp sắc có tính giáo dục rất lớn, thể hiện qua những lời giáo huấn hướng tới việc thiện, không làm điều ác Các điều giáo huấn được thực hiện bằng lời thề dưới sự chứng kiến của tổ tiên và các quan âm binh nên tính giáo dục càng có giá trị

Lễ Cấp sắc thường được tổ chức vào tháng 11, tháng 12 hoặc tháng Giêng hàng năm, vì đây là thời gian nhàn rỗi Ngày thụ lễ được lựa chọn rất kĩ, người Dao Đỏ, Dao Tiền thường làm lễ cấp sắc từ

độ tuổi 12-30, có khi đến già, trong khi đó ở người Dao Áo Dài là 11-19 tuổi Người Dao Đỏ có thể tổ chức Cấp sắc cho một đợt tối đa 13 người (nếu ít hơn phải theo số lẻ) và ở nhà trưởng họ; người Dao Áo Dài mỗi lần chỉ cấp sắc cho một người và tại nhà người đó Gần đến ngày lễ, gia đình phải

cử người mang lễ vật đi mời thầy cúng, người được thụ lễ phải kiêng hò hát, cãi nhau, ngủ chung

Để phục vụ lễ nghi và khoản đãi dân làng đến chứng kiến, các gia đình có người thụ lễ phải chuẩn

bị các vật thiết yếu như lợn, thóc gạo, rượu, y phục thầy cúng Mỗi nhóm Dao có một cấp bậc cấp sắc: người Dao Đỏ và Dao Áo Dài cấp 7 đèn, Dao Tiền cấp 3 đèn Mỗi lễ cấp sắc phải có 6 thầy cúng đảm nhiệm các nhiệm vụ và các nghi lễ lớn nhỏ khác nhau Các thầy cúng trước khi hành lễ đều phải cúng ma ở bàn thờ tổ tiên nhà mình để xin được phù hộ và đi theo giúp đỡ Tại nơi hành

lễ, họ treo tranh Ngọc Hoàng và các vị thần thánh của người Dao, lập bàn thờ tổ tiên người thụ lễ và bàn thờ các thần thánh Khi hành lễ, các thầy cúng phải thực hiện rất nhiều bài cúng, múa, điệu bộ phép thuật theo sách cấp sắc; người thụ lễ, có khi cả vợ anh ta cũng phải thực hiện nhiều động tác nghi lễ theo sự chỉ dẫn của các thầy Khác với nhóm Dao Đỏ và Dao Tiền, người Dao Áo Dài có một nghi thức gọi là hóa kiếp khá đặc biệt Theo đó, người thụ lễ phải ngồi xổm, bất động, các ngón tay bắt vào ngón chân khoảng một giờ đồng hồ, rồi mới được thầy đẩy nhẹ cho rơi xuống một cái võng

có 3-4 người đỡ Làm xong lễ hóa kiếp là lễ giáo huấn, lễ thề và lễ đặt tên cấp sắc Ở tất cả các nhóm Dao, sau khi thực hiện đầy đủ các nghi thức phức tạp và đã cấp sắc cho người thụ lễ xong, các thầy cúng đều phải cúng tạ ơn tổ tiên, thần thánh đã đến dự thì nghi lễ mới kết thúc

Trang 7

Lễ Cấp sắc của người Dao nói riêng và bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung là cái hồn riêng của mỗi dân tộc, cần phải được gìn giữ và phát huy Đây được xem là nhiệm vụ chiến lược để đảm bảo cho một nền văn hóa phát triển lâu dài và bền vững không chỉ ở vùng dân tộc miền núi Hà Giang mà của cả dân tộc Việt Nam nói chung

Ngày đăng: 04/05/2021, 08:48

w