1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư Liệu Gia Phả Trong Nghiên Cứu Dân Số Học Lịch Sử Việt Nam (Trường Hợp Gia Phả Họ Nguyễn Quan Giáp Làng Bát Tràng, Hà Nội)

299 1,1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 299
Dung lượng 7,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM… b a n QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC VÀ KHU VỰC... Từ những năm 90 trở lại đây, trên các tạp chí chuyên ng

Trang 1

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

T i ể u

Trang 2

Nguyễn Thị Bình

Trang 3

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

b a n QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

VỚI CÁC NƯỚC VÀ KHU VỰC

Trang 4

Nguyễn Thị Bình

Trang 5

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

NGUåN T¦ LIƯU GIA PH¶ TRONG NGHI£N CøU D¢N Sè HäC LÞCH Sư VIƯT NAM

(TR¦êNG HỵP GIA PH¶ Hä NGUYƠN QUAN GI¸P

LµNG B¸T TRµNG, GIA L¢M, Hµ NéI)

ThS Nguyễn Thị Bình *

1 Vài nét về tình hình nghiên cứu dân số học lịch sử Việt Nam

Ngành dân số học lịch sử chính thức ra đời từ những năm 60 củathế kỷ XX do các nhà sử học và các nhà dân số học Pháp khởi xướng Cĩthể kể đến các sử gia lỗi lạc trong lĩnh vực này như: Pierre Goubert,Jacques Dupaquier, Pierre Chaunu, Philipe Ariès hay Hervé le Bras… Họ

đã làm một cuộc cách mạng tri thức đối với dân số học trong quá khứ.Ngày nay, ngành dân số học lịch sử đã trở thành một ngành khoa họcphát triển rộng khắp trên tồn thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam, dân sốhọc lịch sử vẫn cịn là một ngành khoa học ít phát triển với sự thưamỏng của các cơng trình nghiên cứu của các học giả trong và ngồinước, bởi đây là một chủ điểm vơ cùng khĩ khăn, do thiếu vắng nguồn

tư liệu

Song cũng cĩ thể kể đến một vài cơng trình đã đạt được một sốthành tựu nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu này như: Nguyễn Thế Anh

với cuốn Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn (xuất bản

năm 1968) Tác giả đã dành một chương của cuốn sách đi vào nghiêncứu dân cư Việt Nam dưới các vua nhà Nguyễn Nguồn tư liệu đầu tiên

mà tác giả dựa vào khai thác chính là đinh bạ và con số kê khai trongcác sổ bộ Hộ dưới triều vua nhà Nguyễn Ngay lập tức, tác giả nhận ranhững thiếu hụt và sai lệch lớn của những con số này so với thực tế bởi

sự khai báo khơng đầy đủ và thiếu trung thực của các quan viên hàng

* Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TiĨu ban C¸C NGUåN T¦ LIƯU PHơC Vơ NGHI£N CøU viƯt nam …

Trang 6

Nguyễn Thị Bình

xã, hơn nữa là do sự phức tạp trong thành phần cư dân Bởi vậy sự tínhtoán dân số dựa vào nguồn tư liệu này dường như là bất khả thi!

Năm 1994, Trung tâm Nghiên cứu dân số và phát triển đã thực hiện

một công trình rất đáng chú ý mang tên Di dân của người Việt từ thế kỷ

X đến giữa thế kỷ XIX Đây là một công trình chuyên sâu nghiên cứu một

khía cạnh của dân số học lịch sử Các tác giả đã xác lập được tiến trình

di dân, lịch sử di dân của người Việt qua từng thời đoạn cụ thể dựa trênmột khối lượng tư liệu đồ sộ như gia phả, văn bia, thần phả… và nghiêncứu nhiều di tích tại nhiều địa phương trong cả nước Có thể nói, đây làmột sự tiếp bước thành công công cuộc nghiên cứu lịch sử di dân củaPierre Gourou1

Tiếp theo sau đó, tới năm 1998, nhà Việt Nam học Li Tana cho ra

mắt công trình mang tên Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII2 và đã gây một tiếng vang lớn Trong tác phẩmnày, Li Tana đã khảo cứu tỷ mỷ và so sánh rất nhiều nguồn tài liệu lịch

sử như: Thông điển, Địa dư chí, An Nam chí nguyên, Minh thực lục, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt sử ký toàn thư… để

tìm ra những con số thống kê số hộ gia đình, số làng xã của Việt Nam từthế kỷ XVI đến XVIII Bằng nỗ lực phi thường để đấu tranh chống lạikhuynh hướng tiếp tục chấp nhận và sử dụng lại tiêu đề của PierreGourou3 sau sáu thập niên, tác giả đã tự đặt cho mình một bài toán: tìmcách thiết lập một cơ sở tương đối vững chắc để ước tính dân số ViệtNam trong quá khứ Sau khi xem xét kỹ lưỡng, tác giả đã phát hiện rarằng: Ngoài nguồn tư liệu, đặc điểm của địa lý lịch sử Việt Nam có thểgiúp chúng ta trong công việc nghiên cứu về dân số này Đặc điểm ấychính là tầm quan trọng của làng Việt Nam Tại Trung Hoa, người ta luôn

nhấn mạnh vào hu (gia đình), và kou (sổ sách), trong khi tại Việt Nam

thì lại khác, xã (làng) luôn luôn là đơn vị quan trọng, có lẽ nó phản ánhtầm quan trọng của xã trong di sản của Việt Nam4

Li Tana đã mạnh dạn đưa ra một giả thuyết ước tính dân số của ViệtNam Phương pháp thực hiện của tác giả là trên cơ sở các con số thống

kê tìm được ở thư tịch cổ về tổng số xã (làng), tác giả đi tìm một con sốước tính tương đối kích thước trung bình của làng Việt Nam Tác giả đãchọn một đơn vị lý (tương đương với 110 hộ) xuất hiện vào năm 14195 vàcoi đó là kích thước trung bình của xã (làng)

Phương pháp của Li Tana đã bước đầu cho những con số ước tính cụthể về dân số Việt Nam trong lịch sử theo cả tiến trình không gian và

Trang 7

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

thời gian Song có thể nhận thấy rằng giả thuyết này còn khá chôngchênh Một là tác giả đã coi tất cả những con số kê khai trong các nguồn

sử liệu là con số mang tính chính xác tuyệt đối bởi không có một nguồn

tư liệu nào khác để đối chiếu và so sánh Hai là mốc thời điểm gần nhaunhất để so sánh mà Li Tana chọn cách nhau những 5 thế kỷ, từ thế kỷ

XV (năm 1419) tới thế kỷ XX (năm 1931) Và chắc chắn, cách ước tínhcủa Li Tana mang tính phổ quát trên một diện rộng không có đại diệnmẫu tiêu biểu sẽ dẫn tới những sự sai biệt vô cùng lớn Như vậy, có thểthấy rằng, các ước tính của tác giả mang tính chất chủ quan phỏng đoán

mà chưa có được một cơ sở suy luận cũng như những phép tính toánvững chắc và hợp lý

Từ những năm 90 trở lại đây, trên các tạp chí chuyên ngành thuộc

khoa học xã hội như: tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, tạp chí Xưa và Nay, tạp chí Dân tộc học, tạp chí Khảo cổ học… đều có những bài viết về các chủ điểm dân số ở nhiều góc độ khác nhau ví dụ như: Phan Đại Doãn với bài Vài nét về dân số học nông thôn tiền tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam, đăng trên tạp chí Dân tộc học số 1 năm 1995; Phạm Huy Khánh: Dân số học, bệnh dịch học, sinh thái học và khoa học lịch sử trên tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, số 8 năm 1982; Nguyễn Phan Quang với bài Dân số Sài Gòn thời Pháp thuộc trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 năm 1998; Dân số học tiền sử trên tạp chí Khảo

cổ học, số 4 năm 1998…

Tóm lại, việc lục tìm những chi tiết để tái hiện bức tranh dân số ViệtNam trong quá khứ một cách chân xác, gần với hiện thực nhất luôn làniềm trăn trở của các nhà sử học Song trong thực tế, các công trìnhnghiên cứu theo chủ điểm này luôn ở trong tình trạng chênh vênh, chưađịnh hình rõ được một phương pháp cần thiết, chưa xác lập được mộthướng đi khả thi mang tính đột phá Nguyên nhân của sự bế tắc này có lẽchính là bởi nguồn sử liệu để xây đắp nên những hình ảnh lịch sử dân sốcòn vô cùng khuyết thiếu Rải rác trong một số tài liệu lịch sử cổ của Việt

Nam (Dư địa chí, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục…) cũng như sử liệu của Trung Quốc viết về Việt Nam (Đường thư, Hậu Hán thư, Nguyên sử, Minh sử, An Nam chí nguyên…) có ghi những con số thống kê nhân khẩu Việt Nam ở một vài

thời điểm Ngoài ra, như các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu vềViệt Nam nhận định: các nguồn tư liệu khác để phục vụ cho lĩnh vựcnghiên cứu dân số xem chừng rất khó khai thác và xử lý

Như nhà địa lý nhân văn học Pierre Gourou đã từng nhận xét: Sự

mù mờ về con số chính xác của dân số châu thổ là một việc có từ xưa

Trang 8

Nguyễn Thị Bình

Nhà nước Việt Nam xưa đã không làm thế nào để biết được số thần dâncủa mình Các xã có lưu giữ một cuốn sổ đinh (đinh bạ), trong đó ghitên tất cả đàn ông tuổi từ 18 đến 60, những người về nguyên tắc phảinộp thuế thân; nhưng các xã chỉ ghi trong sổ một phần những ngườiphải đóng thuế và ẩn lậu số còn lại, để chỉ phải đóng thuế ít hơn Nhưvậy, nam giới tuổi từ 18 đến 60 được chia thành 2 nhóm, những ngườighi danh trong sổ đinh và những người không ghi danh Lâu lâu lại cómột cuộc điều tra dân số nhưng chẳng qua chỉ là một vở kịch không cótầm vóc Chẳng ai chịu bỏ chút công sức nghiêm túc để kiểm tra lạinhững tờ khai của các làng; chính phủ đôi khi cũng thử tiến hành saocho có được con số chính xác hơn, nhưng những ý đồ ấy không đượctuân theo và thường gây xôn xao quá đỗi trong dân chúng 6

Có thể nói rằng, sổ sách thống kê của nhà nước cũng như của làng

xã đưa ra những con số không đáng tin cậy, xa với thực tế Những cuốn

sổ đinh chỉ cho biết được một phần nổi của tảng băng chìm là dân số.Hơn nữa, nhiều sổ đinh của làng xã lại bị thất lạc, hầu như không cònđược lưu giữ cho tới ngày nay

Chúng ta không thể chỉ dựa vào các đinh bộ để nghiên cứu sự pháttriển của dân số; những cuộc điều tra không giúp gì được nhiều, sổ hộtịch cũng không phải là nguồn tài liệu khả quan hơn Theo Pierre Gourouthì có chăng, nguồn tài liệu gia phả hay những sách về phả hệ mà nhiềugia đình còn giữ có những thông tin phong phú cho lịch sử dân số Giaphả đề cập đến nhiều vấn đề về nguồn gốc dòng họ, sự di cư phân bốcủa dòng họ đó, thứ bậc các thế hệ của dòng họ; tiểu sử, sự nghiệp củacác nhân vật nổi tiếng trong họ; những điều khuyên răn con cháu; ngàysinh, ngày mất của các bậc tổ tiên… Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cho cácnhà nghiên cứu dân số học lịch sử là: bằng phương pháp nào để có thểbiến các thông tin từ gia phả thành số liệu của thống kê dân số có thờiđiểm cụ thể?

Ở các quốc gia phát triển phương Tây và ở các nước châu Á nhưTrung Quốc, Nhật Bản, ngành phả điệp học vô cùng phát triển Nhữngthành tựu của nó đã góp phần hỗ trợ đắc lực cho sự tiến bộ khôngngừng của ngành khoa học dân số học lịch sử Ở Việt Nam, từ lâu, cáchọc giả đã từng đánh giá gia phả là một nguồn tư liệu khả quan trongnghiên cứu dân số học lịch sử song hầu như chưa có một công trình thửnghiệm nghiên cứu nào dựa trên nguồn tư liệu này Bởi vậy, những mốiliên kết giữa gia phả và dân số học lịch sử vẫn còn lỏng lẻo, và câu hỏi

về phương pháp khai thác gia phả phục vụ dân số học lịch sử như thếnào vẫn chưa tìm được lời giải đáp thoả đáng Xuất phát từ ý tưởng đầu

Trang 9

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

tiên của GS Phan Huy Lê khi tiến hành sưu tầm và nghiên cứu hệ thốnggia phả Việt Nam, chúng tôi mạnh dạn thử đưa ra cách thức phân tích

xử lý nguồn tư liệu gia phả của một dòng họ ở làng Bát Tràng để phục

vụ việc tìm hiểu dân số trong quá khứ của dòng họ này

2 Thử nghiệm tính dân số qua tư liệu gia phả họ Nguyễn Quan giáp, làng Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội

2.1 Giới thiệu về gia phả của dòng họ Nguyễn Quan giáp

Gia phả họ Nguyễn Quan giáp ở Bát Tràng gồm 3 cuốn tên là

Nguyễn tộc gia phả (Nguyễn Quan giáp) lưu tại từ đường dòng họ, 2 cuốn khác được lưu tại Thư viện Viện Hán Nôm: Nguyễn tộc gia phả thế

hệ ký, ký hiệu là VHv2577 và Bát Tràng xã, Nguyễn tộc gia phả thực lục,

ký hiệu là VHv1349

Nguyễn tộc gia phả (Nguyễn Quan giáp): Cuốn gia phả này được

biên soạn ngày 24 tháng giêng năm Chính Hoà 18 (1697) Gia phả đượcviết trên giấy bản khổ 27x18cm, gồm 70 trang, chữ viết chân phương,thống nhất một nét chữ

Từ trang 1 đến trang 2 là bài tựa không rõ người viết song có niênđại Duy Tân 8 (1914) Từ trang 3 đến trang 11 biên chép thế hệ dòng họ

từ thuỷ tổ đến đời thứ chín (bản phả hệ 1) Trang 12 vẽ phả đồ dòng họ

đến đời thứ ba Từ trang 13 đến trang 41 ghi chép thế thứ dòng họ

Nguyễn Quan giáp (bản phả hệ 2) Trang 42 ghi chép về ba người con

nuôi trong dòng họ Trang 43 đến trang 67 ghi thạch chí, văn tế, nộidung bài văn bia khắc trên bia của Cơ quận công có niên đại Chính Hoà

20 (1699), chúc văn và sở điền Từ trang 68 đến trang 70 ghi phả ký củabản chi, tức ghi về chi hiện tồn ở làng Bát Tràng, có xác định niên đạinăm Kỷ Mùi (1919) Ta có thể đoán định đây là niên đại biên chép cuốngia phả này

Nguyễn tộc gia phả thế hệ ký: Cuốn gia phả dày 72 trang, trong đó

từ trang 1 đến trang 30 ghi phả hệ từ tổ đời thứ chín lần ngược về đến tổđời thứ năm của dòng họ Nguyễn Ngoài ra, số trang còn lại của gia phảghi phần sắc phong, sở điền, chúc văn, văn tế, văn bia Niên đại cuốngia phả này không được xác định, chỉ biết năm đề tựa, biên tập, chép lại

là năm 1964

Bát Tràng xã, Nguyễn tộc gia phả thực lục: Cuốn gia phả này dày

133 trang, được xác định năm biên soạn là năm Chính Hoà thứ bảy(1686), năm đề tựa, biên tập, chép lại là năm Bảo Thái thứ chín (1728)

Trang 10

Nguyễn Thị Bình

Xem xét nội dung ba cuốn gia phả của dòng họ Nguyễn Quan giáp,

ta thấy nội dung trong ba cuốn gia phả này tương đối thống nhất Cả

ba cuốn đều chép từ đời ông tổ Phúc Trí đến đời tổ thứ năm là PhúcCảnh thì phân chia thành bốn chi: Giáp, Ất, Bính, Đinh; trong đó chi của

Cơ quận công Nguyễn Thành Trân chính là chi Bính Cuốn gia phả lưutại từ đường họ Nguyễn từ đời thứ sáu trở đi chép chi tiết tỷ mỷ về chi

Ất Cuốn gia phả lưu tại Viện Hán Nôm ngoài việc biên chép tỷ mỷ chi

Ất còn chép khá đầy đủ thông tin về các chi còn lại Như vậy, với bacuốn gia phả này, các thông tin được so sánh và bổ sung cho nhau mộtcách hoàn bị nhất

Dòng họ Nguyễn Quan giáp ở Bát Tràng là một dòng họ khoa bảngnổi tiếng với nhiều người đỗ đạt, các thông tin trong gia phả được biênchép tỷ mỷ, tương đối đầy đủ nên ta có thể dễ dàng ước lượng được thờiđiểm đầu tiên cũng như thời điểm cuối cùng trong gia phả của dòng họ,

từ đó xác định thời gian tồn tại của dòng họ này một cách tương đốichính xác Niên đại của thế hệ đầu tiên trong gia phả họ Nguyễn Quangiáp được xác định vào năm 1487, niên đại của thế hệ cuối cùng củadòng họ này được ghi trong gia phả là năm 1821 Như vậy, dòng họNguyễn Quan giáp tồn tại ở làng Bát Tràng được 334 năm (tính đến nămthế hệ cuối cùng được biên chép trong gia phả)

Bên cạnh đó, các nhân khẩu được ghi trong gia phả dòng họNguyễn Quan giáp có thể được phân thành hai nhóm theo giới tính lànam (bố và con trai), nữ (mẹ và con gái) Việc xác định số lượng cácnhân khẩu là thao tác đếm tổng quát tức là đếm tất cả các cá nhân xuấthiện trong gia phả bất kể dưới dạng nào:dưới dạng liệt kê chi tiết thông tin tên tuổi thế thứ hay dưới dạng thống

kê số lượng Với các tiêu chí và cách thống kê trên, chúng ta có thể xácđịnh số lượng nhân khẩu được ghi trong gia phả dòng họ Nguyễn làngBát Tràng như sau:

– Tổng số nam (bố và con trai) là 152

– Tổng số nữ (mẹ và con gái) là 203

– Tổng số nhân khẩu (nam + nữ) là 355

Tuy nhiên, các thông tin của từng nhân khẩu theo từng giới được biênchép theo từng mức độ vô cùng khác nhau Chúng ta có thể thống kêlượng thông tin trong gia phả của dòng họ Nguyễn Quan giáp đối với nhânkhẩu nam, nữ như sau:

Bảng 1: Số lượng các nhân khẩu nam được ghi thông tin

Trang 11

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

Số lượng thông tin

Tên + Tuổi +

Vợ + Con

Bảng 2: Số lượng các nhân khẩu nữ được ghi thông tin

n

Tên + Tuổi

Tên + Quê chồn g

Tên + Tuổi + Quê

Tên Tên

+ Tuổi

Tên + Quê

Tên + Con

Tên + Quê + Con

Tên + Tuổi + Con

Tên + Tuổi + Quê

Tên + Tuổi + Quê + Con 10

5

Bảng 3: Số lượng các nhân khẩu được ghi thông tin năm sinh, năm mất, tuổi thọ

AB C

*Ký hiệu: A: năm sinh; B: năm mất; C: tuổi thọ.

Qua ba bảng 1; 2; 3, ta thấy dòng họ Nguyễn Quan giáp là mộtdòng họ đại khoa nổi tiếng được biên chép thông tin vô cùng chi tiết vàtương đối đầy đủ, nhất là thông tin về tên tuổi, con cái, năm sinh, hànhtrạng Đối với những thông tin khuyết thiếu, ta có thể sử dụng phươngpháp suy luận sau để ước định và phục dựng thông tin

– Phục dựng về năm mất:

+ Nếu ước lượng được năm sinh và biết được chính xác tuổi thọ sẽ

có thể xác định được tương đối năm mất của nhân khẩu

+ Khi ước lượng được năm sinh của nhân khẩu song không có thôngtin chính xác về tuổi thọ thì năm mất của nhân khẩu ấy được lấy là nămngay sau khi sinh người con cuối cùng, ký hiệu bằng chữ “sau” với điềukiện phải đầy đủ thông tin về con cái

Trang 12

Nguyễn Thị Bình

+ Khi biết được năm sinh của nhân khẩu nhưng lại không đầy đủthông tin về con cái thì sẽ sử dụng con số tuổi thọ trung bình được tínhtoán trên cơ sở những nhân khẩu đầy đủ thông tin để suy đoán về nămmất

Từ cách phục dựng này, ta có thể xác định được khoảng thời giantương đối của những nhân khẩu không được ghi chép năm sinh Nhưvậy, bằng phương pháp này, có thể biết được tương đối đầy đủ thông tin

về năm sinh của các nhân khẩu trong gia phả, biết được khoảng thờigian tương đối về năm mất và tuổi thọ của những nhân khẩu có thôngtin về gia đình và từ đó có thể xác định được sự xuất hiện của nhữngnhân khẩu này tại những thời điểm khác nhau, tính được số thành viênnam, thành viên nữ, số đinh suất trong mỗi gia đình ở những thời điểmnhất định Mặc dù cách phục dựng này khó có thể đảm bảo độ chính xáctuyệt đối, song nó có thể phần nào khắc phục được những hạn chế củanguồn tư liệu và từ đó cho chúng ta một con số thống kê tương đối

1.2 Các chỉ tiêu dân số của dòng họ Nguyễn Quan giáp qua tư liệu gia phả

Trên cơ sở việc tập hợp, khai thác tư liệu và thiết lập bảng thống kêtrên, ta có thể tính toán được các chỉ tiêu dân số: tỷ lệ kết hôn, tỷ lệsinh, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ tử vong của trẻ… của dòng họ NguyễnQuan giáp như sau:

Bảng 4: Tỷ lệ kết hôn của các nhân khẩu nam

của dòng họ Nguyễn Quan giáp

Trang 13

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

Bảng 5: Tỷ lệ sinh của mỗi bà mẹ trong các dòng họ ở Bát Tràng

trong dòng họ Nguyễn Quan giáp

Con trai/con gái

Bảng 7: Tỷ lệ trẻ sơ sinh mất sớm trong dòng họ Nguyễn Quan giáp

Trang 14

Nguyễn Thị Bình

Bảng 9: Tuổi thọ trung bình của nữ ở Bát Tràng

Nguyễn Quan giáp

Qua các bảng tính thống kê trên, ta nhận thấy:

+ Tỷ lệ kết hôn trung bình của nhân khẩu nam trong dòng họNguyễn Quan giáp là 1,4; tức là cứ 10 nhân khẩu nam thì sẽ có 14 bà vợ

và tỷ lệ nam không lấy vợ chiếm 0,11; tức là trong số 100 nhân khẩu namthì sẽ có 11 người không lập gia đình

+Tỷ lệ sinh trung bình của mỗi bà mẹ trong dòng họ là 2,53 và tỷ lệ

bà mẹ không có con là 0,11; tức là cứ 100 bà mẹ trong dòng họ sẽ cókhoảng 253 con và cứ trong khoảng 100 bà mẹ của dòng họ Nguyễn có

11 bà mẹ không có con

+ Chỉ thống kê trong tổng số trẻ con sinh ra của dòng họ Nguyễn,

ta có thể thấy số lượng trẻ con trai lớn hơn số lượng trẻ con gái, chiếm59,84% và tỷ lệ trẻ sơ sinh gái mất sớm lớn hơn tỷ lệ trẻ sơ sinh trai mấtsớm (0,02%>0,01%)

+ Tuổi thọ trung bình của nam ở dòng họ Nguyễn là 53,46, trongkhi tuổi thọ trung bình của nữ (mẹ và con gái) trong dòng họ Nguyễn lạilớn hơn (55 tuổi)

2.3 Tổng số nhân khẩu và tỷ suất đinh/nhân khẩu của dòng họ Nguyễn Quan giáp làng Bát Tràng

Sau khi phục dựng được thông tin về năm sinh, năm mất, tuổi thọcủa các nhân khẩu trong dòng họ làng Bát Tràng, ta có thể lập đượcbảng thống kê số lượng các nhân khẩu nam như sau:

Bảng 10: Thống kê số lượng nam của dòng họ Nguyễn Quan giáp theo độ tuổi

Trang 15

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

Tổng số bố tính trong tập hợp = Tổng số nam (từ 18 tuổi trở lên) (tổng số nam x tỷ lệ chiết giảm)

Tổng số con gái đi lấy chồng = Tổng số con gái - (Tổng số con gái x

Tỷ lệ chiết giảm)

Tổng số con tính trong tập hợp = Tổng số con - Tổng số con gái đi

lấy chồng

Suy ra: Tổng số nhân khẩu = Tổng số bố tính trong tập hợp + Tổng

số mẹ tính trong tập hợp + Tổng số con tính trong tập hợp

Kết quả là ta thiết lập được bảng thống kê số lượng nhân khẩu thôcủa dòng họ Nguyễn Quan Giáp làng Bát Tràng theo từng thời điểm nhưsau:

Bảng 11: Thống kê nhân khẩu theo từng thời điểm của dòng họ Nguyễn Quan giáp

Trang 16

Bảng 12: Tỷ lệ đinh/nhân khẩu của dòng họ Nguyễn Quan giáp qua từng thời điểm

số học lịch sử nói riêng và phục vụ đắc lực trong công cuộc giải mã lịch

sử nói chung

Trong xã hội cổ truyền, dân đinh là một bộ phận vô cùng quan trọng

Đó chính là những người trong độ tuổi lao động, những người công dântrưởng thành phải thực thi ba nghĩa vụ cơ bản: nghĩa vụ lao dịch, đóng

Trang 17

NGUỒN TƯ LIỆU GIA PHẢ TRONG NGHIÊN CỨU DÂN SỐ HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM…

sưu đóng thuế và đi lính cho nhà nước quân chủ Với ba nghĩa vụ ấy, bộmáy chính quyền nhà nước cùng với dân làng xã có trách nhiệm đốc thúc

và kiểm soát người dân thi hành Như vậy, việc quản lý dân số đối vớichính quyền quân chủ chủ yếu tập trung vào bộ phận dân đinh hay trángđinh trong mỗi làng xã bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của bộ máychính quyền cai trị Do đó mà các tài liệu sử sách ghi lại những con số vềcuộc điều tra dân số chủ yếu là ghi chép về số tráng đinh các hạng

Như vậy, tìm được số lượng dân đinh qua nguồn tư liệu gia phả trởthành một đại lượng so sánh kiểm nghiệm những tư liệu ghi trong sửliệu Phương pháp so sánh đối chiếu luôn là phương pháp hoàn hảo đểtìm ra những sự khác biệt, sai lệch và lý giải chúng trong những mốiquan hệ phức hợp xung quanh Ngoài ra, việc tìm hiểu lượng đinh tráng

có một ý nghĩa nhất định Nó giúp các nhà sử học giải mã được các hiệntượng liên quan đến lương thực, đến số lượng binh lính, đến thuế, đếnruộng đất… các lĩnh vực thuộc kinh tế, cấu trúc xã hội cổ truyền tronglịch sử

3 Một vài kết luận

Phải thừa nhận rằng trong tình hình nghiên cứu dân số học lịch sửViệt Nam còn chập chững, non nớt và bế tắc thì nguồn tư liệu gia phả cóthể được xem như một cứu cánh đắc lực, mở ra một đường hướng pháttriển mới có vẻ khả quan hơn cho công cuộc nghiên cứu dân số ViệtNam trong quá khứ

Thực chất giữa gia phả và dân số học lịch sử có những mối quan hệnhất định Nếu xét đặc điểm của nguồn tư liệu gia phả dưới góc độ dân sốhọc lịch sử thì có thể hiểu rằng gia phả chính là một quyển sổ thống kêcác nhân khẩu của dòng họ theo quan hệ họ hàng huyết thống Như vậy,hoàn toàn có thể áp dụng những phương pháp của dân số học để tínhtoán trên cơ sở dữ liệu thống kê từ gia phả

Trong trường hợp thực nghiệm trên, có thể nhận thấy rằng nhữngthông tin được biên chép đầy đủ trong gia phả dòng họ Nguyễn Quangiáp là một thuận lợi vô cùng to lớn trong việc thống kê tính toán dân số

và các chỉ tiêu dân số Đây là một trường hợp thực nghiệm dễ dàng.Trên thực tế, phải thừa nhận rằng phần lớn gia phả Việt Nam của cácdòng họ bình dân thường vô cùng khuyết thiếu thông tin Đây là hạn chếnổi bật của nguồn tư liệu gia phả, song vẫn có thể khắc phục được bằngcác phương pháp suy luận tỷ mỷ và logic, xử lý các con số thống kêkhuyết thiếu bằng các phương pháp của toán dân số mang tính chất dự

Trang 18

Nguyễn Thị Bình

báo thô, ước lượng theo quy luật Đó quả là một hành trình đầy gian khó

và vất vả đòi hỏi sự nhẫn nại, kiên trì và sáng suốt Tuy nhiên, hànhtrình này dường như sáng rõ hơn và lấp lánh những triển vọng đạt đượcthành quả trong tương lai

Trang 19

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VÀ TIỆM CẬN KHƠNG GIAN TRONG NGHIÊN CỨU…

PH¢N TÝCH §ÞNH L¦ỵNG Vµ TIƯM CËN KH¤NG GIAN

TRONG NGHI£N CøU N¤NG TH¤N

(VÝ Dơ HUYƯN DUY TI£N, TØNH Hµ NAM Vµ SAPA, TØNH LµO CAI)

Phạm Văn Cự*, Vũ Kim Chi*, Lê Quang Toan*, Đinh Thị Diệu*, Đỗ Thị Hải Yến*, Lưu Thị Ngoan  Philippe Charette * *, Sarah Turner***, Raja Sengupta * **

1 Mở đầu

Trong một nền kinh tế đang lên với tăng trưởng trên 8%/năm, nơngthơn Việt Nam vẫn là nơi cư trú và sinh sống của hơn 70% dân số ViệtNam, đồng thời cũng là khu vực đang cĩ nhiều biến động và chịu nhiềuthiệt thịi Trong tình hình đĩ, việc gắn liền nơng dân với nền nơng

nghiệp và nơng thơn (tam nơng) trong việc hoạch định chính sách là

khuynh hướng đang được các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch địnhchính sách đặc biệt lưu ý Tuy nhiên, đây là một phạm trù phức hợp nênviệc nghiên cứu đồng thời các khía cạnh của nĩ là vấn đề chứa đựngnhiều thách thức về phương pháp luận Các hợp phần Nơng dân, Nơngnghiệp, Nơng thơn thường bị tách rời khỏi nhau trong các nghiên cứu.Việc tích hợp các hợp phần này lại địi hỏi phải gắn chúng với một quy

mơ khơng gian (spatial dimension) nào đĩ và việc kết nối các hợp phần

này lại địi hỏi các số liệu định lượng trên quy mơ khơng gian nĩi trên(Phạm Văn Cự, 2008)

Bài viết này đề cập đến việc đưa phương pháp phân tích định lượng

và phương pháp khơng gian hố các mối quan hệ được mơ tả một cáchđịnh lượng thơng qua hai nghiên cứu Nghiên cứu thứ nhất được thựchiện tại khu vực huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, nhằm làm sáng tỏ mối

 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

* * Đại học UQAM, Québec, Canada.

* ** Đại học Mc Gill, Canada.

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TiĨu ban C¸C NGUåN T¦ LIƯU PHơC Vơ NGHI£N CøU viƯt nam …

Trang 20

Phạm Văn Cự, Vũ Kim Chi, Lê Quang Toan, Đinh Thị Diệu, Đỗ Thị Hải Yến…

quan hệ giữa các đặc điểm kinh tế - xã hội và vấn đề rác thải sinh hoạtnông thôn Nghiên cứu thứ hai được tiến hành tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai vớimục đích tìm hiểu quan hệ giữa biến động sử dụng đất và các nhóm dântộc thiểu số Hmông, Dao, Tày và Dáy Với trường hợp này, các tác giả đã

sử dụng 3 ảnh vệ tinh của các thời điểm 1993, 1999 và 2006 để đánhgiá biến động hiện trạng sử dụng đất Ở cả hai ví dụ nói trên, các tác giả

đã sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA - PrincipalComponent Analysis) để đánh giá các mối quan hệ cần nghiên cứu

2 Tiếp cận không gian và phương pháp định lượng trong nghiên cứu ở Duy Tiên và Sa Pa

Hiện nay, các nhà địa lý đã chấp nhận một cách rộng rãi rằng các

quan hệ xã hội thực chất là quan hệ xã hội - không gian (socio - spatial relation) và cho rằng khía cạnh không gian của các quan hệ xã hội sẽ tác

động lên cách mà các quan hệ này diễn ra trong thực tế phát triển của xãhội (Raju J Das, 2001) Không gian và các quan hệ xã hội vốn đã liên kếtvới nhau một cách tự nhiên và bản thân không gian đã tạo nên các thựcthể xã hội khác biệt (Charlotte Spinks, 2001; Martin Jones, 2005) Nhiềunghiên cứu đã đề cập đến khái niệm “tính không gian quan hệ”(relational spatiality) và khẳng định vai trò của không gian trong cácquan hệ xã hội biểu hiện qua tổ chức lãnh thổ ở nhiều quy mô (Massey D.and 1999; Amin A., 2004)

Tác giả Fortheringham cho rằng phương pháp định lượng trong địa lýhọc không còn là vấn đề mới, nhưng do sự phát triển liên tục của các lýthuyết trong lĩnh vực địa lý nhân văn nên các phương pháp định lượng đã

bị chỉ trích, và đã có nhiều tác giả cho rằng nó đã bị bỏ quên trong cácnghiên cứu của địa lý nhân văn và trong khoa học xã hội (A StewartFotheringham, Christ Brunsdon et al 2005) Tuy nhiên, những năm gầnđây, giới nghiên cứu cũng nhận thức được rằng phần lớn dữ liệu sử dụngtrong lĩnh vực địa lý nhân văn nói riêng và trong khoa học xã hội nóichung đều gắn với lãnh thổ ở các quy mô (scale) khác nhau (Bourrough1986; Massey D., 1999) Đó là lý do các nhà địa lý nhân văn và các nhà

xã hội học đã dễ đồng thuận trong việc chọn công cụ cho phép ta tíchhợp cả hai khía cạnh: định lượng và không gian để nghiên cứu các đốitượng, các thực thể, các quá trình và các hiện tượng ngoài tự nhiên vàtrong xã hội Đó chính là hệ thông tin địa lý Trên thực tế các yếu tố này

có thể được mô tả bằng các phương pháp khác nhau, trong đó cácphương tiện số chính là nền tảng của tính toán định lượng Lãnh thổ

Trang 21

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VÀ TIỆM CẬN KHÔNG GIAN TRONG NGHIÊN CỨU…

nghiên cứu được phân chia thành các đơn vị không gian (spatial unit) để

ta có thể kết nối mọi dữ liệu liên quan Các thông tin hiện trạng sử dụngđất cũng có mối quan hệ chặt chẽ với các điều kiện kinh tế - xã hội và

sự thay đổi của nó cũng phụ thuộc vào khung hành chính của lãnh thổ.Còn theo Weber và những người khác (Weber, Fohrer et al 2001; N.Fohrer, D Möller et al 2002), sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất có tácđộng đến các chỉ số kinh tế chủ đạo như thu nhập từ nông nghiệp hayđầu tư lao động

Trong cả hai trường hợp Sa Pa và Duy Tiên, các tác giả đã sử dụngphiếu điều tra nông hộ kết hợp với các dữ liệu thống kê thu thập đượctrên quy mô thôn, bản, xã và toàn huyện Các đơn vị hành chính nàyđược sử dụng làm đơn vị không gian trong phân tích Ở đây, các cặpquan hệ được đánh giá nhờ vào các dữ liệu thống kê thu thập được tạicác địa phương, các thông tin điều tra nông hộ Riêng đối với nghiên cứu

ở Sa Pa, chúng tôi đã sử dụng các ảnh vệ tinh đa thời gian để đánh giábiến động lớp phủ hiện trạng Các đơn vị không gian được chọn có quy

mô thay đổi từ cấp thôn bản đến cấp xã Trong khi đó ở Duy Tiên, đơn vịkhông gian được sử dụng trong phân tích là các xã Một cách ngầm định,các đối tượng nghiên cứu đã được đặt vào vị trí địa lý và được đặc tả bởicác dữ liệu số cả trên bình diện không gian lẫn các thuộc tính mà chúngtôi sẽ trình bày ở phần sau Do dữ liệu thu thập được tại huyện Duy Tiênbao gồm một số lượng khá lớn các biến nên phương pháp phân tíchthành phần chính là công cụ phân tích thống kê chủ đạo trong đánh giácác quan hệ này PCA là công cụ phân tích nhân tố sử dụng với mục đíchgiảm số lượng các biến (dữ liệu) Thuật toán PCA tìm kiếm sự kết hợptuyến tính giữa các biến có phương sai đạt cực đại để loại bỏ chúng rakhỏi mô hình và tìm kiếm sự kết hợp tuyến tính thứ hai để có thể giảithích tối đa phần còn lại của phương sai Quá trình này tiếp tục đượcthực hiện tới khi tất cả các phương sai được loại trừ hết Đây được gọi làphương pháp trục thành phần chính và kết quả chỉ ra các nhân tố trựcgiao (Jollie, 1986; Agilent Technologies, 2005)

2.1 Trường hợp Duy Tiên

Huyện Duy Tiên thuộc tỉnh Hà Nam có vị trí địa lý được xem là lợithế vì có đường quốc lộ số 1 đi qua và tiếp giáp với đường vành đai 5của Hà Nội mở rộng Duy Tiên là một trong các huyện có nhiều biếnđộng về kinh tế - xã hội của Hà Nam, đặc biệt là về dịch chuyển cơ cấu

Trang 22

Phạm Văn Cự, Vũ Kim Chi, Lê Quang Toan, Đinh Thị Diệu, Đỗ Thị Hải Yến…

ngành nghề (NXB Hà Nội, 2006; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyệnDuy Tiên 2007) Vấn đề mà chúng tôi quan tâm là vai trò của thu nhậpphi nông nghiệp và nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của các xã ở DuyTiên và quan hệ của nó với rác thải sinh hoạt nông thôn Dữ liệu sử dụngđược lấy ra từ Niên giám thống kê nông nghiệp năm 2006 của 19 xãthuộc huyện Duy Tiên (dữ liệu của hai thị trấn Hoà Mạc và Đồng Vănkhông có trong niên giám nông nghiệp) Ranh giới các xã là ranh giớitrên bản đồ hành chính huyện, tỷ lệ 1:25000

Trang 23

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VÀ TIỆM CẬN KHÔNG GIAN TRONG NGHIÊN CỨU…

Bảng 1: Các biến được sử dụng trong phân tích quan hệ Thu nhập/Rác thải sinh hoạt

Bảng 2: Các biến được lựa chọn để phân tích

Bepcui Số lượng bếp củi trong xã

Ho_CNTTCN Số hộ gia đình tham gia vào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

DT_lua Diện tích lúa [ha]

DT_CD Diện tích đất chuyên dùng [ha]

Ho_CNXD Số hộ gia đình có thu nhập chính từ công nghiệp và xây dựng

Dat_NN* Diện tích đất nông nghiệp [%]

*Trường này được tính toán trên các biến sẵn có Dat_SD (tổng diện tích đất nông

nghiệp) trên Dien_tich (tổng diện tích tự nhiên).

Trang 24

Phạm Văn Cự, Vũ Kim Chi, Lê Quang Toan, Đinh Thị Diệu, Đỗ Thị Hải Yến…

Sau khi thực hiện các bước xử lý, các biến ít ý nghĩa được loại bỏ,các biến có ý nghĩa được đưa vào Bảng 3 Như ta thấy trên Bảng 3, các

xã được phân hoá thành 2 nhóm:

Nhóm có thu nhập phi nông nghiệp là chính với các giá trị của

thành phần chính 1 cao liên quan đến các biến “Số hộ gia đìnhtham gia vào sản xuất công nghiệp”, “Diện tích đất chuyên dùng(ha)” (dao động một cách tương ứng từ 0.951, 0.917 và 0.770).Trong khi đó giá trị của thành phần chính 1 liên quan đến các biến

“Diện tích lúa [ha], Số lượng bếp củi trong xã, Diện tích đất nôngnghiệp (ha)” lại có giá trị thấp (dao động một cách tương ứng0.262, 0.102 và - 0.604)

Nhóm có thu nhập nông nghiệp là chính với các giá trị cao trong

thành phần chính 2 nhưng có các giá trị thấp trong thành phầnchính 1 (Bảng 3) Các giá trị cao trong thành phần chính 2 liênquan đến các biến “Diện tích lúa (ha), Số lượng bếp củi trong xã,Diện tích đất nông nghiệp (ha)” (dao động một cách tương ứng0.935, 0.911 và 0.630)

Các số liệu này được gắn với từng xã, là đơn vị không gian cơ bảntrong nghiên cứu này Kết quả tính toán này trở thành giá trị thuộc tínhcủa các dữ liệu không gian dùng để mô tả ranh giới vị trí các xã trên hệthông tin địa lý (GIS) Kết quả này được trình bày dưới dạng bản đồ trênhình 1

Bảng 3: Giá trị của hai thành phần chính được giữ lại để phân tích

Trang 25

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VÀ TIỆM CẬN KHÔNG GIAN TRONG NGHIÊN CỨU…

huyện Duy Tiên (Bảng 2) Các dữ liệu này cũng được kết nối với các dữliệu không gian là các xã và được thể hiện dưới dạng biểu đồ gắn vớitừng xã như ta thấy trên Hình 1 Độ lớn của biểu đồ tương ứng với lượngrác thải sinh hoạt của từng xã

a Quan hệ giữa thành phần chính

“Thu nhập phi nông nghiệp”

với rác thải sinh hoạt

b Quan hệ giữa thành phần chính

“Thu nhập nông nghiệp” với rác thải sinh hoạt

Hình 1: Bản đồ biểu diễn các thành phần chính và quan hệ của nó với rác thải sinh hoạt

phân tích theo số liệu thống kê của huyện Duy Tiên năm 2006

Từ các kết quả phân tích nói trên, có thể rút ra một số nhận xétsau:

Lượng rác bình quân đầu người một tháng ở các xã nông thôn là 9

kg (đã loại trừ hai thị trấn Đồng Văn và Hoà Mạc ra khỏi tính toán), trongkhi lượng rác trung bình là 11kg Gần 60% các xã (4/7) có giá trị nhân tốphi nông nghiệp lớn hơn 0 có lượng rác lớn hơn trung bình

Tuy nhiên, xã Yên Bắc là nơi có giá trị nhân tố thu nhập phi nôngnghiệp rất cao (0,8530) nhưng lại thải ra một lượng rác thải tương đốithấp Cũng cần lưu ý là ở chiều kia (thành phần chính thứ hai), xã nàycũng có giá trị nhân tố nông nghiệp cao thứ hai Ở đây, có thể giải thích

là dân cư trong xã có thể có thêm nghề phụ lúc nông nhàn Hàng năm,

họ có thể dành vài tháng làm việc ở nơi khác hay trong các công trườngxây dựng ở khu vực xung quanh thị trấn Thu nhập từ các hoạt động

Huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Trang 26

Phạm Văn Cự, Vũ Kim Chi, Lê Quang Toan, Đinh Thị Diệu, Đỗ Thị Hải Yến…

mùa vụ này giải thích tại sao xã này lại có giá trị nhân tố cao ở thànhphần thứ nhất (thu nhập từ phi nông nghiệp) Mặt khác, việc người dân ởđây thường sống xa nhà cũng giải thích được lý do tại sao lượng rác thảilại thấp

Xã Mộc Nam có giá trị nhân tố thu nhập phi nông nghiệp trung bình

và giá trị nhân tố nông nghiệp nhỏ hơn 0, lượng rác thải của xã này lớngấp đôi lượng rác trung bình (22 kg) Thủ công nghiệp (đặc biệt là nghềnhuộm) khá phát triển ở xã xa trung tâm này Hoạt động đó cũng giảithích tại sao lượng rác thải của xã luôn cao hơn dự đoán Với các xã nằmdọc theo các trục đường bắc nam hoặc đông tây, càng gần các tuyếnđường lớn thì các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp càng phổ biến Tuynhiên, chưa có mối liên hệ rõ ràng nào về sự liên quan giữa các tuyếnđường chính qua một xã và lượng rác thải tại xã đó cả

Các thị trấn của huyện có hoạt động sản xuất là thương mại vàcông nghiệp, điều này không thấy hoặc ít thấy ở các xã nông thôn Kếtquả là các thị trấn đó đóng vai trò như các trung tâm thương mại, nhữnghoạt động này thải ra nhiều rác hơn bất cứ các hoạt động sản xuất khác

ở khu vực còn lại của huyện

2.2 Trường hợp Sa Pa

Hình 2: Biến động hiện trạng lớp phủ ở Sa Pa được tính từ ảnh vệ tinh Landsat 1993 - 1999 - 2006

Trang 27

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VÀ TIỆM CẬN KHÔNG GIAN TRONG NGHIÊN CỨU…

Sa Pa là một huyện miền núi có nhiều cộng đồng dân tộc sinh sống,đồng thời có nhiều biến động về kinh tế - xã hội trong những năm vừa qua(Yann Roche 2000) Diễn biến lớp phủ hiện trạng tại Sa Pa cũng chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội Tuy nhiên trongnghiên cứu của chúng tôi, mối quan hệ giữa biến động lớp phủ hiệntrạng và các nhóm dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn Sa Pa mới làmối quan tâm hàng đầu Chúng tôi đã sử dụng phép phân tích thànhphần chính để đánh giá mối quan hệ này

Để theo dõi lớp phủ rừng, chúng tôi đã sử dụng ảnh vệ tinh Landsatchụp các năm 1993, 1999 và 2006 của khu vực Sa Pa Kết quả phân loạicác dữ liệu ảnh được trình bày trên Hình 2

Các dữ liệu thống kê về điều kiện kinh tế - xã hội và các phiếu điềutra nông hộ thu thập đã được rút gọn sau khi áp dụng phương phápphân tích thành phần chính để chọn ra được 15 biến: 2 biến về dân tộcHmông và Dao, 5 biến về diện tích lớp phủ năm 2006, 10 biến về biếnđộng lớp phủ giai đoạn 1993 - 2006 như ta thấy trên Bảng 4

Bảng 4: Bảng ma trận tương quan giữa 2 biến dân tộc với các biến diện tích lớp phủ và biến đổi lớp phủ

RTS93 - RK06 - Rừng thứ sinh chuyển sang rừng kín thường xanh 0.109 0.218

DCT93 – RTS06 Đất canh tác chuyển thành rừng thứ sinh - 0.172 0.226

RT06 - DCT06 Rừng thứ sinh chuyển thành đất canh tác - 0.126 0.140

DCT93 - RT06 Đất canh tác chuyển thành rừng trồng 0.288 - 0.179

Trang 28

Phạm Văn Cự, Vũ Kim Chi, Lê Quang Toan, Đinh Thị Diệu, Đỗ Thị Hải Yến…

Cũng như trong trường hợp Duy Tiên, ở đây chúng tôi chỉ phân tíchhai thành phần chính thứ nhất và thứ hai là các thành phần chiếm tới50,84% tổng số lượng thông tin các biến, bao gồm các biến về lớp phủ

và chuyển đổi lớp phủ thời kỳ 1993 - 2006

Variables (axes F1 and F2: 50.84 %)

RT93-CB06 DCT03-CB06

Hình 3: Sự đối lập về vị trí trong không gian 2 chiều (hai thành phần chính)

của các nhóm Hmông và Dao trong mối tưong quan với biến động lớp phủ hiện trạng.

Các thành phần chính này được trình bày trên Hình 3, trong đó trụcF1 (chiếm 31,8% lượng thông tin) biểu diễn thành phần chính thứ nhấtcho ta thấy có sự tương quan rất gần gũi giữa diện tích rừng kín thườngxanh năm 2006 cao (RK06) với sự chuyển từ rừng thứ sinh sang rừng kínthường xanh thời kỳ 1993 - 2006 lớn (RTS93 - RK06), sự tương quan giữadiện tích đất canh tác (DCT06) lớn và sự chuyển từ rừng thứ sinh sang đấtcanh tác lớn (RTS93 - DCT06), giữa diện tích rừng trồng (RT06) lớn và sựchuyển từ rừng thứ sinh sang rừng trồng (RTS93 - RT06) lớn Đối lập với

sự tương quan này, bên trục âm lại cho thấy các biến với mối quan hệnghịch đảo với các biến này, diện tích cỏ bụi năm 2006 lớn (CB06) tươngquan với sự chuyển từ rừng trồng và đất canh tác từ năm 1993 sang(RT93 - CB06, DCT93 - CB06), các biến này lại tương quan gần gũi vớinhóm thôn bản là dân tộc Dao

Ở trục thứ hai là trục biểu diễn thành phần chính thứ hai (chiếm19,04% lượng thông tin) lại thể hiện sự đối lập khá rõ nét giữa các thônHmông và các thôn Dao Các thôn Hmông gắn nhiều với diện tích rừng

Trang 29

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VÀ TIỆM CẬN KHÔNG GIAN TRONG NGHIÊN CỨU…

trồng lớn được chuyển từ diện tích cỏ bụi sang, đối lập với các thôn Daogắn với diện tích rừng thứ sinh được chuyển từ đất canh tác sang, diệntích rừng trồng ít, diện tích đất canh tác lại bị chuyển nhiều sang cỏ bụi

Cả 2 nhóm dân tộc đều có tương quan thấp với diện tích đất canh tác

phủ đã hơn 50%) được giả thiết là kết quả của sự tác động của công tác bảo vệ vườn quốc gia Tuy nhiên vẫn có sự thay đổi sử dụng đất và lớp

phủ lại rất khác nhau theo không gian tương ứng với sự phân bố cácnhóm dân tộc như ta thấy rõ các cặp đối lập (- và + trong Bảng 4) giữacác thôn Hmông và thôn Dao được biểu diễn các trục ở Hình 2

Ta có thể thấy rằng trên vùng đất có người Hmông sinh sống, cỏ bụi

và một phần đất canh tác chuyển thành rừng trồng, diện tích cỏ bụigiảm đáng kể, nhưng diện tích rừng trồng tăng ít, diện tích đất canh táctăng nhiều, nhất là những vùng ở gần bản do chuyển từ đất rừng sangtrong giai đoạn đầu (1993 – 1999) và do khai phá diện tích cỏ bụi tronggiai đoạn tiếp theo (1999 – 2006)

Trong khi đó, ngược lại, trên vùng đất của người Dao sinh sống, tathấy trong cả giai đoạn nghiên cứu thì diện tích cỏ bụi lại tăng lên đáng

kể, diện tích đất canh tác tăng, rừng trồng có tăng chút ít trong giai đoạnđầu (1993 – 1999) nhưng lại giảm nhiều trong giai đoạn sau (1999 –2006) Lúc này rừng trồng đã chuyển sang rừng thứ sinh và rừng thứ sinh

chuyển thành rừng kín thường xanh Điều này có thể giải thích với giả thiết cho rằng vùng lõi của Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt nên nhiều diện tích rừng thứ sinh được chuyển sang rừng kín, nhưng ở các

vùng gần khu dân cư hơn, rừng bị khai thác sau đó hoặc là bị bỏ hoá hoặcchuyển thành đất canh tác

3 Kết luận

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính

áp dụng vào khu vực Duy Tiên và Sa Pa là hai địa điểm có bối cảnh hoàntoàn khác nhau với cách đặt vấn đề để đánh giá các mối quan hệ dựatrên hai câu hỏi nghiên cứu hoàn toàn khác nhau Việc thử nghiệm nàykhẳng định khả năng dùng phương pháp phân tích thành phần chính vào

Trang 30

Phạm Văn Cự, Vũ Kim Chi, Lê Quang Toan, Đinh Thị Diệu, Đỗ Thị Hải Yến…

đánh giá các mối quan hệ mang tính liên ngành thông qua các chỉ sốthống kê được rút gọn trong các thành phần chính

Sự biến đổi lớp phủ ở Sa Pa được kết luận là có quan hệ chặt chẽvới sự phân bố của các nhóm dân tộc khác nhau, cụ thể là nguời Hmông

và người Dao

Tại Duy Tiên, các thành phần chính cho phép chỉ số hoá sự phân dịcủa các xã theo tính chất hoạt động kinh tế của xã và sự phân dị nàycũng được GIS hoá để tìm mối liên hệ với lượng rác thải trung bình thángcủa từng xã

Cách tiếp cận không gian này còn cho phép tìm hiểu nhiều mốiquan hệ khác với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của các đơn hànhchính ở mức chi tiết hơn là các đơn vị thôn, bản và cần được tiếp tục thửnghiệm

Việc đi sâu vào điều tra nông hộ trong tương lai sẽ cho phép sửdụng phương pháp định lượng ở cả quy mô nông hộ với việc không gianhoá các dữ liệu điều tra tại các đơn vị không gian cỡ thôn, bản Như vậy,việc gắn người nông dân với các vấn đề nông nghiệp ở nông thôn làhoàn toàn khả thi

Trang 31

CHIÊM THÀNH DỊCH NGỮ CUỐN TỪ ĐIỂN HÁN – CHĂM ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI

-CUèN Tõ §IĨN H¸N - CH¡M §ÇU TI£N TR£N THÕ GIíI

NCS Lưu Chí Cường *

Đặt vấn đề

Mối quan hệ giữa các triều đại Trung Quốc với nước Chiêm Thành

đã từng rất mật thiết Vì vậy, trong suốt quá trình đĩ, người Trung Quốc

đã lưu ý ghi lại ngơn ngữ và phong tục tập quán của người Chiêm.Những ghi chép này cĩ thể được coi là một kho tài liệu rất cĩ giá trị giúpchúng ta tìm hiểu về lịch sử cũng như văn hố của người Chăm xưa.Dưới thời Minh, nhiều người Trung Quốc đã ghi lại rất nhiều từ vựng,cụm từ, thậm chí là cả câu nĩi của ngơn ngữ Chiêm Thành và soạn

thành cuốn sách mang tên Chiêm Thành dịch ngữ Đây cĩ thể được coi

là cuốn từ điển Hán - Chăm sớm nhất trên thế giới cịn lưu giữ được chođến ngày nay Tài liệu quý giá này chắc hẳn sẽ giúp chúng ta trong cơngviệc nghiên cứu ngơn ngữ Chăm trong các thế kỷ XIV - XVII Bên cạnh

đĩ, tác giả bài viết này cũng sẽ giới thiệu Chiêm Thành dịch ngữ như

một loại tư liệu gĩp phần tìm hiểu mối quan hệ ngơn ngữ và văn hốgiữa người Chăm và người Malay

1 Sự phát hiện của Chiêm Thành dịch ngữ đời Minh

Theo khảo cứu của các học giả Trung Quốc, các tài liệu ngơn ngữChămpa trong sử liệu Trung Quốc khơng nhiều và do đĩ, các tài liệungơn ngữ Chămpa được soạn thành sách lại càng hiếm hoi Một người

đời Tống là Trịnh Tiều trong cuốn sách Thơng chí cĩ ghi lại một cuốn sách mang tên là Lâm Ấp quốc ngữ7, nhưng cuốn sách này nay đã khơng cịn Trong một tác phẩm khác là Hiếu Từ Đường thư mục, một học giả

* Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc; giảng viên, Học viện Ngoại ngữ, Đại học Dân tộc Quảng Tây, Trung Quốc.

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TiĨu ban C¸C NGUåN T¦ LIƯU PHơC Vơ NGHI£N CøU viƯt nam…

Trang 32

Lưu Chí Cường

đời Thanh tên là Vương Vấn Viễn cũng nhắc đến một cuốn sách mang

tên Chiêm Thành dịch ngữ do Mao Dần soạn thảo8, nhưng hiện nay,người ta cũng chưa tìm thấy được văn bản này

Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XVIII, một nhà truyền giáo nổi tiếng củaScotland là Robert Morrison (1782 - 1834), trong khi truyền đạo ở Trung

Quốc, đã sưu tầm được một cuốn Chiêm Thành dịch ngữ, bản sao chép

từ đời Minh và mang về nước Hiện nay, cuốn sách này đang được lưugiữ ở Thư viện Đại học London Năm 1939, hai học giả nước Anh là C.O

Blagden và E.D.Edwards đã hợp tác chú thích cho bản Chiêm Thành dịch ngữ này và đăng trên Tập san Học viện Nghiên cứu Phương Đông (Đại

học London)9 Lúc đó, vì nhiều học giả Trung Quốc đã không tìm thấy

một bản Chiêm Thành dịch ngữ nào khác ở Trung Quốc, nên năm 1941,

một giáo sư Khoa Lịch sử của Đại học Bắc Kinh tên là Hướng Đạt đã

dùng bút chép bản Chiêm Thành dịch ngữ do hai học giả nước Anh kể

trên chú thích Hiện nay, bản chép tay này được lưu giữ tại Thư viện Đạihọc Bắc Kinh Bên cạnh các học giả phương Tây, các học giả Singapore

cũng rất quan tâm đến bản Chiêm Thành dịch ngữ này Một học giả nổi

tiếng của Singapore tên là Hứa Vân Tiều đã đăng lại bản chú thích của

hai học giả nước Anh trên Tập san Nam Dương10 Điều đó chứng tỏ

Chiêm Thành dịch ngữ là một tài liệu rất quý đối với những người làm

nghiên cứu về lịch sử cũng như văn hoá Chămpa

Hơn nửa thế kỷ qua, nhiều học giả Trung Quốc tưởng rằng Trung

Quốc đã không còn một bản Chiêm Thành dịch ngữ nào nữa11 Tuynhiên, khi đi tìm các tài liệu ngôn ngữ Malay, tôi lại phát hiện một bản

Chiêm Thành dịch ngữ khác chưa từng được công bố trong một cuốn sách mang tên là Hoa Di dịch ngữ được in từ một bản chép tay do Nhà

xuất bản Quế Đình (Đài Loan) phát hành vào năm 1979

Cuốn sách này được Ban biên tập đề tên tác giả là: “Hoả NguyênKhiết dịch, Đệ Bá Phù soạn” và được in bằng chữ Hán chép tay Ngoài

ra, Ban biên tập nhà xuất bản cũng soạn lại mục lục, nhưng vẫn giữ mụclục chép tay nguyên văn Trước mục lục chép tay có lời tựa được viết bởi

một người tên là Chu Chi Phan Vì số lượng in không nhiều nên bản Hoa

Di dịch ngữ này ít khi được các học giả quan tâm đến Hơn nữa, cuốn

sách này lại không có lời giới thiệu trong khi lời tựa Chu Tri Phan lại làchữ hành thảo, rất khó đọc Vì thế, cho dù cuốn sách được một số họcgiả biết đến, nhưng chưa ai hiểu rõ tác giả và lịch sử của cuốn sách này

Trong khi nghiên cứu cuốn Hoa Di dịch ngữ này, tôi đã phát hiện một bản Lưu Cầu Quán dịch ngữ ở Thư viện Đại học Lưu Cầu (Nhật Bản) Bên ngoài cuốn Lưu Cầu Quán dịch ngữ đề “Tiến sỹ Vạn Lịch (1573 - 1620)

Trang 33

CHIÊM THÀNH DỊCH NGỮ CUỐN TỪ ĐIỂN HÁN – CHĂM ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI

Chu Tử Phan, Mao Bá Phù biên” Nội dung bản Lưu Cầu Quán dịch ngữ này so với cuốn Hoa Di dịch ngữ do Đài Loan xuất bản nói trên hoàn toàn

như nhau và chứng tỏ nó có thể bị sao chép nhiều lần Khi so sánh haivăn bản này, có thể chữ “Đệ (第)” và “Mao(茅)”, “Tử(子)” và “Chi(之)”

bị lẫn lộn, cho nên, người sao có thể nhầm lẫn tên soạn giả từ Mao BáPhù thành Đệ Bá Phù và Chu Chi Phan thành Chu Tử Phan

Truy nguyên nguồn gốc của các soạn giả, chúng ta biết rằng trongthời Vạn Lịch (1573 - 1620), niên hiệu của Minh Thần Tông, vua thứ 13của nhà Minh, có hai tiến sỹ nổi tiếng là Mao Thuỵ Trưng (茅瑞徵) và ChuChi Phan (朱之蕃) Mao Thuỵ Trưng có hiệu là Bá Phù, vì thế, Mao Thuỵ

Trưng cũng được xưng là Mao Bá Phù Như vậy, người soạn ra cuốn Hoa

Di dịch ngữ chính là Mao Thuỵ Trưng, tức Mao Bá Phù Trong lời tựa, Chu

Chi Phan xưng Mao Bá Phù là “bạn”, Chu Chi Phan tự xưng “em”, nhưvậy hai người này có thể là bạn bè của nhau

Một người nhà Thanh rất nổi tiếng ở Trung Quốc tên là Dương ThủKính (杨守敬) (1839 - 1915) trong cuốn sách Nhật Bản phỏng thư chí (日

本访书志) cũng nhắc đến một cuốn Hoa Di dịch ngữ mà ông đã tìm thấy ở Nhật Bản vào thời kỳ nhà Thanh Ông miêu tả cuốn sách như sau: “(Hoa

Di dịch ngữ, cuốn 13 tập) do người Minh Mao Bá Phù soạn, đầu sách có

lời tựa Chu Chi Phan Lời tựa nói rằng khi ông Mao Bá Phù làm chức vụĐại Hồng Lư (大鸿胪) có soạn bộ sách Tứ Di khảo Nội dung của Tứ Di khảo gồm địa lý, phong tục, vật sản… của các dân tộc trong và ngoài nước” Do vậy, cuốn Hoa Di dịch ngữ này có thể là một phần của Tứ Di khảo Tuy vậy, ở trang bìa của cuốn Hoa Di dịch ngữ này lại đề: “Hoa Di dịch ngữ tự (华夷译语序) Đây có thể là do người sao chép nhầm lẫn Sách Hoa Di dịch ngữ bao gồm 13 dịch ngữ là Triều Tiên, Lưu Cầu,

Nhật Bản, An Nam, Chiêm Thành, Xiêm La,… Mãn Lạt Gia (Malacca)…”12

Tuy nhiên, hiện nay, cuốn Hoa Di dịch ngữ này lại không thấy ở đâu Nhưng điều đáng mừng là nội dung cuốn Hoa Di dịch ngữ do Đài Loan

xuất bản lại phù hợp với miêu tả của Dương Thủ Kính Như vậy, cuốn

Hoa Di dịch ngữ do Đài Loan xuất bản năm 1979 có thể chính là bản sao

mà Dương Thủ Kính đã tìm thấy ở Nhật Bản

Về niên đại của tác phẩm này, chúng ta biết rằng, Mao Thụy Trưng

đỗ tiến sỹ năm 1601; sau khi đỗ tiến sỹ, ông mới được giao làm chức vụĐại Hồng Lư (大鸿胪), một chức vụ chuyên phụ trách lễ nghi cung đình

và các công việc liên quan đến các dân tộc trong và ngoài nước Mộtthông tin khác cũng cho biết Chu Chi Phan mất vào năm năm 1624 Như

Trang 34

Lưu Chí Cường

vậy, có thể Mao Thuỵ Trưng soạn cuốn Hoa Di Dịch ngữ vào những năm

1601 - 1624

Theo mục lục, cuốn Hoa Di dịch ngữ do Mạo Thuỵ Trưng soạn gồm

13 dịch ngữ: Triều Tiên Quán dịch ngữ, Lưu Cầu Quán dịch ngữ, Nhật Bản Quán dịch ngữ, An Nam dịch ngữ, Chiêm Thành dịch ngữ, Đạt Đán dịch ngữ, Uý Ngột Nhi Quán dịch ngữ, Tây Phan dịch ngữ, Hồi Hồi dịch ngữ, Mãn Lạt Gia Quán dịch ngữ, Nữ Chân dịch ngữ, Bách Di dịch ngữ.

Trong số 13 dịch ngữ này, người sau có đánh dấu “” cho 5 dịch ngữ,

tức Chiêm Thành dịch ngữ, Tây Phan dịch ngữ, Hồi Hồi dịch ngữ, Nữ Chân dịch ngữ, Bách Di dịch ngữ Đánh dấu “” có nghĩa là nội dung 5

dịch ngữ này bị đánh mất Tuy nhiên, khi khảo cứu kỹ từng dịch ngữ, tôi

thấy bản Mãn Lạt Gia Quán dịch ngữ có khác biệt rất lớn với bản Mãn Lạt Gia Quán dịch ngữ của Morrison và khi lấy bản Chiêm Thành Quốc dịch ngữ của Morrison để so sánh, tôi phát hiện hai bản dịch ngữ này có rất nhiều điểm giống nhau Vì vậy, tôi khẳng định rằng bản Mãn Lạt Gia Quán dịch ngữ này chính là Chiêm Thành dịch ngữ

Vì sao người chép Hoa Di dịch ngữ này lại lẫn lộn bản Mãn Lạt Gia Quán dịch ngữ với Chiêm Thành dịch ngữ? Một lý do được đưa ra là: Có

thể người sao chép văn bản này không phải là chuyên gia ngoại ngữ

Hơn thế nữa, trong bản Chiêm Thành dịch ngữ lại có từ “Mãn Lạt Gia Quốc”, nên người chép đã tưởng bản Chiêm Thành dịch ngữ này là Mãn Lạt Gia Quán dịch ngữ Vào thời Minh, triều đình rất quan tâm phiên dịch các ngôn ngữ của các dân tộc trong và ngoài nước Cuốn Quốc triều điển hối của nhà Minh cho biết: “Năm thứ 15 Hồng Vũ (niên hiệu vua

Chu Nguyên Chương, tức năm 1382), hoàng thượng cho rằng nhàNguyên không có văn tự để ra lệnh thiên hạ, chỉ mượn chữ Mông Cổ phổbiến thiên hạ thôi, nên sai Thị giảng Hàn lâm viện là Hoả Nguyên Khiết

và Hàn lâm viên Biên tu là Mã Ý Xích Hắc (tên người) lấy tiếng Hoa để

dịch tiếng Mông… đặt tên là Hoa Di dịch ngữ…”

Tiếp nối nhà Minh, nhà Thanh cũng thành lập một số cơ quanchuyên phụ trách tiếp đón khách nước ngoài như Tứ Di Quán, Hội ĐồngQuán, Hội Đồng Tứ Di Quán… Những người chuyên phụ trách công việcphiên dịch đã soạn ra rất nhiều dịch ngữ để tiện cho những người đảmnhiệm công việc tiếp đón, những dịch ngữ đó cũng được gọi chung là

Hoa Di dịch ngữ Bản Chiêm Thành dịch ngữ trong cuốn Hoa Di dịch ngữ

do Mao Thuỵ Trưng soạn có thể là tài liệu lấy từ Hội Đồng Quán nhàMinh Năm thứ năm Vĩnh Lạc (niên hiệu của Chu Đệ, vua thứ hai nhà

Trang 35

CHIÊM THÀNH DỊCH NGỮ CUỐN TỪ ĐIỂN HÁN – CHĂM ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI

Minh), tức năm 1407, triều đình nhà Minh cho thành lập Đề Đốc Tứ Di Quán (提督四夷馆) chuyên phụ trách phiên dịch văn thư của các nước,tuy nhiên, ngôn ngữ Chiêm Thành lại không có mặt

Văn thư từ nước Chiêm Thành đến thì được đưa sang Hồi Hồi Quán(回 回 馆 ) dịch hộ13 Như vậy, Tứ Di Quán không có người phiên dịchchuyên môn về tiếng Chiêm, song chúng ta biết rằng một cơ quan khác

là Hội Đồng Quán (会同馆) thuộc bộ Lễ nhà Minh (cũng có học giả cho là

thuộc bộ Binh) lại có thông sự về tiếng Chiêm Theo Đại Minh hội điển,

Hội Đồng Quán thường có ba thông sự chuyên dịch tiếng Chiêm và làmcác công việc hướng dẫn, tiễn đưa các cống sứ14

Theo Quỳnh Châu phủ chí (địa chí đảo Hải Nam ngày nay), có một

người tên là Bồ Thịnh (蒲盛) vì thông thạo chữ Chiêm nên đã được sailàm thông sự ở triều đình nhà Minh15 Theo Minh sử, triều đình nhà Minh

có người biết chữ Chiêm bắt đầu từ năm 1371, khi Chế Bồng Nga bắtđầu tiến hành triều cống nhà Minh16 Về nội dung, bản Chiêm Thành dịch ngữ phần lớn là những từ ngữ thường dùng hằng ngày và những lời như

“thiên triều” như “tiến cống hằng năm”, “chớ gây sự”, “phải cung kính”,

“không được nói nhiều”, “không được gây loạn”,“thiên triều không thacho ngươi ”, “triều đình tuyên dụ”, “đưa ngươi về” Có thể đoán địnhđây là ngôn ngữ do những người làm trong Hội Đồng Quán thường dùng

Như vậy bản Chiêm Thành dịch ngữ này chính là tài liệu của Hội Đồng

Quán Cũng theo Minh thực lục, là vào lần đầu tiên nước Chiêm Thànhtriều cống nhà Minh năm 1369 Năm 1543 là năm sứ đoàn ngoại giaocuối cùng của nước Chiêm Thành gửi cống sứ đến17 Vì thế, có thể đoán

rằng ngôn ngữ tiếng Chiêm trong bản Chiêm Thành dịch ngữ này là

ngôn ngữ trong các thế kỷ XIV - XVI

2 Chiêm Thành dịch ngữ - So sánh bản Mao Thuỵ Trưng với bản

Morrison

Bản Chiêm Thành dịch ngữ của Mao Thuỵ Trưng có 475 dịch ngữ

(trong đó gồm từ, cụm từ và câu), được chia làm 17 môn loại, tức thiênvăn, địa lý, thời lệnh (khí hậu, thời tiết), hoa mộc (cây cối), điểu thú (độngvật), cung thất (kiến trúc), khí dụng (đồ dùng), nhân vật (xưng hô), nhân

sự, thân thể (cơ thể con người), y phục (trang phục), ẩm thực, trân bảo(đồ quý), văn sử, thanh sắc, số mục (con số), thông dụng (tiếng nói

thường dùng) Bản Chiêm Thành dịch ngữ của Morrison có 601 dịch ngữ,

cũng chia làm 17 môn loại Các môn loại giống như môn loại của bản Mao

Trang 36

Lưu Chí Cường

Thuỵ Trưng Khảo cứu kỹ hai bản Chiêm Thành dịch ngữ, tôi phát hiện hai

bản dịch ngữ này không phải là tác phẩm của cùng một người vì hai bản

có một số khác biệt Xin lấy ví dụ 10 từ của môn thiên văn để so sánh thìthấy như sau:

Bảng 1: So sánh Chiêm Thành dịch ngữ bản Mao Thuỵ Trưng18 với bản Morrison

Âm tiếng Hán hiện đại)

Điều đáng nói là có một số từ hoàn toàn khác hẳn, thử lấy 5 từ sosánh như sau:

STT chữ Hán/Tiếng Việt Nguyên văn

Bản Mao Thuỵ Trưng (Nguyên văn chữ Hán/Âm tiếng Hán hiện đại)

Bản Morrison (Nguyên văn chữ Hán/

Âm tiếng Hán hiện đại)

Trang 37

CHIÊM THÀNH DỊCH NGỮ CUỐN TỪ ĐIỂN HÁN – CHĂM ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI

đầu)”… Tuy số Các từ tuy có số lượng không nhiều, nhưng lại là tài liệu

bổ sung quý giá Điều đáng nói là chú thích của hai học giả nước Anhcho bản Morrison có rất nhiều thiếu sót, thậm chí có không ít từ đã bị đểtrống, không chú thích Như vậy, hai bản dịch ngữ trên có thể bổ sung,

so sánh cho nhau

3 Quan hệ ngôn ngữ, văn hoá giữa Chămpa và Malay

Quan hệ ngôn ngữ, văn hoá giữa Chămpa và Malay từ lâu đã trởthành một đề tài nghiên cứu được nhiều học giả quan tâm, song phầnlớn các cách tiếp cận trước đây chủ yếu thông qua việc so sánh các hiệntượng ngôn ngữ Năm 1901, một học giả nước Pháp chuyên nghiên cứu

về ngôn ngữ và văn tự Chămpa đã so sánh một số từ tiếng Chăm vàtiếng Malay Trong cuốn sách nghiên cứu mới về Chămpa19, ông đã sosánh một số từ ngữ tiếng Chăm và tiếng Malay Năm 1941, học giả Paul

K Benedict trong bài Người Chăm trong đảo Hải Nam20 cũng có so sánhmột số từ giữa tiếng Hồi Huy (ngôn ngữ cư dân người Chăm ở tỉnh HảiNam) và tiếng Indonesia Năm 1957, học giả Michael Sullivan cho rằngLinga được phát hiện tại Kedah (Malaysia) có nhiều tương đồng với Linga

ở Chămpa21 song tác giả cũng lấy làm tiếc rằng hiện nay ở Kedah lạikhông thấy có người Chăm cư trú

Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa tiếng

Chăm và tiếng Malay, rất ít học giả sử dụng Chiêm Thành dịch ngữ Trong khi đó, khi so sánh Chiêm Thành dịch ngữ và Mãn Lạt Gia dịch ngữ, tôi đã phát hiện có nhiều điểm tương đồng giữa với tiếng Chăm và

tiếng Malay ngày nay

3.1 So sánh tiếng Chăm và tiếng Malay qua Chiêm Thành dịch

ngữ và Mãn Lạt Gia dịch ngữ

Do hạn chế về sử liệu, tôi không tìm thấy một tài liệu nào sớm hơn

so với Chiêm Thành dịch ngữ và Mãn Lạt Gia dịch ngữ thời Minh22 Tôicho rằng nếu muốn khảo cứu quan hệ hai ngôn ngữ về nguồn gốc thì vềngữ liệu, chúng ta sử dụng tư liệu càng sớm thì càng khách quan Kếtquả so sánh của tôi đã chứng tỏ điều này

Bảng 2: Một số từ giống nhau giữa tiếng Chăm và tiếng Malay

qua Chiêm Thành dịch ngữ và Mãn Lạt Gia dịch ngữ

(Chú thích tiếng Chăm)

Mãn Lạt Gia dịch ngữ

(Chú thích tiếng Malay)

Trang 38

Lưu Chí Cường

I Môn Thiên văn

II Môn Địa lý

III Môn Cây cối

IV Môn Động vật

V Môn Đồ dùng

VI Môn Nhân vật

VII Môn Thân thể

VIII Môn Đồ quý

IX Môn Văn sử

X.Môn Thanh sắc

XI Môn số

Trang 39

CHIÊM THÀNH DỊCH NGỮ CUỐN TỪ ĐIỂN HÁN – CHĂM ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI

Theo Chiêm Thành dịch ngữ và Mãn Lạt Gia dịch ngữ, chúng ta có

thể thấy rằng tiếng Chăm và tiếng Malay trong thế kỷ XV - XVII có nhiều

từ tương đồng, nhất là các từ về con số Các học giả phương Tây đã xếptiếng Chăm vào hệ ngôn ngữ Malayo-Polynesia23, riêng điều đó chứng tỏtiếng Chăm và tiếng Malay có quan hệ thân thuộc

3.2 Sơ lược về quan hệ Chămpa và Malay

Sự giống nhau về ngôn ngữ dường như phản ánh mối quan hệ giữahai nhóm cư dân này Về quan hệ Chămpa và Malay, sử sách ghi chéprất ít, do đó trong bài này tôi chỉ dựa vào một số sử liệu Việt Nam, TrungQuốc và tư liệu Malay để minh hoạ

Quan hệ Chămpa và Malay trước thế kỷ X

Theo Đại Việt sử ký tiền niên, năm 767, nước Xà Bà (阇 婆 ), mộtnước ở bán đảo Malay đã đem quân đánh Giao Châu24 Nước Xà Bà đemquân sang đánh Giao Châu chắc chắn phải qua nước Lâm Ấp bấy giờ Lạitheo văn bia của Chămpa thì năm 787, nước Java (爪 哇 ) (nước ở bánquần đảo Malay) có đem quân sang đánh Phanduranga (Phan Rang) và

đã đốt chùa Bhadradhipaticvara của Phanduranga25 Khưu Tân Dân, mộthọc giả Singapore lại cho rằng: “vào thời Tuỳ - Đường, nước Langkasuka(nước ở bản đảo Malay) rất mạnh, nhiều hàng hoá từ đây được vậnchuyển sang Vijaya (Bình Định)”26

Quan hệ Chămpa và Malay thế kỷ X - XI

Trong thế kỷ X, quan hệ A-rập, Xà Bà và Chiêm Thành đã diễn ra

khá mật thiết Theo Chư phiên chí (诸蕃志) của nhà Tống, ba nước này có

hẹn nhau cùng tiến cúng một thủ lĩnh ở vùng nam Trung Quốc27

Điều đáng nói là quan hệ thương mại giữa Chiêm Thành với Xà Bà

Trang 40

Quan hệ Chămpa và Malay thế kỷ XII-XVII

Theo Tống hội yếu tập cảo, năm 1168, quan hệ A-rập và Chiêm Thành

đã xấu đi khi tàu thuyền tiến cúng nhà Tống của A-rập đi qua Chiêm Thành

đã bị người Chiêm cướp phá29 Tuy nhiên, những quan hệ thương mại giữa

Chămpa và Malay vẫn được tiếp tục Cuốn Đảo di chí lược thời nhà

Nguyên, Chiêm Thành có vải Tapeh (một thứ vải của Java), Phandurangalại có vải Xà Bà30 Điều đáng nói là trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi một

thông tin thú vị: “Năm 1326, Huệ Túc Vương phá Chiêm Thành, vua ChiêmThành Chế Năng chạy đến Java xin cứu giúp.”31 Điều đó chứng tỏ quan hệcủa Chămpa và Malay rất mật thiết

Trong một cuốn sách đời Minh có nhắc đến một thứ trò chơi giốngnhư con súc sắc của nước Chiêm Thành Điều thú vị là nước Java cũng cótrò chơi này và cách gọi con số của họ đều như nhau Điều đáng chú ý

là một số tác phẩm văn học của Malay cũng thường nhắc đến Chămpa

Cuốn Ca tụng lịch sử Java viết năm 1365 kể rằng: “Chămpa là nước bảo

hộ của Kambojayay (nước ở quần đảo Malay)”32 Cuốn Truyền kỳ Malay

viết vào những năm 1511-1612, gồm có 34 chương thì tác giả đã dành

cả một chương kể về quan hệ Chămpa và Malay Trong sách có nói đếnKambojayay gả công chúa cho vua Chiêm Thành Cuối cùng, vương tửChiêm Thành vì thất bại trong cuộc chiến tranh hôn nhân nên đã phảitrốn sang Malacca và theo đạo Islam33

4 Những vấn đề cần khảo cứu

Trong nghiên cứu về văn hoá Chămpa hiện nay, tôi nghĩ có ba vấn

đề nên khảo cứu kỹ lưỡng:

Thứ nhất là về hệ thuộc ngôn ngữ của tiếng Chăm Cuốn Tuỳ thư

của Trung Quốc có ghi chép lại một số từ của tiếng Lâm Ấp: “Lâm Ấpxưng vua là Yang Pu Bu, vợ vua là Tuo Yang A Xiong, Thái tử là A Chang

Pu, Tải Tướng là Po Man Di.”34 Cuốn Thông chí nhà Tống lại nói: “Lâm Ấp

có hai vị quan lớn là Xi Na Po Di và Sa Po Di Ge Các quan chức cấp dướichia làm ba là Lun Do Xinh, Ge Lun Zhi Di, Yi Di Jia Lan Các quan bộ lạc

có hơn 200 người, quan cao nhất là Fu Luo, tiếp là A Lun.”35 Tên quan

Ngày đăng: 18/03/2017, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w