1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

BỆNH LÝ VÙNG CỔ Y KHOA

43 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 568,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Với cơ chế này, tuyến giáp có thể to ra lan toả hoặc cục bộ các bướu giáp thể nhân, cơ chế tạo ra các bướu giáp thể nhân là: - Khả năng nhậy cảm với TSH c ủa các tế bào khác nhau trong

Trang 1

MỘT SỐ BỆNH LÝ VÙNG CỔ

Đặng Ngọc Hùng Ngô Văn Hoàng Linh

bị bội nhiễm và rò ra da thì gây nên rò bẩm sinh vùng cổ giữa

1.1.2 Triệu chứng lâm sàng:

+ Thường xuất hiện ở tuổi trẻ và trung niên, phát triển chậm

+ Thường nằm ở chính giữa cổ, liên quan chặt chẽ với thân xương móng (thường nằm sát ngay phía dưới thân xương móng)

+ Khám lâm sàng:

- Nang vùng cổ giữa: lớp da trên bề mặt nang vẫn bình thường Nang thường có mật độ căng, đàn hồi, ấn không đau, di động theo nhịp nuốt, chọc hút nang thấy có chất dịch nhầy trong

- Rò vùng cổ giữa: lỗ rò thường ở chính giữa cổ sát với bờ dưới thân xương móng, lỗ rò thường nhỏ, không có hiện tượng viêm nề và thường xuyên có dịch nhầy chảy ra

1.1.3 Chẩn đoán:

+ Nang vùng cổ giữa:

- Chẩn đoán xác định: dựa vào:

Các triệu chứng lâm sàng đã nêu trên

Chọc hút nang ra chất dịch nhầy trong

Mổ sinh thiết

- Chẩn đoán phân biệt:

Với các u và hạch to ở vùng cổ: không di động theo nhịp nuốt, chọc hút sinh thiết tế bào giúp xác định được tế bào học của khối u hoặc hạch

Trang 2

Với các bướu tuyến giáp: dựa vào chọc hút sinh thiết tế bào, chụp xạ hình tuyến giáp

+ Rò vùng cổ giữa:

- Chẩn đoán xác định: dựa vào

Các triệu chứng lâm sàng đã nói ở trên

Chụp đường rò bằng bơm thuốc cản quang

- Chẩn đoán phân biệt:

Với các rò hạch lao ở vùng cổ: dựa vào vị trí rò hạch lao thường ở phía một bên cổ, miệng lỗ rò thường viêm nề, dịch rò là chất bã đậu, kèm theo thường có nhiều hạch to nhỏ ở vùng cổ…

Với rò bẩm sinh vùng cổ bên: dựa vào vị trí rò vùng cổ bên thường ở dọc theo

đi của ống này qua sát dưới chỗ giữa thân xương móng để lên gốc lưỡi

+ Đối với rò vùng cổ trước: dùng xanh methylen bơm vào đường rò để xác định chính xác được đường rò khi mổ cắt bỏ Thông thường cũng phải cắt bỏ một đoạn thân xương móng để có thể cắt bỏ triệt để được đường rò

1.2 Nang và rò bẩm sinh vùng cổ bên:

1.2.1 Đại cương:

Nang bẩm sinh vùng cổ bên còn gọi là nang mang vì nó được tạo nên do còn lại một phần khe mang thứ hai (đôi khi là khe mang thứ nhất hoặc thứ ba) ở thời kỳ bào thai Nếu các nang này bị bội nhiễm và rò ra da thì tạo nên các rò vùng cổ bên hay rò nang mang

1.2.2 Triệu chứng lâm sàng:

+ Thường xuất hiện ở bệnh nhân tuổi trẻ hoặc trung niên, tiến triển chậm + Khám lâm sàng:

- Nang vùng cổ bên: thường nằm ở phía bên của cổ, dọc theo bờ trong c ủa cơ

ức - đòn - chũm Da trên bề mặt nang vẫn bình thường, mật độ căng và đàn hồi, ấn không đau, không di động theo nhịp nuốt Chọc hút nang thấy có chất dịch nhầy trong hoặc trắng đục

- Rò vùng cổ bên: lỗ rò cũng thường nằm dọc theo bờ trong c ủa cơ ức - đòn -chũm, miệng lỗ rò thường nhỏ, ít có hiện tượng viêm nề, thường có chất dịch nhầy trong chảy ra qua lỗ rò

1.2.3 Chẩn đoán:

+ Nang vùng cổ bên:

- Chẩn đoán xác định:

Trang 3

Các triệu chứng khám lâm sàng nói trên

Chọc hút nang thấy ra chất dịch nhầy trong hoặc trắng đục

Mổ sinh thiết khối nang

- Chẩn đoán phân biệt:

Với các hạch to và u khác ở vùng cổ: dựa vào xét nghiệm chọc hút sinh thiết tế bào

Với các bướu tuyến giáp: dựa vào chọc hút sinh thiết tế bào khối u, xạ hình đồ + Rò vùng cổ bên:

- Chẩn đoán xác định:

Các triệu chứng khám lâm sàng đã nói trên

Chụp đường rò bằng bơm thuốc cản quang

- Chẩn đoán phân biệt:

Với các rò hạch lao ở vùng cổ: dựa vào các triệu chứng đã nói ở phần trên (1.1.3) Với rò bẩm sinh vùng cổ giữa: dựa vào vị trí lỗ rò

ở vùng cổ

1.3.2 Triệu chứng chẩn đoán:

+ Thường xuất hiện ở tuổi thanh niên, phát triển chậm

+ Thường nằm ở các vị trí khác nhau ở vùng cổ như: nền khoang miệng, gốc lưỡi, cằm, dưới hàm, đôi khi ở vùng cổ bên hoặc ở giữa vùng một phần ba trên của

Trang 4

Chẩn đoán xác định bằng chọc sinh thiết hút tế bào khối u

Điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ khối u

2.1.2 U xơ:

U thường có mật độ rắn chắc, phát triển chậm Điển hình là loại u xơ thần kinh trong bệnh Recklinghausen

Chẩn đoán xác định bằng chọc sinh thiêt hút tế bào khối u và kết quả chẩn đoán

mô bệnh học sau mổ sinh thiết

Có thể phát triển ở trong da, trong niêm mạc và trong cơ Vị trí của u không những hay gặp ở cổ mà còn có thể ở má, môi, lưỡi Kích thước khối u có thể rất lớn

Khi khám và ép lên khối u thì có thể thấy khối u nhỏ lại Nếu không ép nữa thì khối u trở lại kích thước ban đầu

Điều trị: có chỉ định mổ cắt bỏ khối u khi u có kích thước lớn, gây chèn ép u các

cơ quan xung quanh và ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tâm lý của bệnh nhân

2.1.4 U máu:

U máu là một nhóm các mạch máu tân tạo hợp lại với nhau thành một khối, không những không có hoạt động chức năng có ích nào mà còn gây phá hủy các

Trang 5

mô của cơ quan xung quanh và cản trở dòng máu của hệ tuần hoàn Rất khó phân biệt những huyết quản tân tạo với các huyết quản bị giãn và dài ra

+ Phân loại u máu: thường phân ra 2 loại là: u máu thể mao mạch và u máu thể hang

- U máu thể mao mạch:

Các mao mạch tân tạo chứa đầy máu Nhiều mao mạch bị lấp đầy bởi huyết khối Trong laòng mao mạch có những mầm nội mạc Lượng máu qua u không nhiều lắm nên ít khi gây ra xuất huyết

Trong trường hợp các mao mạch có lòng hẹp, tế bào nội mạc lại sinh sản rất nhiều thì u có tính chất đặc và được gọi là u máu nội mạc

Thường gặp loại u này ở dưới da vùng cổ dưới dạng các đám màu đỏ tía, ấn không đau, phát triển chậm

- U máu thể hang: ít gặp hơn loại trên

Có cấu trúc như tổ chức cương, nghĩa là có nhiều hồ huyết không đều nhau và thông với nhau, trong lòng cá hồ huyết đó có một lớp nội mạc của mạch máu bình thường

U thường không có vỏ bọc và xâm lấn vào các tổ chức xung quanh

Hay gặp ở vùng dưới da và trong cơ c ủa cổ Ngoài ra còn gặp ở các vị trí khác của cơ thể như ở gan, môi…

+ Chẩn đoán u máu: dựa vào các triệu chứng chính như sau:

- Thường phát triển chậm và không có biểu hiện bệnh lý gì đặc biệt trong một thời gian dài

- Chọc hút sinh thiết khối u thấy có máu

- Chụp cản quang khối u: bơm thuốc cản quang vào khối u và chụp X quang + Điều trị các u máu:

- Chiếu xạ: có tác dụng làm các mạch máu trong khối u bị viêm, nội mạc bị dày lên dẫn tới tắc và xơ hoá các mạch máu của khối u

- Đốt u máu bằng tia laser: dùng tia laser để đốt cháy từng lớp tổ chức u máu (thường chỉ dùng được cho các u máu nhỏ, nông)

- Tiêm thuốc gây xơ hoá vào u máu: để gây viêm, tắc và xơ hoá các mạch máu trong u

- Phẫu thuật cắt bỏ khối u máu

2.1.5 U tiểu thể cảnh:

Là một loại u khá hiếm gặp U phát triển từ tiểu thể cảnh, chỗ phân chia của động mạch cảnh gốc ra động mạch cảnh ngoài và động mạch cảnh trong

U thường nằm ở vùng trước cơ ức - đòn - chũm, gần góc hàm, ranh giới rõ, mật

độ chắc, hình gần tròn hoặc bầu dục, có thể thấy u đập nảy theo nhịp đập của động mạch cảnh U có thể chèn ép vào xoang cảnh gây phản xạ giảm huyết áp

Điều trị: có chỉ định mổ cắt bỏ khối u vì thường gây hiện tượng chèn ép xoang cảnh và các cơ quan khác ở vùng cổ

Trang 6

2.2 Các u ác tính vùng cổ:

2.2.1 Lymphosacoma:

+ Các hạch lymphosacoma có thể xuất hiện từ chuỗi hạch ở cổ Hạch to lên dần rồi họp với nhau thành một đám lớn, dính vào nhau Các u này đẩy da lồi lên và có thể chèn ép vào khí quản gây khó thở

+ Bệnh thường phát triển nhanh, di căn theo đường bạch huyết vào vùng hầu, họng, ruột, gan, phổi và các cơ quan khác trong cơ thể

+ Chẩn đoán xác định bằng chọc hút sinh thiết tế bào và mổ sinh thiết hạch

2.2.2 Hodgkin:

+ Đây là một bệnh của hệ thống hạch bạch huyết, tiến triển như một u ác tính Trong 50% các trường hợp thấy vị trí tiên phát của bệnh là ở các hạch vùng cổ, còn lại là ở hạch của các vùng khác như: nách, mạc treo ruột…

+ Triệu chứng:

- Bệnh thường xuất hiện ở nam giới, tuổi trẻ (15 - 35 tuổi) Hạch bạch huyết lúc đầu còn nhỏ, di động Về sau các hạch to lên và dính vào nhau thành một khối lớn Hơn 70% số bệnh nhân thấy có lách to

- Toàn thân bệnh nhân thường có sốt kéo dài, dao động kiểu làn sóng Kèm theo thường có hiện tượng ngứa da

- Xét nghiệm máu thấy tăng bạch cầu đa nhân trung tính và ái toan

- Chụp X quang có thể thấy: hạch to ở trung thất và rốn phổi, có hiện tượng thưa xương ở cột sống, xương chậu, xương đùi, xương cánh tay, xương ức… Bệnh thường kéo dài hàng năm với những đợt bột phát Bệnh nhân thường tử vong do suy mòn

+ Chẩn đoán xác định dựa vào chọc hút sinh thiết tế bào và mổ sinh thiết hạch

- Các hạch di căn thường có mật độ cứng chắc, không đau

- Chẩn đoán xác định dựa vào chọc sinh thiết hút tế bào và mổ sinh thiết hạch

3 Tật vẹo cổ (torticolis, caput obstimum)

3.1 Bệnh căn:

Có thể do bẩm sinh hay mắc phải:

+ Bẩm sinh: do cơ ức - đòn - chũm bị viêm hay bị chấn thương từ trong thời kỳ bào thai, làm cho cơ bị xơ hóa và co cứng lại

Trang 7

+ Mắc phải: có thể gặp do một trong các nguyên nhân sau:

- Sẹo da co kéo sau khi bị bỏng

- Thói quen nghiêng đ ầu ở những người bị cận thị sớm và nặng, lâu dần làm cho cơ ức - đòn - chũm bị co rút lại

+ Cột sống cổ và ngực bị cong vẹo về bên có tổn thương, càng để lớn tuổi thì mức độ cong vẹo đó càng lớn

3.3 Điều trị:

+ Chỉ định mổ cắt cơ ức - đòn - chũm bị tổn thương theo hình bậc thang để kéo dài độ dài của nó, những trường hợp nặng có thể cắt ngang toàn bộ cơ ức -đòn - chũm đó Nếu là do sẹo bỏng thì phải cắt bỏ sẹo và vá da

+ Sau mổ phải tiến hành bó bột cổ ở tư thế thẳng cổ

4 Xương sườn phụ mọc ở cổ

4.1 Đại cương:

Xương sườn phụ mọc ở cổ là một dị dạng bẩm sinh Thường chỉ chẩn đoán được khi có các hiện tượng chèn ép bó mạch thần kinh hoặc khi tình cờ chụp X quang vùng cổ - ngực mà phát hiện được

Xương sườn phụ thường mọc ở đốt sống cổ thứ VII Một số trường hợp có thể mọc từ đốt sống cổ thứ V ho ặc VI Có thể mọc ở một bên hoặc cả hai bên đốt sống

cổ

4.2 Triệu chứng chẩn đoán:

Khi xương sườn phụ còn ngắn thì thường không thấy biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng gì đặc biệt Khi đã mọc dài thì có thể sờ thấy đầu trước của nó ở hõm trên đòn, kèm theo có các triệu chứng chèn ép đám rối thần kinh cánh tay và động mạch dưới đòn

Khi động mạch dưới đòn bị chèn ép thì có thể thấy da tay trắng bệch, đầu các ngón tay lạnh Đôi khi có thể nghe thấy tiếng thổi tâm thu ở trên động mạch dưới đòn do bị đầu xương sườn phụ chèn vào làm cho động mạch bị hẹp lại

Khi đám rối thần kinh cánh tay bị chèn ép thì có thể thấy các dấu hiệu: đau, tê, teo cơ, yếu cơ và mỏi cơ của tay bị bệnh Những dấu hiệu trên thể hiện rõ nhất ở các cơ dạng và cơ đối chiếu

Khi để duỗi cánh tay và đưa ra phía sau thì các dấu hiệu chèn ép nói trên càng thể hiện rõ ràng hơn do xương sườn phụ càng chèn ép mạnh vào động mạch dưới

Trang 8

đòn và đám rối thần kinh cánh tay nhiều hơn Đây là một dấu hiệu rất đặc trưng của bệnh xương sườn phụ ở cổ

Chẩn đoán xác định phải dựa vào chụp phim X quang vùng cổ - ngực

4.3 Điều trị:

+ Điều trị bảo tồn:

Trong các trường hợp chèn ép mạch máu và thần kinh không quá nặng nề thì

có thể điều trị bảo tồn: dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ, lý liệu pháp mục đích là làm giãn các cơ vùng cổ, trên đòn để giảm được mức độ chèn ép trực tiếp của đầu trước xương sườn phụ lên các cấu trúc mạch máu và thần kinh ở vùng cổ Tuy nhiên kết quả lâu dài của phương pháp điều trị này không đảm bảo

+ Phẫu thuật cắt bỏ xương sườn phụ ở cổ:

Có thể mổ bằng đường trên đòn hoặc đường qua vùng hố nách Tiến hành phẫu tích c ẩn thận (tránh làm tổn thương đám rối thần kinh cánh tay và bó mạch dưới đòn) để cắt bỏ xương sườn phụ, lấy bỏ cả màng xương của nó để tránh tái phát

5 Các viêm nhiễm vùng cổ

5.1 Cụm nhọt vùng cổ:

5.1.1 Triệu chứng:

Lúc đầu biểu hiện dưới dạng một đám thâm nhiễm rắn dưới mép tóc ở sau cổ,

có màu đỏ sẫm, sau đó biến thành màu tím nhạt Dần dần đám thâm nhiễm to ra và

có thể lan rộng khắp vùng sau cổ rồi phát triển vào tận các lớp sâu của cổ

Đám thâm nhiễm dầy lên, cao hơn mặt da bình thường Trên bề mặt của nó có nhiều nốt mủ to nhỏ nổi lên, xen lẫn với những đám da hoại tử Mủ có thể lan vào các mô ở dưới cổ dẫn đến viêm tấy dưới cân cổ

Do thâm nhiễm lan rộng, bệnh nhân rất đau đớn, không quay được cổ, đầu ở tư thế bất động

Tình trạng toàn thân của bệnh nhân rất nặng, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh, mệt mỏi, nhức đầu Bạch cầu máu tăng cao, tốc độ lắng máu tăng Có trường hợp bị nhiễm trùng huyết với các biểu hiện khởi đầu là sốt tăng cao và rét run

5.1.2 Điều trị:

+ Tăng cường sức đề kháng của cơ thể: bằng các biện pháp như:

- Truyền máu tươi

- Bảo đảm chế độ dinh dưỡng tốt

- Sử dụng các loại vitamin phù hợp

- Điều trị tốt các bệnh phối hợp

+ Điều trị kháng sinh:

- Dùng kháng sinh sớm, liều cao, phối hợp kháng sinh

- Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ

+ Xử trí tại chỗ cụm nhọt:

Trang 9

- Phong bế vùng thâm nhiễm: có thể dùng kháng sinh pha với novocain 0,25%

Vùng cổ có 5 lá cân, những lá cân này nối với nhau thành những khoang cân trong đó chứa các cơ quan ở cổ Do đó viêm mô liên kết ở khoang cân nào thì có những tính chất đặc biệt của khoang cân đó

5.2.2 Phân loại:

+ Viêm mô liên kết vùng dưới cằm và dưới hàm:

- Phát triển ở trong khoang cân thứ nhất Trong khoang này có các hạch bạch huyết, tuyến nước bọt dưới hàm

- Viêm mô liên kết ở đây thường do viêm môi, lưỡi, má, chân răng lan đến Tình trạng viêm không chỉ khư trú ở cổ mà còn lan cả vào sàn miệng và cuống lưỡi Lúc này bệnh nhân đau dữ dội, khó nuốt, có thể có khó thở vì bị phù nề ở thanh quản

+ Viêm mô liên kết vùng trên xương ức:

Thường ở nông và khư trú ở giữa khoang cân cổ thứ hai và thứ ba

+ Viêm mô liên kết vùng trước các tạng:

- Phát triển trong các khe vùng trước các tạng do các lá cân cổ thứ tư tạo thành Trong khoang này có các mạch máu lớn ở cổ như các động mạch và tĩnh mạch cảnh, các hạch bạch huyết

- Tình trạng viêm có thể lan dọc theo các khe liên cân, theo các mạch máu xuống trung thất trước và gây nên viêm trung thất

+ Viêm mô liên kết vùng sau các tạng:

- Khe sau các tạng nằm ở giữa lớp cân thứ tư và thứ năm Khe này thông với trung thất sau Khi apxe ở vùng sau họng, ở cạnh thực quản thì mủ có thể lan vào trung thất sau

- Trong viêm mô liên kết vùng cổ, trạng thái toàn thân bệnh nhân thường rất nặng: sốt cao, rét run, không ăn nuốt được, có khi ngạt thở do khí quản bị chèn ép

Trang 10

hay bị phù nề Tình trạng viêm có thể lan rộng, làm tổn thương đường hô hấp và trung thất, gây phù nề thanh quản, viêm phổi và nhiễm trùng huyết

có thể vỡ gây rò chất bã đậu qua da

+ Điều trị: dùng thuốc chống lao Nếu rò hạch lao thì phải mổ cắt bỏ hạch

6 Vết thương vùng cổ

Vết thương vùng cổ có thể do bạch khí (vật nhọn đâm, vật sắc cắt hay chém) hoặc do hoả khí gây ra Vì vùng cổ có nhiều cơ quan rất quan trọng của cơ thể nên các vết thương này có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng nếu không được xử trí kịp thời và đúng đắn

6.1 Vết thương các mạch máu lớn:

+ Đây là một thương tích rất nặng và nguy hiểm Ngoài việc chảy máu ồ ạt gây mất máu nhiều và nhanh, còn có thể xảy ra tình trạng tắc mạch khí vì tĩnh mạch bị rách rộ ng (áp lực thấp của các tĩnh mạch lớn ở cổ có thể làm cho không khí dễ dàng lọt vào tĩnh mạch) Lúc này bệnh nhân có thể nhanh chóng bị tử vong

+ Máu từ vết thương có thể chảy vào các tổ chức phần mềm ở cổ gây chèn ép khí quản dẫn đến ngạt thở nhanh chóng Bọc máu tụ còn có thể phát triển để tạo thành các phồng động mạch hoặc thông động - tĩnh mạch sau này

+ Xử trí:

Xử trí vết thương mạch máu vùng cổ phải được coi là một cấp cứu tối khẩn cấp

- Tìm mọi cách cầm ngay máu đang chảy: băng ép, băng nút

- Đặt bệnh nhân nằm ngang, đầu thấp

- Truyền máu, truyền dịch để hồi phục lượng máu mất

- Xử trí cơ bản: mở rộng vết thương dọc theo bó mạch, tiến hành thắt hoặc khâu nối mạch máu bị tổn thương

Trang 11

6.2 Vết thương thanh quản, khí quản:

+ Có thể gặp vết thương thủng hoặc rách nát thanh quản Lúc này có nguy cơ

là máu từ vết thương có thể qua lỗ rách thanh - khí quản tràn vào đường hô hấp gây ngạt thở cấp Không khí có thể đi qua lỗ vết thương khí quản ra gây tràn khí dưới da

+ Xử trí: mở khí quản cấp cứu, đồng thời tiến hành cầm máu vết thương vùng cổ

6.3 Vết thương thực quản vùng cổ:

(Xem phần bệnh thực quản)

6.4 Vết thương tuyến giáp:

+ Đây là một loại vết thương hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm vì gây chảy máu nhiều và lan rộng ở vùng cổ

+ Xử trí: tiến hành cầm máu nhu mô tuyến giáp bị thương bằng cách mổ bộc lộ tuyến giáp, khâu cầm máu bằng các mối khẫu chữ X hoặc chữ U Có thể tiến hành

thắt các động mạch tuyến giáp để cầm máu có hiệu quả hơn

6.5 Vết thương ống ngực:

+ Vết thương ống ngực tuy hiếm gặp nhưng là một loại vết thương nguy hiểm

vì làm mất một lượng dưỡng chấp lớn của cơ thể, nạn nhân nhanh chóng suy kiệt

và dẫn đến tử vong

+ Xử trí: phải mổ để thắt hoặc khâu lại vết thương ống ngực

BỆNH BƯỚU GIÁP ĐƠN THUẦN

Đặng Ngọc Hùng Ngô Văn Hoàng Linh

1 Đại cương

Bệnh bướu giáp đơn thuần là bệnh trong đó nhu mô tuyến giáp to ra lan toả hoặc cục bộ mà nguyên nhân không phải do viêm, u lành hay ung thư Chức năng tuyến giáp bình thường

Bệnh còn có nhiều tên gọi khác như: bướu giáp địa phương, bướu giáp lành tính, bướu giáp không nhiễm độc, bệnh loạn dưỡng tuyến giáp dịch tễ

2 Bệnh căn và bệnh sinh

Tuy vẫn còn một số điểm chưa rõ ràng nhưng những cơ chế bệnh sinh được công nhận rộng rãi hiện nay là:

2.1 Thiếu iot cho nhu cầu chuyển hóa của cơ thể:

2.1.1 Cơ chế gây bướu giáp do thiếu iot:

+ Khi thiếu iot thì tuyến giáp sẽ không thể sản xuất đ ủ các hocmon giáp (thyroxin ) đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể Tình trạng thiếu thyroxin trong máu

Trang 12

sẽ kích thích vùng trước tuyến yên tăng tiết TSH, chất này sẽ kích thích làm tuyến giáp to ra gây nên bướu giáp

+ Với cơ chế này, tuyến giáp có thể to ra lan toả hoặc cục bộ (các bướu giáp thể nhân), cơ chế tạo ra các bướu giáp thể nhân là:

- Khả năng nhậy cảm với TSH c ủa các tế bào khác nhau trong tuyến giáp không giống nhau, do đó những tế bào nào có khả năng nhậy cảm cao hơn sẽ chịu tác động của TSH nhiều hơn, do đó sẽ phân bào mạnh hơn

- Cơ chế thứ hai có thể cũng đóng vai trò nhất định trong việc hình thành các bướu giáp thể nhân là hiện tượng hoại tử của các nang tuyến riêng lẻ hoặc cả một vùng các nang tân tạo do mất cân đối sự cấp máu của vùng tân tạo đó, kết quả là tổ chức xơ sẹo sẽ phát triển trong nhu mô tuyến giáp và tạo nên một mạng lưới cố định bao lấy các vùng phát triển cục bộ kiểu nhân

2.1.2 Các nguyên nhân gây thiếu iot:

+ Thiếu iot do cung cấp không đủ:

- Thiếu iot trong thức ăn, nước uống, không khí thở hàng ngày

- Nguyên nhân này thường gặp ở các vùng núi cao và là nguyên nhân gây nên bướu giáp địa phương

+ Thiếu iot do giảm khả năng hấp thu iot của cơ thể: có thể gặp khi

- Rối loạn hoạt động của hệ men chuyển hóa iot của cơ thể do:

Bị thiếu hụt bẩm sinh các men chuyển hoá iot: có thể xảy ra đối với từng cá thể trong cộng đồng hoặc mang tính chất chủng tộc, cơ địa, giới tính

Bị ức chế hoạt động cảu các men chuyển hóa iot: do tác dụng của một số chất trong thực phẩm (ăn quá nhiều lạc, củ cải, đ ậu nành ), nước uống (chứa nhiều chất nitrit ), thuốc chữa bệnh (uống kéo dài một số thuốc như PAS, sulfathiazon )

- Rối loạn khả năng hấp thu iot của đường ruột: do các nguyên nhân như điều kiện sống và dinh dưỡng kém, nhiễm trùng, nhiễm độc, bệnh đường tiêu hoá mãn tính…

Các nguyên nhân nói trên thường gặp ở loại bướu giáp đơn phát

2.2 Rối loạn tự miễn dịch:

Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện thấy ở bệnh nhân bướu giáp đơn thuần có các tự kháng thể kháng tổ chức tuyến giáp, các tự kháng thể này có tác dụng kích thích làm cho tuyến giáp to ra, gây nên bướu giáp

Tuy nhiên thuyết này không giải thích được nhiều hiện tượng bệnh lý trong bệnh bướu giáp đơn thuần nên đang tiếp tục được nghiên cứu thêm

Trang 13

3 Giải phẫu bệnh lý

3.1 Bướu giáp:

3.1.1 Vị trí: bướu giáp có thể nằm ở các vị trí sau:

+ Bình thường nằm ở vùng cổ, tương ứng với hai bên sụn giáp và các vòng sụn khí quản từ thứ nhất đến thứ ba

+ Bướu giáp nằm sau xương ức: một phần hay gần như toàn bộ tuyến giáp nằm lấp sau xương ức nhưng một phần bướu vẫn nhìn và sờ thấy được ở hõm trên ức, nhất là khi cho bệnh nhân nuốt, rặn hay ho Các động mạch của loại bướu giáp này vẫn xuất phát từ các động mạch giáp bình thường

+ Bướu giáp trong lồng ngực: toàn bộ bướu giáp nằm ở trong trung thất như một khối u trung thất Có khi bướu giáp nằm hẳn ở trung thất giữa ho ặc trung thất sau Không nhìn và sờ thấy khi bệnh nhân ho hay rặn Các mạch máu của loại bướu giáp này có thể xuất phát từ động mạch vú trong, quai động mạch chủ hoặc động mạch dưới đòn (rất ít khi còn giữ liên quan với các động mạch giáp bình thường)

+ Bướu giáp lạc chỗ: có trường hợp bướu giáp nằm lạc chỗ hoàn toàn ở vị trí khác trong cơ thể như: dưới gốc lưỡi, sau cơ ức - đòn - chũm (bướu giáp trong lồng ngực cũng là một dạng của bướu giáp lạc chỗ)

3.1.2 Hình thái đại thể:

+ Bướu giáp lan tỏa:

- Toàn bộ tuyến giáp to ra về kích thước nhưng vẫn giữ được hình dáng chung của tuyến giáp

- Mặt bướu giáp thường nhẵn Trên mặt cắt ngang bướu thấy tổ chức nhu mô bướu tương đối thuần nhất, không có vỏ bọc và không có ranh giới giữa vùng bệnh

lý và vùng lành

+ Bướu giáp thể nhân:

- Trên nền tổ chức tuyến giáp bình thường, có một hay nhiều chỗ to lên c ục bộ, tạo thành bướu giáp một hay nhiều nhân

- Tùy theo quá trình loạn sản và thoái hóa trong quá trình phát triển của các bướu giáp nhân mà qua mặt cắt ngang bướu có thể thấy các loại: bướu giáp dạng u tuyến, bướu giáp đơn thuần hoá nang, bướu giáp đơn thuần có nhân tăng sản + Bướu giáp thể hỗn hợp: trên nền một bướu giáp lan toả có một hoặc nhiều bướu giáp nhân

3.1.3 Vi thể:

+ Trong giai đoạn đầu của bệnh, các biến đổi ở nhu mô tuyến còn tương đối thuần nhất, các nang tuyến tăng về số lượng và thể tích Lúc đầu các tế bào biểu mô của nang có hình trụ, lòng nang không có ho ặc chỉ có ít chất keo, về sau có nhiều nang giãn rộng ra do chứa nhiều chất keo đặc, tế bào biểu mô ở thành nang bị dẹt

Trang 14

lại Tùy mức độ chiếm ưu thế của các loại nang đó mà ta có bướu giáp thể nhu mô (các nang nhỏ chiếm ưu thế) hay bướu gíap thể keo (các nang lớn chiếm ưu thế) + Sau vài năm, các biến đổi trong nhu mô bướu giáp trở nên không thuần nhất, bên cạnh những khối tổ chức gồm nhiều nang nhỏ có biểu mô quá sản, phì đại, xuất hiện nhiều nang lớn giãn rộng, chứa đ ầy chất keo đ ặc, nhiều khi thoái hoá, hoà nhập vào nhau để thành các u nang keo cỡ khác nhau Tổ chức đệm trong tuyến cũng bị biến đổi, thoái hoá, thiếu máu, ho ại tử hoặc chảy máu cục bộ, phát triển tổ chức xơ Lúc này điều trị bằng nội khoa ít có kết quả

3.2 Tổ chức xung quanh bướu giáp:

Tổ chức xung quanh bướu giáp thường bị biến đổi do bị chèn ép, nhất là các bướu giáp thể nhân và bướu giáp thể hỗn hợp độ lớn

+ Da và cơ vùng trước cổ: bị bướu giáp đẩy ra, căng mỏng, đôi khi các cơ này

bị viêm dính vào bề mặt bướu giáp Có trường hợp bị bội nhiễm gây viêm rò ra da vùng cổ

+ Khí quản: có thể bị bướu giáp chèn đẩy, lệch khỏi vị trí bình thường và hẹp lại theo chiều trước - sau hay chiều bên Các vòng s ụn khí quản bị chèn ép lâu ngày

có thể bị thiểu dưỡng, mỏng và mềm đi

+ Thực quản: có thể bị bướu giáp chèn đẩy làm hẹp lại và bị lệch khỏi vị trí giải phẫu bình thường, nhất là khi bướu giáp thể nhân hay hỗn hợp độ lớn

+ Các mạch máu:

- Các tĩnh mạch nông ở cổ: có thể bị bướu giáp chèn ép nên ứ máu, căng to ra

- Có trường hợp bướu lớn chèn vào động mạch cảnh làm ảnh hưởng đến dòng máu lên não

+ Các dây thần kinh: có thể gặp các tình trạng chèn ép dây X, dây hoành, dây quặt ngược, đám rối thần kinh giao cảm cổ Tùy mức độ chèn ép mà gây các rối loạn ở các mức độ khác nhau hoạt động của các dây thần kinh đó

Trang 15

+ Mật độ bướu: có thể mềm hay căng, chắc và đàn hồi

+ Ranh giới: có thể rõ hoặc đôi khi khó xác định nếu bướu có mật độ mềm + Hình thái:

- Bướu lan toả thì vẫn giữ được hình dáng của tuyến giáp

- Bướu nhân hay hỗn hợp thì thường có hình méo mó không đều, làm biến dạng vùng cổ

+ Di động: bướu giáp luôn di động theo nhịp nuốt

+ Độ lớn của bướu:

- Bảng phân loại của Tổ chức Y tế Thế Giới (1979):

Độ 0: không sờ thấy tuyến giáp

Độ IA: không nhìn thấy nhưng sờ thấy được tuyến giáp to ra ít nhất là bằng đốt hai ngón cái của bệnh nhân

Độ IB: sờ được dễ dàng Nhìn thấy được ở tư thế ngửa đầu Các trường hợp bướu giáp thể một nhân cũng được xếp vào mức độ này

Độ II: nhìn thấy rõ ngay khi đầu ở tư thế bình thường

Độ III: đứng xa đã nhìn thấy bướu giáp

Độ IV: bướu giáp rất to

- Bảng phân loại của Khoa ngoại Bệnh viện 103:

Độ I: sờ thấy bướu khi bệnh nhân nuốt

Độ II: nhìn và sờ đều thấy rõ nhưng vòng cổ chưa thay đổi

Độ III: bướu lồi hẳn ra khỏi vòng cổ, chiếm một diện tích rộng trước cổ, xác định được kích thước

Độ IV: bướu to lấn quá xương ức, làm thay đổi đáng kể hình dáng vùng cổ

Độ V: bướu rất to, biến dạng hoàn toàn vùng cổ

4.2 Các triệu chứng do bướu chèn ép tổ chức xung quanh:

Trang 16

- Chèn ép thực quản: khó nuốt, nuốt nghẹn…

- Chèn ép động mạch cảnh: ù tai, đau đầu (thường ở một bên)

- Chèn ép hệ tĩnh mạch vùng cổ: phù nề, căng to các tĩnh mạch nông vùng cổ

5 Các xét nghiệm cận lâm sàng

5.1 Các xét nghiệm chức năng tuyến giáp:

Kết quả các xét nghiệm chức năng tuyến giáp như: đo độ tập trung 131Itại tuyến giáp, định lượng T3, FT3, T4, FT4, TSH máu, điện tim, chuyển hóa cơ sở, định lượng glucoza máu, cholesterol huyết tương đều thấy trong giới hạn bình thường

5.2 Các xét nghiệm về hình thái tuyến giáp:

+ Chụp bạch mạch tuyến giáp gián tiếp: tiến hành tiêm 3 - 4 ml dung dịch cản quang dầu vào nhu mô bướu giáp, sau 10 - 15 phút chất cản quang dầu này sẽ được

hệ bạch mạch trong tuyến giáp (vốn rất phong phú và nối với nhau chằng chịt) hấp thu Tiếp đó tiến hành chụp X quang tuyến giáp thẳng và nghiêng (khoảng cách chụp 2 mét, điện thế 120 Kv, cường độ 10 - 20 mA cho tư thế thẳng và 8 - 10 mA cho tư thế nghiêng) Phương pháp này cho phép đánh giá được hình thể, kích thước, liên quan giải phẫu của bướu giáp với các cơ quan và tổ chức ở vùng cổ

+ Chụp động mạch tuyến giáp chọn lọc: luồn ống thông động mạch tới động mạch dưới đòn, vào tới thân động mạch giáp - cổ - vai thì bơm thuốc cản quang để chụp Do hệ động mạch trong tuyến giáp nối với nhau rất phong phú nên hình ảnh chụp động mạch tuyến giáp chọn lọc cho phép xác định được hình dáng, kích thước, liên quan giải phẫu của bướu giáp

5.2.2 Chụp xạ hình tuyến giáp:

+ Thường dùng chất đồng vị phóng xạ 131I hoặc 99mTc

+ Xét nghiệm này xác định được vị trí, hình thái, kích thước, một số đặc điểm tổn thương trong tổ chức bướu giáp, trọng lượng của bướu giáp Đặc biệt trong những trường hợp bướu giáp lạc chỗ thì đây là xét nghiệm rất có giá trị giúp cho chẩn đoán xác định vị trí của bướu giáp

5.2.3 Chụp siêu âm tuyến giáp:

Hiện nay, đây là một phương pháp chẩn đoán rất thuận tiện và có giá trị chính xác khá cao trong việc xác định vị trí, kích thước, cấu trúc (tổn thương dạng đặc

Trang 17

hay lỏng), trọng lượng của bướu giáp c ũng như tương quan gi ải phẫu của bướu giáp với các cơ quan khác ở vùng cổ

5.2.4 Chụp cắt lớp điện toán (CT), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI):

+ Xác định vị trí, hình thái, kích thước, trọng lượng của bướu giáp

+ Xác định được tương quan giải phẫu của bướu giáp với các cơ quan xung quanh

5.3 Xét nghiệm tế bào học và tổ chức học:

5.3.1 Các phương pháp sinh thiết tuyến giáp bằng kim:

Có thể áp dụng các phương pháp sinh thiết bướu giáp bằng kim như:

+ Sinh thiết hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ: sử dụng kim nhỏ chọc hút tế bào bướu giáp để đưa đi làm xét nghiệm tế bào học Hiện nay, đây là một biện pháp chẩn đoán rất thông dụng và có giá trị chẩn đoán tế bào học khá chính xác các bệnh

lý tuyến giáp nói chung và bệnh bướu giáp đơn thuần nói riêng

+ Sinh thiết tổ chức bướu giáp bằng các kim được thiết kế đặc biệt (kim sinh thiết khoan ho ặc sinh thiết cắt): bệnh phẩm lấy được sẽ đưa đi để chẩn đoán mô bệnh học của bướu giáp

Bệnh phẩm lấy được từ các phương pháp sinh thiết bằng kim nói trên c ũng có thể được đưa đi để làm các xét nghiệm xác định các thành phần sinh hoá c ủa tổ chức bướu giáp

5.3.2 Xét nghiệm mô bệnh học bướu giáp sau mổ:

Chẩn đoán xác định có thể dựa vào các yếu tố sau:

+ Hội chứng thay đổi hình thái tuyến giáp:

- Các triệu chứng lâm sàng: bướu nằm ở vùng trước và hai bên cổ tương ứng với sụn giáp và các vòng sụn đầu tiên của khí quản, di động theo nhịp nuốt, hình thái có thể là thể nhân, hỗn hợp hay lan toả

- Các xét nghiệm hình thái tuyến giáp: ghi xạ hình tuyến giáp, chụp siêu âm tuyến giáp cho phép chẩn đoán xác định vị trí, hình thái, kích thước, trọng lượng của bướu giáp

+ Các xét nghiệm đánh giá chức năng tuyến giáp: đo độ tập trung 131Itại tuyến giáp, định lượng T3, FT3, T4, FT4, TSH máu, điện tim, chuyển hóa cơ sở đều ở giới hạn bình thường

+ Xét nghiệm tế bào học và mô bệnh học tuyến giáp: thông qua các biện pháp sinh thiết tuyến giáp bằng kim (sinh thiết hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ, sinh

Trang 18

thiết tổ chức tuyến giáp bằng kim khoan hay kim cắt) ho ặc qua bệnh phẩm tuyến giáp sau mổ sinh thiết

6.2 Chẩn đoán phân biệt:

6.2.1 Với các bệnh khác của tuyến giáp:

+ Bệnh bướu giáp lan toả nhiễm độc: ngoài hội chứng thay đổi hình thái tuyến giáp (bướu giáp lan toả), bệnh nhân còn có hội chứng cường chức năng tuyến giáp

và các rối loạn thần kinh nội tiết khác

+ Bệnh u độc tuyến giáp (bệnh Plummer): bệnh nhân cũng có bướu giáp thể nhân, nhưng kèm theo có thêm hội chứng cường chức năng tuyến giáp, nhất là các rối loạn về tim mạch

+ Bệnh bướu giáp đ ần độn (cretinism): thường ở trẻ em, bướu giáp to đồng thời

có hội chứng nhược năng tuyến giáp

+ Ung thư tuyến giáp: Thường ở bệnh nhân trên 40 tuổi Khối u thường đơn độc, mặt sần sùi, mật độ chắc, thường xâm nhiễm vào tổ chức xung quanh gây khó thở, khó nuốt, nói khàn từ khi u còn chưa lớn lắm Trên xạ hình đồ khối ung thư tuyến giáp có hình một “nhân lạnh” (do các tế bào ung thư không hấp thu iot) còn trên siêu âm bướu có hình một nhân đặc

+ Các bệnh viêm tuyến giáp:

- Bệnh Viêm tuyến giáp tự miễn dịch (bệnh Hashimoto): bướu giáp thường có mật độ chắc, hay gây chèn ép làm bệnh nhân khó thở, khó nuốt Có những đợt bướu to ra và đau, kèm theo bệnh nhân có sốt nhẹ Trong máu phát hiện thấy các tự kháng thể kháng tuyến giáp tăng cao

- Bệnh viêm xơ tuyến giáp mãn tính (bệnh Riedel): bướu giáp có mật độ chắc

và “cứng như đá” do tổ chức liên kết trong tuyến giáp phát triển rất mạnh, cũng do vậy các hiện tượng chèn ép thường xuất hiện sớm làm bệnh nhân khó thở, khó nuốt Nguyên nhân của bệnh cũng được cho là do cơ chế tự miễn dịch

- Bệnh viêm tuyến giáp bán c ấp tính De Quervain: bướu giáp có những đợt to

ra, cứng và rất đau Bệnh nhân thường có sốt, người mệt mỏi, đau lan từ tuyến giáp lên hàm và hai tai nhiều khi rất nhức nhối, khó chịu Nếu được điều trị đúng (dùng cocticoit) thì các triệu chứng hết đi nhanh

- Viêm tuyến giáp cấp tính và apxe tuyến giáp: tuyến giáp sưng to, da trên bề mặt tuyến nóng, đỏ và đau Toàn trạng thường sốt, mệt mỏi Xét nghiệm thấy tăng

bạch cầu đa nhân, công thức bạch cầu chuyển trái

6.2.2 Với một số bệnh khác ở vùng cổ:

+ U nang vùng cổ giữa (u nang giáp - móng): u thường nằm ở chính giữa cổ, dính vào xương móng, di động theo nhịp nuốt, thường có hình gần tròn hoặc bầu dục, mặt nhẵn, không đau, đôi khi bị bội nhiễm và gây rò qua da vùng cổ (rò vùng

cổ bên) U được tạo nên là do còn l ại một phần ống giáp - lưỡi (ductus thyreo - glossus) ở thời kỳ bào thai Thường gặp ở bệnh nhân ít tuổi Chọc hút khối u thấy

có chất dịch nhầy trong hoặc trắng đục

Trang 19

+ U nang vùng cổ bên (u nang mang): u thường nằm ở một bên cổ, sát bờ trước

cơ - ức - đòn chũm, thường có hình gần tròn hoặc bầu dục, mặt nhẵn, không đau, không di động theo nhịp nuốt, đôi khi bị bội nhiễm gây nên rò vùng cổ bên U được tạo nên là do còn l ại một phần di tích c ủa khe mang thứ hai (đôi khi là khe mang thứ nhất hoặc thứ ba) ở thời kỳ bào thai Thường gặp ở bệnh nhân còn ít tuổi Chọc hút khối u nang thường thấy có chất dịch nhầy trong

+ Một số bệnh lý khác ở vùng cổ như: các hạch bạch huyết to (lymphosacoma, Hodgkin, lao ), các u phần mềm (u mạch máu, u nang tuyến bã, u tiểu thể cảnh, u

cơ, u mỡ ), u tuyến nước bọt, phồng động mạch cảnh hoặc thông động - tĩnh mạch cảnh Các khối tổn thương này đều có triệu chứng chung là không di động theo nhịp nuốt như bướu giáp, chọc hút sinh thiết tế bào khối u giúp xác định chẩn đoán

7 Phân loại

Cho đến nay vẫn chưa có một bảng phân loại nào phản ánh được hoàn toàn đầy

đủ các thể bệnh của bệnh bướu giáp đơn thuần Sau đây là tổng hợp lại các phân loại đã có:

7.1 Theo hoàn cảnh phát sinh:

+ Bướu giáp địa phương: xuất hiện ở một vùng địa phương, khi có trên 10% số dân cư bị bệnh bướu giáp

+ Bướu giáp dịch tễ: xuất hiện ở một tập thể người với tính chất nhanh và cấp tính giống như một kiểu “dịch bướu cổ”, khi thay đổi chỗ ở thì bướu sẽ khỏi + Bướu giáp đơn phát: chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở một số ít người sống trong một quần thể không bị bệnh bướu giáp

7.2 Theo vị trí khư trú:

+ Bướu giáp ở vị trí bình thường tại vùng cổ

+ Bướu giáp nằm sau xương ức: một phần của bướu vẫn có thể xác định được ở vùng cổ tuy phần lớn nằm lấp sau xương ức

+ Bướu giáp trong lồng ngực: toàn bộ bướu giáp nằm trong lồng ngực

+ Bướu giáp lạc chỗ ở những nơi khác: góc hàm, gốc lưỡi

7.3 Theo hình thái đại thể của bướu giáp trên lâm sàng:

+ Bướu giáp thể nhân

+ Bướu giáp thể lan tỏa

+ Bướu giáp thể hỗn hợp

7.4 Theo độ lớn của bướu:

(Xem phần 4 1)

7.5 Theo lứa tuổi:

+ Bướu giáp trẻ em: thường có kèm theo tình trạng chậm phát triển về trí tuệ,

do đó cần hết sức chú ý thăm khám và chỉ định biện pháp điều trị thích hợp

+ Bướu giáp tuổi dậy thì: thường tự khỏi sau khi đã có con

Trang 20

+ Bướu giáp ở tuổi già: thường có quá trình biến đổi loạn dưỡng nặng trong bướu giáp do đó điều trị nội khoa ít có kết quả

8 Tiến triển và biến chứng

8.1 Tiến triển:

Bướu giáp đơn thuần thường phát triển chậm, kéo dài nhiều năm với những đợt

to ra nhanh hơn sau những đợt “yên tĩnh” kéo dài Có những trường hợp không điều trị và bướu tồn tại hàng chục năm với bệnh nhân cho đến chết mà không ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống Tuy nhiên nếu không được điều trị thì trong đại đa số trường hợp, bướu giáp thường phát triển to dần và gây ra nhiều biến chứng

8.2 Biến chứng:

8.2.1 Những biến chứng ở bản thân bướu giáp:

+ Chảy máu trong bướu giáp:

- Thường xảy ra ở các bướu giáp thể nhân nang

- Thường xuất hiện đột ngột sau một chấn thương hay gắng sức trong giai đoạn bướu giáp đang ở trạng thái bị ứ máu trước kỳ kinh nguyệt Máu chảy ra có thể lách vào vùng kẽ các nang tuyến giáp, tụ lại thành một bọc máu tụ hoặc chảy vào trong lòng bướu giáp thể nang

- Nếu máu chảy với số lượng ít và từ từ thì vùng có khối máu tụ sau đó có thể tự

xơ hoá, nếu máu chảy vào trong bướu giáp thể nang thì về sau chất dịch nang sẽ có màu xanh đen do máu bị thoái giáng dần trong đó

- Nếu máu chảy nhiều và nhanh thì có thể làm bướu giáp căng to lên một cách đột ngột, gây chèn ép cấp tính các cơ quan vùng cổ, nhất là khí quản dấn đến ngạt thở cấp, nhiều trường hợp phải chỉ định mổ cấp cứu cắt bỏ bướu giáp chảy máu để giải phóng chèn ép

+ Viêm bướu giáp:

- Bướu giáp có thể bị nhiễm khuẩn và viêm cấp tính làm cho bướu giáp sưng to nhanh chóng, gây chèn ép c ấp tính các cơ quan vùng cổ Quá trình viêm nhiễm tiến triển có thể dẫn tới tình trạng hoá mủ và apxe của bướu giáp Có trường hợp mủ từ vùng apxe bướu giáp chảy ra đi dọc theo khí quản và lan vào trung thất làm cho tình trạng của bệnh nhân càng nặng nề hơn

- Trên lâm sàng có thể thấy bướu giáp to lên nhanh chóng, da trên bề mặt bướu nóng, đỏ và đau Toàn trạng bệnh nhân sốt cao, mệt mỏi, khó nuốt, nhiều trường hợp khó thở cấp tính và nặng đòi hỏi phải xử trí cấp cứu

+ Basedow hóa:

Bướu giáp đơn thuần sau một thời gian tiến triển kéo dài có thể chuyển thành cường chức năng (Basedow hóa) Lúc này trên bệnh nhân xuất hiện thêm các triệu chứng của hội chứng nhiễm độc thyroxin nhưng thường không có lồi mắt như trong bệnh Basedow

Trang 21

+ Bướu giáp kèm thiểu năng giáp:

Sau một thời gian tiến triển, bướu giáp đơn thuần có thể bị các biến đổi viêm và loạn dưỡng trong nhu mô tuyến giáp, nhất là ở các bướu giáp hỗn hợp có nhiều nhân lớn Kết quả là tuyến giáp không còn đủ khả năng hoạt động bù lại tình trạng thiếu hocmon giáp của cơ thể nữa và cơ thể ở tình trạng nhược giáp

+ Ung thư hoá:

Một số trường hợp bướu giáp thể nhân sau một thời gian dài tiến triển thì chuyển thành ung thư tuyến giáp Hiện tượng này thường xảy ra ở các bệnh nhân trên 40 tuổi Tuy nhiên, một số tác giả cho rằng: các trường hợp trên thực ra là các trường hợp ung thư tuyến giáp nguyên phát dạng tiến triển chậm

8.2.2 Những biến chứng do bướu giáp to ra gây chèn ép:

+ Nếu không được điều trị thì bướu giáp có xu hướng phát triển ngày càng to ra

và gây chèn ép vào các cơ quan xung quanh ở vùng cổ, đồng thời ảnh hưởng đến tâm lý và thẩm mỹ của bệnh nhân

+ Các cơ quan ở vùng cổ thường bị chèn ép do bướu giáp to ra là:

- Khí quản: gây khó thở theo tư thế, ho, cơn “hen giáp trạng”

- Thực quản: gây khó nuốt

- Dây thần kinh quặt ngược: gây nói khàn, giọng đôi

- Dây X, hạch giao cảm cổ: gây rối loạn nhịp tim, thay đổi huyết áp

- Các mạch máu vùng cổ: gây phù nề vùng cổ - mặt, ù tai, đau đầu

9 Điều trị

9.1 Điều trị nội khoa:

9.1.1 Mục đích:

+ Đưa vào một lượng iot vượt quá nhu c ầu của cơ thể nhằm ức chế ho ạt động

của vùng dưới đồi - tuyến yên trong việc tiết ra TSH, nhờ đó làm giảm được TSH máu, dẫn đến giảm tình trạng phát triển của bướu giáp

+ Muốn có được tác dụng như vậy thì phải tiến hành điều trị sớm (khi bướu giáp mới xuất hiện và còn nhỏ) Nếu để muộn, quá trình biến đổi loạn dưỡng trong nhu mô tuyến giáp đã nặng rồi, thì điều trị sẽ không có kết qủa (vì nhu mô tuyến giáp không còn khả năng phục hồi được nữa)

9.1.2 Chỉ định:

Có thể dùng cho mọi bệnh nhân bị bướu giáp đơn thuần Càng dùng sớm (khi bướu mới hình thành và còn nhỏ) thì càng tốt

9.1.3 Phác đồ điều trị:

+ Thyreoidin: thường dùng bắt đầu với liều nhỏ (0,02 - 0,05g/ngày) Sau 10

- 15 ngày thì tăng dần lên tới 0,2g/ngày Dùng liên t ục mỗi đợt 20 ngày sau đó nghỉ

10 ngày Thời gian điều trị có thể là 6 - 12 tháng

Ngày đăng: 30/04/2021, 20:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w