Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc tới ông Đỗ Phủ trong một văn bản quan trọng thể hiện sự kính trọng đối với ông, thể hiện sự ngưỡng mộ và hiểu biết sâu sắc của Người đối với nền thơ Đường[r]
Trang 1Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi hào
Nguyễn Du với nhà thơ Đỗ Phủ
Đinh Quang Tốn
Trong các nhà thơ nổi tiếng của lịch sử văn hóa Trung Hoa, tên tuổi nhà thơ Đỗ Phủ được nhân dân Việt Nam biết đến nhiều hơn cả Đặc biệt người Việt Nam càng thêm yêu mến Đỗ Phủ khi ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong đoạn mở đầu của Di chúc
“Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “người thọ 70 xưa nay hiếm” Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là “lớp người xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây Khi người ta đã ngoài 70 tuổi, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp Điều đó cũng không có gì lạ”
Thực ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến Đỗ Phủ với một câu thơ của ông chỉ để làm cớ dẫn dắt lý
do viết bản Di chúc Nhưng đối với một vĩ nhân, việc nhắc đến ai trong giờ phút quan trọng thường
là có duyên cớ đặc biệt ở bên trong với một sự lôgic sâu sắc mà phải có những công trình nghiên cứu thật khoa học mới có thể lý giải hết
Khi nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tôi đặc biệt chú ý đến hai chi tiết, cũng có thể gọi là hai
sự kiện, ấy là việc Người nhắc đến ông Đỗ Phủ trong Di chúc và việc Người nhắc đến bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ để mở đầu trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1945
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc tới ông Đỗ Phủ trong một văn bản quan trọng thể hiện sự kính trọng đối với ông, thể hiện sự ngưỡng mộ và hiểu biết sâu sắc của Người đối với nền thơ Đường, nền văn hóa Trung Hoa; nhưng cũng thể hiện sự tương đồng sâu sắc giữa tâm hồn hai nhà thơ
Những giá trị hiện thực của tập thơ “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhà thơ lớn Trung Quốc Quách Mạt Nhược đã ví như “những bài Đường thi tuyệt tác” rất gần gũi với thơ Đỗ Phủ ở giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo
Nhà thơ Đỗ Phủ sinh năm 712 ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc Đỗ Phủ lớn lên khi xã hội phong kiến đời Đường đạt tới sự phồn thịnh Tuy sống trong gia đình quan lại sa sút nhưng ông thông minh học giỏi, mười lăm tuổi đã nổi tiếng về văn chương
Hai mươi tuổi ông bắt đầu vừa giao du vừa làm thơ qua nhiều vùng đất Mười năm trời sống ở Trường An ông đã chứng kiến bao sự nhiễu nhương, thối nát của xã hội phong kiến và mới nhận được một chức quan nhỏ “hữu vệ soái phủ vị tào tham quân” tức là chức quan quản lý kho quân giới
Thi hào Đỗ Phủ trong Quốc hoạ của Trung Quốc
Trang 2Rồi giặc giã nổi lên, nhà thơ phải chạy loạn qua nhiều vùng đất, chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân Bản thân nhà thơ cũng đói rét khổ cực, bệnh tật và mất trong nghèo khó vào năm 770 ở đất khách quê người
Nhưng đó cũng là những năm tháng cho nhà thơ viết được nhiều bài thơ có giá trị hiện thực và nhân đạo lớn nhất của ông Ông được người đời tôn là “Thi thánh”
Câu thơ “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong Di chúc nằm trong bài thơ “Khúc giang II”, được Đỗ Phủ viết năm 757 ở Tràng An
Khúc giang II
Triều hồi nhật nhật điển xuân y
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Hữu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện
Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
Tạm thời tương thưởng, mạc tương vi.
Dịch thơ
Bên sông II
Khỏi bệ vua ra, cố áo hoài
Bến sông say khướt, tối lần mai
Nợ tiền mua rượu đâu không thế?
Sống bảy mươi năm đã mấy người?
Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn
Chuồn chuồn giỡn nước lửng lơ chơi
Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi
Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài
(Tản Đà dịch)
Trong hàng nghìn năm chế độ phong kiến Việt Nam, tuy có thời gian dài độc lập về chính trị và văn hóa nhưng ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa là rất lớn Các nhà văn Việt Nam nhiều thế hệ đã biết đến Đào Uyên Minh, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha từ lâu
Trang 3Những đồng cảm, giao lưu, ảnh hưởng và học hỏi là có sự giao thoa và sáng tạo Tôi đặc biệt chú ý
sự tâm đắc của thi hào Nguyễn Du với nhà thơ Đỗ Phủ So sánh thì thấy hai ông có những sự tương đồng rất lớn Có thể nói Đỗ Phủ và Nguyễn Du là hai đỉnh cao nhất của thơ ca hiện thực của hai dân tộc