1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Khảo sát sự cố y khoa không mong muốn tại bệnh viện đa khoa tỉnh

41 373 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 583 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Hội nghị Quốc tế PortoPortugal, WHO và các thành viên kêu gọi tăng cường cho nghiên cứu để cải thiện tình trạng an toàn sức khỏe cho người bệnh. WHO ước tính khoảng 10 triệu bệnh nhân trên thế giới bị tàn tật hoặc tử vong mỗi năm là do tình trạng cơ sở y tế không an toàn 12 Ngày nay, những thành tựu của y học trong việc chẩn đoán, điều trị và chăm sóc đã giúp phát hiện sớm và điều trị thành công cho nhiều người bệnh mắc các bệnh nan y mà trước đây không có khả năng cứu chữa, mang lại cuộc sống và hạnh phúc cho nhiều người và nhiều gia đình. Tuy nhiên, theo các chuyên gia y tế, thách thức không nhỏ hiện nay là khi cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiệu quả vẫn phải đảm bảo an toàn cho người bệnh, nhân viên y tế. Quy mô bệnh từng viện dù lớn hay nhỏ, hiện đại hay chưa hiện đại, vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho nhân viên y tế. Sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế. Sự cố y khoa gồm 2 loại: có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa.12 Tại Việt Nam, Áp lực mà các bệnh viện và người hành nghề đang phải đối mặt là một số người nhà người bệnh và nhóm người có toan tính lợi dụng sự cố y khoa để: Gây rối loạn trật tự xã hội (BV Nam Căn); Lợi dụng gây áp lực bồi thường tài chính (BVĐK Thành phố Vinh, BV Thiệu Hóa); Đặc biệt là sự cố y khoa gầy đây nhất xảy ra ở BVĐK tỉnh Hòa Bình, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh gây sự quan tâm theo dõi của toàn xã hội đối với ngành y tế, gây ảnh hưởng tới uy tín, sức khỏe, tính mạng người bệnh cũng như người hành nghề. Trong thực tế, khi có sự cố y khoa không mong muốn xảy ra không chỉ có người bệnh, gia đình người bệnh trở thành nạn nhân mà các cán bộ y tế liên quan trực tiếp tới sự cố y khoa cũng là nạn nhân và cũng cần được hỗ trợ về tâm lý 12. Trong khi, đối với những bệnh viện lớn, có uy tín trên thế giới, an toàn lâm sàng là một trong những chứng chỉ phải có để chứng minh chất lượng và uy tín của bệnh viện. Đặc biệt, gần đây nhất, tại Hội nghị câu lạc bộ Giám đốc các Bệnh viện các tỉnh phía Nam năm 2007, đã tổ chức với chủ đề “Những điều cần biết về An toàn bệnh nhân”. Hiện nay, SCYK.KMM là vấn đề không mới trên thế giới, nó có tính phổ biến và xu hướng gia tăng. Theo PGS.TS. Trương Văn Việt “Rủi ro cho người bệnh dù không ai muốn nhưng nó vẫn có.Tìm ra những khâu, những quy trình, những điểm có khả năng xảy ra trong hoàn cảnh Việt Nam là điều cần thiết và rất khó”. Sai sót, nhầm lẫn và sự cố thường để lại hậu quả ảnh hưởng tớikết quả điều trị, sức khỏe người bệnh, sự phát triển, uy tín và tài chính bệnh viện. Mặc dù không muốn, nhưng chúng ta cũng không thể đảm bảo không sai sót bởi tính xác suất, những tình huống chủ quan, lẫn khách quan trong công tác chuyên môn hàng ngày 12.Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hạn chế được những sự cố khi chúng ta tuân thủ các quy định, thiết lập hệ thống giám sát, phòng ngừa để làm giảm sự cố. Xác định được công tác của nhân viên y tế có liên quan trực tiếp đến SCYK.KMM, chúng tôi bắt đầu bằng tổng hợp các sự cố đã hoặc chứa nhiều yếu tố nguy cơ. Hệ thống báo cáo sự cố y khoa của Bệnh viện Đa khoa ……………………… đã được thiết lập từ năm 2015, tuy nhiên số lượng phiếu báo cáo qua hệ thống rất ít, qua ghi nhận các báo cáo sự cố y khoa năm 2016 là 30 phiếu, năm 2017 là 49 phiếu. Đây là con số ít ỏi so với thực tế sự cố y khoa xảy ra hàng này mặc dù phòng QLCL cũng đã tích cực hướng dẫn các khoa phòng báo cáo sự cố y khoa tự nguyện để tổng hợp phân tích nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục phòng ngừa. Do tâm lý lo sợ bị trách phạt, hạ thi đua dẫn đến nhiều sự cố y khoa không được báo cáo do đó không thể tổng hợp và đưa ra những khuyến cáo giúp làm giảm thiểu sự cố y khoa không mong muốn. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảo sát sự cố y khoa không mong muốn tại Bệnh viện ……………………………” nhằm mục tiêu: 1. Xác định tỉ lệ các loại sự cố y khoa không mong muốn tại bệnh viện Đa khoa tỉnh …………………………….. 2. Tìm hiểu các mối liên quan của cố y khoa không mong muốn.

Trang 1

SCYK Sự cố y khoa

Trang 2

Trang Đặt vấn đề

Chương I Tổng quan tài liệu

1.1 Định nghĩa

1.2 Các thuật ngữ

1.3 Nguyên nhân

1.4.Tần suất và xu hướng sự cố y khoa

1.5 Phân loại sự cố y khoa

1.6 Hậu quả của sự cố y khoa

1.7 Các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa

1.8 Mục tiêu của việc xử lý cần đạt được khi có sự cố y khoa xảy ra

1.9 Để đạt được mục tiêu, kế hoạch giải quyết cần tập trung vào những nội

dung chính sau

1.10 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.11 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

1.12 Cách suy nghĩ về sự cố y khoa hiện nay

Chương II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.2 Cỡ mẫu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

2.5 Nguyên tắc tiếp cận sự cố y khoa không mong muốn

2.6 Quy trình tiếp cận báo cáo sự cố y khoa

2.7 Tiêu chuẩn loại trừ

2.8 Thời gian nghiên cứu

2.9 Xử lý số liệu

Chương III Kết quả nghiên cứu

Chương IV Bàn luận

Kết luận

Khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Mẫu phiếu báo cáo sự cố y khoa

Danh sách phiếu báo cáo sự cố y khoa

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang

Bảng 3.1 Phân loại sự cố

Bảng 3.2 Hình thức ghi nhận sự cố

Trang 3

Bảng 3.5 Số sự cố theo ngày trong tuần

Bảng 3.6 Thời gian từ lúc xảy ra sự cố đến lúc báo cáo

Bảng 3.7 Khoa báo cáo sự cố

Bảng 3.8 Khoa xảy ra sự cố

Bảng 3.9 Phân loại sự cố

Bảng 3.10 Đối tượng dẫn đến sự cố

Bảng 3.11 Hậu quả sự cố

Bảng 3.12 Liên quan giữa sự cố y khoa không mong muốn và giới

Bảng 3.13 Liên quan giữa sự cố y khoa không mong muốn và trình độ học vấn

Bảng 3.14 Liên quan giữa sự cố y khoa không mong muốn với thâm niên công tác

Trang 4

Trang

Biểu đồ 1 Sự cố y khoa theo tháng

Biểu đồ 2 Sự cố y khoa theo ngày trong tuần

Biểu đồ 3 Phân loại sự cố

Biểu đồ 4 Đối tượng dẫn đến sự cố

Biểu đồ 5 Hậu quả sự cố

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tại Hội nghị Quốc tế Porto-Portugal, WHO và các thành viên kêu gọi tăngcường cho nghiên cứu để cải thiện tình trạng an toàn sức khỏe cho người bệnh WHOước tính khoảng 10 triệu bệnh nhân trên thế giới bị tàn tật hoặc tử vong mỗi năm là dotình trạng cơ sở y tế không an toàn [12]

Ngày nay, những thành tựu của y học trong việc chẩn đoán, điều trị và chămsóc đã giúp phát hiện sớm và điều trị thành công cho nhiều người bệnh mắc cácbệnh nan y mà trước đây không có khả năng cứu chữa, mang lại cuộc sống và hạnhphúc cho nhiều người và nhiều gia đình Tuy nhiên, theo các chuyên gia y tế, tháchthức không nhỏ hiện nay là khi cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiệu quảvẫn phải đảm bảo an toàn cho người bệnh, nhân viên y tế Quy mô bệnh từng viện

dù lớn hay nhỏ, hiện đại hay chưa hiện đại, vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn chonhân viên y tế

Sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biếnchứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trangthiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế Sự cố y khoa gồm 2 loại: có thể phòng ngừa

và không thể phòng ngừa.[12]

Tại Việt Nam, Áp lực mà các bệnh viện và người hành nghề đang phải đối mặt

là một số người nhà người bệnh và nhóm người có toan tính lợi dụng sự cố y khoa để:Gây rối loạn trật tự xã hội (BV Nam Căn); Lợi dụng gây áp lực bồi thường tài chính(BVĐK Thành phố Vinh, BV Thiệu Hóa); Đặc biệt là sự cố y khoa gầy đây nhất xảy

ra ở BVĐK tỉnh Hòa Bình, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh gây sự quan tâm theodõi của toàn xã hội đối với ngành y tế, gây ảnh hưởng tới uy tín, sức khỏe, tính mạngngười bệnh cũng như người hành nghề Trong thực tế, khi có sự cố y khoa khôngmong muốn xảy ra không chỉ có người bệnh, gia đình người bệnh trở thành nạn nhân

mà các cán bộ y tế liên quan trực tiếp tới sự cố y khoa cũng là nạn nhân và cũng cầnđược hỗ trợ về tâm lý [12]

Trong khi, đối với những bệnh viện lớn, có uy tín trên thế giới, an toàn lâmsàng là một trong những chứng chỉ phải có để chứng minh chất lượng và uy tín củabệnh viện Đặc biệt, gần đây nhất, tại Hội nghị câu lạc bộ Giám đốc các Bệnh việncác tỉnh phía Nam năm 2007, đã tổ chức với chủ đề “Những điều cần biết về An toànbệnh nhân”

Hiện nay, SCYK.KMM là vấn đề không mới trên thế giới, nó có tính phổ biến

và xu hướng gia tăng Theo PGS.TS Trương Văn Việt “Rủi ro cho người bệnh dùkhông ai muốn nhưng nó vẫn có.Tìm ra những khâu, những quy trình, những điểm cókhả năng xảy ra trong hoàn cảnh Việt Nam là điều cần thiết và rất khó” Sai sót, nhầmlẫn và sự cố thường để lại hậu quả ảnh hưởng tớikết quả điều trị, sức khỏe ngườibệnh, sự phát triển, uy tín và tài chính bệnh viện Mặc dù không muốn, nhưng chúng

Trang 6

ta cũng không thể đảm bảo không sai sót bởi tính xác suất, những tình huống chủquan, lẫn khách quan trong công tác chuyên môn hàng ngày [12].Tuy nhiên, chúng tacũng có thể hạn chế được những sự cố khi chúng ta tuân thủ các quy định, thiết lập hệthống giám sát, phòng ngừa để làm giảm sự cố Xác định được công tác của nhân viên

y tế có liên quan trực tiếp đến SCYK.KMM, chúng tôi bắt đầu bằng tổng hợp các sự

cố đã hoặc chứa nhiều yếu tố nguy cơ

Hệ thống báo cáo sự cố y khoa của Bệnh viện Đa khoa ………

đã được thiết lập từ năm 2015, tuy nhiên số lượng phiếu báo cáo qua hệ thống rất ít,qua ghi nhận các báo cáo sự cố y khoa năm 2016 là 30 phiếu, năm 2017 là 49 phiếu.Đây là con số ít ỏi so với thực tế sự cố y khoa xảy ra hàng này mặc dù phòng QLCLcũng đã tích cực hướng dẫn các khoa phòng báo cáo sự cố y khoa tự nguyện để tổnghợp phân tích nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục phòng ngừa Do tâm lý lo sợ

bị trách phạt, hạ thi đua dẫn đến nhiều sự cố y khoa không được báo cáo do đó khôngthể tổng hợp và đưa ra những khuyến cáo giúp làm giảm thiểu sự cố y khoa khôngmong muốn

Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảo sát sự cố y khoa không mong muốn tại Bệnh viện ………” nhằm mục tiêu:

1 Xác định tỉ lệ các loại sự cố y khoa không mong muốn tại bệnh viện Đakhoa tỉnh ………

2 Tìm hiểu các mối liên quan của cố y khoa không mong muốn

Trang 7

Luật khám bệnh, chữa bệnh định nghĩa Tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh

là hậu quả gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh do sai sót chuyênmôn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh hoặc rủi ro xảy ra ngoài ý muốn trongkhám bệnh

Luật khám bệnh, chữa bệnh xác định sai sót chuyên môn khi người hànhnghề vi phạm một trong những nội dung sau: Vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc

và điều trị người bệnh, vi phạm các quy định chuyên môn kỹ thuật và đạo đứcnghề nghiệp và xâm phạm quyền của người bệnh

Theo định nghĩa của WHO: Sự cố y khoa không mong muốn là tổn thươnglàm cho người bệnh mất khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn, kéo dài ngày nằm việnhoặc chết Nguyên nhân do công tác quản lý khám chữa bệnh (health caremanagement) hơn là do biến chứng bệnh của người bệnh Sự cố y khoa có thểphòng ngừa và không thể phòng ngừa [19]

Tiêu chí xác định sự cố y khoa được sử dụng trong các nghiên cứu của Mỹ

và các nước gồm: (1) Sự cố nằm trong danh mục các sự cố nghiêm trọng phải báocáo theo quy định của Mỹ như mô tả tại Phụ lục số 1; (2) Sự cố trong danh mục bị

từ chối trả chi phí ở mức cao; (3) Sự cố dẫn đến 1 trong 4 mức độ nghiêm trọng là:Kéo dài ngày nằm viện, người bệnh bị tổn thương vĩnh viễn, phải can thiệp cấpcứu hoặc chết

1.2 CÁC THUẬT NGỮ

Sự cố y khoa (Adverse event): Một nguy cơ, rủi ro, sai sót có thể gây ra tổn

thương không mong muốn, tác động đến sức khỏe liên quan đến quá trình chămsóc y tế trong cơ sở khám chữa bệnh, trái ngược với diễn biến của bệnh lý Chămsóc y tế bao gồm các lĩnh vực trong chăm sóc, chẩn đoán và điều trị, kể cả thất bạitrong chẩn đoán, điều trị và các hệ thống quy trình, thiết bị liên quan đến chăm sóc.Các sự cố có thể phòng ngừa hoặc không thể phòng ngừa, đã xảy ra hoặc suýt xảyra

Sự cố “Suýt xảy ra”: Sự cố y khoa tiềm ẩn nhưng đã được ngăn chặn và

phát hiện kịp thời chưa để xảy ra tổn thương tác động đến sức khỏe của ngườibệnh

Trang 8

Nguyên nhân gốc: Là nguyên nhân ban đầu của một vấn đề hoặc của một

chuỗi nguyên nhân dẫn đến kết quả đầu ra là xảy ra sự cố y khoa Nguyên nhângốc có thể xử lý được hợp lý nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng hoạt động khámbệnh, chữa bệnh hoặc phòng ngừa sự cố y khoa

Lỗi - Error: Thực hiện công việc không đúng quy định hoặc áp dụng các quy

định không phù hợp[18]

Sự cố - Event: Điều bất trắc xảy ra với người bệnh hoặc liên quan tới người

bệnh[18]

Tác hại - Harm: Suy giảm cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể hoặc ảnh

hưởng có hại phát sinh từ sự cố đã xảy ra Tác hại bao gồm: bệnh, chấn thương,đau đớn, tàn tật và chết người[18]

Sự cố không mong muốn - Adverse Events (AE): Y văn của các nước sử

dụng thuật ngữ “sự cố không mong muốn” ngày càng nhiều vì các thuật ngữ “saisót chuyên môn, sai lầm y khoa” dễ hiểu sai lệch về trách nhiệm của cán bộ y tế vàtrong thực tế không phải bất cứ sự cố nào xảy ra cũng do cán bộ y tế

Theo WHO: Sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế(khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc,

sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế Sự cố y khoa có thể phòngngừa và không thể phòng ngừa[18]

Theo Bộ sức khỏe và dịch vụ con người của Mỹ: Sự cố không mong muốngây hại cho người bệnh do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y tế Để đo lường

sự cố y khoa các nhà nghiên cứu y học của Mỹ dựa vào 3 nhóm tiêu chí (1) Các

sự cố thuộc danh sách các sự cố nghiêm trọng; (2) Các tình trạng/vấn đề sức khỏengười bệnh mắc phải trong bệnh viện; Và (3) sự cố dẫn đến 1 trong 4 thiệt hạinghiêm trọng cho người bệnh nằm trong Bảng 4 Phân loại mức độ nguy hại chongười bệnh từ F-I, bao gồm: kéo dài ngày điều trị, để lại tổn thương vĩnh viễn, phảican thiệp cấp cứu và chết người[15]

Theo một số nghiên cứu, ở các nước phát triển, tỷ lệ sự cố y khoa chiếmkhoảng từ 0,4 đến 16% số trường hợp nhập viện Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng44.000 trường hợp tử vong do sự cố y khoa Với các nước đang phát triển, tỷ lệ này

sẽ còn cao hơn do những thiếu hụt về nhân lực có chất lượng, trang thiết bị thiếuthốn, trình độ quản lý còn hạn chế [5]

Sự cố y khoa là điều khó tránh khỏi đối với hệ thống y tế ở bất kỳ quốc gianào, kể cả những quốc gia có nền y học tiên tiến Các thống kê trên thế giới chothấy các sự cố y khoa thường gây hậu quả đối với bệnh nhân, nhẹ có thể gây kéodài thời gian nằm viện, ảnh hưởng đến chức năng một số cơ quan, nặng có thể gâymất chức năng vĩnh viễn hoặc dẫn đến tử vong

Khi sự cố y khoa xảy ra, thường theo sau đó là những vụ khiếu kiện củabệnh nhân, người nhà bệnh nhân đối với nhân viên y tế và cơ sở khám bệnh, chữa

Trang 9

bệnh Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thầy thuốc có liên quan đến sự cố luônphải chủ động tìm cách thương thuyết với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân để giảiquyết, đền bù vật chất chỉ để mong bù đắp một phần nào mất mát của bệnh nhân.Tuy nhiên, một trong những đặc điểm chung nhất của các vụ khiếu kiện này là trởngại trong việc xác định nguyên nhân của sự cố nên thường dẫn đến giải quyếtkhông thỏa đáng gây khiếu kiện kéo dài Nhiều vụ khiếu kiện dù đã được hội đồngkhoa học kỹ thuật của bệnh viện, Sở Y tế, thậm chí cả Bộ Y tế vào cuộc điều tra,kết luận nhưng người bệnh, người nhà người bệnh vẫn không tin tưởng, tiếp tụckhiếu kiện Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bị ảnh hưởng, mất uy tín, thầy thuốc luônmệt mỏi, chùn tay, bất an khi hành nghề thời gian sau đó.

Mặt khác, hiện nay thủ tục pháp lý để giải quyết các tranh chấp trong khámbệnh, chữa bệnh khi xảy ra các sự cố y khoa còn nhiều bất cập, chưa hoàn chỉnhnên việc giải quyết các khiếu kiện sự cố y khoa thường gặp nhiều khó khăn, kéodài

1.3 NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân của sự cố y khoa rất nhiều và đa dạng, có thể chủ quan từ phía

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thầy thuốc hoặc có những yếu tố thuận lợi, kháchquan có thể dẫn đến sự cố y khoa Các nguyên nhân sau là có thể gặp tại các cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh như:

1.3.1 Nguyên nhân chủ quan:

1.3.1.1 Lỗi hệ thống:

- Lãnh đạo cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa đặt ra an toàn đối với ngườibệnh là ưu tiên hàng đầu trong chương trình cải tiến chất lượng của đơn vị, thiếuchương trình hành động cụ thể, thiếu phân bổ nguồn lực thích hợp cho hoạt động

an toàn của người bệnh

- Trong hoạt động quản lý bệnh viện, vẫn còn tồn tại suy nghĩ nguyên nhâncủa sự cố y khoa chủ yếu là do lỗi cá nhân, ít khi xem xét đến lỗi hệ thống

- Việc triển khai hoạt động phòng ngừa sự cố y khoa chưa được quan tâmđúng mức: Chưa xây dựng hệ thống quản lý sai sót, sự cố; công tác tổng hợp, báocáo, giám sát sai sót, sự cố chưa được chú trọng; thiếu xây dựng các quy trình kỹthuật để bảo đảm an toàn đối với người bệnh; thiếu bảng kiểm cho hoạt động giámsát quá trình thực hiện kỹ thuật; thiếu đầu tư trang thiết bị cho hoạt động an toànđối với người bệnh; thiếu hoạt động huấn luyện về an toàn đối với người bệnh chonhân viên;

1.3.1.2 Từ phía nhân viên y tế:

- Đa số chưa qua các khóa huấn luyện về an toàn đối với người bệnh

Trang 10

- Không tuân thủ đúng quy trình, quy định về an toàn đối với người bệnh củabệnh viện khi thực hiện các kỹ thuật.

- Kỹ năng thực hành còn hạn chế

1.3.2 Nguyên nhân khách quan:

1.3.2.1 Từ phía cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và nhân viên y tế:

- Tình trạng quá tải người bệnh tại một số cơ sở khám, chữa bệnh

- Thiếu đội ngũ cán bộ y tế, đặc biệt là đội ngũ y tế chuyên sâu

- Môi trường làm việc không thuận lợi gây xao lãng, thiếu tập trung

- Trang thiết bị y tế thiếu thốn, không đồng bộ, cũ kỹ

- Việc trao đổi thông tin giữa người bệnh, nhân viên y tế và người quản lýcòn nhiều hạn chế

- Còn áp dụng những phương pháp chẩn đoán và điều trị có mức an toànhẹp

- Bất cứ một can thiệp điều trị nào cũng luôn tiềm ẩn 2 mặt lợi và hại

1.3.2.2 Từ phía người bệnh:

Những yếu tố về đặc điểm của người bệnh như cơ địa, sức đề kháng khácnhau cũng là điều kiện thuận lợi để sự cố y khoa xảy ra

1.4 TẦN SUẤT VÀ XU HƯỚNG SỰ CỐ Y KHOA

Các nghiên cứu sự cố y khoa không mong muốn của các quốc gia tiên phongđược đăng tải trên các Tạp chí y học của Mỹ, Canada, Úc, Anh quốc, Hà lan vàViệt Nam được tổng hợp trong các bảng dưới đây

1.4.1 Tần suất sự cố y khoa

Bảng 1.1 Tổng hợp sự cố y khoa tại các nước phát triển [12]

Nghiên cứu Năm Số NB NC Số sự cố Tỷ lệ (%)

Ghi chú: * Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Úc;

** Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Mỹ.

Trang 11

Các nghiên cứu về tần suất sự cố y khoa của các quốc gia tiên phong đã bắtđầu từ những năm 2000, các nghiên cứu đều sử dụng phương pháp hồi cứu trênbệnh án và giống nhau về tiêu chí đánh giá cho thấy tần suất sự cố y khoa từ 3,7%-16,6% người bệnh nhập viện[12] Các nghiên cứu so sánh áp dụng cùng phươngpháp của Mỹ và của Úc cho thấy tần suất sự cố y khoa trong khoảng từ 5,4% -10,6%[16][17] Viện nghiên cứu y học Mỹ hồi cứu 30.195 bệnh án đã công bố tỷ lệngười bệnh nhập viện gặp sự cố y khoa là 3,7% [15] Các chuyên gia y tế Mỹ ướctính ít nhất có 44.000 – 98.000 người bệnh tử vong trong các bệnh viện của Mỹhàng năm do các sự cố y khoa Số người chết vì sự cố y khoa trong các bệnh việncủa Mỹ cao hơn tử vong do tai nạn giao thông, Ung thư vú, tử vong do HIV/AIDS

là ba vấn đề sức khỏe mà người dân Mỹ quan tâm hiện nay[16][17] [18][19]

Nghiên cứu về chất lượng chăm sóc y tế của Úc (1994) do Bộ Y tế và dịch

vụ con người tiến hành (1994) đã công bố tần suất sự cố y khoa đối với các bệnhnhân nhập viện tại các bệnh viện của Úc là 16,6%[17]

Nghiên cứu sự cố y khoa trong các bệnh viện Anh Quốc ghi nhận tần suấtngười bệnh gặp sự cố y khoa chiếm 10,8% người bệnh nhập viện và một nửa sự cố

Nghiên cứu tại New Zealand (1998) trên tổng số 6.579 bệnh án của 13 bệnhviện đại diện công bố tần suất sự cố y khoa 6,3% Trong đó, >50% liên quan tớingười bệnh có phẫu thuật và gần 50% sự cố có thể phòng ngừa, sự cố y khoa do lỗi

hệ thống có thể phòng ngừa chiếm 50%[12]

Trang 12

Bảng 1.2 Nhiễm trùng bệnh viện tại một số bệnh viện Việt Nam

Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (6BV phía Nam) 2005 5,6

Trần Hữu Luyện Giám sát NKVM của 1000 NB có

Lê Thị Anh Thư Giám sát VPBV liên quan thở máy

Nguồn: Báo cáo KSNK Bộ Y tế / Bệnh viện Bạch mai tổ chức năm 2005,

2008, 2012

Nhiễm khuẩn bệnh viện trong các bệnh viện của Việt Nam qua các báo cáo

đã được đăng trên các tạp chí y học ghi nhận NKBV hiện mắc từ 5,4% – 8% ngườibệnh nội trú, NKVM trên những người bệnh có phẫu thuật chiếm từ 2,5% – 8,45%

và viêm phổi bệnh viện trên các người bệnh có thở máy từ 40% – 50%[1][7]

Nghiên cứu tổng quan của John T Jame đăng trên Tạp chí LippincottWilliam & Wilkin sử dụng Bộ công cụ đánh giá sự cố y khoa của Viện cải thiệnchăm sóc y tế – Mỹ “Global Trigger Tool of the Institute for HealthcareImprovement” ước tính thấp nhất 210.000 tử vong hàng năm liên quan tới sự cố ykhoa so với nghiên cứu của Viện y học Mỹ (Institute of Medicine) năm 1999 ướctính hàng năm có tới 98.000 người tử vong liên quan tới sự cố y khoa[12]

Một nghiên cứu hồi cứu trên 11.883 bệnh án của Hà Lan tại 20 bệnh viện,trong đó có 7.787 bệnh án (2004) và 3.966 bệnh án (2008) công bố tỷ lệ sự cố ykhoa tăng từ 4,1% (2004) lên 6,2% (2008), sự cố y khoa đối với người bệnh ngoạikhoa tăng lên và chiếm tỷ lệ > 50% các sự cố Các tác giả đều nhận định sự cố ykhoa mang tính bền vững, sự cố y khoa là vấn đề rất khó để tạo tác động thay đổi

và cần thiết vận động người bệnh tham gia vào quá trình làm giảm sự cố y khoa[12]

Trang 13

Báo cáo y tế lần thứ 9 của Bang Minisota – Mỹ (1.2013) ghi nhận năm 2012

có nhiều sự cố y khoa hơn các năm trước, bình quân mỗi tháng có 26,1 sự cố, 28%các sự cố y khoa gây hậu quả cho người bệnh và 4% sự cố y khoa dẫn đến chếtngười; Các sự cố liên quan tới phẫu thuật sai phương pháp, sai vị trí vẫn có xuhướng tăng nhẹ [12]

Ngoài ra, xu hướng tranh chấp trong khám chữa bệnh giữa một bên là người

sử dụng dịch vụ y tế và người cung cấp hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ y tế ngày cànggia tăng

1.5 PHÂN LOẠI SỰ CỐ Y KHOA

Tùy theo mục đích sử dụng mà có các cách phân loại sự cố y khoa khácnhau Các cách phân loại hiện tại bao gồm: Phân loại theo nguy cơ đối với ngườibệnh, phân loại theo báo cáo bắt buộc và phân loại theo đặc điểm chuyên môn

Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại đối với người bệnh

Theo kinh nghiệm của một số nước, sự cố y khoa được phân loại theo cáccách khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng Bao gồm phân loại theo mức độnguy hại của người bệnh, theo theo tính chất nghiêm trọng của sự cố làm cơ sở để

đo lường và đánh giá mức độ nguy hại cho người bệnh [15]

Bảng 1.3 Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại Mức

Mức độ nguy hại

A Sự cố xảy ra có thể tạo ra lỗi/sai sót

Không nguyhại cho NB

B Sự cố đã xảy ra nhưng chưa thực hiện trên NB

C Sự cố đã xảy ra trên NB nhưng không gây hại

D Sự cố đã xảy ra trên NB đòi hỏi phải theo dõi

E Sự cố xảy ra trên NB gây tổn hại sức khỏe tạm

thời đòi hỏi can thiệp chuyên môn

Nguy hại choNB

F Sự cố xảy ra trên NB ảnh hưởng tới sức khỏe hoặc

kéo dài ngày nằm viện

G Sự cố xảy ra trên NB dẫn đến tàn tật vĩnh viễn

H Sự cố xảy ra trên NB phải can thiệp để cứu sống

NB

I Sự cố xảy ra trên người bệnh gây tử vong

Nguồn: NCC MERP Index, Medication Errors Council Revises and

Expended Index for categorizing Errors, June 12,2001.

Danh mục các sự cố y khoa cơ sở y tế phải báo cáo

Trang 14

Bảng 1.4 Danh mục các sự cố y khoa nghiêm trọng phải báo cáo

I Sự cố liên quan đến quản lý người bệnh

1 Người bệnh nội trú nhưng gặp sự cố y khoa ở ngoài bệnh viện

2 Người bệnh tự tử hoặc di chứng nghiêm trọng do tự tử

3 Giao nhầm trẻ sơ sinh

II Sự cố liên quan đến thuốc, điều trị và thiết bị

4 Sử dụng thuốc bị nhiễm khuẩn, quá hạn

5 Sử dụng các thiết bị hỏng/ thiếu chính xác trong điều trị và chăm sóc

6 Đặt thiết bị gây tắc mạch do không khí

7 Không chỉ định xét nghiệm, CĐHA dẫn đến xử trí không kịp thời

8 Tai biến do thực hiện các thủ thuật

III Sự cố liên quan đến chăm sóc

9 Dùng nhầm thuốc

10 Truyền nhầm nhóm máu hoặc sản phẩm của máu

11 Người bệnh bị ngã trong thời gian nằm viện

12 Người bệnh bị loét do tỳ đè trong khi nằm viện.

13 Tai biến do tiêm truyền

14 Người bệnh tử vong hoặc di chứng nghiêm trọng do hạ đường huyết nội viện

15 Người bệnh tử vong hoặc di chứng nghiêm trọng (vàng da nhân) do tăng bilirubinmáu ở trẻ sơ sinh nội viện

16 Người bệnh tử vong hoặc di chứng nghiêm trọng do tập vật lý trị liệu

IV Sự cố do phẫu thuật

17 Phẫu thuật nhầm vị trí trên người bệnh

18 Phẫu thuật nhầm người bệnh

19 Phẫu thuật sai phương pháp trên người bệnh

20 Để sót dụng cụ, gạc… khi làm phẫu thuật, thủ thuật cho người bệnh

21 Tử vong trong hoặc ngay sau khi phẫu thuật thường quy

V Sự cố do môi trường

22 Bị shock do điện giật trong khi điều trị tại bệnh viện

23 Bị bỏng trong khi điều trị tại bệnh viện

24 Cháy nổ oxy, bình ga, hóa chất độc hại trong khi điều trị tại bệnh viện

VI Sự cố liên quan đến tội phạm

25 Do nhân viên y tế chủ định gây sai phạm

26 Bắt cóc, mất tích người bệnh

27 Lạm dụng tình dục đối với người bệnh trong bệnh viện

28 Giả mạo nhân viên y tế điều trị cho người bệnh

Phân loại sự cố y khoa theo đặc điểm chuyên môn

Hiệp hội an toàn người bệnh Thế giới phân loại sự cố y khoa theo 6 nhóm sự

Trang 15

cố gồm:

1) Nhầm tên người bệnh

2) Thông tin bàn giao không đầy đủ

3) Nhầm lẫn liên quan tới phẫu thuật

4) Nhầm lẫn liên quan tới các thuốc có nguy cơ cao

5) Nhiễm trùng bệnh viện

6) Người bệnh ngã

1.6 HẬU QUẢ CỦA SỰ CỐ Y KHOA

Hậu quả về sức khỏe: hậu quả của các sự cố y khoa không mong muốn làmtăng gánh nặng bệnh tật, tăng ngày nằm viện trung bình, tăng chi phí điều trị, làmgiảm chất lượng chăm sóc y tế và ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin đối với cán bộ y

tế và cơ sở cung cấp dịch vụ

Tại Mỹ (Utah- Colorado): các sự cố y khoa không mong muốn đã làm tăngchi phí bình quân cho việc giải quyết sự cố cho một người bệnh là 2262 US$ vàtăng 1,9 ngày điều trị/người bệnh[18] Theo một nghiên cứu khác của Viện Y học

Mỹ chi phí tăng $2595 và thời gian nằm viện kéo dài hơn 2,2 ngày/người bệnh[12]

Ở Australia hàng năm: 470 000 NB nhập viện gặp sự cố y khoa, tăng 8%ngày điều trị (thêm 3,3 triệu ngày điều trị) do sự cố y khoa, 18000 tử vong, 17000tàn tật vĩnh viễn và 280000 người bệnh mất khả năng tạm thời [12]

Tại Anh: Bộ Y tế Anh ước tính có 850.000 sự cố xảy ra hàng năm tại cácbệnh viện Anh quốc, chỉ tính chi phí trực tiếp do tăng ngày điều trị đã lên tới 2 tỷbảng Bộ Y tế Anh đã phải sử dụng 400 triệu bảng để giải quyết các khiếu kiện lâmsàng năm 1998/1999 và ước tính phải chi phí 2,4 tỷ bảng Anh để giải quyết nhữngkiện tụng chưa được giải quyết Chi phí cho điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện lên tới

1 tỷ bảng Anh hàng năm Con số kiện tụng lên tới 38000 đối với lĩnh vực chăm sóc

y tế gia đình và 28000 đơn kiện đối với lĩnh vực bệnh viện[15]

Tại Nhật Bản, theo số liệu của tòa án, bình quân mỗi ngày người dân kiện vàđưa bệnh viện ra tòa từ 2-3 vụ Thời gian giải quyết các sự cố y khoa tại Nhật Bảntrung bình 2 năm/vụ khiếu kiện [12]

1.7 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI SỰ CỐ Y KHOA

Theo các nhà nghiên cứu, các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa gồm: Yếu tốngười hành nghề, yếu tố chuyên môn, yếu tố môi trường công việc và yếu tố liênquan tới quản lý và điều hành cơ sở y tế

1.7.1 Yếu tố con người

Trang 16

- Do thiếu tập trung khi thực hiện các công việc thường quy (bác sĩ ghi hồ sơbệnh án, điều dưỡng tiêm và phát thuốc cho người bệnh ) Các sai lầm này khôngliên quan tới kiến thức, kỹ năng của người hành nghề mà thường liên quan tới cácthói quen công việc

- Do quên (bác sĩ quên không chỉ định các xét nghiệm cấp để chẩn đoán,điều dưỡng viên quên không bàn giao thuốc, quên không lấy bệnh phẩm xétnghiệm, )

- Do tình cảnh của người hành nghề ( mệt mỏi, ốm đau, tâm lý, )

- Do kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp hạn chế áp dụng các quy địnhchuyên môn không phù hợp Tuy nhiên, trong một số trường hợp sự cố y khoakhông mong muốn xảy ra ngay đối với các thầy thuốc có kinh nghiệm nhất và đangtrong lúc thực hiện công việc chuyên môn có trách nhiệm với người bệnh

- Cắt xén hoặc làm tắt các quy trình chuyên môn

- Vi phạm đạo đức nghề nghiệp

1.7.1.3 Đặc điểm chuyên môn y tế bất định

- Bệnh tật của người bệnh diễn biến, thay đổi

- Y học là khoa học chẩn đoán luôn kèm theo xác suất

- Can thiệp nhiều thủ thuật, phẫu thuật trên người bệnh dẫn đến rủi ro vàbiến chứng bất khả kháng

- Sử dụng thuốc, hóa chất đưa vào cơ thể dễ gây sốc phản vệ, phản ứng

1.7.2 Môi trường làm việc nhiều áp lực

Môi trường vật lý (tiếng ồn, nhiệt độ, diện tích )

Môi trường công việc (quá tải, thiếu nhân lực, thiếu phương tiện ); Môitrường tâm lý (tiếp xúc với người ốm, tâm lý luôn căng thẳng…)

1.7.3 Quản lý và điều hành dây chuyền khám chữa bệnh

- Một số chính sách, cơ chế vận hành bệnh viện đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ

có thể làm gia tăng sự cố y khoa liên quan tới BHYT, tự chủ, khoán quản làm tăng

lạm dụng dịch vụ y tế

- Tổ chức cung cấp dịch vụ: Dây chuyền khám chữa bệnh khá phức tạp,

ngắt quãng, nhiều đầu mối, nhiều cá nhân tham gia trong khi hợp tác chưa tốt

- Thiếu nhân lực nên bố trí nhân lực không đủ để bảo đảm chăm sóc ngườibệnh 24 giờ/24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần Các ngày cuối tuần, ngày lễ việc chămsóc, theo dõi người bệnh chưa bảo đảm liên tục

- Đào tạo liên tục chưa tiến hành thường xuyên

Trang 17

- Kiểm tra giám sát chưa hiệu quả, thiếu khách quan.

Sơ đồ mô tả các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa

YẾU TỐ QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH

Chính sách, cơ chế vận hành, tổ chức cung cấp dịch vụ, bố trínguồn lực, đào tạo nhân viên và kiểm tra, giám sát

YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG NƠI LÀM VIỆC

Môi trường vật lý (ánh sáng, nhiệt độ, tiếng ồn, nơi làmviệc chật hẹp), quá tải công việc, áp lực tâm lý

YẾU TỐ CHUYÊN MÔN

Bệnh bất định, xác suất, dùng thuốc, phẫu thuật,

thủ thuật dễ gây phản ứng

YẾU TỐ NGƯỜI HÀNH NGHỀ

Kiến thức, kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp, sức

khỏe, tâm lý

Các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa

1.7.4 Phân tích nguyên nhân gốc

Mô hình phân tích nguyên nhân sự cố theo Reason J Cathey

SỰ CỐ XẢY RA

Trang 18

Mô hình các lớp hàng rào bảo vệ của hệ thống phòng ngừa sự cố y khoa Nguồn:

Reason J Carthey, Diagnosing vulnerable system sysdrome

Trong y tế, lỗi hoạt động (active errors) liên quan trực tiếp tới người hànhnghề vì họ ở lớp hàng rào phòng ngự cuối cùng trực tiếp với người bệnh Khi sự cốxảy ra người làm công tác khám chữa bệnh trực tiếp (bác sĩ, điều dưỡng, hộsinh…) dễ bị gán lỗi Tuy nhiên, các yếu tố hệ thống (latent factors) có vai trò rấtquan trọng liên quan tới các sự cố đó là công tác quản lý, tổ chức lao động, môitrường làm việc, và thường ít được chú ý xem xét về sự liên quan Các nhà nghiêncứu nhận định cứ có một lỗi hoạt động thường có 3-4 yếu tố liên quan tới lỗi hệthống

1.7.5 Lợi ích của việc phân tích nguyên nhân gốc

Việc phân tích xác định nguyên nhân gốc không chỉ đơn giản là tìm kiếm lỗi

cá nhân mang tính triệu chứng mà phải loại bỏ các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn gián tiếpthúc đẩy sự cố xảy ra Việc phân tích nguyên nhân gốc và thực hiện các hành độngkhắc phục được coi là quá trình cải tiến liên tục của cơ sở y tế

Những yếu kém trong việc tìm hiểu nguyên nhân gốc của các sự cố y khoadẫn đến việc mặc dù sự cố y khoa đã tồn tại từ lâu nhưng hệ thống y tế chưa cóđược bức tranh dịch tễ về sự cố y khoa để có phương sách đối phó hiệu quả Cácnhà nghiên cứu đã đưa ra Hội chứng hệ thống suy yếu của tổ chức (VulnerableSystem Syndrome) Hội chứng này có ba nhóm triệu chứng chính là: (1) Đổ lỗicho cá nhân trực tiếp (bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh ); (2) Phủ nhận sự tồn tại cácđiểm yếu của lỗi hệ thống; (3) Theo đuổi mù quáng các chỉ số tài chính, lạm dụngcác chỉ định chuyên môn

1.8 MỤC TIÊU CỦA VIỆC XỬ LÝ CẦN ĐẠT ĐƯỢC KHI CÓ SỰ CỐ

Y KHOA XẢY RA:

Trang 19

1.8.1 Duy trì hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở khám bệnh, chữabệnh nơi xảy ra sự cố y khoa nhằm đảm bảo triển khai công tác chăm sóc sức khoẻcho nhân dân trên địa bàn đồng thời khẩn trương triển khai các giải pháp cụ thểnhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự cố y khoa xảy ra trongtương lai.

1.8.2 Xác định nguyên nhân của sự cố y khoa để có các phương án giảiquyết hợp pháp, hợp lý và đôi khi hợp tình

1.8.3 Đảm bảo giải quyết thoả đáng nhất các khiếu kiện của bệnh nhân,người nhà bệnh nhân trên cơ sở thoả thuận, thương thuyết là chính nhưng phải đảmbảo phù hợp với quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong khiếu kiện

1.9 ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU, KẾ HOẠCH GIẢI QUYẾT CẦN TẬP TRUNG VÀO NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH SAU:

1.9.1 Các nội dung cần triển khai ngay sau khi sự cố y khoa xảy ra:

a) Tổ chức, củng cố và duy trì hoạt động của khoa, phòng có liên quan đến

sự cố nhằm đảm bảo hoạt động liên tục không bị gián đoạn, ngừng hoạt động saukhi xảy ra sự cố

b) Cung cấp thông tin về sự cố:

- Họp toàn bệnh viện, khoa, phòng, bộ phận xảy ra sự cố để chuyển tải thôngtin chính thống về sự cố đến mọi người để tránh dư luận không đúng gây ảnhhưởng đến uy tín của cán bộ y tế và đơn vị có liên quan đến sự cố

- Cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác cho các cơ quan thông tinđại chúng để phản ánh đúng về sự cố xảy ra, giảm thiểu tác hại đến uy tín của cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh

c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thành lập Hội đồng chuyên môn để xác địnhnguyên nhân sự cố y khoa theo Điều 74, 75 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh.Trong trường hợp vượt quá khả năng thì Sở Y tế sẽ thành lập hoặc đề nghị Bộ Y tếthành lập Hội đồng chuyên môn để xác định nguyên nhân sự cố y khoa.Việc chọn phương án giải quyết các sự cố y khoa phụ thuộc chủ yếu vào kết luậncủa Hội đồng chuyên môn được thành lập theo sau sự cố y khoa Các tình huống

có thể xảy ra là:

- Kết luận của Hội đồng chuyên môn lỗi do hệ thống, quy trình khám bệnh,chữa bệnh không đảm bảo Trong trường hợp này trách nhiệm chính thuộc về thủtrưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Phương án giải quyết trong trường hợp này cótính tổng thể, cần nhiều thời gian để khắc phục Thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữabệnh nơi xảy ra sự cố cần:

+ Thành lập đoàn công tác để chủ động gặp gỡ bệnh nhân, người nhà bệnhnhân xin lỗi, động viên, an ủi, chia sẻ mất mát của gia đình bệnh nhân; hỗ trợ chi

Trang 20

phí mai táng, giải quyết các khó khăn trước mắt cho gia đình bệnh nhân; giải thíchcác nội dung có liên quan đến nguyên nhân xảy ra sự cố.

+Thỏa thuận mức đền bù thiệt hại cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân.Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã mua bảo hiểm trách nhiệm trong khámbệnh, chữa theo quy định tại Nghị định số 102/2011/NĐ-CP ngày 14/11/2011 củaChính phủ về bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh thì mức đền bùthiệt hại do Doanh nghiệp bảo hiểm chi trả theo hợp đồng được ký kết với cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa tham giabảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnhcần thương thuyết với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về mức đền bù thiệt hại

+ Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cũng có thể nhờ một tổ chức trung gian đứng

ra thương thuyết với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về việc đền bù các thiệt hại.Đây là phương án dễ đạt được thỏa thuận với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân

- Hội đồng chuyên môn xác định lỗi do sai sót chuyên môn của cán bộ y tế.Phương án giải quyết trong trường hợp này tùy thuộc vào lỗi nhẹ, nặng hay nghiêmtrọng mà có hình thức xử lý phù hợp, như: phê bình, nhắc nhở chấn chỉnh nhằm rútkinh nghiệm; xử lý kỷ luật; thu hồi chứng chỉ hành nghề; truy cứu trách nhiệmhình sự, Trong trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa tham gia bảo hiểmtrách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh thì việc đền bù thiệt hại cho bệnh nhân,người nhà bệnh nhân trong tình huống này do cán bộ y tế gây ra sai sót chuyênmôn chịu trách nhiệm Cán bộ y tế cần thương thuyết với bệnh nhân, người nhàbệnh nhân mức đền bù thiệt hại Việc đền bù thiệt hại trong nhiều trường hợp làkhó đạt được thỏa thuận với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, quá khả năng về tàichính, tinh thần của cán bộ y tế Do vậy, trong tình huống này, cơ sở khám bệnh,chữa bệnh cũng cần có những hỗ trợ cho cán bộ y tế về mặt vật chất, động viêntinh thần để họ có thể “gượng dậy” sau sự cố và có thể tiếp tục hành nghề

- Hội đồng chuyên môn xác định không có sai sót trong chuyên môn.Phương án xử lý trong trường hợp này là khó nhất, khó đạt được thỏa thuận giữacác bên Phương án giải quyết chủ yếu là thương thuyết giữa cơ sở khám bệnh,chữa bệnh với người bệnh, người nhà bệnh nhân nhằm đảm bảo hài hòa những mấtmát của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, tránh khiếu kiện kéo dài

- Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc cán bộ y tế không thể đạtđược thỏa thuận với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về nội dung khiếu kiện, bồithường thiệt hại cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân thì phương án cuối cùng làyêu cầu tòa án dân sự giải quyết nội dung khiếu kiện

1.9.2 Các nội dung cần triển khai lâu dài để hạn chế xảy ra sự cố y khoa trong tương lai:

a) Khắc phục lỗi hệ thống:

Ngày đăng: 23/03/2019, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Hà (2005), “Giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện tại 6 tỉnh phía Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện tại 6 tỉnhphía Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Năm: 2005
12. Bộ Y Tế - Cục Quản Lý Khám chữa Bệnh, "Tài liệu đào tạo liên tục An toàn người bệnh" NXB Y học năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo liên tục Antoàn người bệnh
Nhà XB: NXB Y học năm 2014
15. Department of health and Human Services-USA. “Adverse Event in hospitals: national Incidents among Medicare the beneficiaries”. Daniel R levinson, Inspector Genral Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Adverse Event inhospitals: national Incidents among Medicare the beneficiaries”
2. Nguyễn Thị Thanh Hương (2016), " Khảo sát thái độ, kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh đối với sự cố y khoa không mong muốn tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, năm 2016 Khác
3. Nguyễn Thị Cẩm Lệ (2007), Quản lý ATBN trong việc chăm sóc của ĐD, Hội thi sáng tạo và nghiên cứu khoa học ĐD Bệnh viện Nhi Đồng I, trg 1-4 Khác
4. Nguyễn Thị Mỹ Linh (2010), Khảo sát sự cố y khoa không mong muốn của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực (ĐKKV) Cai Lậy 2008-2010 Khác
6. Phạm Thành Nhơn, Khảo sát sự cố y khoa không mong muốn và một số nguy cơ xảy ra sự cố y khoa không mong muốn của Điều dưỡng tại Bệnh viện Quân Y 109 năm 2015 Khác
7. Mai Thị Tiết. Giám sát NKVM của 810 người bệnh có phẫu thuật tại bệnh viện đa khoa Đồng Nai. Tạp Chí y học thực hành (2014), số 904: 53-56 Khác
8. Lương Văn Toản (2015), Sự cố y khoa không mong muốn và giải pháp hoàn thiện quy trình kỹ thuật của điều dưỡng Bệnh viện Quân y 7B/Quân khu 7 năm 2015 Khác
9. Võ Thị Thanh (2015), Khảo sát một số sự cố y khoa không mong muốn của điều dưỡng, hộ sinh tại bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức năm 2015 Khác
10. Nguyễn Văn Thắng( 2016), Khảo sát sự cố y khoa không mong muốn liên quan đến hoạt động của điều dưỡng tại bệnh viện 74 Trung Ương Khác
11. Lê Thị Anh Thư (2012), Tình hình báo cáo sự cố tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2011 và 2012 Khác
13. Phòng Quản lý Chất lượng - BVĐK tỉnh Bắc Giang, Báo cáo tổng kết sự cố y khoa giai đoạn 01/2017 – 09/2017 Khác
14. Phòng Quản lý Chất lượng - BVĐK tỉnh Thái Bình, Báo cáo tổng kết sự cố y khoa giai đoạn 01/2017 – 09/2017 Khác
16. Results of Harvard Medical Practice Study II. New England Journal of Medicine, 1991,323:377.384 Khác
17. Wilson, R.M., Runciman W.B., Gibberd R.w., Newby,L., & Hamilton, J.D. (1995). The quality in Austrailia health care Study. The medical Journal of Australia,163 (9), 458-471 Khác
18. WHO (2011). Patient Safety curriculum guide. Multi-professional Edition,2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w