1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ sơn thủy của vương duy

217 41 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Với đối tượng là thơ sơn thủy Trung Quốc, phạm vi khảo sát là những bài thơ của những nhà thơ quan trọng trong trường phái thơ Sơn thủy đã được dịch và giới thiệu tro

Trang 1

***********

TRẦN THỊ DIỆU HIỀN

THƠ SƠN THỦY CỦA VƯƠNG DUY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

Mã số: 60220245

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN ĐÌNH PHỨC

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Hai năm của chương trình Cao học không quá dài cho những chuyên đề và hoàn thành luận văn, nhưng cũng không quá ngắn để thấy chương trình học là dễ dàng, nhất là đối với những học viên – người đã trải qua bốn năm Đại học và hai năm Cao học liên tiếp nhau Những ngày đầu tìm hiểu nghiên cứu, những khó khăn trong thực hiện đề tài, những ưu tư về học thuật, những trăn trở trong đời sống không dễ gì có thể vượt qua nếu không có những tấm lòng đã luôn đồng hành cùng học viên

Xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Đình Phức - người thầy đã dạy dỗ, động viên tôi vào con đường nghiên cứu từ trên giảng đường đại học; người thầy nhiệt tình trong hướng dẫn đề tài luận văn và tạo điều kiện cho tôi tự lực nghiên cứu

Xin cảm ơn quý thầy cô Khoa Văn học Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học

Xã hội Nhân văn đã tạo nên môi trường học tập nghiêm túc, tinh thần trách nhiệm

và điều kiện để tôi vững bước trên con đường học tập

Xin cảm ơn các anh chị, các bạn đã đồng hành và san sẻ với tôi những vấn đề

từ trên giảng đường học thuật đến suy tư về cuộc sống

Lời cuối cùng xin gửi đến cha mẹ và gia đình niềm thương yêu vô hạn đã chở che và chắp cánh cho tôi được thênh thang đi trên con đường chữ nghĩa

Người viết Trần Thị Diệu Hiền

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ VƯƠNG DUY VÀ TRƯỜNG PHÁI THƠ SƠN THỦY

1.2.1 Vương Duy trong bối cảnh thời đại Thịnh Đường 56

CHƯƠNG 2

BA BỨC TRANH TRONG THƠ SƠN THỦY VƯƠNG DUY

Trang 4

2.1.2 Không gian tống biệt 75

VÀ NGÔN NGỮ THƠ VƯƠNG DUY

Trang 5

PHẦN DẪN NHẬP

1 Lí do chọn đề tài

1 Trung Quốc là đất nước của thi ca Các nhà thơ qua các triều đại không những kế thừa truyền thống mà còn tích cực thúc đẩy, mở đường cho sự phát triển không ngừng cả về sáng tác cũng như lí luận Trong thực tiễn sáng tác đó, dần dần

họ đã phát triển các thể tài, hình thức, lập ra nhiều trường phái và tạo nên nhiều phong cách thơ tiêu biểu Đến thời Đường, thơ ca đã định hình về mặt hình thức, các trường phái thơ phân chia theo đề tài Ví như phái Lãng mạn (Lí Bạch, Lý Hạ,…), phái Hiện thực (Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,…), phái Biên tái (Cao Thích, Sầm Tham,…), phái Sơn thủy (Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy,…)… Trong đó, phái thơ Sơn thủy đã góp một phần đáng kể vào thành tựu chung của thơ ca Trung Quốc Loại thơ này không chỉ để lại những tên tuổi lớn mà với số lượng tác phẩm còn lại,

đủ tái hiện một hệ hình tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật đặc sắc của đất nước Trung

Hoa

Thơ ca Trung Quốc nói chung và thơ Sơn thủy nói riêng trở thành đối tượng nghiên cứu vô cùng phong phú và chứa nhiều bí ẩn Hàng loạt các công trình nghiên cứu công phu từng được giới thiệu rộng rãi đến người đọc chuyên về nghiên cứu và

cả cho người đọc thưởng thức Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu quá lớn, đòi hỏi

sự tổng hợp, phân tích đứng trên nhiều bình diện, nên nhiều đề tài nghiên cứu trong

và ngoài nước vẫn chưa thể khai thác hết được những giá trị trên nhiều mặt của thể tài thơ Sơn thủy này Nhất là có quá nhiều ý kiến đánh giá trái chiều, gây khó khăn cho người tiếp nhận cũng như chưa đánh giá đúng vị trí, giá trị tác phẩm thơ Sơn thủy trong nền văn học Trung Quốc Ở Việt Nam, thực sự chưa có nhiều nghiên cứu một cách hệ thống, chủ yếu là các công trình văn học sử Trung Quốc, nhưng phần lớn đều là bản được dịch lại từ các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc

Người viết quyết định chọn vấn đề thơ Sơn thủy Vương Duy nhằm đi sâu nghiên cứu về sự hình thành phát triển dòng thơ Sơn thủy Sau đó, đi vào đối tượng

cụ thể là thơ Sơn thủy Vương Duy để tìm hiểu về đặc điểm, quan niệm và giá trị thơ văn của nhà thơ Vương Duy – người đứng đầu trường phái thơ Sơn thủy Kết quả nghiên cứu sẽ cho người viết cái nhìn thấu suốt hơn về đối tượng cũng như sự vận động phát triển của văn học cổ điển Trung Quốc

Trang 6

2 Như đã đề cập, đối với vấn đề nghiên cứu một tác giả đỉnh cao Vương Duy đặt trong nền thơ Sơn thủy Trung Quốc, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam còn rất mỏng, sơ lược trong một vài bài viết và chủ yếu cũng là kế thừa những nhận định của tiền nhân Vì lẽ đó, vấn đề chẳng những không được làm sáng tỏ, cơ sở đặt

ra cũng chưa chặt chẽ làm cho vấn đề văn học tưởng đã cũ nhưng vẫn chưa thấu triệt, tưởng có nhiều nhưng vẫn chưa đủ Trong khi đó, nghiên cứu văn học Trung đại Việt Nam đang đặt ra những vấn đề văn học so sánh rất hấp dẫn giữa thơ Sơn thủy Việt Nam và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Nếu không được nhìn một cách toàn diện một vấn đề đã cũ, một vấn đề mang tính cơ sở, một vấn đề có giá trị ảnh hưởng rộng lớn thì làm sao có thể nhìn nhận ra được những giá trị mới, những giá trị kế thừa và giá trị tự thân của mỗi nền văn học khi đem ra so sánh? Việc chọn thực hiện đề tài này sẽ giúp người viết học tập được kinh nghiệm nghiên cứu, cách triển khai, giải quyết vấn đề khoa học văn học và thưởng thức nghệ thuật Bên cạnh

đó, một kinh nghiệm sâu lắng hơn đối với người viết chính là sự suy tư, trăn trở đi tìm sự lí giải những vấn đề đang còn bỏ ngỏ

3 Luận văn chọn đi vào tìm hiểu về thơ Sơn thủy Vương Duy với đề tài thiên nhiên, phong cảnh, kết hợp thơ với nhạc và hoạ, cũng là cơ hội được thấy một bức tranh bình yên, một bản nhạc trầm lắng và một tư tưởng thanh thoát, quả thật là điều vô cùng thú vị

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Thứ nhất, khái lược thành tựu thơ Sơn thủy Trung Quốc trong tiến trình phát triển từ cổ đại đến trung đại Tất cả các nhà thơ, các tác phẩm nằm trong thể tài này đều là đối tượng nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, số lượng tác phẩm thuộc thể tài này sẽ rất lớn, vì thế, đề tài chỉ chọn lọc những tác phẩm, tên tuổi tiêu biểu có ảnh hưởng đến quá trình vận động, phát triển để khái quát thành vấn đề chung của dòng thơ này

Thứ hai, đề tài đi sâu vào phân tích các bài thơ Sơn thủy của Vương Duy được chọn lọc từ hơn 400 bài thơ của ông để thấy được đặc điểm thơ Sơn thủy Vương Duy

Phạm vi nghiên cứu

Với đối tượng là thơ sơn thủy Trung Quốc, phạm vi khảo sát là những bài thơ của những nhà thơ quan trọng trong trường phái thơ Sơn thủy đã được dịch và giới thiệu trong các tuyển tập thơ Trung Quốc ở Việt Nam

Trang 7

Với đối tượng thơ Sơn thủy của Vương Duy sẽ được khảo sát, dẫn, chú theo

nguyên bản trong tuyển tập thơ Vương Duy trong Toàn Đường thi, đồng thời có

tham cứu từ các bản tuyển chú khác, các công trình này đều được thống kê trong phần khảo về văn bản thơ Vương Duy ở chương 1 của luận văn

3 Lịch sử vấn đề

A Tình hình nghiên cứu tại Trung Quốc

Về đối tượng và phạm vi của đề tài mà nói, chính là chọn ra và giới hạn nghiên cứu về thơ Sơn thủy của Vương Duy chứ không phải toàn bộ thơ văn và các thành tựu trên các loại hình nghệ thuật khác của ông Nên ở đây, khi bàn về lịch sử vấn đề, người viết chỉ hướng trọng tâm vào mảng thơ Sơn thủy của Vương Duy - mảng thơ làm nên đặc trưng thi ca, tên tuổi và vị trí của ông trên thi đàn Trung Quốc và Quốc tế Về tên gọi thơ Sơn thủy, nhà nghiên cứu Cát Hiểu Âm nhận định:

"Trong phê bình văn học cổ đại thì nó không có tên gọi như vậy mà khái niệm này

(phái thơ Điền viên sơn thủy) được dùng trong văn học đương đại." [104, tr.349]

Thế nhưng Vương Duy lại là một nhà thơ được đánh giá và tiếp nhận toàn diện ngay trong thời đại của ông Mà những nhà nghiên cứu ngày nay đã chịu ảnh hưởng không ít từ những nhận định, phê bình đó

Thời kỳ Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh phê bình đánh giá Vương Duy:

Việc tiếp nhận Vương Duy chủ yếu chính là các tập tuyển trích, sưu tầm, ghi

chép thơ, qua đó thể hiện chủ ý của người tuyển Thời Đường, các tập thơ như Quốc

tú tập của Nhuế Đình Chương, Hà Nhạc anh linh tập và Đan Dương tập của Ân

Phan đều là những tuyển tập thơ có giá trị và có tiêu chí tuyển riêng Các tập thơ này đều đề cao Vương Duy, tuyển thơ của ông với tỷ lệ cao hơn so với các tác giả khác (Thôi Hiệu, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích, Trừ Quang Hy, Lí Bạch), đồng thời xem thơ Vương Duy là đại biểu phù hợp với tiêu chí thơ lấy nhã làm chính, nghệ thuật phong lưu uyển lệ và kết hợp với nhạc tính Ân Phan khi bình luận về thơ

Vương trong Hà Nhạc anh linh tập viết: "Thơ Vương Duy từ đẹp điệu nhã, ý mới lạ

mà lí thích đáng, trong suối thì biến thành ngọc, chạm vào vách thì phát thành hội họa, từng câu từng chữ đều phơi bày ra cảnh sắc đời thường." [102, tr.116]

Đến khi ông mất, em ông là Vương Tấn thừa lệnh vua Đại Tông Lí Dự chỉnh

lí, dâng lên Vương Duy văn tập, Đại Tông đánh giá con người cũng như thành tựu

văn chương của Vương Duy như sau: "Đứng đầu văn học thiên hạ, trong triều đại

trước, danh tiếng lừng lẫy Không thua Nhã thời Chu, học theo Sở từ, hòa hợp ôn

Trang 8

nhu đôn hậu toàn bài, âm luật đẹp đẽ, suối chảy hoa mĩ, mây bay ngụ tình, lời bình tán tôn xưng của thi gia đã phổ biến lâu rồi, người người ngâm đọc, tiếng thơm đọng lại khắp phòng văn, ca thì lấy Quốc phong, sánh ngang Nhạc Phủ Ta sau khi bãi triều, đêm đêm vẫn thường lật giở ra xem Lưu giữ lại trong các tàng các, dù (người) đã mất nhưng (thơ văn) còn mãi, thơ văn thù tặng ca xướng nay cũng mất nhiều rồi."1 [102, tr.117]

Thời Trung Đường, tiếp nhận Vương Duy kết hợp của cả thi lẫn những đánh

giá về họa của ông Phong Diễn trong Phong thị văn kiến kí quyển 5 nói rằng: "Thời

Huyền tông, Vương Duy đặc biệt tinh diệu sơn thủy, đạt đến cảnh giới cao nhất của

u nhã trầm lắng, trước thời nay chưa từng có" Đậu Cao trong ―Thuật thư phú‖ bình

về Vương Duy: "Hứng thơ nhập vào thiền, bút họa tinh thâm mạnh mẽ" Đậu Mông

nói thêm: "Hữu Thừa Vương Duy, làm thơ thông với Đại Nhã, sơn thủy tuyệt diệu, hơn cả Lý Tư Huấn"2 [102, tr.119]

Thời Nam Tống, Thương Lang thi thoại của Nghiêm Vũ đã hết sức đề cao

các thi sĩ Thịnh Đường, trong đó trực tiếp là các nhà thơ Sơn thủy để đưa ra quan điểm "dĩ thiền dụ thi"

Thời Thanh, Vương Sĩ Trinh dựa vào phong cách thơ thanh u đạm viễn của Vương - Mạnh mà đưa ra thuyết Thần vận, đề cao tính tự nhiên, hàm súc, ý vị sâu

xa của thơ Trong Đường hiền tam muội tập ông càng thể hiện sự tôn sùng thơ

Vương Duy

Vậy, phê bình và tiếp nhận Vương Duy thời cổ đại chính là sự tiếp nhận tổng hợp những thành tựu của ông trên cả thi, thư, nhạc, và họa "Sơn thủy" là cụm từ nói về đề tài trong thơ ông hay đúng hơn nó diễn tả về bút pháp hội họa của ông hơn là tên gọi của một trường phái thơ Sơn thủy mà ông đứng đầu Phê bình cổ đại không nói về trường phái thơ Sơn thủy mà đứng trên góc độ tiếp nhận, đánh giá về

1

Nguyên văn: "卿之伯氏,天下文宗,位历先朝,名高希代。抗行周雅,长揖楚辞,调六气于终编, 正五音于逸韵,泉飞藻思,云散襟情。诗家者流,时论旧美。诵于人口,久郁文房,哥以国风,宜

登乐府。旱朝之后,乙夜将观观。石室所藏,歨而不朽,柏梁之会,今也則亡。" (Khanh chi bá thị ,

thiên hạ văn tông , vị lịch tiên triều , danh cao hy đại , kháng hành Chu nhã , trường ấp Sở Từ , điệu lục khí

vu chung biên , chính ngũ âm vu dật vận , tuyền phi tảo tư , vân tản khâm tình thi gia giả lưu , thời luận cựu

mỹ tụng vu nhân khẩu , cửu uất văn phòng , ca dĩ Quốc Phong , nghi đăng Nhạc Phủ hạn triều chi hậu , ất

dạ tướng quan thạch thất sở tàng , Một nhi bất hủ , bá lương chi hội , kim dã tắc vong)

2 Nguyên văn: 封演《封氏闻见记》卷五说:―玄宗时,王维特妙山水,幽深之致,近古未有。‖窦臮

《述书赋》说王维:―诗兴入神,画笔雄精。‖窦蒙注说:―右丞王维……诗通大雅之作,山水之妙,

胜于李思训。"(Phong Diễn, Phong thị văn kiến kí, quyển ngũ thuyết: "Huyền tông thời, Vương Duy đặc

diệu sơn thủy, u thâm chi chí, cận cổ vị hữu." Đậu Cao "Thuật thư phú" thuyết Vương Duy: "Thi hứng nhập thiền, họa bút hùng tinh." Đậu Mông chú thuyết: "Hữu Thừa Vương Duy thi thông Đại Nhã chi tác, sơn thủy chi diệu, thắng vu Lý Tư Huấn.")

Trang 9

phong cách tác giả riêng biệt, sau đó mới sắp xếp ông vào nhóm những nhà thơ có phong cách tương cận như Mạnh Hạo Nhiên, Thường Kiến, Tổ Vịnh Điều này cho thấy, các nhà nghiên cứu cổ đại đã có sự đánh giá và phân loại rất cụ thể và dựa trên phong cách thơ của từng thi nhân Những đúc kết về đặc sắc thơ Vương Duy từ đẹp điệu nhã, đạt đến ôn nhu đôn hậu, lời thơ như suối, hình thơ như họa, thanh u trầm lắng chính là những đặc điểm quan trọng mà những nhà phê bình đương đại lấy làm tiêu chí khi đánh giá về thơ Vương Duy của trường phái thơ Sơn thủy

Thời kỳ Trung Quốc đương đại nghiên cứu về Vương Duy:

Thứ nhất, nằm trong công trình nghiên cứu về lịch sử văn học Trung Quốc (những công trình này được người viết tiếp cận qua bản dịch tiếng Việt)

Văn học sử Trung Quốc [61], Dịch Quân Tả Trong mục viết về Vương

Duy, nhà nghiên cứu đã điểm qua vài nét tiểu sử, phê bình thơ và trích tuyển một vài bài thơ đặc sắc của Vương Duy Nhưng những lời bình giá này có phần sơ lược

và không nhắc đến thơ Sơn thủy Vương Duy Ví dụ: ―Về thơ, ông tập trung thơ của mình về loại điền viên thi gọi là Võng Xuyên tập Về họa, ông là một họa sĩ có tài sáng tác phá mặc sơn thủy, là tổ phái Nam tông Vương Ngư Dương cùng xưng

tụng thơ của Vương Duy với Lý - Đỗ gọi là Đường hiền tam muội tập, khen chung

là thơ của Tiên - Thánh - Phật.‖ [61, tr.414]

Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc (tập 1) [62], sách do tập thể 74 tác giả Trung Quốc biên soạn Sách này là tài liệu được rút ra từ bộ sách Đại bách

khoa toàn thư Trung Quốc, phần văn học Trung Quốc Bộ sách được soạn bao gồm

nội dung sơ lược về văn học Trung Quốc từ văn học truyền miệng cổ xưa đến văn học Trung Quốc thời kỳ mới – thập niên 80 của thế kỷ XX

Đề cập đến nội dung thơ ca thời Thịnh Đường, các nhà phê bình đánh giá đây là thời kỳ thơ ca phát triển mạnh và phong phú dị thường, có số lượng lớn danh tác lưu truyền thiên cổ, thuộc các đề tài miêu tả về chiến tranh biên cương (Biên tái)

và Sơn thủy điền viên Sách nhận định về trường phái thơ Sơn thủy như sau: ―Một phái khác tiêu biểu cho những nhà thơ ca vịnh sơn thủy và cuộc sống điền viên, có Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Chữ Quang Hy, Thường Kiến… Tác phẩm của họ phần lớn phản ánh tâm tư nhàn tản, ẩn dật, màu sắc thanh đạm, tình ý sâu xa, sử dụng nhiều hình thức cổ thể năm chữ và thơ luật năm chữ Phái này về mặt khai thác tự nhiên đã đưa thơ Sơn thủy Lục triều tiến lên một bước dài Trong đó thành tích của Vương Duy cao nhất Ông là nhà thơ, họa sĩ, có thể lồng họa vào trong thơ

Trang 10

Thành công sâu xa về nghệ thuật, cùng với Lý Bạch, Đỗ Phủ, dựng riêng một cờ, ảnh hưởng khá lớn đối với đời sau‖ [62, tr.242]

Công trình chỉ dùng một đoạn ngắn để đánh giá về thơ Sơn thủy một cách khái quát nhất nhưng cũng đã thừa nhận thành tựu lớn lao của trường phái thơ này đối với văn học Trung Quốc Cách đánh giá trên cho thấy các nhà phê bình đã linh hoạt cách nhìn nhận sự vận động của thơ Sơn thủy trong tiến trình phát triển của văn học Trung Quốc Nhìn chung, thơ Sơn thủy được hình thành từ đời Nam Bắc

Triều (Lưu Tống) với Tạ Linh Vận và phát triển đỉnh cao với Vương Duy

Trung Quốc văn học sử [1] của Sở nghiên cứu văn học thuộc viện khoa

học xã hội Trung Quốc Đây là bộ giáo trình chính thức, được sử dụng trong các

trường Đại học ở Trung Quốc Công trình khái quát toàn bộ nền văn học Trung Quốc từ cổ đại đến hết các triều đại phong kiến Trung Quốc Nhà nghiên cứu Tiền Chung Thư khi nghiên cứu phần ―Văn học Đường Tống‖ viết: "Trong các nhà thơ Thịnh Đường, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Trừ Quang Hy đều nổi tiếng về miêu

tả sơn thủy điền viên, phong cách nghệ thuật cũng tương đối gần giống nhau nên gọi là phái thơ Sơn thủy qua thơ của thi phái này thấy tiếp sau Tạ Linh Vận, thơ Sơn thủy Trung Quốc lại một lần nữa xuất hiện và phát triển, thể hiện một mặt phồn vinh của thơ ca thời đó." [1, tr.444]

Nhận định phong cách thơ Vương Duy trên các thể tài khác nhau: thơ Biên tái: tình điệu khẳng khái hiên ngang; thơ Điền viên: nhàn nhã, bình lặng; thơ Sơn thủy: biến hóa, hùng tráng phóng khoáng (―Hán Giang lâm phiếm‖, ―Chung Nam sơn‖), thâm ý sâu xa, tinh tế, sinh động âm thanh màu sắc (―Sơn trung‖, ―Điểu minh giản‖) [1, tr.456]

So sánh với Đỗ Phủ, ―Vương Duy tuy ở cùng một thời, cùng một chỗ, nhưng bấy giờ đang sống nhàn hạ, ẩn dật trong biệt thự của mình Thái độ tiêu cực xuất thế của ông khiến cho ông ít quan tâm đến những vấn đề to lớn của hiện thực, lại đắm chìm vào cuộc sống nội tâm, gửi tình vào sông núi, say sưa với thiên nhiên, về khách quan là gây ảnh hưởng tiêu cực, dẫn dắt người ta đi tìm cuộc sống thanh tịnh

cô đơn‖ [1, tr.457]

Các đánh giá của nhà nghiên cứu chủ yếu trên bình diện khái quát chung về phong cách thơ của Vương Duy biến hóa đa dạng, tình điệu không bài nào giống bài nào Đồng thời, việc tuyển chọn dẫn chứng thường nhằm vào một số bài thơ cho thấy việc đánh giá các tác phẩm mang tính đơn lẻ, tuyển chọn và phục vụ cho một

số luận điểm chính, chưa thể khẳng định được phong cách thơ của Vương Duy

Trang 11

Sách Trung Quốc văn học sử của Chương Bồi Hoàn – Lạc Ngọc Minh

[29] có phần giới thiệu sơ lược về tiểu sử cũng như sự nghiệp văn thơ Vương Duy, đánh giá và tuyển chọn phân tích một vài bài thơ để làm rõ tài năng tổng hợp thi thư nhạc họa trong thơ ông: "Thi ca của Vương Duy có ảnh hưởng lớn nhất đối với hậu thế chính là thi ca về điền viên sơn thủy Về phương diện này ông đã thể hiện sức sáng tạo tài hoa khiến mọi người phải kinh ngạc, thậm chí nó còn vượt qua cả thành tựu thơ biên tái của ông." [29, tr.99] Đồng thời nhà nghiên cứu còn nhìn nhận thơ ca Sơn thủy điền viên dưới ngòi bút của Vương Duy được tổng kết và nâng cao rõ rệt, vừa có sự thừa tiếp của Đào, của Mạnh nhưng vẫn tìm thấy những đặc sắc riêng

Tóm lại, qua các công trình văn học sử được các nhà nghiên cứu Trung Quốc biên soạn cho thấy thơ Sơn thủy là một thể tài thơ được nhắc đến như một thành tựu cao nhất về thơ ca nghệ thuật của Vương Duy Chính nó làm nên tên tuổi của ông

và cùng với nhóm những nhà thơ sơn thủy khác đã tạo nên sự độc đáo và vị trí của trường phái thơ Sơn thủy trong lịch sử văn học Trung Quốc Nhưng do tính chất những công trình này trải dài cả một tiến trình phát triển lịch sử văn học nên vấn đề thơ Vương Duy chỉ được điểm qua một cách rất sơ lược khó có thể có những đánh giá tường tận và cụ thể

Thứ hai, các công trình nghiên cứu chuyên biệt về trường phái thơ Sơn thủy Điền viên

Trong nghiên cứu chuyên biệt về trường phái thơ Điền viên Sơn thủy, nhà

nghiên cứu Cát Hiểu Âm trong Sơn thủy điền viên thi phái nghiên cứu [104] cho

thấy quá trình vận động của hai nhánh thơ: một Điền viên, một Sơn thủy Hai nhánh này có nguồn gốc, nội dung đề tài hoàn toàn có sự phân biệt rạch ròi Nhưng đến Vương Duy, các điều kiện về xã hội, sự vận dộng của nền văn học từ cổ đại đến Thịnh Đường cùng với thi tài của Vương Duy đã tạo nên một sự hợp lưu hoàn mĩ cho hai thể tài thơ mà nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh: "Vương Duy đã tổng kết toàn

bộ những thành tựu phát triển của thơ Sơn thủy Điền viên từ Đào Tạ trở lại Từ quá trình phát triển này có thể thấy từ Đào Tạ đến Vương Mạnh là quá trình từ phân đến hợp, tuy đề tài không ngừng mở rộng, phong cách ngày càng đa dạng, kỹ pháp không ngừng tiến bộ nhưng đối với phương thức biểu hiện cơ bản của Đào Uyên Minh trước sau đều bảo lưu Điều này đã hình thành nên một phái hệ thi ca hoàn chỉnh mà thơ sơn thủy Vương Duy chính là tiêu chí của giai đoạn thi phái phát triển đến hoàn mĩ nhất." [104, tr.252]

Trang 12

Kha Tố Lợi, Thi dữ tự nhiên - Trung Quốc sơn thủy thi đích hiên đại xiển

thích [87] Ở công trình này, Kha Tố Lợi đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thi và tự

nhiên, cụ thể được chia thành các cảnh giới bắt đầu từ Vật sắc ―bản nhiên‖ thời Tần Hán, Cảnh sắc ―thiên nhiên‖ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, Cảnh giới ―uyển nhiên‖

thời Đường, Tống, Minh Phần phân tích về Vương Duy khá dài, nhận định thi nhân

là một nhà thơ Sơn thủy tiêu biểu đặt trong nhóm thơ cảnh giới uyển nhiên, ẩn chứa những tầng ý sâu xa, kế thừa cả Đào Tạ Thơ Sơn thủy Điền viên của Vương Duy không chỉ vượt qua sự khắc họa tinh tế, giỏi về chú trọng hiện thực của Tạ mà còn dùng thơ của thiền nhân để đạt được ý cảnh huyền diệu hoàn chỉnh dung hòa trong thơ Đào

Đào Văn Bằng chủ biên, Linh cảnh thi tâm - Trung Quốc cổ đại sơn thủy

thi sử [94]: nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thơ Sơn thủy Công

trình xác định hai đỉnh cao nghệ thuật thơ Sơn thủy, một là thơ Sơn thủy đời Đường, một là thời Bắc Tống sơ kỳ với đặc điểm khôi phục khí tượng thơ Sơn thủy đời Đường Và cuối cùng, xem "Vương Sĩ Trinh đời Thanh chính là tập đại thành của sơn thủy cổ điển." [94, tr.808] Trong chương 2, công trình đánh giá đặc điểm thơ Vương Duy và thơ Sơn thủy Thịnh Đường nói chung chính là chất thơ nối liền giữa phản ánh thực tiễn thế giới và tình cảm hoài vọng Màu sắc chủ yếu của phái thơ chính là đạm, thanh sơ Về phối cảnh nghệ thuật trong không gian chính là dùng phép thấu thị, ngưỡng sát, biểu hiện được tượng và ý "Vương Duy hứng cảnh nhập thiền, cảnh tượng vượt ra khỏi đời sống, cảnh giới thơ như họa, khí vận thanh đạm, cảnh giới thơ không minh chữ chữ nhập thiền." [94, tr218]

Đây là những công trình nghiên cứu về thi phái và thể tài thơ Sơn thủy Trung Quốc vừa bao quát (nguyên nhân, điều kiện hình thành, tiến trình phát triển của thể tài) vừa cụ thể (đi vào phân tích từng tác giả điền viên sơn thủy) Phần đánh giá riêng về đặc điểm phong cách thơ và thành tựu của nhà thơ Vương Duy chiếm dung lượng khá lớn (gần 50 trang) tuy chỉ tập trung vào một vài luận điểm nhưng phân tích sâu rộng

Thứ ba, nghiên cứu chuyên biệt về Vương Duy

Một công trình có giá trị tổng hợp thống kê, có cái nhìn bao quát nhất về quá trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc Đương đại về Vương Duy đó

là của Trần Tài Trí [133] Ông đã thống kê được hơn 500 nghiên cứu về Vương Duy từ năm 1948 đến năm 1999 của cả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc phổ quát trên tất cả các phương diện loại hình nghệ thuật, văn học, văn hóa, tôn giáo

Trang 13

Trong đó, có 67 công trình nghiên cứu trực tiếp có cụm từ thơ Sơn thủy (山水诗) Công trình nghiên cứu riêng về thơ Điền viên (田园诗) chỉ có 6 công trình Và nghiên cứu cả Sơn thủy điền viên (山水田园诗) có 46 công trình Tổng cộng công trình nghiên cứu chuyên về Sơn thủy Điền viên là 119, chiếm 1/5 các công trình nghiên cứu Vương Duy trong hơn 50 năm Cho thấy, phần nào sự quan tâm của giới học thuật Trung Quốc đối với Vương Duy - thi nhân có vị trí quan trọng đối với tiến trình phát triển văn học Trung Quốc

Ngoài ra còn các bài viết nghiên cứu đáng chú ý về Thơ Sơn thủy Vương Duy như "Đặc sắc nghệ thuật thơ Sơn thủy Vương Duy" của Trương Minh Phi năm

1981, "Lược đàm đặc sắc nghệ thuật thơ Sơn thủy Vương Duy" của Trương Bích

Ba, "Lược luận đặc sắc nghệ thuật thi trung hữu họa trong thơ Sơn thủy Vương Duy" của Vương Cánh Thời, "Thức luận vẻ đẹp ý cảnh thơ ngũ ngôn Sơn thủy của Vương Duy" của Vương Chí, "Thức luận ảnh hưởng của tâm lí văn hóa cấu thành nên thi họa Sơn thủy của Vương Duy" của Trần Lâm, "Thiền cảnh và không cảnh trong thơ Sơn thủy Vương Duy" của Chu Lệ Hà phần nào cho thấy những kiến giải về đặc điểm và vị trí của thơ Sơn thủy Vương Duy Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu lịch sử vấn đề, người viết không thể phân tích và đưa vào công trình một cách toàn diện được

B Những công trình nghiên cứu trong nước:

Lê Đức Niệm, Diện mạo thơ Đường [50] Thời Khai Nguyên, Thiên Bảo

xuất hiện các nhóm thơ: Biên tái Cao Thích, Sầm Tham; sơn thủy Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên Nhà nghiên cứu dành ba trang viết về Vương Duy (từ tr 33- 35) trong đó bình về Vương Duy: "Vương Duy mô tả cảnh thiên nhiên hết sức tinh tế, bức tranh thiên nhiên có cái lặng lẽ thâm trầm trong đó có con người đang đăm chiêu tư lự Thơ Vương Duy rất đẹp, cảnh tượng mới mẻ, sự phối hợp đường nét, màu sắc hài hòa như một bức tranh dịu mát, xúc động lòng người ở vẻ đẹp hài hòa, lại có cả động tác, âm thanh Vương Duy là một nhà thơ, một nhà hội họa, một nhà

âm nhạc, một nhà thư pháp, đã có cống hiến nhiều về mặt nghệ thuật Nhưng do ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo tiêu cực, do cuộc sống xa rời nhân dân, do cuộc đời có sai lầm đầu hàng An Lộc Sơn và làm quan cho chúng, nên thơ ông không có tính chiến

đấu mạnh mẽ." [50, tr.33]

Công trình dựa trên các tiêu chí: thái độ chính trị, lí tưởng đóng góp, giá trị hiện thực của sáng tác và gắn liền với đời sống nhân dân Do đó, nhà nghiên cứu Lê

Trang 14

Đức Niệm tuy xếp Vương Duy là một trong những nhà thơ Sơn thủy nổi bậc của văn học Đường trên một điểm chính về hình thức là thơ kết hợp hài hòa với họa, nhưng nhà phê bình không đánh giá cao sự đóng góp của Vương Duy vì những lí do thời đại, cuộc đời, nội dung tư tưởng

Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, Về thi pháp thơ Đường [51] Bình luận

về thơ Vương Duy: "Phá bỏ ngã pháp lưỡng chấp, thiền học cũng phá bỏ thời gian, phương vị khiến con người nhập vào trạng thái vô thức như mây bay nước chảy,

hoa nở, lá rơi, tự do tự tại, thanh nhàn siêu việt sinh diệt.‖ [51, tr.16-17] Nhà nghiên

cứu đã đứng trên bình diện đặc trưng thi pháp phong cách tác giả để đánh giá thơ

Sơn thủy Vương Duy mang tính chất của Thiền học

Trần Trung Hỷ (2007), Thơ sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc [111]

Khảo sát tiến trình phát triển của thơ sơn thủy Trung Quốc từ Thi kinh đến thời nhà Thanh (Thi kinh - 1840) trên bình diện giá trị văn hóa và một số phương thức nghệ

thuật tiêu biểu như lời dẫn sách tác giả giới thiệu Chương 2 phần viết về thơ Sơn thủy đời Đường, tác giả viết: ―Thời Thịnh Đường cùng với sự phát triển tột bậc về văn hóa, kinh tế, quân sự, thơ ca cũng tiến tới giai đoạn phát triển thịnh vượng nhất Khuynh hướng thơ Sơn thủy Điền viên với hai đại biểu ưu tú nhất là Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy ra đời song song tồn tại với thơ Biên tái, là kết quả tất yếu của một quá trình thai nghén, dưỡng dục của lịch sử thơ Trung Quốc." [111, tr.39]

Trần Trung Hỷ, Thơ sơn thủy Vương Duy [45] là một tiểu luận ngắn đánh

giá Vương Duy là nhà thơ tiêu biểu của khuynh hướng thơ Điền viên Sơn thủy đời Thịnh Đường mà thời kỳ đầu chính là tiếp nối Tạ Linh Vận, thời kỳ sau miêu tả thiên nhiên trong tâm lí quy ẩn điền viên nhưng khác với loại thơ ẩn dật thuần túy của Đào Uyên Minh và Mạnh Hạo Nhiên, và đặc biệt là thơ Sơn thủy thấm đẫm triết lí Thiền tông Từ hai công trình này, nhà nghiên cứu Trần Trung Hỷ đặt Vương Duy vào tiến trình phát triển chung của thể tài thơ Sơn thủy Trung Quốc từ cổ đại đến cận đại, qua đó sơ lược đánh giá về đặc trưng riêng phong cách thơ Sơn thủy Vương Duy Tuy nhiên, đây vẫn là công trình rất sơ lược mang tính kế thừa các công trình nghiên cứu của người đi trước

Vũ Thế Ngọc, Vương Duy – Chân diện mục [44] Đây là tập tiểu luận, biên

tuyển thơ chuyên biệt duy nhất về Vương Duy ở Việt Nam mà người viết tiếp cận được Trong sách này, Vũ Thế Ngọc chia thành hai phần, phần đầu nghiên cứu về Vương Duy chủ yếu dưới các phương pháp truyền thống có cả ở Trung Quốc và Việt Nam thời cổ trung đại như phê bình tiểu sử, phê bình lịch sử Các góc độ,

Trang 15

phương diện nghiên cứu khá rộng và bao quát: tiểu sử Vương Duy, Vương Duy Thi phật - thơ thiền, Vương Duy tổ sư Nam Tông họa phái - thơ họa… Phần thứ hai

chọn lọc và đưa vào ba thi tuyển của Vương Duy: Thi tuyển I, Thi tuyển II – Võng

Xuyên tập, Thi tuyển III Tài liệu đã dẫn ra những vấn đề rất quan trọng trong

nghiên cứu tiểu sử, nhưng về việc tìm hiểu về thơ văn Vương Duy còn rất hạn chế

và phần tuyển dịch thơ Vương chưa đem lại nhiều ý nghĩa cho công tác nghiên cứu thơ Mảng nội dung về thơ Sơn thủy Vương Duy vẫn là một mảng trống trong công trình này của tác giả

Đỗ Thị Hà Giang, Thơ Sơn thủy đời Đường [23] đi từ hướng nghiên cứu về

văn học - văn hóa, tác giả đã rút ra những kết luận về thành tựu của thi phái Sơn thủy cùng những tên tuổi kiệt xuất như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lí Bạch, Liễu Tông Nguyên Những đánh giá về Vương Duy có trong bài viết phục vụ luận điểm chung cho cả thơ Sơn thủy của đời Đường nên chưa thấy rõ được vấn đề thơ Sơn thủy Vương Duy và vị trí xứng đáng đứng đầu thi đàn của ông

Lê Nguyễn Lưu với Đường thi tuyển dịch [39] là công trình tuyển dịch thơ

Đường khá đồ sộ Tác giả dành phần một để khảo cứu những vấn đề văn học đời Đường và thi pháp thơ Đường Tác giả nhận định mảng thơ Sơn thủy là thơ tự nhiên

có nội dung miêu tả cảnh núi sông cây cỏ và đây là mảng thơ lớn biểu hiện cảm xúc chủ đạo của hầu hết các tác giả đời Đường mà Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên là đại diện của phái thơ này Số lượng thơ Vương Duy được tuyển dịch khá lớn Tuy nhiên, công trình vẫn mang tính chất như một tuyển tập thơ trên diện rộng (thơ đời Đường) nên thơ Sơn thủy của Vương Duy được nhắc đến như một đặc điểm của giai đoạn thơ Đường hoàng kim

Nhìn lại vấn đề thơ Sơn thủy Vương Duy trong các công trình nghiên cứu về

văn học cổ điển Trung Quốc trong và ngoài nước mà người viết tiếp cận được có thể thấy:

Thơ Sơn thủy Vương Duy là một đề tài quá quen thuộc nhưng chưa bao giờ hết sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu Khả năng mở rộng nghiên cứu lại càng ngày càng lớn khi nhà nghiên cứu chịu ảnh hưởng của nhiều học thuyết khác nhau trong điều kiện biến động không ngừng của hệ thống lí luận Mỗi tài liệu, từ nghiên cứu khái quát đến nghiên cứu cụ thể đối tượng đều có những cách tiếp cận vấn đề riêng, từ đó có những đánh giá hoặc là tương phản, hoặc kế thừa và bổ sung cho nhau Điều này làm cho lịch sử nghiên cứu vấn đề thơ Sơn thủy Vương Duy vô cùng đa dạng nhưng cũng chứa đựng nhiều biến động Trong đó nhìn chung vẫn là

Trang 16

công nhận thơ Sơn thủy là một thể tài lớn, làm nên tên tuổi và sự đóng góp của Vương Duy

Thơ Sơn thủy của Vương Duy trong tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc quả

là một bức tranh đa diện đa sắc, khai thác trên bình diện nghệ thuật, nội dung thẩm

mĩ và giá trị văn hóa - tư tưởng lớn lao có thể là từ một bài thơ, từ một tập hợp các bài thơ, từ một biểu tượng, một vấn đề nội dung hay nghệ thuật

Ở Việt Nam, thơ Sơn thủy của Vương Duy là một đề tài vẫn chưa được khai thác một cách toàn diện và độc lập Đâu đó chúng ta có thể thấy một vài nhận định, đâu đó ta thấy một vài bài viết về Vương Duy và thơ văn của ông, và không lạ khi

ta nghe cái tên Vương Duy gắn liền với tên gọi nhà thơ Sơn thủy Thế nhưng, trong

tủ sách, những bộ văn học sử Trung Quốc được dịch, những tuyển tập, trích dịch Đường thi mà những bài thơ Vương Duy cũng chỉ là số lượng khiêm tốn bên cạnh những nhà thơ Đường nổi danh khác, ta vẫn chưa có được một "chân diện mục" Vương Duy hoàn thiện Đó là lí do, cũng như là hướng nghiên cứu của người viết trong luận văn này

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp xử lí tư liệu và dịch thơ: Nội dung đề tài được chia thành hai

phần chính Thứ nhất là khái quát tiến trình phát triển của thơ Sơn thủy Trung Quốc

từ cội nguồn đến những giai đoạn Nguyên Minh Thanh Những bài thơ được dẫn chứng được trích từ các tuyển tập thơ Đường, thơ Tống và những tuyển tập văn học

sử của các soạn giả Trung Quốc được dịch ở Việt Nam Những bài thơ này được người viết dẫn chủ yếu là phiên âm Hán Việt và phần dịch nghĩa, đồng thời chú thích cẩn thận tài liệu mà người viết sử dụng Đối với văn thơ Vương Duy, có nhiều bản tuyển dịch khác nhau, số lượng bài được tuyển so với tổng số thơ văn của ông không nhiều, lại có sự trùng lặp trong chọn bài giữa các tuyển bản do tiêu chí tuyển chọn là những bài thơ đặc sắc được nhiều người biết đến, tuy nhiên phần dịch nghĩa lại cho thấy sự chênh lệch khá nhiều Đề tài hướng đến nghiên cứu chủ yếu và trực tiếp nhất chính là thơ Sơn thủy Vương Duy, nên người viết dựa vào các tuyển tập thơ chữ Hán Vương Duy (được chú rõ trong trong khảo về thơ văn Vương Duy mục 1.2.3) để chọn lọc, phiên dịch những bài thơ Sơn thủy phục vụ cho công trình nghiên cứu (các bài thơ này được trình bày trong phần phụ lục 2 của luận văn)

Phê bình văn học sử: Khảo sát tiến trình phát triển của một thể tài văn học –

thơ Sơn thủy đặt trong hệ thống vận động của nền văn học Trung Quốc Tìm hiểu

Trang 17

về lịch sử thời đại, những biến động về đời sống văn hóa xã hội tác động đến cuộc đời, sự nghiệp, quan niệm sáng tác của Vương Duy

Thi pháp học tác giả: Không tách rời phương pháp phê bình văn học sử và

phê bình tiểu sử, tìm hiểu thi pháp tác giả giúp người viết nhận ra được những đặc sắc trong phong cách thơ Vương Duy, tức vừa có tính kế thừa, tiếp nối vừa biến đổi, thể hiện phong cách riêng và đỉnh cao của thi tài Vương Duy Thi pháp học tác giả cho cách nhìn so sánh trong mạch nguồn chung của dòng thơ Sơn thủy, trong trường phái những nhà thơ có phong cách tương cận (Đào Uyên Minh, Tạ Linh Vận, Mạnh Hạo Nhiên ), Vương Duy đem đến những đặc trưng thơ ca điển hình của thời đại và độc đặc của cá nhân

Phương pháp nghiên cứu loại hình: Vấn đề nghiên cứu thơ Sơn thủy nói

chung và thơ Sơn thủy của Vương Duy nói riêng không chỉ nghiên cứu một cách độc lập của loại hình văn học; nó còn là sự tổng hợp và tác động bởi hội họa, âm nhạc, ngôn ngữ học, sử học và triết học Vì vậy, người viết trong quá trình nghiên cứu luôn đặt vấn đề trong tổng thể những mối quan hệ ảnh hưởng qua lại của các loại hình để có cái nhìn, cách lí giải phù hợp với đặc điểm của thơ Sơn thủy Vương Duy

Một số phương pháp nghiên cứu cơ bản khác: Phương pháp tu từ học, kí

hiệu học, thu thập dữ liệu, so sánh, tổng hợp, thống kê được người viết sử dụng phù hợp trong luận văn để phân tích luận đề, luận điểm, chứng minh cho đối tượng nghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Những vấn đề chung về Vương Duy và trường phái thơ Sơn thủy Trung Quốc

Dựa vào phương pháp phê bình hệ thống, phê bình văn học sử và thực tế thu thập dữ liệu, trong chương này, người viết làm rõ các thuật ngữ có liên quan: như thể tài, trường phái thơ Sơn thủy Từ đó, phân biệt những thể tài có tính tương cận cao như: thơ Điền viên, thơ Du tiên…Dựa vào những đặc điểm của thể tài thơ Sơn thủy, người viết đi sâu vào tìm hiểu quá trình hình thành thể tài thơ Sơn thủy Trung Quốc, bàn luận mạch nguồn tác động đến sự hình thành, chuyển biến của thể tài này

và đại diện cho sự kết tinh của dòng thơ Sơn thủy chính là Vương Duy

Chương 2: Ba bức tranh trong thơ Sơn thủy của Vương Duy

Trên cơ sở nắm vững đặc trưng thể tài, sự vận động phát triển có tính kế thừa

và sáng tạo trong văn học, người viết đi vào phân tích đối tượng cụ thể là tác gia

Trang 18

Vương Duy và thơ Sơn thủy dựa vào phương pháp phê bình thi pháp tác giả Trong quá trình phân tích, người viết chủ động liên hệ với các tác giả khác cùng thuộc thể tài thơ Sơn thủy để so sánh làm bật lên phong cách và quan niệm sáng tác riêng, độc đáo của tác giả và giá trị của từng tác phẩm Qua đó cho thấy sự chuyển hóa quan điểm, tư tưởng của tác giả trong cách nhìn về Sơn thủy và tâm thái của người ẩn sĩ

Chương 3: Nghệ thuật tổng hợp thi - nhạc - họa và ngôn ngữ thơ Vương Duy

Trên cơ sở các nhà nghiên cứu cổ - hiện đại đánh giá rất cao về tài năng thi họa nhạc của Vương Duy, người viết đi vào phân tích thơ Sơn thủy Vương Duy trong sự kết hợp với loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc và hội họa để thấy được

sự vận động, giao dung và tiêu chuẩn lí luận phê bình của nghệ thuật thi ca mà thành tựu thơ Vương Duy chính đã tạo nên đỉnh cao, có ảnh hưởng rất lớn đối với thi đàn văn học Thế nhưng, thơ không phải họa và cũng không phải nhạc vì cấu tạo nên thơ chính là ngôn ngữ Là một trong những người đứng đầu thi đàn thơ ca Thịnh Đường, Vương Duy đã tạo nên một dấu ấn riêng của trường phái thơ Sơn thủy trong việc sử dụng ngôn từ Do đó, người viết dành toàn bộ chương ba phân thành ba đề mục lớn phân tích về nghệ thuật tổng hợp thi - nhạc - họa và ngôn ngữ

để thấy được đặc điểm thơ Sơn thủy Vương Duy

6 Những đóng góp mới của luận văn

Thứ nhất, luận văn đã khảo sát, hệ thống thơ Sơn thủy Trung Quốc dựa trên tiến trình văn học sử Trung Quốc Xác định mốc ra đời, định hình đặc trưng của một thể tài văn học thuộc văn học cổ - trung đại Trung Quốc Đồng thời qua đó thấy được sự vận động và phát triển của dòng thơ Sơn thủy với tác giả tiêu biểu của văn học thời Đường, trong đó chủ soái của trường phái là Vương Duy

Thứ hai, người viết triển khai vấn đề đứng trên lập trường nghiên cứu thi pháp tác giả, người viết chủ động tìm ra những phương diện, những đặc trưng nghệ thuật thơ Sơn thủy của Vương Duy Từ đó so sánh với các nhà thơ khác thuộc dòng thơ Sơn thủy để thấy được sự phong phú của dòng thơ này và sự độc đáo riêng của Vương Duy

Thứ ba, đề tài nghiên cứu về thơ Sơn thủy nhưng cũng khai thác, làm rõ sự

va chạm của âm nhạc, hội họa và thư pháp trong một tài thơ đỉnh cao và cá biệt đứng đầu trường phái thơ Sơn thủy, tổ sư Nam tông họa phái, Đại nhạc thừa Vương Duy

Trang 20

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ VƯƠNG DUY VÀ TRƯỜNG PHÁI THƠ SƠN THỦY

1.1 Thơ Sơn thủy Trung Quốc

Nghiên cứu về văn học Trung Quốc cổ đại, ngoại trừ phân chia các giai đoạn phát triển của thơ, các nhà nghiên cứu cũng đặc biệt chú ý đến những phong cách thơ tiêu biểu tương cận nhau và gọi tên chung cho từng phong cách, từng phái như: thơ Điền viên, thơ Sơn thủy, thơ Biên tái Cao-Sầm, thơ điền viên sơn thủy Vương-Mạnh, thơ mang khuynh hướng lãng mạn (Lý Bạch), thơ mang khuynh hướng hiện thực (Đỗ Phủ) Điều đó đã đặt ra câu hỏi cho các nhà nghiên cứu nhằm truy nguyên lại toàn bộ lịch sử vấn đề để có cái nhìn chân xác hơn về quá trình hình thành và phát triển của thể tài nêu trên

Nghiên cứu lịch sử phát triển thơ ca Trung Quốc, tác giả Dương Tải đời

Nguyên trong mục ―Tổng luận‖ sách Thi pháp gia số tổng kết như sau:

Về thể của thơ, Thi kinh phát triển đến Sở từ, đến Nhạc phủ, đến chùm thơ cổ gồm 19 bài, đến thơ ngũ ngôn của Lí Lăng, Tô Vũ, đến thơ ca thuộc niên hiệu Kiến An, Hoàng Sơ, đây đều là tổ của thơ Thơ của các nhà gồm Lưu, Côn, Nguyễn Tịch, Phan Nhạc, Lục Cơ, Tả Tư, Quách Phác, Bão Chiếu, Tạ Linh Vận chép trong Văn tuyển, toàn bộ tập thơ của Đào Uyên Minh, đây đều là tông của thơ Riêng toàn bộ tập thơ của Đỗ Phủ, chính là tập đại thành của thơ vậy.[52, tr.54]

Để tìm hiểu về nguồn gốc thơ Sơn thủy Trung Quốc, về cơ bản chúng ta vẫn phải dựa vào lịch sử phát triển thơ ca Trung Quốc Ở đây người viết chủ yếu tổng hợp những tư liệu mang tính lí luận có liên quan đến vấn đề nêu trên từ những sáng tác cụ thể, nhằm chỉ ra những yếu tố manh nha cũng như đặc điểm và tiến trình phát triển của dòng thơ Sơn thủy

Việc xác định nguồn gốc, khái niệm, phân loại thơ Sơn thủy có thể nói là vấn

đề khó đối với nhà nghiên cứu vì:

Thứ nhất, trước nay luôn có sự tranh cãi về nguồn gốc ra đời của đối tượng này Những hình ảnh tự nhiên đã xuất hiện khá nhiều trong thơ ca từ những bài thơ

đầu tiên trong Thi kinh Nhưng dấu mốc cho sự chuyển hướng, manh nha cho sự

xuất hiện dòng thơ Sơn thủy thực sự thì vẫn tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau

Trang 21

Thứ hai, chưa có sự nhất quán về mặt khái niệm So với các khái niệm như thơ Vịnh sử, thơ Vịnh vật, thơ Du tiên, thơ Biên tái, thơ Điền viên,… thì tự bản thân tên gọi thơ Sơn thủy đã bao hàm nhiều tầng ý nghĩa khác nhau, tức nó không chỉ nhắm vào nội dung đề tài mà còn bao hàm cả nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ của văn học văn hóa Trung Quốc, phương Đông Chưa hết, nó còn có mối quan hệ khăng khít đến mức khó phân biệt rõ ràng so với thơ Điền viên và thơ Vịnh cảnh

Thứ ba, việc khu biệt về mặt đề tài thực sự khó có thể đạt đến rạch ròi, mức tuyệt đối, cho nên khả năng phân loại thơ cho từng nhóm thể tài là gần như không thể có một kết cục duy nhất

Vì những lẽ trên, người viết cố gắng tiếp cận nhiều nhất lượng tư liệu có thể nhằm trình bày một cách rõ ràng về những vấn đề đang còn gây nhiều tranh cãi ở lĩnh vực nghiên cứu thơ Sơn thủy

1.1.1 Thể tài, trường phái thơ Sơn thủy

Giải thích về tên gọi trường phái thơ Sơn thủy hiện vẫn tồn tại khá nhiều nghi vấn Cát Hiểu Âm khi nghiên cứu về thơ Sơn thủy gọi đây là "Lưu phái thơ Sơn thủy" (Trường phái và Lưu phái có nghĩa tương đồng) Bà viết:

Cái gọi phái thơ Điền viên Sơn thủy, thực tế bao gồm ba tầng ý nghĩa: nếu chỉ xét thơ Thịnh Đường, tức chỉ có hai đại biểu là Vương - Mạnh, trong

đó bao gồm cả các nhà thơ có phong cách tương tự như Tổ Vịnh, Thường Kiến, Trừ Quang Hy; nếu xét ở cả thời Đường tức chỉ bốn nhà Vương, Mạnh, Vi (Ứng Vật), Liễu (Tông Nguyên); còn nếu xét toàn bộ lịch sử thi ca Trung Quốc, đó sẽ là một hệ thống hoàn chỉnh, ứng với Đào (Tiềm), Tạ (Linh Vận), Vương, Mạnh, Vi, Liễu Trong phê bình văn học cổ đại thì nó không có tên gọi như vậy mà khái niệm này được dùng trong văn học đương

đại [104, tr.349]

Nhà nghiên cứu Tiền Chung Thư trong nghiên cứu Lịch sử văn học Trung

Quốc, phần ―Văn học Đường Tống‖ viết: "Trong các nhà thơ Thịnh Đường, Mạnh

Hạo Nhiên, Vương Duy, Trừ Quang Hy đều nổi tiếng về miêu tả sơn thủy điền viên, phong cách nghệ thuật cũng tương đối gần giống nhau nên gọi là phái thơ Sơn thủy Qua thơ của thi phái này ta thấy, tiếp sau Tạ Linh Vận, thơ sơn thủy Trung Quốc lại một lần nữa xuất hiện và phát triển, thể hiện một mặt phồn thịnh của thơ ca

thời đó."[1, tr.444] Ý kiến của nhà nghiên cứu Tiền Chung Thư cho rằng trường

phái thơ Sơn thủy bao gồm các nhà thơ có phong cách thơ tương cận nhau, cùng

Trang 22

trong thời Thịnh Đường (Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Trừ Quang Hy ) và nó nằm trong tiến trình lịch sử thơ Sơn thủy Trung Quốc

Trần Trung Hỷ gọi thơ Sơn thủy là thể tài Trong chương một sách Thơ sơn

thủy cổ trung đại Trung Quốc, ông viết: "Thơ sơn thủy - một thể tài trong lịch sử

thơ Trung Quốc" Trong phần định nghĩa thơ sơn thủy, Trần Trung Hỷ viết: ―Thơ Sơn thủy là một thể tài độc lập của thơ ca‖ Trong chương 2 phần viết về thơ Sơn thủy đời Đường, tác giả viết: ―Thời Thịnh Đường cùng với sự phát triển tột bậc về văn hóa, kinh tế, quân sự, thơ ca cũng tiến tới giai đoạn phát triển thịnh vượng nhất Khuynh hướng thơ Sơn thủy Điền viên với hai đại biểu ưu tú nhất là Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy ra đời song song tồn tại với thơ Biên tái, là kết quả tất yếu của một quá trình thai nghén, dưỡng dục của lịch sử thơ Trung Quốc." [35, tr.39] Ở các trang tiếp sau, Trần Trung Hỷ viết: "Vương Duy và Mạnh Hạo Nhiên có phong

cách khá tương cận, đương thời gọi là phái thơ Vương-Mạnh."

Tác giả Lưu Đức Trọng trong bài viết "Thịnh Đường Sơn thủy Điền viên thi

phái hình thành cấp kì tại văn học sử thượng đích địa vị" đăng trên tờ An Huy đại

học nhật báo năm 1980 cho rằng, thời Thịnh Đường có phái thơ "Sơn thủy điền

viên" [35, tr.11]

Mã Mậu Nguyên, Trần Bá Hải trong Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc

cho rằng, bên cạnh phái thơ Biên tái thì "một phái khác tiêu biểu cho những nhà thơ

ca vịnh sơn thủy và cuộc sống điền viên có Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Trừ Quang Hy, Thường Kiến Phái thơ này về mặt khai thác cái đẹp tự nhiên đã đưa sơn thủy từ Lục triều tiến lên một bước dài Liễu Tông Nguyên một phần viết thơ năm chữ về điền viên sơn thủy, "làm vườn thơ sum xuê tươi tốt, qua đạm bạc gửi ý

vị sâu xa" (Tô Thức: ―Thư Hoàng Tử Tư thi tập hậu‖), phong cách gần như Đào

Uyên Minh, sánh cùng Vi Ứng Vật, người đời sau gọi là Vi-Liễu." [62, tr.246]

Từ đây cho thấy một điểm chung giữa các nhà nghiên cứu đều công nhận thơ Sơn thủy là một thể tài có vai trò quan trọng trong văn học cổ Trung Quốc Chính thể tài này, trong một điều kiện nhất định đã hình thành nên Lưu phái thơ Sơn thủy

Sách Từ hải (bản mới, tr.3519) định nghĩa về ―Lưu phái văn học‖ như sau: "Lưu

phái văn học là sự kết hợp những tác gia tự giác hoặc không tự giác có kiến giải văn học và phong cách nghệ thuật tương cận trong một thời kỳ lịch sử nhất định." [104,

tr.3] Như vậy, có thể rút ra một vài khái quát về trường phái thơ Sơn thủy như sau:

Đây là trường phái được hình thành một cách không tự giác, xuất hiện vào đời Đường Việc tập hợp các tác gia có cùng tiếng nói, cách chọn lựa đề tài và

Trang 23

phong cách nghệ thuật có nhiều điểm tương cận, được người đương thời thời xếp cạnh nhau và người đời sau gọi chung thi phái Sơn thủy

Thi phái Sơn thủy với Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy được xem là chủ soái

có đầy đủ cơ sở tồn tại và công nhận đây là một thi phái độc lập Nguồn gốc hình thành của phái là sự kế thừa thành tựu từ các giai đoạn trước, sau đó phát triển đến đỉnh cao và suy vi, đồng thời tầm ảnh hưởng khá đậm nét đối với lịch sử thơ ca Trung Quốc

1.1.2 Nguồn gốc ra đời thơ Sơn thủy

Tên gọi Sơn thủy ra đời lần đầu tiên trong lí luận phê bình của Lưu Hiệp,

thiên ―Minh thi‖ sách Văn tâm điêu long viết:

"Thời Đông Tấn, thơ đắm chìm trong không khí Huyền học Hoặc chê bai cái chí của người theo thế tục, hoặc đề cao lối nói viển vông Viên Hoằng, Tôn Xước trở xuống, tuy người nào cũng có sự đẽo gọt riêng, nhưng xét về mặt lời và ý thơ thì không ai có thể hơn họ Cho nên thơ "tiên thiên" của Cảnh Thuần được xem là ưu tú nhất Sang đầu đời Tống, thể thơ có thay đổi, lối thơ đậm chất Lão Trang rút lui, lại thiên về mặt sơn thủy." [28, tr.43-44]

Theo đánh giá của Lưu Hiệp, giai đoạn đầu đời Tống [tức nhà Lưu Tống thuộc Nam Bắc triều (420 - 589)] đánh dấu sự chuyển mình của thơ ca từ thơ chứa nhiều Huyền ngôn sang lối thơ tăng phần sơn thủy Luận điểm này của Lưu Hiệp chính là cột mốc quan trọng mà hầu hết các nhà nghiên cứu về nguồn gốc thơ sơn thủy đều dựa vào, tất nhiên họ hoặc đồng tình hoặc có những kiến giải riêng

Trong số các nhà nghiên cứu đồng tình với Lưu Hiệp, tiêu biểu có Vương Sĩ Trinh và Thẩm Đức Tiềm Vương Sĩ Trinh từng nói: "Đợi đến giữa thời Nguyên Gia3 , Tạ Khang Lạc4 xuất hiện, bắt đầu viết thơ Sơn thủy" Thẩm Đức Tiềm cũng nói: "Thơ Sơn thủy khởi phát từ Tạ Khang Lạc" (Thuyết thi tối ngữ) [122] Ở đây ta

thấy, cả hai nhà nghiên cứu đều đồng tình với ý kiến của Lưu Hiệp: thơ Sơn thủy ra đời vào giai đoạn đầu đời Lưu Tống, mà cụ thể bắt đầu tính từ nhà thơ Tạ Linh Vận

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu khác lại đẩy mốc ra đời của thơ Sơn thuỷ

lùi lại thời Đông Tấn Phạm Văn Lan chú thiên ―Minh thi‖ trong Văn tâm điêu long

từng có quan điểm như sau: "Thơ tả cảnh sơn thủy có từ những nhà thơ trước Dữu

3 Niên hiệu Tống Văn Đế (424 - 453)

4 Chỉ nhà thơ Tạ Linh Vận Khang Lạc, Tạ Linh Vận từng được tập phong tước Khang Lạc Công, người đời

vì thế quen gọi Khang Công, hoặc Khang Lạc

Trang 24

Xiển thời Đông Tấn" Tiền Chung Thư trong Quản Trùy biên (Toàn Hán văn,

quyển 8,9) cũng cho rằng: "Thơ Sơn thủy bắt đầu là những tác phẩm biểu trưng quyền lực phú kinh đô, hoặc những bài dụ về tâm tính đức hạnh bằng các hình tượng núi sông và kế tiếp thì sơn thủy dựa vào điền viên, tuy nhiên nó vẫn mang tính độc lập không hòa trùng vào nhau" [122] Tiền Chung Thư đồng thời còn khẳng định: "Những tác phẩm trước Đông Tấn không thể gọi là văn học Sơn thủy đích thực được." [122] Qua ý kiến của Phạm Văn Lan và Tiền Chung Thư, có thể thấy rõ, thơ Sơn thủy đã có mầm mống và tồn tại trong lòng của các bài phú dụ thời Hán, với số lượng tác giả và tác phẩm tương đối nhiều, chúng có niên đại trước cả Dữu Xiển thời Đông Tấn, nhưng chính thức trở thành một thể loại văn học thực sự thì bắt đầu từ Đông Tấn Kế thừa và biện giải quan điểm của hai nhà nghiên cứu trên, Lý Văn Sơ khẳng định:

Thực tế sự phát triển văn học trong giai đoạn này trong tiến trình lịch

sử văn học Trung Quốc: thời kỳ trước Tạ Linh Vận, tức đầu đời Tống đã xuất hiện không ít những bài thơ Sơn thủy rồi Thứ nhất, thành phần miêu tả về sơn thủy, trước thời Đông Tấn, sơn thủy được miêu tả trong tác phẩm rất ít (phụ thuộc) Từ Đông Tấn mới biến (phụ thuộc) thành dòng riêng (nước lớn) Tức là trong đề tài, sơn thủy trở thành đối tượng miêu tả chủ yếu trong tác phẩm Thứ hai, miêu tả sơn thủy trước Đông Tấn, chỉ biểu thị tác dụng tượng trưng, ký thác, tỉ dụ hoặc là dùng để vẽ địa đồ, địa hình sơn thủy Đến thời Đông Tấn, người ta mới dùng trực tiếp bản thân hình tượng tự nhiên sơn thủy Từ đó, sơn thủy trở thành một đối tượng thẩm mĩ đích thực." [122]

Lý Văn Sơ dựa trên cơ sở thực tế thay đổi trong đề tài, sự gia tăng các yếu tố sơn thủy, chuyển hóa vai trò sơn thủy tự nhiên thành đối tượng thẩm mĩ đích thực của thơ Sơn thủy thời Đông Tấn, đã phân tích các yếu tố sơn thủy trong hàng loạt các tác phẩm có giá trị theo hai xu hướng khác nhau, tức thơ Sơn thủy mang tính

―kỷ du‖ (ghi chép các cuộc du ngoạn) và thơ Sơn thủy dung chứa Huyền lí, Huyền thú

Thơ ―kỷ du‖ thời Đông Tấn linh động ở cảnh, thuần thục ở câu từ, thừa hưởng được thi phong của Thái Khang5

Các tác phẩm như Thiệp hồ thi của Lý Ngung, Hoàn đô phàm của Trạm Phương Sinh, Lăng phong thái dược xúc hứng vi

thi của Bạch Đạo Hiến đều là những bài thơ Sơn thủy ―kỷ du‖ giàu thanh sắc

5 Niên hiệu thời Tấn Vũ đế (280 – 289): Văn đàn Tây Tấn khá phồn vinh, bao gồm hai khuynh hướng: mô phỏng tác phẩm người xưa và trau chuốt hình thức thơ văn

Trang 25

Về lối thơ Sơn thủy dung chứa huyền lí, huyền thú Tác gia đại diện cho loại

thơ này là Dữu Xiển, thơ ông hiện còn hơn 10 bài, trong đó những bài như Tam

nguyệt tam nhật lâm Khúc thủy, Quán thạch cổ, Đăng Sở sơn đều là những bài thơ

Sơn thủy mang tính kỷ du Dữu Xiển khá nổi danh trên thi đàn Đông Tấn Vào năm thứ chín niên hiệu Vĩnh Hòa (358) Vương Hi Chi, Tạ An, Tôn Xước cùng 42 người cùng nhau đối ẩm, du hứng Lan Đình, đã cùng sáng tác 23 bài thơ ngũ ngôn, 14 bài

thơ tứ ngôn, hợp chung thành Lan Đình tập Tập ấy do Vương Hy Chi viết lời tự

Những tác phẩm này không những nói về sự quan sát vũ trụ, tả cảnh thiên nhiên sơn

thủy mà còn hàm chứa nhiều triết lí nhân sinh, sinh mệnh con người Lan Đình tập

có thể nói đã đánh dấu cho bước phát triển của thơ mang nhiều yếu tố sơn thủy: cảnh sắc sơn thủy được chú ý miêu tả số lượng lớn, khí tượng đẹp đẽ khiến cho thơ kết hợp được chất triết lí và tình thú tự nhiên

Cùng ý kiến thơ Sơn thủy ra đời từ đời Đông Tấn còn có nhà nghiên cứu Kha

Tố Lợi và Cát Hiểu Âm Kha Tố Lợi từng viết trong công trình của mình rằng:

"Thơ Sơn thủy ra đời vào thời Đông Tấn, từ đây sơn thủy bắt đầu trở thành đối tượng thẩm mĩ độc lập Loại thơ này trọng về quan sát bản thể tự nhiên, miêu tả

chân thực hoàn cảnh hiện thực của tự nhiên." [87, tr.58] Cát Hiểu Âm trong Sơn

thủy điền viên thi phái nghiên cứu cũng viết:

Thơ Sơn thủy đã thực sự trở thành một đề tài độc lập xuất hiện trên thi đàn Đông Tấn Chẳng qua là nó xuất hiện dưới vỏ bọc của Huyền ngôn Phật

lí nên lúc bắt đầu có sự khác biệt không lớn so với phong mạo thơ Huyền ngôn cùng thời Dựa vào sự gia tăng các thành phần tả sơn thủy, thơ Sơn thủy không ngừng thành thục, tức cũng là sự thoát thai từ thơ Huyền ngôn

Tào Tháo được xem là mở đầu cho dòng thơ này

Tác giả Lý Trạch Hậu trong chuyên khảo Mỹ đích lịch trình cũng cho rằng:

Từ thơ Huyền ngôn đến thơ Sơn thủy là sự phản ánh tư tưởng tự giác đối với đề tài sáng tác Bản thân những sáng tác này từ Quách Phác đến Tạ Linh Vận đương thời có thanh danh hiển hách mà thực tế không thành công

Họ theo đuổi sự nhất trí bản thể triết học, chủ đề con người thể hiện ở đây

Trang 26

cũng là yêu cầu một sự đồng nhất với "Đạo" tự nhiên Tính thẩm mĩ ở đây cũng tương tự như trong hội họa, việc thể hiện tính tự giác của văn học là yêu cầu dùng hình tượng để ―đàm huyền luận đạo‖ và miêu tả cảnh vật Nhưng do tự nhiên ở đây hoặc chỉ là đối tượng du ngoạn bên ngoài của quý tộc, hoặc chỉ là một cách để họ hướng đến cái ―huyền viễn‖ hay gọi là "siêu thần đắc lý", chứ hoàn toàn không có quan hệ mật thiết với sinh hoạt và tình cảm của họ Trào lưu mang tính thời đại này phải đến thời Tống Nguyên về sau mới xuất hiện [60, tr.94]

Lý Trạch Hậu đã hoàn toàn phủ nhận cái gọi là thơ Sơn thủy được biến chuyển từ Huyền ngôn, đồng thời còn cho rằng trước thời Tống Nguyên chưa hề có thơ Sơn thủy đích thực Theo ông, thơ Sơn thủy trước Tống Nguyên về mặt phản ánh tư tưởng tự giác đối với đề tài tuy có, nhưng đó vẫn chỉ là chủ ý theo đuổi bản thể triết học chứ không phải là đối tượng cụ thể có tác động trực tiếp lên tư tưởng thẩm mĩ của con người Và vì thế nên cái đạt được chỉ là huyền viễn, "siêu thần đắc ý", chứ không tạo nên hình tượng biểu trưng con người trong thơ Từ những quan điểm được trình bày trên đây, rõ ràng vấn đề nguồn gốc cùng thời điểm xuất hiện của dòng thơ Sơn thủy ở Trung Quốc vẫn là một vấn đề gây tranh cãi

Kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứu thuyết Đông Tấn, đặc biệt là các nghiên cứu của Cát Hiểu Âm, Kha Tố Lợi, Lý Văn Sơ, người viết đồng ý kiến cho rằng, thời đại Đông Tấn không những hội tụ đầy đủ điều kiện cho sự ra đời thơ Sơn thủy, mà còn đặt những nền tảng vững chắc cho sự phát triển của dòng thơ này

Điều kiện thứ nhất, nhu cầu giải phóng con người trong lịch sử giai đoạn Ngụy Tấn Nam Bắc triều đầy biến chuyển

Đông Tấn là giai đoạn thứ hai sau khi Tây Tấn bị tiêu diệt Thời Vĩnh Hạ các

sĩ phu, văn nhân Bắc phương di chuyển xuống Nam định cư, đứng trước cảnh tranh giành quyền lợi, chiếm đoạt đất đai tạo nên một tâm thái thê lương trong lòng họ Tuy nhiên, núi cao sông rộng, khí hậu tài nguyên đa dạng vùng đất Trường Giang lại là suối nguồn vô cùng phong phú cho sự phát triển của thơ ca Sơn thủy

Nhu cầu giải phóng con người, giải phóng trí tuệ khiến con người lẩn trốn cuộc sống loạn lạc, tranh quyền đoạt lợi, ngược lại thích thân cận, hòa mình vào chốn sơn lâm hoang dã, lấy đó làm nơi ký thác tâm tình, ý chí, lý tưởng Nói về giai đoạn này, Kha Tố Lợi dẫn lời Tông Bạch Hoa trong "Sơn thủy tình tự dữ thẩm mĩ nhân sinh" bình luận như sau:

Trang 27

Tinh thần của con người thời đại Ngụy Tấn vươn đến cái triết học nhất, vì muốn đạt được cái giải phóng nhất, cái tự do nhất, loại tinh thần tự

do đích thực, giải phóng đích thực này mới đủ đem hoài bão, chí khí của họ

nở như một đóa hoa, tiếp thu toàn cảnh vũ trụ và nhân sinh, hiểu rõ ý nghĩa của nó, lĩnh hội được mức độ thâm sâu của nó Triết gia cận đại gọi là "tình điệu sinh mệnh", "ý thức vũ trụ", hình thành mầm mống ý chí vượt thoát của người Tấn Người Tấn rất giàu tình cảm với vũ trụ, cho nên trong văn học

nghệ thuật có rất nhiều thành tựu không thể sánh kịp [87, tr.76]

Ở đây rõ ràng hoàn cảnh sống, điều kiện chính trị xã hội khách quan đã tạo nên một nhịp dẫn quan trọng chuyển hướng đời sống trì trệ bấy lâu sang một môi trường mới đầy khơi gợi Từ đây có thể thấy thơ Sơn thủy hình thành dựa vào việc biến sơn thủy trở thành đối tượng thẩm mỹ độc lập, thực tế này có mối liên hệ mật thiết với trào lưu tư tưởng giải phóng cá tính dưới thời Ngụy Tấn

Điều kiện thứ hai, ảnh hưởng mạnh mẽ của Huyền học

Xã hội thời Hán với chủ trương độc tôn Nho học đã kiềm tỏa đời sống, tư tưởng, sáng tạo văn học trong một thời kỳ dài (khoảng 400 năm) Đến thời Ngụy Tấn, Huyền học thay đổi cục diện độc tôn của Nho học, phá vỡ thế đơn cực của chính trị, tư tưởng và học thuật

Huyền học Ngụy Tấn phủ định thần học Hán Nho Đứng trên các bàn luận lí

giải xoay quanh triết học Lão Trang và Chu dịch, Huyền học lấy "vô" làm gốc của

vũ trụ quan, đề cao tự nhiên, đưa tự nhiên đến trước mắt con người, không ngừng nâng cao nhận thức của con người đối với tự nhiên, lấy tự nhiên làm đối tượng thẩm

mĩ chủ yếu của thơ Sơn thủy Huyền học xem trọng ẩn dật, tôn sùng tự nhiên, tạo nên phong khí riêng Con người tự tìm đến thiên nhiên để phát hiện những thắng cảnh sơn thủy nằm ngoài xã hội thế tục Để có thể thể hiện chân thực thiên đạo tự nhiên (Trước nay giới bình luận thường lấy tính Huyền vị làm giới hạn giá trị của thơ Sơn thủy Điều này cần phải xem lại để có đánh giá đúng hơn.) Vũ trụ quan Huyền học có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học Thơ Sơn thủy kỷ du xuất hiện đời Đông Tấn chính là do các văn nhân du lãm sơn thủy trực tiếp cảm thụ mà viết ra

Có thể nói "dĩ Huyền đối sơn thủy" là dùng quan điểm nhận thức mới về Huyền học

để đối đãi với sơn thủy tự nhiên Thơ Sơn thủy được hình thành, tự nhiên cũng mang phong khí Huyền học Tư tưởng triết học của Huyền học là điều hòa danh giáo và tự nhiên Phong khí ẩn dật thời Đông Tấn rất thịnh, có thể nói là trước sau chưa từng có Tầng lớp thống trị không những không ngăn cản mà còn rất tôn trọng

Trang 28

Con người đứng trước thiên nhiên bao la vừa kỳ bí lại vừa xa lạ gây nên tâm trạng lo lắng Những lí giải mới của Huyền học về sơn thủy, trên thực tế là dựa vào

sự lĩnh ngộ triết học để dẫn ra mỹ học Có thể nói tư tưởng mỹ học Trung Quốc từ Ngụy Tấn đã phát sinh chuyển biến mới Thơ ca bước vào cuộc cách tân lớn, bao gồm đề tài, nội dung, phương thức Trên văn đàn xuất hiện nhiều vấn đề mới, những điều này có liên quan đến sự lí giải trực tiếp về sơn thủy Từ đây cho thấy vai trò của Huyền học có ảnh hưởng rất lớn, nó tạo điều kiện để triết học và mỹ học Trung Quốc có một cách nhìn mới, tiến sâu vào đối tượng mới là tự nhiên Từ đó, cách nhìn, nhận thức về tự nhiên của con người ngày càng tăng, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng cho sự ra đời thơ Sơn thủy

Điều kiện thứ ba, Phật - Đạo kết hợp, vũ trụ mở rộng

Phật giáo truyền vào Trung Quốc từ cuối thời Đông Hán, liền sau đó đã có nhiều điều kiện phát triển, gắn bó chặt chẽ với đời sống văn hóa dân gian Danh sĩ tiếp nhận với mục đích trao đổi, đàm đạo, lí luận đã nhanh chóng mượn những điểm tương đồng ở Đạo để giải Phật (đại biểu có Tôn Xước, Tạ Linh Vận) Do Phật và Đạo lại có những phạm trù triết học gần nhau, việc mượn Đạo giải Phật đã tạo nên

sự hỗn dung tư tưởng khó có thể phân biệt tách bạch đâu là tư tưởng Phật, đâu là tư tưởng Đạo Phật chuộng thanh đạm, Đạo lại chủ tự nhiên Bởi quan niệm "Tự nhiên thị đạo" (tự nhiên chính là đạo), nên sơn thủy thực chất là một cách nói hàm ẩn về

tự nhiên, đã trở thành đề tài thi triển sự ngộ đạo của các thi nhân đối với tự nhiên và khuynh hướng thanh đàm Huyền lí Từ đây dễ dàng nhận thấy, sơn thủy trở thành đối tượng thẩm mĩ khách quan của các thi nhân Đông Tấn

Điều kiện thứ tư, sự thay đổi của thơ Huyền ngôn

Vốn dĩ sự xuất hiện những tác phẩm thuộc chùm thơ Cổ thi thập cửu thủ

cuối Đông Hán, đã đánh dấu sự thuần thục của thể thơ Ngũ ngôn Thế nhưng từ niên hiệu Vĩnh Hạ dưới triều Tây Tấn về sau, thơ Huyền ngôn xuất hiện, nội dung thơ trực tiếp dùng Huyền lí, hình thức đa phần chọn lối thơ tứ ngôn đã phá hoại nghiêm trọng tính hình tượng và trữ tình của thơ ca Có thể nói, quy luật nội tại trong thơ và thể thức thơ đã đi lùi trở lại rất nhiều Thơ ca giai đoạn này đứng trước nguy cơ sống còn Lúc này, các văn sĩ ẩn cư, giao du sơn hải đã tích lũy kinh nghiệm mĩ cảm phong phú, nhận thức về tự nhiên sơn thủy đạt được lí tưởng "thể huyền thích tính" (trải nghiệm huyền, giải phóng tính tình), đem việc miêu tả tự nhiên sơn thủy biểu đạt những điều ngộ được của bản thân đối với Đạo Điều này được biểu đạt rõ nét trong những sáng tác của thi nhân ở mảng thơ Huyền ngôn

Trang 29

Trong thơ, xuất hiện rất nhiều câu hay, những từ ngữ đẹp miêu tả về thiên nhiên sơn thủy, như thế, một khi thành phần Huyền ngôn càng giảm bớt đi, thành phần sơn thủy càng nhiều hơn và sơn thủy được dùng làm đối tượng chủ yếu được miêu tả trong thơ (đa phần là làm thơ ngũ ngôn) Có thể nói thơ Sơn thủy chính phát xuất từ Huyền ngôn Nhà thơ đại biểu cho Huyền ngôn là Tôn Xước với bài "Thu nhật"

trong Lan đình tập là tác phẩm tiêu biểu cho loại thơ trên Bài thơ được viết như

Sơ lâm tích lương phong,

Hư tụ kết ngưng tiêu

Trạm lộ sái đình lâm, Mật diệp từ vinh điều

Phủ khuẩn bi tiên lạc, Phán tùng tiễn hậu điêu

Thùy luân tại lâm dã, Giao tình viễn thị triều

Điềm nhiên cổ hoài tâm, Hào thượng khỉ y dao

(Trong vắt trăng giữa thu,

Vi vu gió mạnh thổi

Ở núi thời tiết đổi, Viễn khách vui hát vang

Rừng thưa tụ gió lạnh, Hang núi mây ngưng đọng

Móc tưới cây trước nhà,

Lá dày rơi nhành sậm

Sờ rêu thương sớm tàn, Vin tùng khen chịu lạnh

Buông khăn giữa rừng sâu, Giao tình với thành thị

Hoài cổ lòng dửng dưng,

Trang 30

Trên hào đâu xa gì.) [29, tr.500]

Dựa vào một số cơ sở điều kiện đã phân tích trên đây, người viết bước đầu lấy mốc Đông Tấn là thời điểm ra đời của thơ Sơn thủy, đồng thời dùng nó làm điểm tựa lí luận cho việc chỉ ra ―chân diện‖ của thể tài thơ Sơn thủy cũng như diễn biến lịch sử phát triển của nó

1.1.3 Khái niệm thơ Sơn thủy

Khi luận giải khái niệm Sơn thủy, nhà nghiên cứu Lý Văn Sơ đặc biệt chú ý

đến mối quan hệ mật thiết của nó đối với Huyền học Ông đã đưa ra ba ý nghĩa của

Sơn thủy như sau:

Thứ nhất, sơn thủy tức quan điểm cụ thể hóa "tự nhiên" Từ "tự nhiên" là khái niệm được sử dụng đầu tiên trong tác phẩm của Lão Trang chỉ triết học "Tự" tức là tự thân, bản thân của người hoặc vật "Tự nhiên" chính là tự bản thân hay

―bản lai diện mục‖ Con người trở về với sơn thủy, với tự nhiên chính là trở về cái chân như, cái tự nhiên vốn có của con người giao hòa với vật Thứ hai, quan điểm sơn thủy bao gồm cả hai ý nghĩa "thể huyền" (đặt mình vào cái sâu thẳm) và "thích tính" (tính trung, vừa vặn kết hợp với tự nhiên) Nhân sĩ Ngụy Tấn tôn sùng tự nhiên, thể ngộ được triết lí tâm vũ trụ, đây là thể Huyền hoặc thể Đạo Có thể nói đó

là hai điểm mà con người luôn theo đuổi Tuy nhiên, trong xã hội, đó là hai cảnh vực không tồn tại Chỉ có đến trong tự nhiên, con người mới có thể tìm ra được Đây chính là sự "thể vị mĩ học" (đặt mình vào trong nó để nếm được) mà thiên ―Tri

bắc du‖ sách Trang tử từng nhắc tới Thứ ba, quan điểm tự nhiên sơn thủy trở thành

hình tượng ký thác vẻ đẹp nhân cách, cá tính lí tưởng Trung tâm của tư tưởng thời Ngụy Tấn chính là: nhân cách lí tưởng của thánh nhân theo quan điểm của Đạo gia Con người ở trong tự nhiên, từ cái đẹp của cảnh vật sơn thủy sẽ phát hiện được nhân cách lí tưởng của nhân tính Tinh thần của con người có thể đạt đến cảnh giới của tự nhiên, có thể tương thông với đạo Đó chính là quan điểm mới của triết học Lão Trang, tức ―vật ngã huyền đồng‖ Con người cho rằng cái đẹp của nhân tính chính là thiên tính của tự nhiên

Từ bước đầu trở về với bản lai diện mục, sau đó nối tiếp hòa mình vào tự nhiên để cảm nghiệm vẻ đẹp vô vi và cuối cùng là làm cho ấn tượng của con người không chỉ dừng lại ở ngọn núi một dòng nước cụ thể, mà là hiện lên cái khí tượng

và khoảng không linh diệu, ý mở rộng vô cùng, trong đó ẩn hiện những phong thái,

cá tính độc đáo của thi nhân Và nếu như xem xét ba cảnh giới trong thơ do Vương

Trang 31

Xương Linh nhắc đến trong Thi cách và đặc biệt là Lưu Hiệp nhắc tới thơ Sơn thủy trong Văn tâm điêu long, cho thấy Huyền học Đông Tấn là cái nôi trọn vẹn nhất

nâng đỡ sự ra đời của thơ Sơn thủy Đó chẳng phải là bước đi của vật cảnh, tình cảnh và ý cảnh mà Vương Xương Linh ca tụng ở thơ Sơn thủy hay sao?

Trong văn học sử Trung Quốc, sự xuất hiện của thơ Sơn thủy là một sự kiện quan trọng khiến nhiều người quan tâm Tuy nói nguồn gốc thơ Sơn thủy đã bắt đầu hình thành từ thời Đông Tấn, dựa trên các đặc trưng về đề tài sơn thủy là đối tượng của thơ và là đối tượng nhận thức thẩm mĩ của thi nhân, nhưng vẫn chưa có tên gọi

cụ thể Có thể nói, Lưu Hiệp là nhà lí luận chú ý hiện tượng văn học này sớm nhất:

Thời Đông Tấn, thơ đắm chìm trong không khí Huyền học Hoặc chê bai cái chí của người theo thế tục, hoặc đề cao lối nói viễn vông Viên Hoằng, Tôn Xước trở xuống, tuy người nào cũng có sự đẽo gọt riêng, nhưng xét về mặt lời và ý thơ thì không ai có thể hơn họ Cho nên thơ Du tiên của Cảnh Thuần được xem là ưu tú nhất Sang đầu đời Tống, thể thơ có thay đổi, lối thơ đậm chất Lão Trang rút lui, thơ sơn thủy thắng thế Đua nhau làm sao cho trăm chữ đối nhau, tranh nhau làm sao cho một câu kỳ lạ Họ chú ý sao cho về tình cảm thì phải nói hết và chú ý tả vật, lời thì phải dụng công và phải mới Đó là điểm đua nhau thời gần đây Cho nên khi xem tất cả các đời,

ta có thể thấy cái sự biến đổi của tình cảm và tư tưởng Khi xét chung các

điểm dị đồng thì ta có thể hiểu rõ cái chủ chốt [28, tr.44]

Khi nói về sự chuyển biến thể thơ từ ―lối thơ đậm chất Lão Trang rút lui, thơ

sơn thủy thắng thế‖, Lưu Hiệp cũng đã đồng thời nêu lên những đặc điểm chủ yếu

về bút pháp cũng như sự biến đổi tư tưởng tình cảm của thể tài mới này, tức "về tình

cảm thì phải nói hết và chú ý tả vật, lời thì phải dụng công và phải mới"

Đến đời Đường khái niệm thơ Sơn thủy mới được Vương Xương Linh định nghĩa một cách chính thức: "Thơ có ba cảnh giới: thứ nhất là vật cảnh, thứ hai là tình cảnh, thứ ba là ý cảnh Ở vật cảnh Gọi là thơ sơn thủy, tức là biểu dương cái đẹp diễm lệ của suối đá mây gió, nắm bắt cái thần (của cảnh) trong tâm Đặt thân trong cảnh, để thấy được cảnh trong tâm, nắm bắt được tự nhiên thanh trong, sau đó suy tư để hiểu được bản chất của cảnh tượng6

[127] Từ phát biểu của Vương

6 Nguyễn văn: "诗有三境: 一曰物境,二曰情境,三曰意境。物境一。欲为山水诗,则张泉石云峰之境, 极丽绝秀者,神之于心。处身于境,视境于心,莹然掌中,然后用思,了解境象。" (Thi hữu tam cảnh: nhất viết vật cảnh, nhị viết tình cảnh, tam viết ý cảnh Dục vi sơn thủy thi, tắc trường truyền thạch vân phong chi cảnh, cực lệ sắc tú giả, thần chi vu tâm Xử thân vu cảnh, thị cảnh vu tâm, nhiên hậu dụng tư, liễu giải cảnh tượng.)

Trang 32

Xương Linh cho thấy, ông đã nêu lên yêu cầu đối với thơ sơn thủy trên các phương

diện về đối tượng sơn thủy của thơ (biểu dương cái đẹp diễm lệ của suối đá mây

gió) và về đối tượng thẩm mĩ sơn thủy của thi nhân (nắm bắt được tự nhiên thanh trong, sau đó suy tư để hiểu được bản chất của cảnh tượng)

Đây chính là hai căn cứ lí luận đầu tiên về thơ Sơn thủy đánh dấu cho sự phát triển rầm rộ của dòng thơ này ở đời Đường, thế nhưng nó lại không đồng nhất với quan điểm về đối tượng này của các nhà lý luận đời sau Nhìn chung có thể xếp thành ba nhóm quan điểm về khái niệm thơ Sơn thủy như sau:

Thứ nhất, nhóm đánh giá theo tinh thần khách quan, đề cao đối tượng sơn thủy trở thành đề tài chính trong thơ

Thứ hai, nhóm tác giả đánh giá theo tinh thần chủ quan mối quan hệ giữa sơn thủy tự nhiên và tình cảm của thi nhân

Thứ ba, nhóm tác giả đánh giá trên cả hai phương diện đối tượng đề tài và chủ quan thẩm mĩ của thi nhân, để đi đến một khái niệm rộng hơn liên quan đến mỹ học thơ Trung Quốc

Ở đây người viết tuy phân tách thành ba nhóm quan niệm về thơ Sơn thủy, nhưng thực chất ba nhóm này không hề tồn tại những quan điểm đối lập, mà là những quan niệm đi từ yếu tố đơn nhất đến tổng hợp, từ đối tượng cụ thể đến lí luận phức tạp, từ đơn giản đến mở rộng

Ở nhóm thứ nhất:

Lâm Văn Minh theo tinh thần phản ánh khách quan, cho rằng: "Thơ Sơn thủy chính là loại thơ mô phỏng cảnh sơn thủy, nội dung cơ bản là miêu tả cảnh núi sông, cây cỏ, chim hoa, cầm thú Nói cách khác, nội dung của nó là toàn bộ cảnh vật

tự nhiên." [35, tr.10]

Lý Nguyên Lạc trong Thi mỹ học cho rằng: "Cái gọi là thơ Sơn thủy, tức là

những tác phẩm thơ trực tiếp lấy sơn thủy làm đối tượng thẩm mĩ." [35, tr.36]

Nhóm tác giả này chủ yếu giới hạn thơ Sơn thủy về mặt đối tượng đề tài một cách rất sơ lược và khái quát, nên không đem lại giá trị cao, nhất là đã gây ra sự trùng lặp với loại thơ Vịnh cảnh

Ở nhóm thứ hai:

Vương Chí Thanh trong bài viết "Sơn thủy thi trung vật đích tâm thái hóa thí

nghiệm" (Nhân văn tạp chí, kỳ 5, 1993) cho rằng: "Tác phẩm thơ Sơn thủy chính là

kết quả của việc thi nhân mượn khách thể tự nhiên để gửi gắm ý chí, tình cảm trong những hoàn cảnh xã hội nhất định." [87, tr.46]

Trang 33

Lý Văn Sơ trong Trung Quốc sơn thủy thi sử đề xuất hai tiêu chí căn bản của

thơ Sơn thủy, tức cần xem xét: "Thứ nhất, sơn thủy trên bình diện đề tài có trở thành đối tượng chủ yếu của thơ hay không? Thứ hai, sơn thủy tự nhiên có chính

thức trở thành đối tượng thẩm mĩ chủ yếu của thi nhân hay không?" [87, tr.46]

Trương Tùng Như định nghĩa theo tinh thần phản ánh chủ quan: "Gọi là thơ Sơn thủy, tức là loại thơ lấy cảnh sơn thủy tự nhiên làm đề tài Nó viết về sông núi,

về trời đất bao la, không chỉ đơn thuần miêu tả một cành hoa, một phiến đá, một cánh chim tức chỉ là cảnh vật tự nhiên một cách khách quan, mà là cảnh tự nhiên

đã được thi nhân chủ quan hóa." [35, tr.8]

Trần Trung Hỷ cho rằng: "Thơ Sơn thủy là một thể tài độc lập của thơ ca, lấy thiên nhiên làm đối tượng thẩm mĩ chủ yếu, thông qua miêu tả cảnh vật để bộc lộ

tâm tình." [35, tr 8]

Sách Trung Quốc văn học đại từ điển, mục ―Thơ Sơn thủy‖ viết:

Thơ Sơn thủy chỉ loại thơ ca lấy sơn thủy danh thắng làm đối tượng miêu tả

và khắc họa cái đẹp tự nhiên, chọn cảnh sinh động, tạo cảnh giới tự nhiên, đặt từ tinh xác là những đặc điểm chủ yếu Việc miêu tả sơn thủy trong thơ đã thấy manh nha từ thời Tấn, đến Tạ Linh Vận thời Tống Nam triều thì đạt đến mức thuần thục Sau đó, Tạ Diễu, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy đều có những thành tựu đáng chú

ý, khiến thơ Sơn thủy trở thành một trong những chủ đề quan trọng của thơ ca truyền thống Đồng thời với việc thể hiện cái đẹp tự nhiên, thơ Sơn thủy cũng phản ánh hứng thú chủ quan của tác giả, trong đó đôi khi có phần tiêu cực buông mình trong sơn thủy, sùng thượng ẩn dật [60, tr.95]

Ở nhóm này, các nhà nghiên cứu khi nhìn nhận về thơ Sơn thủy đứng trên cả hai phương diện là: đề tài sơn thủy trong thơ và sự gửi gắm tình cảm chủ quan của tác giả Người viết gọi đây là yêu cầu về sự hòa hợp cảnh - tình trong thơ Sơn thủy

Ở nhóm thứ ba:

Quan điểm của Y Điện Thần và Kha Tố Lợi có một vài điểm tương đồng, tức đều cho rằng sơn thủy là một đề tài rất rộng và gần như bao gồm cả các thể tài khác chứ không phải là những đề tài sông núi cỏ cây hoa lá thông thường Y Điện Thần chủ trương không phân biệt tách bạch thơ Sơn thủy với thơ Điền viên, Biên tái, Vịnh cảnh Ông viết:

Xưa nay hoàn toàn không có một giới định thống nhất, vì thơ Sơn thủy bao quát những nội dung rất phong phú, giữa nó và thơ Điền viên, thơ

Tả cảnh, thơ Kỷ du, thơ Biên tái, thơ vịnh cỏ hoa không có ranh giới rõ ràng,

Trang 34

rất khó chia tách, nhưng nó đã lấy tên Sơn thủy, thì người ta cứ theo đó mà cho rằng thơ Sơn thủy là loại thơ lấy cảnh núi sông, cảnh ruộng vườn, cảnh quan nhân văn làm đối tượng, khắc họa những hình tượng sinh động, khiến

nó trở thành bức tranh có thanh có sắc để thi nhân thể hiện tình cảm, biểu đạt

ý chí, gửi gắm lí tưởng, tiêu khiển Nói cách khác, thơ Sơn thủy là kết tinh của việc thi nhân dung hợp phong cảnh tự nhiên và cảnh quan nhân văn thành nhất thể, thể hiện thẩm mỹ và đánh giá của thi nhân đối với tự nhiên [60, tr.95]

Tuy nhiên, Y Điện Thần ngay sau đó lại cho thấy tư tưởng của ông và Kha

Tố Lợi khác nhau một trời một vực Y Điện Thần cho rằng: "Thơ Sơn thủy là kết

tinh của việc thi nhân dung hợp phong cảnh tự nhiên và cảnh quan nhân văn thành nhất thể, thể hiện thẩm mỹ và đánh giá của thi nhân đối với tự nhiên" Vậy cơ sở

tuyển tập thơ Sơn thủy ở Y Điện Thần vẫn chỉ là quay về đối tượng, đề tài sơn thủy trong thơ và tư tưởng tình cảm tác giả Trong khi đó, nhà nghiên cứu Kha Tố Lợi lại dựa trên góc độ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên: ―Thơ Sơn thủy là những tác phẩm thi ca thống nhất giữa tự nhiên của biểu hiện đối tượng và tự nhiên của biểu hiện bản thân Nó thể hiện quan niệm cao nhất đối với thi học là "thiên nhân hợp nhất.‖ [87, tr.58] và ―Đối với cách lí giải thơ Sơn thủy này, cho thấy nó không

bị giới hạn bởi đề tài sơn thủy đơn thuần mà là xuất phát từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Trong đó biểu hiện mối quan hệ hòa hợp giữa con người với tự nhiên, trở thành tự nhiên trong biểu hiện tinh thần nhân văn của người Trung Quốc [87, tr.46]

Sơn thủy trên đây có liên quan rất rộng, nó bao gồm rất nhiều khía cạnh, từ sơn thủy, điền viên, hoa điểu, trùng ngư cho đến biên tái, đăng lãm, quan biệt, hoài cổ Nó vượt qua phạm vi của cái gọi là đề tài sơn thủy truyền thống Có thể thấy, sơn thủy không còn là một đối tượng, đề tài của thi ca đơn thuần mà đã biến thành một cảnh giới sáng tác, đồng thời được nâng lên một cảnh giới cao nhất đó là tự nhiên: "Đạo vô sở bất tại" (Trang Tử) hay quan điểm "Sơn thủy thị đạo" của Tôn Xước Tuy nhiên, nếu như việc giới định thơ Sơn thủy dựa trên quan điểm của Y Điện Thần và Kha Tố Lợi, sẽ càng làm cho sự khu biệt trở nên vô tác dụng, tức phạm vi của nó quá rộng, và khi xem "thơ Sơn thủy cũng có thể được gọi là thơ tự nhiên" thì gần như chúng ta không thể tìm hiểu được sự khác biệt của nó trong mối tương quan với các thể tài khác Nhưng ở đây chúng ta không hoàn toàn bác bỏ quan điểm của Kha Tố Lợi, bởi vì mức độ thuần thục đạt đến cảnh giới tự nhiên khi

Trang 35

lấy sơn thủy làm đối tượng của thơ ca đã cho thấy một tiến trình hình thành phát triển và hoàn chỉnh phái thơ này, mà điểm kết tinh chính là trong thơ Sơn thủy Điền viên của Vương Duy Đây là một kiến giải mà người viết cho rằng vô cùng có giá trị để nghiên cứu một thể tài phức tạp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học văn hóa Trung Quốc

Vì vậy người viết dựa vào yêu cầu về thơ Sơn thủy của các nhà nghiên cứu trên (Lý Văn Sơ, Kha Tố Lợi, Cát Hiểu Âm ), nhằm đưa ra ba vấn đề cần giải quyết về thơ Sơn thủy như sau:

Một là, khu biệt thể tài thơ Sơn thủy (với các thể tài khác như Điền viên, Biên tái, tả cảnh , đặc biệt là thơ Điền viên) Bản thân cảnh vật tự nhiên sơn thủy chính là đối tượng của thơ và là đối tượng nhận thức thẩm mĩ của tác giả

Hai là, đánh giá cảnh giới thơ, cũng như sự hoàn thiện của thể tài thơ Sơn

thủy trong tiến trình phát triển của nó chính là sự dung hợp giữa cảnh - tình

Ba là, tìm hiểu phong cách thơ Sơn thủy của tác gia tiêu biểu qua sự kế thừa, phát triển và tầm ảnh hưởng trong lịch sử phát triển của thơ Sơn thủy

1.1.4 Phân biệt thơ Sơn thủy với thơ Điền viên

Xét về thơ Điền viên và thơ Sơn thủy, Cát Hiểu Âm cho rằng khuynh hướng

điền viên trong Thi kinh sớm và rõ hơn là khuynh hướng sơn thủy do văn hóa trọng nông nghiệp của thời nhà Chu Tuy nhiên, điền viên trong Thi kinh cũng chỉ là thủ

pháp tỷ hứng, sử dụng cảnh sinh hoạt nông nghiệp, xóm làng như bức nền cho bộc

lộ tư tưởng và ý chí của người cổ đại Đến thời Tấn Tống, cả Điền viên (Đông Tấn)

và Sơn Thủy (Lưu Tống) đều xuất hiện Hán Ngụy, tình hình chính trị trở nên tối tăm, chính biến loạn lạc, Nho quan dùng ẩn dật nơi điền viên làm phương thức bảo toàn phẩm cách theo như quan điểm xuất xử của Khổng Tử: "Bang hữu đạo, tắc sĩ Bang vô đạo, tắc khả quyển nhi hoài chi" (Nước có đạo thì ra làm quan, nước vô đạo thì có thể viết sách mà chứ đựng hoài bão về nó (về việc làm quan)) Mạnh Tử

từ đó lại tiến thêm một bước phát triển thành: "Đạt tắc kiêm tề thiên hạ, cùng tắc độc thiện kỳ thân" (Được ý thì cùng làm yên thiên hạ, thất ý thì riêng mình hoàn thiện bản tâm) Kết hợp với tư tưởng vô vi tự do trong hành xử và sống gần với tự nhiên để dung dưỡng tính tình Cách hành xử của Nho quan trong giai đoạn này thiên về hai xu hướng dẫn đến hình thành nên khác biệt cơ bản nhất của hai thể tài thơ Điền viên và thơ Sơn thủy

Trang 36

Những nhân sĩ từ quan sống cuộc đời ẩn cư từ thời Hán Ngụy là người có tráng chí, tâm huyết xây dựng xã hội tốt đẹp, công bình nhưng nhà cầm quyền đã suy yếu lại ẩn chứa nhiều bất công xã hội, tập trung quyền lực chèn ép nhân sĩ, mua quan bán chức nên kẻ sĩ ít được có cơ hội thi triển Trước tình hình đó, họ đã quyết định giải quan, quy ẩn điền viên, hòa mình vào cuộc sống hoàn toàn gắn với sinh hoạt lao động trên ruộng đồng Ngoài thái độ bất đắc chí thường thấy của nhân sĩ, xem giải quan như là một phản ứng với thời cuộc, thì ở một góc độ khác, việc về với điền viên chính là thể hiện tư tưởng yêu thiên nhiên, ước nguyện sống quy hồi

bản tính tự nhiên của con người Như Đào từng viết trong thơ mình: "Thiếu vô thích

tục vận, Tính bản ái khâu sơn , Cửu tại phan lung lý, phục đắc phản tự nhiên" (từ

nhỏ chẳng thích thói tục, Tính vốn yêu núi gò Đã lâu bị nhốt trong lồng, Nay lại

được trở về với tự nhiên) Hay viết: "Nhược linh ký sự ngoại, uỷ hoài tại cầm thư" (Tuổi trẻ gởi thân, tâm ngoài chuyện đời, Chỉ muốn đọc sách chơi đàn); "Tĩnh niệm

viên lâm hảo, Nhân gian lương khả từ" (lặng nghĩ về núi rừng vườn tược, chuyện

nhân gian ta có thể chối bỏ được)." [116]

Từ sớm họ đã phân biệt sự không thể dung hòa được của thiên tính (nhân

cách bản tính gắn liền với tự nhiên) và thói tục (việc quan lại): "Chất tính tự nhiên,

phi kiểu lệ sở đắc Cơ đống tuy thiết, vi kỷ giao bệnh" (Vì bản tính ta vốn tự nhiên

chất phác, cái việc làm quan này chẳng phải là việc miễn cưỡng làm được Ta đã từng làm quan, ấy là vì cái miệng mà làm mình thêm cực nhọc) [116] Xem lao động cực nhọc nhưng thiên lương chính là sự dung dưỡng nhân cách của con người

Từ trải nghiệm gắn bó với hoàn cảnh tự nhiên nên sắc thái mà thơ điền viên Đào đem lại chính là sự an nhiên tự tại, bộc trực, đạm nhiên, tình cảm nồng hậu đến tột

cùng khi con người bất chợt nhận ra chân lí của sự tồn tại như bài thơ Ẩm tửu ngũ

thủ Hay ở các ý thơ như: "Điểu lộng hoan tân tiết, Linh phong tống dư thiện"

(Chim hót mừng xuân mới, Gió nhẹ hiền hoà thổi đến cảm hứng dào dạt), "Bình trù

giao viễn phong, Lương miêu diệc hoài tân." (Gió xa thổi trên cánh đồng rộng, Lúa

tốt tươi vui đón xuân mới); "Sơn địch dư ái, Vũ ái vi tiêu Hữu phong tự nam, Dực

bỉ tân miêu." (Trên dải núi, mây khói thừa đã tạnh hết, Trên trời hãy còn những đám

mây nhàn nhạt Gió xuân từ phương Nam thổi lại, Dải lúa non mọc xanh mãi không

thôi.); "Thần hưng lý hoang uế, Đái nguyệt hà sừ quy" (Sớm dậy làm cỏ dại, Đêm

vác cuốc về trăng treo trên lưng) [116]

Thơ Sơn thủy là biểu hiện của tinh thần thủ đạo tu tính, ngao du sơn thủy của

sĩ tộc thời Đông Tấn Họ đại diện cho lớp quý tộc cũ có đường tiến thân nhưng rơi

Trang 37

vào cục diện bất mãn đối với thời thế Gia tộc dần bị triệt hạ, Tạ Linh Vận, Tạ Diễu chính là sự nối tiếp văn sĩ quý tộc Đông Tấn, cuộc sống thoát li hiện thực, hành dịch, du ngoạn sơn thủy trang viên vừa là tìm vẻ đẹp tự nhiên, vừa là giải tỏa uẩn tâm và họ không hướng đến quy ẩn điền viên

Nếu như sự trở về với tự nhiên của Tạ là thể ngộ vũ trụ quan của Đạo trong vạn vật thì Đào chính là bảo tồn nhân sinh quan của thiên tính tự nhiên Do đó, tự nhiên trong thơ Đại Tạ biểu hiện thẩm mĩ khách quan của tự nhiên, còn thơ Điền viên của Đào thì lại biểu hiện hứng thú chủ quan của lĩnh ngộ tự nhiên Mà nguyên nhân sâu xa như nhà nghiên cứu Cát Hiểu Âm lí giải do văn nhân bất đồng địa vị xã hội từ bất đồng bối cảnh sinh hoạt và hoàn cảnh tự nhiên đến bất đồng quan niệm thể ngộ tự nhiên

1.1.5 Lịch sử phát triển thể tài thơ Sơn thủy

Ba tài liệu nghiên cứu chuyên biệt về thơ Sơn thủy một cách tổng quát và toàn diện nhất mà người viết tiếp cận được như trên đã nói, đó là của ba nhà nghiên cứu Trần Trung Hỷ (Việt Nam), Kha Tố Lợi và Cát Hiểu Âm (Trung Quốc) Quá trình hình thành và phát triển của thơ Sơn thủy Trung Quốc được ba nhà nghiên cứu khai triển khác nhau và đều có những điểm nhấn quan trọng

Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thể tài thơ Sơn thủy (từ Thi Kinh - 1840), Trần

Trung Hỷ phân chia thành năm giai đoạn phát triển của thơ Sơn thủy, mỗi giai đoạn đều được nhà nghiên cứu khái quát đặc trưng khác nhau Đồng thời Trần Trung Hỷ phân tích trên bình diện rộng tất cả những nhà thơ có phong cách, có những tác phẩm thuộc thơ Sơn thủy trong từng giai đoạn một Cho thấy một bức tranh toàn cảnh đủ màu đủ sắc đậm nhạt khác nhau của các nhà thơ Vì sự khái quát lớn, phạm

vi đối tượng quá rộng nên những kiến giải còn khá mơ hồ, mang tính kế thừa những đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước khá rõ

Đối với nhà nghiên cứu Cát Hiểu Âm, phạm vi này được rút ngắn lại thống nhất với quan điểm của bà về thơ Sơn thủy Điền viên7 Phạm vi nghiên cứu của Cát Hiểu Âm dựa trên vấn đề nghiên cứu về thi phái thơ Sơn thủy Điền viên bắt đầu từ

việc phân tích cội nguồn thơ là Thi kinh và Sở từ, giai đoạn chuẩn bị Hán Ngụy, giai

đoạn hình thành Đông Tấn Nam Bắc Triều, giai đoạn đỉnh cao Thịnh Đường và kết thúc là nhà thơ sơn thủy Vi Ứng Vật, Liễu Tông Nguyên thời Trung và Vãn Đường

7 Nhà nghiên cứu Cát Hiểu Âm tuy có sự phân biệt tương đối cụ thể giữa thơ Sơn thủy và các thể thơ tương cận khác (như thơ Điền viên, thơ du lãm,…) không những thế, trong quá trình nghiên cứu, những hiện tượng tác giả cùng mạnh ở nhiều thể tài luôn được bà dẫn ra phân tích một cách tỉ mỉ từng nhóm thể tài một

Trang 38

Nhà nghiên cứu Kha Tố Lợi nghiên cứu mối quan hệ giữa thi và tự nhiên

được chia thành các cảnh giới bắt đầu từ Vật sắc ―bản nhiên‖ thời Tần Hán, Cảnh

sắc ―thiên nhiên‖ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, Cảnh giới ―uyển nhiên‖ thời

Đường, Tống, Minh Ngược lại với Trần Trung Hỷ, Cát Hiểu Âm và Kha Tố Lợi lại hướng đến sự chọn lọc chặt chẽ các đối tượng có vai trò quan trọng nhất làm nên tên tuổi của thi phái thơ Sơn thủy hơn là đi vào tổng hợp các nhà thơ có một số bài thơ Sơn thủy Vì vậy, hai nhà nghiên cứu có rất nhiều kiến giải quan trọng, nghiên

cứu tỉ mỉ mạch nguồn (Thi kinh, Sở từ), những yếu tố ảnh hưởng (xã hội, chính trị,

triết học) cũng như đánh giá xác đáng về những tên tuổi trụ cột nhất của làng thơ Sơn thủy Điền viên (Đào Uyên Minh, Tạ Linh Vận, Tạ Diễu, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Vi Ứng Vật, Liễu Tông Nguyên )

Như đã phân tích ở trên, thơ Sơn thủy chính thức ra đời từ thời Đông Tấn Nhưng yếu tố sơn thủy trong thơ thì đã có trước đó vào thời Hán và xa hơn nữa là

từ cội nguồn của thi ca là Thi kinh và Sở từ Vì thế việc nghiên cứu yếu tố thi pháp

của một thể loại thơ, không thể tách khỏi cội nguồn, mầm mống đầu tiên gắn liền với sự ra đời của thể thơ, đồng thời cũng là dấu mốc đầu tiên bắt đầu ghi nhận sự phát triển tư tưởng con người Ở đây, người viết bắt đầu tiến trình thơ Sơn thủy từ

việc phân tích yếu tố sơn thủy và những giá trị của Thi kinh và Sở từ ảnh hưởng đến

thơ Sơn thủy Các yếu tố về thời đại, tình hình chính trị xã hội thời Hán và Ngụy Tấn Nam Bắc triều có nhiều thay đổi đã tạo điều kiện cho thi nhân, văn sĩ tiếp xúc trực tiếp với giới tự nhiên đánh dấu sự ra đời của thơ Sơn thủy thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều Và dòng chảy đó mở rộng thành con sông lớn vào thời Đường; phân nhánh vào các thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh Tuy nhiên, việc nghiên cứu tiến trình phát triển của thơ Sơn thủy đặt trong mối quan hệ làm sáng tỏ đối tượng của

đề tài là "Thơ Sơn thủy của Vương Duy" nên người viết chủ động không đi theo chiều ngang khám phá toàn cảnh như một số nhà nghiên cứu Trần Trung Hỷ, Kha

Tố Lợi và cũng giới hạn tiến trình của thơ Sơn thủy đến đại diện đỉnh cao là Vương Duy thời Thịnh Đường Ở các giai đoạn sau (Trung - Vãn Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh), người viết giới thiệu sơ lược về vị trí và sự ảnh hưởng của phái thơ Sơn thủy trên bình diện lí luận là chủ yếu Điều này không những giúp cho luận văn tạo được nền tảng, cơ sở nghiên cứu thơ Sơn thủy Vương Duy một cách chặt chẽ để thấy được sự vận động biến đổi của thể tài và phong cách tác giả mà vấn

đề cũng được giải quyết một cách tập trung hơn

1.1.4.1 Thời Tiên Tần

Trang 39

Các tác phẩm trong Thi kinh có niên đại sáng tác từ khoảng sơ kỳ Tây Chu

đến trung kỳ giai đoạn Xuân Thu, toàn tập bao gồm 305 thiên, tương truyền từng được Khổng Tử san định, đây là tổng tập thơ ca đầu tiên của Trung Quốc, phản ánh rất nhiều khía cạnh văn hóa tinh thần của con người Trung Quốc Khổng Tử trong

Luận ngữ thiên ―Dương Hóa‖ từng viết: "Thi khả dĩ hứng, khả dĩ quan, khả dĩ quần,

khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức ư điểu thú thảo mộc chi danh."

[22, tr.19] (Đọc Thi kinh giúp người có thể biểu đạt được tình ý, xem xét việc được

mất, hòa hợp được với mọi người, bày tỏ được nỗi sầu oán, gần thì học việc thờ cha,

xa thì học việc thờ vua, lại biết được nhiều tên chim, muông, cỏ, cây) Điều này cho thấy mức độ khái quát toàn bộ bức tranh cuộc sống của con người Trung Quốc thời

kỳ cổ đại

Thứ nhất thiên nhiên, cảnh vật được nhắc đến luôn có mối quan hệ mật thiết

với sản xuất nông nghiệp Sơn thủy trong Thi kinh phong phú phủ khắp toàn bộ Thi

kinh 305 thiên; là bối cảnh của hoạt động lao động sản xuất nông nghiệp; là hoạt

cảnh sinh hoạt; là đối tượng hòa điệu và đối lập với tình cảm con người Điều này được Cát Hiểu Âm phân tích là do ảnh hưởng của nền kinh tế nông nghiệp của nhà Chu

Thứ hai, thiên nhiên không tạo thành bức tranh hoàn chỉnh, thống nhất, tồn tại độc lập mà là một vật tượng rời rạc được sử dụng trong những bối cảnh nhất định Tiền Chung Thư nói: "Thiết vị "Tam bách thiên" hữu vật sắc nhi vô cảnh sắc"8

[87, tr.58] (Thiết nghĩ ba trăm bài thơ (chỉ Thi kinh) có vật mà không có cảnh) Nhà

nghiên cứu Kha Tố Lợi gọi đó là tự nhiên mang tính chất khúc dạo đầu: "tự nhiên dẫn tử" và đánh giá Sơn thủy trong thời đại Tiên Tần là thuần "vật sắc" Từ đây có thể thấy rõ quan điểm lí luận thơ ca của văn học Tiên Tần mà Khổng Tử từng nhấn mạnh đó là "thi ngôn chí" Cảnh chỉ là nền, là cơ sở, là tượng để chứa đựng chí

Thứ ba, thiên nhiên sơn thủy giao hòa với con người một cách tự nhiên trước khi người ta ý thức về nó, hoặc xem nó như một đối tượng tỷ dụ, ký thác, tượng trưng chứ không phải đối tượng thẩm mĩ Có thể nói đây là bước đánh dấu sự xuất hiện phương thức ngụ tình mà các giai đoạn sau thuần thục tả cảnh ngụ tình Bút

pháp miêu tả thiên nhiên trong Thi kinh là tả thực "nhất ngôn cùng lí, lưỡng tự cùng

hình" (một lời tận ý, hai chữ tận tình)

8 Nguyên văn: ―窃谓《三百篇》有‗物色‘而无‗景色‘。‖(Thiết vị "tam bách thiên" hữu "vật sắc" nhi vô "cả

nh sắc")

Trang 40

Thứ tư, về nghệ thuật sáng tác: cảnh vật mang tính tả thực để biểu hiện thế giới chủ quan của con người; thể nghiệm tự nhiên mang tính không tự giác, chủ yếu

là nhờ phú, tỷ, hứng Chỉ rõ tên, nói rõ việc là phú Dùng phép so sánh kín đáo là tỷ

(chỉ lấy vật làm tỷ dụ chứ không nói ra ý chính) Mượn vật để dẫn lời, cuối cùng uyển chuyển biểu đạt chủ đích là hứng Trong các bài tỷ hứng, hai câu thơ đầu tiên thường miêu tả về tự nhiên, và nó gần như đã trở thành motif trong kỹ thuật sáng tác và phương thức trữ tình Tự nhiên chính là tấm gương phản ánh chân sát nhất về tình cảm cũng như đạo đức, cuộc đời con người ở hiện tại và dự báo cho tương lai

Tự nhiên trong mối quan hệ với con người vô cùng gần gũi Con người xem trọng thiên nhiên, cùng đời sống, cùng chuẩn mực Sử dụng những hình ảnh tự nhiên mang tính chất ẩn dụ, ước lệ, đã được gán ghép những ý nghĩa nội dung gợi hứng nhất định

Sở từ là tổng tập thơ ca có niên đại sáng tác từ cuối thời Chiến Quốc đến đầu

giai đoạn Tây Hán, thời gian kéo dài khoảng 200 năm [61, tr.123], đây là sản phẩm

của vùng đất phía nam lưu vực sông Trường Giang (sau Thi kinh 3 thế kỷ) Nếu cảnh vật trong Thi kinh thuần về nông nghiệp thì Sở từ được sinh ra nơi lưu vực

sông Trường Giang lại là một mảnh đất sơn thanh thủy tú, cảnh sắc đẹp đẽ hùng vĩ

Từ đó cảnh sơn thủy trong Sở từ cũng có những nét khác biệt rõ rệt so với Thi kinh

Thứ nhất, chú trọng cảnh sắc sơn thủy, tình điệu lãng mạn Thoát ra khỏi bối

cảnh sinh hoạt đậm chất nông nghiệp của Thi kinh Ví dụ:

Sơn tuấn cao dĩ tế nhật hề,

Ngày đăng: 29/04/2021, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w