1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIA PHA HO NGUYEN CUU xin dung tai

30 86 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Gia Phổ Họ Nguyễn Cửu
Trường học Trường Đại Học Huế
Chuyên ngành Gia Phổ
Thể loại Gia Phổ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 218,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm Vĩnh Tộ Lê Thầ Tôn thứ 3 là năm Quý Hợi vua Hy Tôn Hiếu văn Hoàng- Đế ta ngự trị đó 10 năm lại năm Thành Thái Tổ thứ 8, ông vừa 25 tuổi thọ phi nhà Trịnh là Nguyễn Thị Ngọc Bửu là co[r]

Trang 1

GIA PHỔ HỌ NGUYỄN CỬU

  

Lập ngày 25- 10 Giáp Thân 2004

Họ Nguyễn Cửu- Quý hương

Phái thứ 1 Chi thứ 3 Hồng tài hầu chi

Gia phổ chi Hồng Tài Hầu

………

Quý Hương Gia Phổ Họ Nguyễn Cửu

Phài Thứ 1 Chi Thứ 3 Chi Hồng Tài Hầu Gia Phổ

Phụng tu lại năm Duy Tân thứ 3 năm Kỷ Dậu phụng dẫn Gia Phổ nhà ta buổitrước có 12 sứ quân không xiết kể được từ ngài Thái- Tổ Định quốc công là Nguyễn Bặttrong nước nhà Triệu nhà Tống mở mang đầu, nhưng nước ta mở đầu là vua nhà Đinh

QUÝ HƯƠNG GIA PHỔ

Trang 2

Họ NGUYỄN CỬU

Phái yhứ 1 Chi thứ 3 Chi Hồng Tài- Hầu Gia Phổ

Phụng tu lại năm Duy Tân thứ 3 năm Kỷ Dậu, phụng dẫn Gia Phổ nhà ta buổitrước có 12 sứ quân không xiết kể được từ ngài Thái- Tổ Định quốc công là Nguyễn Bặttrong nước nhà Triệu nhà Tống mở mang đầu, nhưng nước ta lập đầu là vua nhà Đinh,nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần Nhà Lê tích tông lủy công sáng chói trong sử sách đến 10 đời.Nhà Trần có giặc Quý Ly, quan phụ đạo là Nguyễn Biện đầu ở Thanh Hoá Thiên tôncông kiếm, gia miêu phân du là đó đầu vậy Đời 13 ngài đô đúc Khiểm sư Thái Uý Hoằn,quốc công là Nguyễn Công Chuẫn con thứ 4 quận công Nguyễn Công Trác, Nguyễn NhưTrúc sanh Chấn Quốc Công nay làm chánh vị

Nguyên miếu Hoàng Quốc Công, con thứ 7 thái phó Nguyễn Bá Cao làm chia phái

họ ta.đến đời 18 quan phó tướng trấn thủ là Nguyễn Quận Công mới vào Thuận- Hóa thờvua Hy Tôn Hiếu văn Hoàng Đết triều ta đồng với tổ 5 đời mà con bà công cháu họNguyễn Phước Nhưng công lấy từ xa mà không dám dự cùng khánh phổ mà buổi ấy các

họ như họ Trương họ Tống đều trước chử Phước lệ lấy công thần biểu đó ấy là ông tổ họ

ta mời về từ ngài Thỉ tổ ta đến nay đã 8- 9 đời mà năm đời trở lên danh khanh cứ nốinhau mà tới nhưng Thăng bình quân Công là Nguyễn Cửu Dực lấy hiệu trung kiệt theothờ Trung Thái miều vậy, ôi tước lộc một buổi hoặc trời cho mà ngàn năm ắc nhờ giakhương họ ta đời trước trung trinh gia truyền hiếu nghĩa từ nhà Đinh đến nhà Lê hoàthuận bình trung năm sáu trăm năm, sáu mươi năm (556) trải đời công đức cũng là nguồnlớn, cội lớn bức đải phúc tán Từ Vĩnh Tộ nhà Lê về sau huân môn thế vị đã hơn ba trăm

ba mươi năm để lại phúc trạch đã xa còn khá chép đại lược vậy Nay nhơn quan thươngthơ bộ hộ là Quỳnh sơn hầu tu Cửu bộ lại mà biên chép đó Nhơn viết gia miêu bắ phồ lại

cứ đợi trưởng lảm đức hầu nhóm sửa Gia phổ của họ lại mà xem xét diễn truyền thêm.Nhơn viết vân dương kịch phổ ghi chép sô anh em chăng hay đủ rõ, còn kinh phổ thì thế

độ chiêu mục, huynh để nhàn hành đểu muốn chép vào nhung xa thì chẳng rõ chẳng tingần thời thứ tự ai trước thời kế nhiên giã Từ nay về sau phúc trạch dài dặt qua thí phanxương bèn xem phổ ấy thì còn miễng cưỡng vậy mà lại tu phổ ấy thì phải châm chước,đức dày trôi sáng tổ trước và sau hẹn chân đời sau vậy – Năm vua Tự Đức thứ 3 là nămCanh Tuất tháng 6

PHÁI THỨ 3

Trang 3

Vua cho đệ nhị giáp tấn si xuất thân, hiệu bổ gia nghi đại phu bộ Hộ, hữu thị langsông, biên nôi các sự vụ sông kinh diên nhật giảng quan hoan giai thành đương NguyễnCửu Trưởng tự tử thường cúi đầu bái chépchân Bộ Hộ Thị lang Công thự.

…………  …………

HỌ NGUYỄN CỬU QUÝ HƯƠNG

Trang 4

Phổ Thứ Nhất

Nguyên quán tỉnh Thanh- Hóa phủ Hà Trung, huyện Tống Sơn Tổng Thượng bạn.Quý Hương Gia Miêu Ngoại trang

Vân Dương Kinh Phổ

Từ đường họ Nguyễn Cửu ta tại làng Vân Dương Tổng An cựu huyện HươngThuỷ tỉnh Thừa Thiên Huế

Cựu phổ từ đời Gia Long thứ 3 Năm Giáp Tý đội trưởng Lãm Đức hầu nhóm sửa phổ lạinay y như xét sửa mà viết thêm tên kinh phổ

ĐỜI ĐẦU- Đời Thứ Nhất

Ngài Thỉ Tổ trấn thủ phó tương chưởng dinh phò mã Nghĩa Lâm hầu Tặn đặt tấnphụ Quốc Thượng Tướng Quân, tả quân đô đốc phủ, Tả đô đốc Thuỵ Liên Cần là nghĩa

quận công Nguyễn Phước Kiều ngài con trưởng Quản Quận Công là năm Quan Hưng

Lê Thế Tôn 22 năm Kỷ Hợi ngày 18 tháng giêng giờ Tỵ sanh tại Thanh Hoá, thấy họTrinh chẳng phải tôi trung, lòng cứ nhớ về hướng nam Năm Vĩnh Tộ Lê Thầ Tôn thứ 3

là năm Quý Hợi vua Hy Tôn Hiếu văn Hoàng- Đế ta ngự trị đó 10 năm lại năm ThànhThái Tổ thứ 8, ông vừa 25 tuổi thọ phi nhà Trịnh là Nguyễn Thị Ngọc Bửu là con gái củavua Kiến Tổ Tình Hoàng- Đế, ông dặn kín phải đem ấn phẩm vào nam, đổi dạng làmkhách đi đá gà vừa đến chổ sông Gianh là chổ nam bắc phân giới, đến đó thì không có

thuyền mà qua, còn sau thì quân giặc gần đến nơi, ông bèn vái với tời “ thà chết ở sông

này, không làm tôi ai” bèn thấy con trâu nước đến bờ sông bèn cởi qua sông thì trâu

chẳng thấy nữa ông bèn quản binh vừa gặp gặp ông chiêu quậncông Nguyễn Hữu Íchbày

tỏ bà con ngoại gái của ông Quản Quân Công là cậu cô chi tử ông bèn tới ra mặt và trao

ấn ấn lại sau mới bổ đội trưởng Quản mả cơ Thuyền Cải Trung đạo thuyền thị vệ TầmThị vệ Tầm thăng cai đội, còn bà chúa thú 4 là Ngọc Đỉnh luỹ thăng Chưỡng Cơ DinhQuan binh trấn Thủ Phó tướng năm Đức Long Lê Thần Tôn thứ 2 năm Canh Ngọ thứ 17vua Hy Tôn Hoàng Đế ta ngự trị đó ông lập binh châu Nam Bố chánh nay là huyện BốTrạch chém tri châu Nguyễn ta lại qua Châu Bố Chánh nay là huyên Minh Chánh, BìnhChánh liền phải dồn binh của Thắt trạm hiệu là ba quận công và phá kho lương thực mà

về, từ đó Nam Bố Chánh mới bày sổ tịch đầu mới đặt dinh Bố Chánh, Dương Hoà LêThầ Tôn năm đầu năm Canh Thìn vua Thần Tôn Hiếu Chiêu Hoàng- Đế ta ngự trị đóđược 6 năm ông nhóm dinh Bố Chánh trấn thủ là Trương Phước Phố đem binh bắc BốChánh tập kích tướng bắc là Nguyễn Khắc Tước chạy đó hiệu lãm Luân Hầu người nhàTrịnh giết Khắc Tước Từ đó Nam Bố Chánh mới được yên lặng Năm Phúc Thái thứ 6

Lê Chơn Tôn đến năm Mậu Tý vua Thần Tôn ta ngự trị đó được 14 năm, người nhà Trịnh

cử binh xâm chiếm, Dinh Bố Chánh thất thủ, giặc đến làngVõ xá dinh đồn Quãng Bình,ông ngăn chặn chổ sa luỹ giặc chẳng đến được, bèn làm sớ dâng lên vua nghe tự đem đốctướng và chúa tướng là Nguyễn Hữu Tấn Thuận quận công Nguyễn Hữu Ích đánh đó cảhơn mà về

Trang 5

Năm ấy vua Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế kế thống được ông dự vào diễn tú vệthăng chưở dinh năm Khánh Đức thứ 4 Lê Chơn Tôn qua năm Nhâm Thìn vua Thái Tôn

ta ngự trị đó được 4 năm Ông chịu mực chiếu giết Diện Cơ Thị Thừa đầu Nghệ An chịThị Thừa sắc đẹp khor1, ca hát đặng vào trong cung và thấy ra mắt vua, nhung ngài đangxem truyện Xuân Thu thấy có Ngộ Vương nịnh Tây Thisự thoát tahy61 có biết ông haybỉnh tiết tật tà đem cho thị thừa phồn bào thưởng cho Khiến Dương diện mặc thử để biếtdài ngắn trong áo có để kín mục chỉ nói rằng phải giết sứ công, ông bèn giết đó mà sauphục mạng Thanh Đức thứ 6 Lê Chơn T6n qua năm Ất vì vua thái tôn ta ngự trị đó được

7 năm vua nghe người nhà Trịnh càng thêm xâm chiếm bèn sai ông Nguyễn Hữu Tấn làmquan triết chế ông Nguyễn Hữu Ích đốc chiến để đánh đó, chia binh làm 5 đạo, ông coi hạđạo, qua tháng 2 ông đem quân thuỷ bộ theo làng Thuận Cố nay tên làng ở huyện BốTrạch, rồi vượt qua sông Gianh đánh phá tướng bắc là Mậu Long ở nơi xứ sủng hùng,bèn qua núi Hoành Sơn đánh đuổiquân giặc đông quân thương đao là Nguyễn Hữu Tấnđánh cướp đất dinh cầu Hà Tịnh, tướng Bắc tới quy hàng chạy qua núi Phong Huyệt Sơntục danh yên gió quân ta tới đánh bắn trúng hôn tấn hàng bên tả rồi lui giữ chợ Bảo Uyêntục danh chợ Cồn Vất , binh nam thu được nhiều khí giới Ngày 18 quân Nam tới cầu Nạithuộc đất Hà Tịnh Thuỷ quân ống đến đồn Nam Ngạn Sông Đầm chiêu mộ 2 lính KìAnh và Thạch- Hà binh dân về làng cả rồi Tiếp năm thứ 4 Thạch Đức năm Bính Thânvua Thái Tôn Ta ngự trị đó được 8 năm, binh nam chia làm 3 đạo tới đánh đều thua, quânBắc tới đồn Vân Cát, Tướng Bắc Đương quân công và Long quận công lui giữ dinh vịnhthuộc đất Hà Tịnh tháng năm về mùa hạ Trịnh-Tráng hiệu Thanh Đô Vương bèn giấybinh trong nội lấy chiếu bào là Trịnh Tiệp hiệu là Ninh Quận Công làm chức Đại NguyênSói đem binh 4 vạn( 40.000) làm tiền đạo thẳng đến Thạch Hà chánh quân ở làng ĐơnChế lại chia bộ đầu của Đương Quận Công tức là hai làng thanh mộ Đại Nại Thống QuậnCông lảnh thuỷ quân tới nhóm 2 cửa biển Đơn Dai quân Nam cũng chia 3 đạo , đạochính trấn thủ Phò Dương làm tiên phong, Nguyễn Hữu Tấn làm chánh đội trấn thủ đạithắng, dội sau tới tiếp thủ đánh đồn Đại Nại, thà đạo làm tiên phong , Mậu Quận Cônglàm chánh đội Xuân Đài sau tiếp viện Chưởng Cơ Triều Khương đấu chiến tấn công cửabiển nam giới đồn thanh mạt quan thuỷ cai cơ Hoàng Vinh làm tiên phong, còn VănChức làm chánh đội trấn thủ là Dương Tứ Thị chiếm tấn công cửa biển nam giới Ngày

11 tháng ấy ông quản hạ đạo cùng với Hoàng Vinh hiệp đánh núi nam giới quan đô đốcchiến là Nguyễn Hữu Ích đem trước lính và voi nấp ở bên núi, ông đem thuyền quân tiếpđến quân thuỷ và quân bộ giáp đánh bèn cướp được của sanh cầm Thông quân và Trịnhphò mã tên Trình đem quân tiếp viện mong sao chủ quân đánh trống mà tới Phò mã đếnđánh chẳng được bỏ hết khí giới thuyền bè mà về TRịnh Thiệp nghe tin lui binh qua đò.Ông Nguyễn Hữu Ích thoát đến vây đón ngăn thuỷ triều lại, thuyền quân thuỷ chẳng tớiđược triệt vây cả 4 cửa biển Trịnh Thiệp lui về Đại Nại cùng với Đương Quận công cốthủ đã 12 ngày, quân thuỷ là trại thiên lộc vản đến đầm giang ông gồm lãnh thuỷ quânPhó Tướng cùng với tham tướng là Vân Long thị chiến quản xuyên đánh tài quận côngphá đò, qua đò Phù Trạch đến của Minh Kiều chánh đạo phò dương lãnh quân thông biếtlàm giặc phải thua Trịnh thiệp lui binh theo đánh làng Tam Lộng, lại thừa thắng đếnĐầm Giang nằm phục ông cùng với tướng thuỷ bộ để gắn sức đánh trận chém giặc tướng

Trang 6

2 người là Thao Nhan và Diễm Thụ Ông bị trọng thương về tới Quảng Bình mà điềudưỡng Nguyễn Hữu Tân sai các đạo nghỉ binh 25 ngày

Ông bị trọng thương năng mà chết Ông sống được 58 tuổi, mộ táng tại làngBạch, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế Mộ toạ Đinh, hướng quý kim vị sửu Minhđường làng Hà Trung, ngoại án là Hải di đầm núi Linh Thái Tuý Vân , thầy địa là ngườiTàu

Sắc vua tặng đặt Tấn Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Tả Quân Đô- Đốc Phủ Tả

Đô Đốc, Nghĩa Quận Công Thuỵ Liêm Cần Sắc vua lập nhà thờ trong làng Dương XuânTrục danh Kinh Đá lại cho dân làng Bạch- Thạch làng Phú Long làm từ phu

Ông sinh hạ được 7 trai- 3gái:

Con trưởng: Nguyễn Phước Thiên

Con thứ 2: Nguyễn Phước Diên

Con thứ 3: Nguyễn Phước Ân

Con thứ 4: Nguyễn Phước Kế

Con thứ 5: Nguyễn Phước Thân

Con thứ 6: Nguyễn Phước Ngưu

Con thứ 7: Nguyễn Phước Sang

Con gái trưởng là: Nguyễn Thị Hường ; Gả cai cơ Xuân

Con gái thứ 2: Nguyễn Thị Lụt ; Gả chưởng cơ Ân

Con gái thú 3: Nguyễn Thị Ngọc ; Gả cai cơ Vinh

Về sau đời đời tế tự ngài chẳn cho làm trâu mà tế và cấm các con chấu ăn thịt trâu

là nhớ cái ơn thần Ngưuđưa ngài qua sông khi trước để nhớ đó vậy

Vợ chính của ngài là bà chúa Nguyễn Thị Ngọc Đỉnh

Pháp danh là: Diệu Liên

Bà là con gái thứ 4 của vua Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế Mẹ là bà Hoàng Hậu tênNguyễn Thị Bá thứ 9 Hoàng Định Lê Vĩnh Tôn, ngày 22-2 năm Mậu Thân khi giờ thânsanh Chiếu quận Công được 10 tuổi sơ sanh 6 con , từ con trưởng Nguyễn Phước Thiện,đến con thứ 5 Nguyễn Phước Thân rồi quận công mất để tan rất cẩn thận Năm thứ nămchánh hoà Lê Thần Tôn ta ngự trị đó được 36 năm ngày 16 tháng 11 khi giờ Sửu ngàimất, ngài sông được 77 tuởi Tán ngài tại núi Bạch Thạch dước mộ Nguyễn Quận Công.Thường năm đến ngày kỵ vua có cấp tiền 100 quan, đến nay đã đình chỉ

ĐỜI THỨ 2 Phái Thứ 1

Trang 7

Tiên tồ ta là Tham Tướng Chưởng Cơ Vị dương hầu

Chọi mẫn trị: Nguyễn Phước ThiênCon trưởng của Nghĩa Quận Công; chết ngày 30- 1

Sanh được 3 trai- 1 gái:

Con trưởng ngài là: Nguyễn Phước Vạn

Con thứ 2: Nguyễn Phước Tấn

Con thứ 3: Nguyễn Phước Hồng

Con gái là: Nguyễn Thị Muông; Gả cho Đội Thành

ĐỜI THỨ 3 Phái Thứ 2

Cao Bá tổ cai đội Vạn Lộc hầu Nguyễn Phước Vạn, con trưởng vệ Xuyên Hầu

Sanh hạ được 1 trai- 1 gái:

Con trai: Nguyễn Phước Mạnh

Con Gái: Nguyễn Thị Liên

Chi Thứ 2

Cao Bá Tổ khảo Đội trưởng Trấn- Lộc- Hầu

Nguyễn Phước Tấn

Con Thứ 2 Vệ Xuân Hầu

Sanh được 2 trai- 1 gái:

Con trưởng: Nguyễn Phước Ân

Con Thứ 2: Nguyễn Phước Tư (và tên Hưng)

Con gái: Nguyễn Thị Nhụy

Chi Thứ 3

Cao Tổ Khảo Cai Cơ Hồng tài Hầu

Nguyễn phước Hồng

Con thứ 3: Vị xuyên hầu

Sanh được 3 trai- 4 gái:

Con trưởng: Nguyễn Phước Tuấn

Con Thứ 2: Nguyễn Phước Hào

Con thứ 3: Nguyễn Phước Hoàng (có tên Doãn)

Con gái trưởng: Nguyễn Thị Thụy

Con gái thứ 2: Nguyễn Thị Ba

Con gái thứ 3: Nguyễn Thị Sỹ

Trang 8

Con gái thứ 4: Nguễyn Thị Tàu

ĐỜI THỨ 4:

Phái Thứ 1 Chi Thứ 1

Tằn bá tổ khảo là: Nguyễn Phước Mạnh con của Vạn Lộc Hầu; sanh chết không rõngày

Chi Thứ 2 Trở Xuống

Tằn bá tổ khảo Đội trưởng Nguyễn Phước Ân con trưởng Tấn Lộc Hầu Tằn Bá TổKhảo, con thứ của Tấn Lộc H6àu

Chi Thứ 3 Trở Xuống

Tằn bá Tổ khảo đội trưởng Tuấn Đức Hầu:

Là: Nguyễn Phước TuấnCon trưởng: Hồng Tài- Hầu

Sanh được 1 trai: Nguyễn Phước Lượng

Tằn bá Tổ khảo đội trưởng Hoà Lương Hầu

Là: Nguyễn Phước HoàCon thứ 2 của Hồng Tài Hầu

Sanh được 3 trai:

Con trưởng: Nguyễn Phước Đoạn

Con thứ 2: Nguyễn Phước Huấn

Con thứ 3: Nguyễn Phước Lương

Tằn tổ khảo cai đội Doãn Trạch Hầu

Là: Nguyễn Phước DoãnCon thú 3 của Hồng tài Hầu (ngày chết không rõ )

Mộ ngài chôn tại làng Lương Văn

Ngài sanh được 1 trai: Nguyễn Phước Trực (và tên Lực )

ĐỜI THỨ 5 Phái Thứ 1 Chi Thứ 3

Bá Tổ khảo là: Nguyễn Phước Lượng, con của Tuấn Đức Hầu (đều mất tích )

Bá Tổ khảo: Nguyễn Phước Đoạn

Con trưởng Hào Lương Hầu

Bá Tổ khảo: Nguyễn Phước Huấn

Trang 9

Con thứ 2 của Hào lương Hầu

Hiển Tổ khảo Nguyễn Phước Trực (và tên Lực ) chánh kỵ ngày 15-2 ÂL

Con của Đoãn Trạch- Hầu, mộ táng tại đất cát xứ tam sổng bụi bờ thuộc địa phân làngLương Văn Sâu năm 2002 Nhâm Ngọ con cháu đã đưa ngài về làng Chiết Bi Hạ an táng

và đã xây liếp

Ngài sanh được 1 trai- 2 gái:

Con trai: Nguyễn Cửu Quý

Con gái trưởng mất tích

Con gái thứ 2: Nguyễn Thị Dư cũng mất tích

Bà hiển Tổ Tỷ là: Huỳnh Thị không tên và không có ngày chết bà người làng Lương Văn

Xứ Tam Sổng, Bạch Sa Lâm Lộc Mộ toạ Tý hướng Ngọ

ĐỜI THỨ 6

Phụng đời thứ 6 về trước đều lót chữ Phước cả, nhung có người Phái 3 Chi Thứ 4

Du Quận Công khâm phụng, sắc vua cho đổi lót thành chử Cửu lại có em ruột Du QuậnCông là: Nguyễn Cửu Tứ và có một ông lão cũng lót chử Cửu cho nên 6 đời trở xuốngtừnăm vua Minh Mạng thứ đầu trong họ mong phụng lời sắt của vuachỉ chuẩn cho trong họ

về sau đều lót chử Cửu cả là cớ đó vậy

Phái Thứ 1 Chi Thứ 3 Phòng Thứ 3

Hiển khảo nguyên cai đội Nguyễn Cửu Qúi (và tên Viên ) Chánh kỵ 15- 4 ÂL

Hiển tổ khảo là: Nguyễn Phước Trực

Đầu vào dinh nội hầu vệ thúc bổ kỳ võ trong năm vua Thiệu Trị lại thăng bổ hậu

vệ Thúc bổ kỳ võ trong năm vua Thiệu trị hậu bảo vệ nhị đội, suất đội, Tầm thăng cai độingài chết trong quân ngũ ngày 15- 4 Mộ chôn tại địa phân làng Lương Văn xứ Tam SổngBạch Sa làm lục mộ Triều Tây Sau cải tán đưa về chôn tại làng Chiết Bi hạ, xã ThuỷTân, Hương Thuỷ, sau đó sắt văn báo huynh Viên tử thưa cùng Phổ chép đều do tại ngườiphái 5 Thơ lại là Nguyễn Cửu Khâm nhận lấy cho nên thất lạc vậy

Bà vợ ngài là: Hiển Tỷ Y Phu cai đội chánh phối là: Phạm Thị Trình; Cahnh1 kỵ ngày

19- 01 ÂL Bà là con gái của ông Phạm Văn Thại người làng Lương Văn, bà thọ 60 tuổi,

Chết ngày 19- 01 Mộ chôn tại địa phận làng Lương Văn, xứ Tam Sổng, Bạch Sa làm lụcngôi mộ Triều Bắc

Ngài sinh được 7 trai- 1 gái:

Con trưởng: Nguyễn Cửu Lành

Con thứ 2: Nguyễn Cửu Lẽ

Con thứ 3: Nguyễn Cửu Không tên

Con thứ 4: Nguyễn Cửu Không tên

Con thứ 5: Nguyễn Cửu Chức ( và tên Kiệp)

Con thứ 6: Nguyễn Cửu Nở

Con thứ 7: Nguyễn Cửu Tán ( Và tên Hiền Lưu)

Con thứ 2: Nguyễn Thị Ra ( Mộ chôn trong uynh bà mẹ)

Trang 10

ĐỜI THỨ 7

Người con trưởng là: Nguyễn Cửu Lành là con trưởng của ngài Hiển khảo Cai

Đội- Nguyễn Cửu Quý, ông viên chử Nguyễn Cửu Chức và tên Kiệp, chánh kỵ ngày

15-06, là con thứ 5 của ngài Hiển Khảo Cai đội Nguyễn Cửu Quý Năm vua Minh Mạng thứ

7, ông sanh năm Bính Tý, ông thọ hơn 60 tuổi, ông chết ngày 16-06 Mộ chôn tại địaphận làng Lương Văn, xứ Mũi yêm giáp giới làng Chiếp Bi Hạ, mộ Triều Bắc, bà vợ

chánh thức của ông Viên Tử là Võ Thị lễ, chánh kỵ ngày 04-11 ÂL bà người làng

Lương Văn con ông Võ Thành, bà sống được hơn 30 tuổi, bà chết ngày 04-11, mộ chôntại địa phận làng Lương Văn , xứ Tam Sổng

Sanh được 3 trai-1 gái:

Con trưởng: Nguyễn Cửu Sang ( và tên Thại)

Con thứ 2: Nguyễn Cửu Không tên

Con thứ 3 Nguyễn Cửu Không tên

Con gái: Nguyễn Thị Mèo ( chết sớm)

Ông Nguyễn Cửu Nở; Chánh kỵ ngày 06- 01 ÂL

Là con thứ 6 của ngài cai đội Nguyễn Cửu Quý Ông Nở chết sớm, mộ chôn tại địa phậnlàng Lương Văn, xứ Tam Sổng, gần mộ ngài Hiển Tổ Khảo, một khuyng với các ngôi mộcác ông anh Triều Nam

Bổn thân của ông anh Nguyễn Cửu Tán (tên Hiền, tên Lưu), chánh kỵ: 02- 07 ÂL

Con thứ 7 của ngài cai đội Nguyễn Cửu Quý trong năm vua Thiệu trị thứ 4 ngày 30-08năm Giáp Thìn là ngày sinh của ông Khi ông còn nhỏ ông về ở làng mẹ là Lương Văn,sau ông có vợ dời về ở làng Chiết Bi Hạ, siêng năng thủ thường làm ruộng Đến năm vuaThành Thái thứ 18 là năm Ất Tỵ ông lại theo con là Nguyễn Cửu Miều về ở ngụ làng LaKhê huyện Phú Lộctục danh là Nguồn Đôi, gần làng Phú Sơn, gần xứ Khe Dàihiện thành

cơ chỉ lo việc làm ruộng- nguyên người em vợ là Nguyễn Khởi về ở trước

Qua năm vua Duy Tân thứ 3 là mùa hạ năm Kỹ Dậu nhóm họ làm lễ Hiệp Tế phải

đem thứ tự làm đầu nhượng ông làm lễ chánh tế mà nhớ “ cây có gốc, nuớc có nguồn “ ,

luân lý phải vậy, nhưng văn phổ nhà ta thất lạc không có kê cứu, khi ấy mời người vănnhơn trong họ Nguyễn Cửu Mâng đến tại nhà từ đường minh cáo với tổ tiên kính phụng

để sớm tu gia phổcủa bổn phái lại được rõ chánh tôn để về sau con cháu xem xét căn thất

rõ ràng hơn Mộ ngài tán tại làng Chiết Bi Hạ, con cháu đã cải táng đưa ngài về an tán tạithôn La Khê- xã Lộc Hoà- Phú Lộc cùng vợ của ngài là Nguyễn Thị Nốc, hai ngôi mộ trở

về hướng Đôtng Bắc giáp Bầu Tràm, nhà quỳ đầu giáp núi Truồi Tây Nam có dựng bia 2ông bà

Chánh kỵ ngày 02- 07 ÂL Con cháu lấy ngày ngài mất để kỵ và chạp ờ Truồi ấp La Khê- Lộc Hoà- Phú Lộc- Thừa Thiên- Huế Con cháu dựng xây nhà thờ

từ đời ngài ông và bà trở lên, tức là đời thứ 7 trở xuống.

Bà vợ ông Nguyễn Cửu Tán là Nguyễn Thị Nốc, chánh kỵ 29- 01, bà hưởng

dương 42 tuổi, bà là con gái ông Nguyễn Tưu chết ngày 15- 05 , mẹ là bà Lê Thị Hợi chấtnagy 23- 10 Bà là người làng Chiết Bi Hạ năm Canh Tuất là niên hiệu vua Tự Đức thứ 3

Trang 11

là ngày sanh của bà , sau có chồng bỉnh chỉnh binh lương đên năm vua Thành Thái thứ 4ngày 29-01 năm Nhâm Thìn bà mất Hưởng dương 42 tuổi Mộ bà tán tại làng Phú Bài,

xứ Trung Kiều, mộ Triều Bắc Sau con cháu đã đưa ông bà về an tán tại xứ Bầu Tràm,nhà quỳ thuộc địa phận thôn La Khê, xã Lộc Hoà, Phú Lộc, hai ông bà tán gần nhau,hướng chân Đông Bắc giáp Bầu Tràm, nhà quỳ Tây Nam, giáp núi truồi ( Mộ ông bà đãxây, dưới chân có 2 con)

Ngài sanh hạ được 3 trai- 5 gái:

Con trưởng: Nguyễn Cửu Kỷ

Con thứ 2: Nguyễn Cửu Miều

Con thứ 3: Nguyễn Cửu Không tên

Con gái thứ 1: Nguyễn Thị Mùi ( và tên Xin) chết sớm

Con gái thứ 2: Nguyễn Thị Chút ( và tên Rớt) ngày kỵ 12- 01

Con gái thứ 3: Nguyên Chị Cát tuổi Tân Tỵ gã người làng Chiết Bi

Con gái thứ 4: Nguyễn Thị Lọt, chết sớm

Con gái thứ 5: Nguyễn Thị Qui, tuổi Kỷ Sửu

ĐỜI THỨ 8

Cháu ruột Nguyên Tự Dinh Nguyễn Cửu Thại ( tên Sang), chánh kỵ: 28- 08 ÂL

Con trưởng của ông anh viên trưởng là: Nguyễn Cửu Chức ông sanh năm Tân Hợi

Tự Đức thứ 4

Vợ chánh là Lương Thị Kiên, chánh kỵ ngày 10- 04

Sanh hạ được 2 tria- 1 gái:

Con trưởng là: Nguyễn Cửu Đỉnh

Con thứ 2: Nguyễn Cửu Bí

Con gái là: Nguyễn Thị Lan, gả chồng An Nong

Cháu ruột là: Nguyễn Cửu Không tên

Con thứ 2 của ông anh viên tử là Nguyễn Cửu Chức

Cháu ruột là Nguyễn Cửu Không tên

Con thứ 3 của ông anh viên tử là Nguyễn Cửu Chức

Thân tử Nguyễn Cửu Kỷ con trưởng của bỗn thân là Nguyễn Cửu Tán, mô chôntại địa phận làng Lương Văn, nay con cháu đã quy tụ về làng Chiết Bi

Thân chủ là Nguyễn Cửu Miều, tuổi Đinh Sửu, con thứ 2 của Nguyễn Cửu Tán,

Trang 12

Sanh hạ trở xuống: 4 gái không có trai

Con gái thứ 1: Nguyễn Thị Cháu, lấy chồng Lê Lảnh, thôn Chiết Bi Hạ

Con gái thứ 2: Nguyển Thị Tâm, lấy chồng Ngô Châu, ở Thuỷ Phù

Con gái thứ 3: Nguyễn Thị Thê

Con gái thứ 4: Nguyễn Thị Ý, lấy chồng tại Phan Thiết

Nguyễn Cửu Miều

Chánh kỵ ngày 12- 05 mộ tán tại xứ Bầu Trâu, đầu hướng tây nam núi Truồi, chân đông

bắc động Nghi Giang ( đã xây và có dưng bia)

Vợ chánh: Phan Thị Lựu, mộ mất tích tại Dim Trường, chánh kỵ ngày 03- 12

Sanh hạ: Nguyễn Cửu Sanh ( tên Lụt và tên Lộ)

Con: Nguyễn Cửu Vô danh

Vợ thứ: Nguyễn Thị Gần quê ở Diên Trường, Phụng Chánh, vinh hưng Chánh

kỵ ngày 28- 12

Mộ táng tại Bãi Hà Cây Xoài, hướng trở về tây Sông Truồi

Sanh hạ được 8 người con: 3 trai- 5 gái:

1 Nguyễn Cửu Cu, ngày kỵ không có

2 Nguyễn Thị Hạ, ngày kỵ 29- 11

3 Nguyễn Cửu Tương, kỵ ngày 13- 02, thọ 83 tuổi, mộ tán tại núi Bầu Tràm nhà

quỳ,

đầu hướng nhà quỳ, chân trở về hướng Đông Bắc, gần mộ ông bà nội Nguyễn Cửu Tán

và Nguyễn Thị Nốc, đầu nhìn xuống bên phải là mộ ông anh Nguyễn Cửu Lọt ( và tênSanh)

4 Con gái Nguyễn Thị Nga, hưởng dương 38 tuổi, kỵ ngày 29- 03

Bà lấy chồng tên Huỳnh Kỳ, quê ở Vinh Hiền- Tuý Vân- Vinh Giang Có 3 con kôn lớn,đều chết trẻ vô tự Mộ tán tại thôn La Khê Con thứ 6 của thân tử Nguyễn Cửu Miều,cháu nội Nguyễn Thị Hỉm, chánh kỵ 10- 11 Mộ tán tại La Khê

Con thứ 7 của thân tử Nguyễn Cửu Miều- cháu nội- Nguyễn Cửu Không tên, mộtán tại thôn La Khê

Con thứ 8 của thân tử Nguyễn Cửu Miều- cháu nội- Nguyễn Cửu Không tên, mộtán tại La Khê

Con thứ 9 của thân tử Nguyễn Cửu Miều- cháu nội- Nguyễn Cửu Vọng, sinh nămTân Dậu, hưởng dương 41 tuổi

Con thứ 10 Nguyễn Cửu Miều

Trang 13

Lấy vợ là: Nguyễn Thị Chít, con ông Nguyễn Viễn, quê ở An Phú, An Lại, Lộc

An Mẹ là Nguyễn Thị Chán- bà là con đầu

LẠI CÓ ĐỜI THỨ 9

Cháu nội Nguyễn Cửu Đỉnh, sinh năm……… , hưởng thọ……… Mộ tán

tại làng Chiếc Bi Hạ, đã xây lắp, mộ chân trở về hướng Đông Bắc Chánh kỵ 22- 12 Âl

Vợ chánh là: Nguyễn Thị Nạy, quê ở làng Chiếc Bi hạ, hưởng thọ………… Đã

xây lắpmộ chân trở về hướng Đông Bắc Chánh kỵ ngày 15- 04 ÂL

Sanh hạ được 6 vong vị:

Con Nguyễn Cửu Dong ( con dưỡng tử)

Vợ 2 xuất giá: Ngô Thị Nam, chánh kỵ ngày 10- 08, hưởng thọ được………….,

mộ tán tại làng Chiếc Bi Hạ, đã xây lắp, mộ chân trở về hướng ………

Sanh hạ được 1 trai: Nguyễn Cửu Đoàn ( và tên Đương), sanh ngày 20- 03 năm Kỷ Mùi- 1919 Thọ được……… Mộ tán tại làng Chiếc Bi Hạ, đã xây lắp, mộ chân trở về hướng Đông Bắc Chánh kỵ ngày 18- 07 ÂL. ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

ĐỜI THỨ 10

Trang 14

Nguyễn Cửu Đoàn ( và tên Đương)

Tạ thế ngày 19- 07 Chánh kỵ ngày 18- 07 ÂL, thọ…………Mộ táng tại Làng

Lấy chồng: Lương Muang Mạnh, ở thôn Chiếc Bi Hạ, xã Thuỷ Tân

Còn 1 người con Hữu Danh Vô Vị, kỵ ngày 20- 05

Còn 1 người con Hữu Danh Vô Vị, kỵ ngày 10- 02

Vợ thứ: Nguyễn Thị Thuyên, Sinh năm 1929 ( Kỹ Tỵ)

Quê ở……….Phú Đa, Hương Thuỷ, Thừa Thiên

Sanh hạ được 2 con ( 1 trai- 1 gái)Con trai: Nguyễn Cửu Khương ( tức Thương), sinh năm 1954 ( Giáp Ngọ), lấy vợtên Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1959, người làng Chiếc Bi Hạ, Thuỷ Tân, Hương Thuỷ,Thừa Thiên

Nguyễn Cửu Tương ( tức Bé), sinh ngày 28- 01 năm Nhâm Tý Tạ thế ngày 14- 02

năm Quý Dậu, hưởng thọ 81 tuổi, chánh kỵ ngày 13- 02 Mộ tán tại xứ Bầu Tràm, nhà

quỳ thôn La Khê- Lộc Hoà, mộ chân trở về hướng Đông Bắc, phá Tam Giang- đầu TâyNam giáp núi Truồi, đã xây và dựng bia

Vợ tên: Hồ Thị Mãng, tuổi Mậu Ngọ, sinh năm 1918, tạ thế ngày 24- 11 năm Quý

Mui 2003, hưởng thọ 86 tuổi, chánh kỵ ngày 23- 11 Mộ tán tại xứ Bầu Tràm, nhà quỳ

đã xây, mộ chân trở về hướng Đông Bắc, trên đầu là mộ của chồng, anh chồng, ông bànội Bà quê quán ở Sam, họ Hồ về lập nghiệp tại tại làng Phú Sơn cùng ông bà nội và cha

mẹ, hiện chỉ có mình bà là con gái độc nhất, không có anh em trai Con trai thứ 3 của bà

Trang 15

là Nguyễn Cửu Lịch đã qui mộ ông bà cô, ông bà ngoại đưa về xứ Cây Xoài để an tán

khi ấy bà còn sống Hiện nay đã xây lắp để sau này con cháu chắc chiêu ngoại phải có

tâm tưởng nhớ đến mồ mã ngoại Năm 2008 con của bà là Nguyễn Cửu Lịch đã đưa về

mai tán tại bên nội ở Diên Đại, Phú Vang, đã xây lắp và dựng bia

Bà sanh hạ được 4 trai- 4 gái:

Con trưởng: Nguyễn Cửu Thìn, sinh ngày 06- 09 Nhâm Thìn 1940 Tạ thế ngày

11- 10 Nhâm Dần1962, hưởng dương 23 tuổi, chánh kỵ ngày 10- 10ÂL, chưa có vợ, đi

lính chết ở Cà Mâu, em của ông là Nguyễn Cửu Lịch đã đưa về và mộ tán tại xứ CâyXoài, Bãi Hà, thôn La Khê- đã xây lắp Mộ trở về hướng Tây Nam, xây chung với mộ emgái và 2 cháu phía dưới chân gọi ông là bác ruột con của ông Nguyễn Cửu Lịch Đã xâyxong 4 ngôi ( anh và em gái ở tên và 2 cháu con ông Lịch ở dưới)

Con gái trưởng: Nguyễn Thị Gái, sinh ngày 19- 09 Nhâm Ngọ 1942 Lấy chồng 3dòng:

Dòng 1: chồng Nguyễn Tôn, thôn Xuân An, Phú Lộc Con ông Nguyễn Toại.Dòng 2: chồng Nguyễn Kê, Hương Điền

Dòng 3: chồng Nguyễn Sỹ, Tế Xuân, Phú Lộc

Con thứ 3: Nguyễn Cửu Lịch, sinh ngày 10- 05 Ất Dậu 1945 Lấy vợ tên NguyễnThị Ngại Bà là con gái đầu của ông Nguyễn Kiệm và bà Lê Thị Chít, thôn Tế Xuân , xãLộc Điền- Phộc Lộc

Con thứ 4: Nguyễn Thị Gái ( em) và tên Nguyệt sinh ngày 04- 05 Mậu Tý, tạ thếngày 13- 02 Kỹ Dậu 1969, hưởng dương 21 tuổi Lấy chồng tên Nguyễn Công Khánh,quê ở Bắc………… trú tại Đà Nẵng, đã tạ thế Sanh được 2 đứa con gái:

1: Nguyễn Thị Bé, sinh năm……… Ở với ông bà ngoại từnhỏ, đến khi lấy chồng ở tại thôn Lương Điền Đông- Truồi Tn chồng là Huỳnh Thắng

2: Nguyễn Thị Trang, lấy chồng Nguyễn Đức ở Đà Nẵng, quê quán ở Phú Huế Mộ bà táng tại xứ Cây Xoài, Bãi Hà đã xây lắp và cùng táng chung 1 khuông vớianh ruột là Nguyễn Cửu Thìn, phía dưới là 2 cháu con của ông Nguyễn Cửu Lịch

Thứ-Con thứ 5: Nguyễn Cửu Sự, sinh năm Quý Tỵ 1953, tạ thế ngày 06- 11, hưởng

dương 1 tuổi, mộ táng tại làng La Khê, chánh kỵ 05- 11 , mộ đã xây có dựng bia hướng

Đông Bắc

Con Thứ 6: Nguyễn Cửu Thị Trần ( tức Huê), sinh ngày 14- 03, Đinh Mùi 1955.Lấy chồng tên Huỳnh Đức, tuổi Giáp Ngọ 1954 Con ông Huỳnh Đẫu và bà Nguyễn ThịChức, ở làng Lương Điền Thượng

Con thứ 7: Nguyễn Cửu Thị Dục( tức Chanh) sinh ngày 28- 07 năm Đinh Dậu

1957 Lấy chồng tên Lê Xuân Câu, tuồi Bính Thân 1956, con ông Lê Văn Huế và bà LêThị Khướu

Con thứ 8: Nguyễn Cửu Lạc ( tức Bằng) sinh năm 1959 Kỷ Hợi Lấy vợ tên ĐăngThị Hường, tuổi Đinh Dậu, Quê ở Thuận An Ông bị thương tật, đi làm ăn xa và mất tích,không có mồ mã chỉ lấy ngày 15- 07 ÂL huý kỵ

TIẾP ĐỜI THỨ 10

Ngày đăng: 03/05/2021, 03:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w