Lịch sử nghiên cứu của đề tài Tình hình nghiên cứu những vấn đề thuộc phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam được thể hiện rải rác và lồng ghép trong những bà
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN NGỌC QUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012
Trang 4Dẫn luận 1
Chương 1: Phong cách điền viên-sơn thủy trong thơ ca cổ trung đại Trung Quốc và diện mạo thơ điền viên-sơn thủy trong thơ Nôm Đường luật 11
1.1 Khái niệm thơ điền viên-sơn thủy và phong cách điền viên-sơn thủy 11
1.2 Phong cách điền viên-sơn thủy được hình thành từ thơ ca cổ trung đại Trung Quốc 13
1.3 Khái niệm thơ Nôm Đường luật và phong cách điền viên-sơn thủy trong thơ Nôm Đường luật qua các giai đoạn 29
Chương 2: Những biểu hiện về nội dung của phong cách điền viên-sơn thủy trong thơ Nôm Đường luật 42
2.1 Hướng về thiên nhiên, cuộc sống 42
2.2 Thể hiện phong cách sống, tư tưởng 51
2.3 Thái độ ứng xử với thiên nhiên 61
Chương 3: Những biểu hiện về nghệ thuật của phong cách điền viên-sơn thủy trong thơ Nôm Đường luật 72
3.1 Cách xây dựng không gian, thời gian trong thơ 72
3.2 Phương thức cấu tứ trong thơ 81
3.3 Cách xây dựng hình ảnh, nhạc điệu trong thơ 88
Kết luận 98
Tài liệu tham khảo 101
Trang 5DẪN LUẬN
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đã và đang hướng tới một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Vì thế những giá trị văn hoá cổ truyền, trong đó có văn học cổ cần phải được bảo tồn và phát triển Dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về những giá trị của thơ Nôm Đường luật trong văn học trung đại nước ta nhưng nhìn chung vẫn chưa đầy đủ và thoả đáng Vì thơ Nôm Đường luật của dân tộc được coi là di sản văn hoá với nhiều giá trị khác nhau mà chúng ta chưa thể tìm hiểu và cảm thụ hết những giá trị ấy Mảng thơ Nôm Đường luật viết theo phong cách điền viên - sơn thuỷ lại càng ít được đi sâu tìm hiểu Nếu được tìm hiểu thì những bài viết về mảng thơ này chỉ xuất hiện rải rác trong những công trình nghiên cứu về tác giả hoặc giai đoạn văn học chứ chưa được tìm hiểu với vai trò một phong cách
Nhằm khôi phục, phát hiện ra những giá trị mới và giúp cho giới trẻ hiện nay có cái nhìn đúng đắn, bồi dưỡng tình cảm yêu mến với văn học trung đại, thơ Nôm Đường luật nói chung, thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam nói riêng, chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài: phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Tình hình nghiên cứu những vấn đề thuộc phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam được thể hiện rải rác và lồng ghép trong những bài
viết, những bài nghiên cứu về QÂTT, BVQNT, thơ Nôm Bà Huyện Thanh Quan, thơ
Nôm Nguyễn Khuyến Những bài viết, những công trình nghiên cứu này được tập hợp trong những tài liệu về tác gia - tác phẩm hay một số bài viết trong lịch sử văn học… Qua khảo sát, chúng tôi thấy có một số nhận định tiêu biểu:
2.1 QÂTT của Nguyễn Trãi
- Nghiên cứu về thiên nhiên trong QÂTT của nguyễn Trãi, chúng ta có một số
nhận định đáng quan tâm:
+ Mai Trân trong “Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi” viết: “Trong lịch sử văn học Việt Nam, trở về trước, dễ thường không có ai yêu thiên nhiên, có
Trang 6nhiều và có thơ hay về thiên nhiên như Nguyễn Trãi (…) Thơ về thiên nhiên chiếm cái phần phong phú nhất, và cũng là thành công nhất trong di sản thơ của Nguyễn Trãi”[59; tr.756] “Cảnh vật thiên nhiên dưới ngòi bút Nguyễn Trãi sinh động lên, sống lên bằng sức sống riêng, bằng đủ đường nét, màu sắc, âm thanh, hương hoa, và lắm khi bằng đủ đặc điểm độc đáo của nó nữa”[59; tr.757]
+ Nguyễn Thiên Thụ trong “Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi” đã khẳng định thiên nhiên là nguồn mỹ cảm trong sáng tác của Nguyễn Trãi: “thiên nhiên là nguồn
mỹ cảm vô cùng phong phú, đã làm cho tâm hồn thi nhân rung động Thi nhân như
là một kẻ đi tìm cái đẹp, và thiên nhiên với muôn vàn vẻ đẹp đã gọi mời thi nhân thưởng thức”[59; tr.757] Ông cũng chú nghiên cứu thái độ coi thiên nhiên là bạn của Nguyễn Trãi: “Nguyễn Trãi thực sự coi thiên nhiên là bằng hữu, là nguồn yên vui trong đời Nguyễn Trãi thực sự hoà mình với thiên nhiên từ khi tiên sinh rời kinh đô, trở về ẩn dật ở nơi núi rừng Thanh - Tĩnh”[59; tr.757] Trong mối quan hệ giữa thiên nhiên với tư tưởng triết học, mỹ học, Thiên Thụ cho rằng: “Dưới con mắt của Nguyễn Trãi, phần lớn những loài vật và phong cảnh thiên nhiên đã mang những biểu tượng của chân thiện mỹ” [59; tr.782] Cụ thể: Tùng trượng trưng cho người quân tử; cúc vàng tượng trưng cho thú ẩn dật, cúc đỏ mang tính trong sạch, thanh cao; hoa mai tượng trưng cho người quân tử thanh cao, trong sạch… Trong mối quan hệ giữa thiên nhiên và thời gian, Thiên Thụ nhận xét: “Thiên nhiên đã khoác những chiếc áo màu khác nhau tuỳ theo từng thời gian Cỏ, cây, hoa lá, núi rừng, sông hồ, bầu trời… đã thay đổi theo từng mùa, từng tháng Những sự thay đổi
đó đã làm cho lòng người đổi thay, và lòng thi nhân thêm cảm xúc” [59; tr.786] + Đặng Thanh Lê trong bài nghiên cứu “Nguyễn Trãi và đề tài thiên nhiên trong dòng văn học yêu nước Việt Nam” đã nhận xét về đối tượng thiên nhiên được Nguyễn Trãi miêu tả: “Đặc biệt hơn, trong một số tác phẩm của Nguyễn Trãi, ta
thấy xuất hiện những hình tượng thiên nhiên dưới dạng thái đã được “thuần hoá” ”
[59; tr.806]
- Khi nghiên cứu về “Hồn thơ Nguyễn Trãi”, Nguyễn Đức có nhận định:
“Nguyễn Trãi thu nhận, chiếm lĩnh thiên nhiên và thiên nhiên cũng ghi nhận chiếm
Trang 7lĩnh Nguyễn Trãi Thiên nhiên giải toả tâm sự và trở thành đối tượng thẩm mỹ của Nguyễn Trãi Thiên nhiên đồng cảm đưa lại cho Nguyễn Trãi những lạc thú, sự đầm
ấm, yên tĩnh Thiên nhiên băng bó những vết thương tinh thần và làm cho ông quên
đi những biến đổi đau đớn ngoài đời Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi sinh động, giàu sắc thái”[5; tr.287, 288]
- Khi nghiên cứu một số hình ảnh thiên nhiên, một số bài thơ nổi bật trong thơ Nguyễn Trãi, các nhà nghiên cứu như Lê Trí Viễn, La Kim Liên, Bùi Văn Nguyên, Đoàn Thị Thu Vân… đã đưa ra những nhận định xác đáng và sâu sắc Ví như, trong
bài nghiên cứu về bài thơ Cảnh tình mùa hè (BKCG, bài 43), Lê Trí Viễn nhận xét
về vẻ đẹp của cảnh vật và tình cảm con người trong bài thơ: “Đẹp lành và mạnh Lại
là cái nhìn tình, sắc, cái nhìn rất hiện đại, ra ngoài phép tắc cổ điển” [59; tr.642].La Kim Liên trong bài nghiên cứu “ “Trăng” trong thơ Nguyễn Trãi” thì nhận định:
“Nhìn vào thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Trãi trong QÂTT chúng ta thấy (…)
Trăng - người bạn tâm tình đã theo suốt cuộc đời tác giả - giúp ta hiểu tấm lòng của một thi nhân cách ta hơn sáu trăm năm về trước”[59; tr.645]…
- Nghiên cứu về nghệ thuật thể hiện trong thơ miêu tả thiên nhiên trong QÂTT
của Nguyễn Trãi, Nguyễn Thiên Thụ trong “Ảnh hưởng và địa vị của Nguyễn Trãi trong văn học Việt Nam” có nhận xét: “thơ Nguyễn Trãi cũng thể hiện những cảnh sống của chốn thôn quê nghèo nàn, với những hình ảnh rất sống thực, rất gần gũi với tâm hồn người Việt Nam”[59; tr.1107]
2.2 BVQNT của Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Nghiên cứu tư tưởng trong BVQNT, Hà Xuân Liêm trong Thơ Việt Nam, Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV đến thế kỷ XIX có nhận xét: “Ý thơ có nhiều khuynh
hướng: tả cảnh thì phóng khoáng, thanh tao, nhàn nhã; răn đời thì bình đạm mà ý vị, trào phúng lại có giọng nhẹ nhàng, kín đáo, rõ ra lời của triết nhân trải đời và hiểu tâm lý Nhưng xét chung, tập thơ này, tư tưởng tác giả chịu ảnh hưởng triết lý vô vi của Lão Trang và triết Thanh Tĩnh của Thích Ca rất rõ rệt”[33; tr.45]
- Bàn về Thơ nhàn của Nguyễn Khiêm trong BVQNT, trong bài “Luận về
Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Hà Như Chi nhận xét: “Thường thường người ta đi tìm cảnh
Trang 8nhàn vì đã gặp nhiều sự thất bại chán nản hoặc vì đã suy nghiệm kỹ càng, nhận thấy cuộc đời không có gì đáng lưu luyến, nên tìm đến chỗ non xanh nước biếc mà yên vui qua ngày tháng Chán đời, có tư tưởng phóng khoáng là hai yếu tố chính phù hợp với nhau để thúc giục người ta cầu nhàn Nhưng đối với cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, yếu tố thứ hai có thể xem như là quan trọng hơn”[67; tr.469]
- Bàn về đặc điểm của cảnh sắc thiên nhiên được miêu tả trong BVQNT, Lê Trí
Viễn nhận định: “Thiên nhiên ở đây không có màu sắc gì rực rỡ, cũng chưa có gì ăn khớp với rung cảm sâu sắc của lòng người, mà chỉ có những màu thanh đạm, những nét đơn sơ Tuy vậy, giữa con người và cảnh vật đã có một sự trìu mến rõ rệt Trong văn chương ta, đó là một bước tiến” [67; tr.477] Phạm Văn Diêu thì đánh giá: “qua cảm nghĩ và phong tư của nhà thơ nhàn dật, sự vật đã biến dạng hình, khoác màu siêu nhiên, tiên cách” [67; tr.485]
- Nghiên cứu một số tư tưởng, hình ảnh thiên nhiên nổi bật trong một số bài thơ
của BVQNT, Trần Đình Sử trong “Bài thơ “Khôn - dại”” phân tích: “Nhà thơ tôn
sùng các tấm gương bỏ công danh đi ở ẩn như Sào Phủ, Hứa Do, Bá Di, Thúc Tề, Nghiêm Quang, Lã Vọng (…) Đây là bài thơ thể hiện cái chí từ bỏ công danh, sống dưa muối đạm bạc của mình”[67; tr.607, 608]
- Nghiên cứu về “Phong cách thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Phan Ngọc nhận xét: “Nguyễn Bỉnh Khiêm có một số môtíp, các môtíp ấy lặp đi lặp lại trong các bài thơ (…) môtíp vui với thiên nhiên lặp lại 59 lần Điều đáng chú ý là cái thú của cuộc sống cũng như việc vui với thiên nhiên rất bình dị, có ngay trong nông thôn chẳng cần phải đi đâu xa, chẳng phải từ bỏ xã hội mới có được”[67; tr.585]
2.3 Thơ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan
- Khi nhìn nhận về sáu bài thơ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan, Trần Thị Băng Thanh có sự đánh giá: “Nhìn lại, cả sáu bài thơ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan đều thuộc loại thơ đề vịnh Đó là mấy bức tranh thuỷ mặc chấm phá mà bằng tài hoa riêng, nữ sĩ đã nêu được những nét đặc trưng, tiêu biểu Nó đem đến cho người đọc
ấn tượng về một cảnh sắc vừa cụ thể hiện hữu, vừa ước lệ vĩnh hằng”[4; tr.75]
Trang 9- Khi phân tích từng bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, nhà nghiên cứu cũng lồng vào đó một số nhận định về cảnh vật và nghệ thuật miêu tả Ví như trong khi
phân tích Thăng Long thành hoài cổ, Trần Thị Băng Thanh nhận xét: “Lại một bức
tranh thuỷ mặc với mấy nét chấm phá không phải về một buổi chiều mà là về một bức thành cổ: thành Thăng Long xưa”[49; tr.260, 261]
- Nhận định về nghệ thuật thể hiện trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Lộc viết: “Cảnh bà miêu tả trong những bài thơ giống như những bức tranh thuỷ mặc, chấm phá… Hơn nữa nói cho đúng thì cảnh trong thơ bà thực tế cũng không phải là cảnh, mà là tình (…) ở đó, niêm luật đều chặt chẽ mà không gây cảm giác gò
bó, xếp đặt Câu thơ của bà trang nhã, từ ngữ chải chuốt và chọn lọc công phu”[36; tr.75]
2.4 Thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Khuyến
- Thơ Nôm Đường luật viết về cảnh sắc thiên nhiên và cảnh vật nông thôn của Nguyễn Khuyến, có những nhận định:
+ Nguyễn Phương Chi nhận xét: “Chỗ độc đáo, hơn người của ông là mảng thơ viết về nông thôn, bao gồm những bài thơ về con người, cảnh vật thiên nhiên, về phong tục tập quán”[31; tr.363]
+ Lê Chí Dũng nhận định trong “Sáng tạo trong thơ luật Đường”: “Nguyễn Khuyến đã mang lại cho thơ Nôm Đường luật cảnh sắc của quê hương nhà thơ, sự khu biệt về sắc thái của cảnh vật và tâm hồn” [31; tr.389]
+ Mã Giang Lân trong “Cảm nhận Nguyễn Khuyến” cũng đánh giá: “Cảnh trí thiên nhiên của một miền quê yên tĩnh thấm đậm trong thơ ông (Nguyễn Khuyến)”[31; tr.74]
+ Vũ Thanh trong “Nguyễn Khuyến - thi hào dân tộc” có nhận xét:
“Nguyễn Khuyến là nhà thơ viết về nông thôn số một của văn học dân tộc”
[31; tr.213]
Trang 10+ Nguyễn Lộc trong “Nguyễn Khuyến - một phong cách thơ lớn” giải thích: “Gọi Nguyễn Khuyến là nhà thơ nông thôn (…) vì ông viết với tình cảm, với sự trăn trở lo âu của con người ở nông thôn thực sự, mà chủ yếu là của người nông dân”[31; tr.51]
+ Nguyễn Văn Hoàn nhận xét: “Thơ đề vịnh của Nguyễn Khuyến đã vượt qua những sáo mòn của thi ca cổ để mô tả những cảnh thực, tình thực, những hình ảnh cụ thể, hiện thực của cảnh sắc Việt Nam”[68; tr.134]
+ Trần Nho Thìn trong “Từ những biến động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn chương nhà nho đến bức tranh sinh hoạt nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến” cũng nhận định về cái mới trong thơ miêu tả mùa thu của Nguyễn Khuyến: “Nguyễn Khuyến đã thoát được ám ảnh của những hình
tượng tả mùa thu truyền thống như lá ngô đồng, tiếng chày đập vải may áo gửi người đi chinh thú, nhạn về ải bắc, hơi lạnh heo may để đưa vào thơ thu những ao chuôm, xóm ngõ, tre pheo, ao bèo của đồng đất quê ông” [70; tr.569]
- Khi phân tích những bài thơ Nôm Đường luật về đề tài thiên nhiên của Nguyễn Khuyến, những nhà nghiên cứu cũng có nhiều nhận định Ví như Hoàng Hữu Yên khi phân tích chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến có viết: “Cả
ba bài thơ đều viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật Mỗi bài thơ là một phác thảo với nét bút của hội hoạ Phương Đông, không rườm rà loè loẹt mà cũng không gò bó, khuôn sáo Nhà thơ - hoạ sĩ họ Nguyễn đã đưa về một vùng chân quê quanh năm ngập nước của đất Hà Nam đầu thế kỷ này vào độ thu sang” [49; tr 287]
- Nghệ thuật miêu tả trong thơ Nôm viết về đề tài điền viên - sơn thuỷ của Nguyễn Khuyến được đánh giá: “Thơ Nguyễn Khuyến “sờ tận mặt bắt tận tay” thế giới bên ngoài (…) cảnh vật quy tụ trọn vẹn vào chữ nghĩa hiện hình
Trang 11toàn diện”[68; tr.309] và thơ Nguyễn Khuyến cũng “đạt đến đỉnh cao của sự hoà trộn tài tình cảnh vật khách quan và tình cảm gắn bó với quê hương đất nước” [68; tr.346]
Từ những ý kiến, nhận định đã nêu ở trên, chúng ta thấy việc nghiên cứu vấn đề phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức độ riêng lẻ trong từng tác giả, từng giai đoạn văn học
và ở từng khía cạnh nhất định Vẫn còn đó nhiều vấn đề của một phong cách cần phải giải quyết Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những người đi trước, kết hợp với sự tổng hợp, tìm tòi, khám phá riêng của bản thân, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: Phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam
- Cho thấy quá trình hình thành và phát triển của thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam
- Khám phá những thể hiện về nội dung, tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam thời trung đại đối với thiên nhiên, xã hội, con người, nghệ thuật, tôn giáo… thông qua những bài thơ Nôm Đường luật theo phong cách điền viên - sơn thuỷ
- Phát hiện những điểm độc đáo trong nghệ thuật thể hiện của thơ Nôm Đường luật theo phong cách điền viên - sơn thuỷ
- Cho thấy một số nét đặc trưng của phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Việt Nam
- Tìm ra cái hay, cái đẹp cùng giá trị, ý nghĩa… của phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ trong nền văn hoá và tiến trình lịch sử của văn học dân tộc
Trang 12- Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, thái độ… cho giới trẻ hiện nay để họ có tình cảm yêu mến, có cái nhìn đúng đắn cùng thái độ trân trọng và ý thức bảo tồn những giá trị tốt đẹp của phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam nói riêng, văn học trung đại Việt Nam nói chung
4 Đối tượng, phạm vi đề tài và tư liệu nghiên cứu
- Có thể nói các tác giả sáng tác thơ Nôm Đường luật đều có tác phẩm viết về điền viên - sơn thuỷ nhưng không phải tác giả nào trong số đó cũng thuộc phái thơ điền viên - sơn thuỷ mà chỉ có những tác giả đã hình thành cho mình một phong cách điền viên - sơn thuỷ Những tác giả thuộc phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam gồm: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan và Nguyễn Khuyến Do đó, đối tượng nghiên cứu của luận văn
là những bài thơ Nôm Đường luật viết theo phong cách điền viên - sơn thuỷ của những tác giả nêu trên
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề thuộc về phong cách của những bài thơ Nôm Đường luật viết về đề tài điền viên - sơn thuỷ của văn học trung đại Việt Nam
- Tư liệu nghiên cứu của luận văn gồm: những văn bản thơ Nôm Đường luật được xuất bản trong những tuyển tập thơ trung đại Việt Nam, những tuyển tập thơ của những tác giả được nghiên cứu; những chuyên luận, những công trình sưu tầm, nghiên cứu, những bài viết trên tạp chí, những trang báo điện tử; những luận văn, luận án của những người đi trước có liên quan đến một trong những vấn đề thuộc về phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về đề tài Phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam, chúng tôi sử dụng những phương pháp chính yếu sau:
- Phương pháp so sánh đối chiếu: trong chừng mực nhất định, chúng tôi có so sánh, đối chiếu giữa thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật với thơ điền viên - sơn thuỷ của thơ ca cổ trung đại Trung Quốc và giữa thơ điền viên - sơn thuỷ của các tác giả trong thơ Nôm Đường luật để cho thấy sự ảnh hưởng, tiếp thu,
Trang 13biến đổi trong phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ từ Trung Quốc đến Việt Nam, thấy được sự giống và khác nhau trong phong cách thơ của các nhà thơ theo phong cách thơ này
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: phân tích những dẫn chứng được lựa chọn
và nhận định lại những đặc điểm chung được tạo nên từ việc phân tích những dẫn chứng đó để thấy được những nét riêng và nét chung trong việc thể hiện nội dung,
tư tưởng, nghệ thuật của phong cách thơ
- Phương pháp lịch sử: tìm về nguồn cội của phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ cổ trung đại Trung Quốc qua một số phong cách tiên phong tiêu biểu và lịch trình tiếp thu, sáng tạo của các tác giả thuộc phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật để thấy được sự phát triển của phong cách thơ từ Trung Quốc sang Việt Nam, từ giai đoạn văn học trước đến giai đoạn văn học sau…
- Phương pháp hệ thống cấu trúc: chọn được bốn tác giả thuộc bốn giai đoạn khác nhau của văn học trung đại Việt Nam để đưa vào khảo sát cho đề tài luận văn của mình, chúng tôi không phân tích trên từng tác giả cụ thể mà lựa chọn, sắp xếp dẫn chứng theo hướng hướng vào những vấn đề về nội dung và nghệ thuật chủ yếu
để từ đó tìm ra những đặc điểm chung cho phong cách
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: luận văn góp phần tìm hiểu những vấn đề về diễn trình lịch sử, nội dung, tư tưởng và hình thức nghệ thuật của phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam
- Về mặt thực tiễn: luận văn góp phần giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam; từ đó thấy được giá trị của phong cách thơ này trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam xưa nay Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu
về thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật nói riêng và thơ văn trung đại Trung Quốc, Việt Nam nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Trang 14Ngoài phần dẫn luận, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương với những nội dung chủ yếu như sau:
Chương 1: nêu ra một số khái niệm làm nền tảng cho việc nghiên cứu của đề tài; tìm hiểu tiến trình hình thành và phát triển của phong cách điền viên - sơn thuỷ từ văn học cổ trung đại Trung Quốc đến thơ Nôm Đường luật Việt Nam
Chương 2: tìm hiểu một số biểu hiện cơ bản về nội dung trong phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật như hình ảnh con người, thiên nhiên, cuộc sống
Chương 3: tìm hiểu một số biểu hiện cơ bản về mặt nghệ thuật được thể hiện trong phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật như: cách xây dựng không gian, thời gian; phương thức lồng ghép thi - hoạ, nhạc…
Trang 15CHƯƠNG 1 PHONG CÁCH ĐIỀN VIÊN - SƠN THUỶ TRONG THƠ CA
CỔ TRUNG ĐẠI TRUNG QUỐC VÀ DIỆN MẠO THƠ ĐIỀN VIÊN - SƠN THUỶ TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
1.1 Khái niệm về thơ điền viên - sơn thuỷ và phong cách điền viên - sơn thuỷ
1.1.1 Khái niệm thơ điền viên - sơn thuỷ
Thơ điền viên - sơn thuỷ là một trong những thể tài có thật trong văn học Việt Nam, Trung Quốc xưa nay Vậy thế nào là thơ điền viên - sơn thuỷ? Trần Trung Hỷ, nhà nghiên cứu Văn học Trung Quốc của Việt Nam cho rằng: “Thơ sơn thuỷ là một thể tài độc lập của thơ ca, lấy thiên nhiên làm đối tượng thẩm mỹ chủ yếu, thông qua miêu tả cảnh vật để bộc lộ tâm tình” [25; tr.8]. Ông cũng cho rằng: “Thơ điền
viên là loại thơ lấy cảnh nông thôn, loại cảnh quan nhân vi (tức cảnh vật do bàn tay con người tái tạo sắp xếp) làm đối tượng thẩm mỹ chính, về tâm lý tỏ ra an nhiên, tự
tại, ổn định” [25; tr.11]
Lời Tiền ngôn sách Sơn thuỷ thi ca giám thưởng từ điển của Trung Quốc thì giải
thích: “Gọi là thơ sơn thuỷ, tức là loại thơ lấy cảnh sơn thuỷ tự nhiên làm đề tài Nó viết về núi sông, về trời đất bao la, không chỉ đơn thuần miêu tả một cành hoa, một phiến đá, một cánh chim… tức chỉ là cảnh tự nhiên một cách khách quan mà là cảnh
tự nhiên đã được thi nhân chủ quan hoá” [25; tr.8]
Ngũ Ngao Phủ, một nhà nghiên cứu văn học đương đại của Trung Quốc cũng nhận định: “Thơ sơn thuỷ nói chung là phải ưu tiên cho việc miêu tả tự nhiên cảnh vật, sau đó thì tả tâm tình, mượn cảnh trữ tình, tình cảnh hợp nhất” [25; tr.10] Theo như ý nghĩa của từ ngữ trong khái niệm, chúng tôi hiểu thơ điền viên là thơ miêu tả về cảnh vật ruộng vườn nơi thôn quê; thơ sơn thuỷ là thơ miêu tả vẻ đẹp của núi sông tức phong cảnh thiên nhiên Thi nhân xưa nay tả cảnh vật thiên nhiên, cuộc sống không chỉ đơn thuần là tả cảnh mà họ thường gởi gắm vào đó những thái độ sống, những tâm tư, tình cảm, những ước mơ, khát vọng của mình
Trang 16Từ những cơ sở trên, chúng tôi nhận thấy: thơ điền viên - sơn thuỷ là loại thơ lấy phong cảnh thiên nhiên và cảnh vật ruộng vườn, nông thôn làm đối tượng thẩm
mỹ chính, thông qua miêu tả cảnh vật để thể hiện tâm tư, tình cảm, phong cách sống, thái độ sống của tác giả
1.1.2 Khái niệm phong cách điền viên - sơn thuỷ
Phong cách trong phong cách điền viên - sơn thuỷ là một khái niệm thuộc về phạm trù của phong cách văn học, phong cách văn chương hay phong cách nghệ thuật chứ không phải một phong cách chung chung nào đó
Bàn về phong cách, nhà nghiên cứu Biện Minh Điền cho rằng: “nét chung,
nghĩa phổ quát của phong cách là chỉ cấu trúc với “kiểu”, “vẻ” riêng, với những đặc
trưng khá ổn định, bền vững, mang tính độc đáo của đối tượng được bàn đến” [11; tr.29] Ông cũng cho rằng: “phong cách là biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất và tương đối ổn định, được “lặp đi lặp lại” trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với con người và thế giới” [11; tr.38] Bàn về phong cách tác giả,
Biện Minh Điền có quan niệm: “phong cách tác giả là cả một hệ thống những đặc
điểm tạo nên tính độc đáo của một hiện tượng nghệ thuật” [11; tr.39] và “một phong cách (…) cũng mang dấu ấn dân tộc và dấu ấn thời đại” [11; tr.40]
Không ngoài hướng nhận định trên, Phan Ngọc cho rằng: “phong cách là sự lặp
đi lặp lại của một chùm những nét khu biệt để lại trong óc người đọc một ấn tượng nào đó” [43; tr.11] Trong mối quan hệ giữa phong cách và nội dung tác phẩm, Phan Ngọc nhấn mạnh: “trong phong cách có nội dung, nhưng nội dung được xây dựng theo cái hình thức riêng thích hợp với phong cách này” [43; tr.13]. Trong cái nhìn
chung, Phan Ngọc khẳng định: “phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch
sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm, hay một tác giả” [43; tr.31] Ông giải thích: phong cách không phải trùng với thời đại mà mỗi thời đại chỉ có được phong cách của mình sau khi đã có được một cách khám phá riêng cho nó mà đời trước chưa có và phong cách này có giá trị cao, được đời
Trang 17sau học tập; phong cách không phải là đồng nhất với hình thức bởi vì phong cách chứa đựng cái nhìn đối với hiện thực; phong cách không đồng nhất với thể loại mà thể loại cũng phải đạt đến một cách nhìn riêng của nó, lúc đó mới có phong cách Ông cũng giải thích thêm: phong cách là một hiện tượng thuộc văn hoá lịch sử chứ không phải thu lại trong một vài quy tắc về hiện thực; một tác giả có phong cách riêng khi tác giả đó thực hiện được một sự đổi mới trong việc kế thừa, để đẩy sự kế thừa sang một bước mới
Ở Việt Nam, phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật không phải là một phong cách độc lập, tồn tại bên cạnh những phong cách lớn khác như ở Trung Quốc mà tồn tại trong sự nghiệp sáng tác của một số tác giả (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến) Tuy nhiên, xem xét trong một chừng mực nhất định, chúng tôi có thể khẳng định trong thơ Nôm Đường luật của một số tác giả trên đã hình thành nên phong cách điền viên - sơn thuỷ Điền viên gợi ra cảnh ruộng đồng, làng quê, thôn xóm, cuộc sống ẩn dật với nét giản dị, bình dân, mộc mạc Còn sơn thuỷ gợi ra cảnh núi sông, cảnh vật thiên nhiên hùng tráng mang vẻ thanh thoát, tự do, phiêu lãng Những tác giả của phong cách điền viên - sơn thuỷ thường là những vị quan do chán ngán thời thế mà lui về sống
ẩn dật như Đào Uyên Minh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… hoặc ngao du sơn thuỷ như Lý Bạch Thơ điền viên - sơn thuỷ của những tác giả đó đều mang nét chung: giản dị, tự nhiên, chất phác, thanh tân, nhàn nhã, ung dung, tự tại…
Do đó, phong cách điền viên - sơn thuỷ là một phong cách mang vẻ thanh nhã, u nhàn, thoát tục… trong việc hướng về cuộc sống ẩn dật, tự do, thư thái
1.2 Phong cách điền viên - sơn thuỷ được hình thành từ thơ ca cổ trung đại Trung Quốc
1.2.1 Những phong cách điền viên - sơn thuỷ tiên phong tiêu biểu
Nhắc đến những tác giả tiên phong tiêu biểu cho phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ cổ trung đại Trung Quốc, chúng ta không thể không nhắc đến Đào Uyên Minh,
Tạ Linh Vận, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Lý Bạch, Liễu Tông Nguyên, Lý
Trang 18Thương Ẩn… vì đây là những tác giả có công khơi nguồn, phát triển, hoàn thiện và đưa thơ điền viên - sơn thuỷ lên đến đỉnh cao của phong cách
1.2.1.1 Đào Uyên Minh và Tạ Linh Vận
- Đào Uyên Minh (365 - 427) tức Đào Tiềm, tự Nguyên Lượng, người Tầm Dương, Sài Tang (Cửu Giang, Giang Tây ngày nay) Ông sống vào đời Đông Tấn thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều Ông là người học rộng tài cao, từng nhiều lần ra làm quan nhưng suốt đời sống trong nghèo khổ vì ông không chịu luồn cúi, khom lưng dưới năm đấu gạo Ông có tính tình thanh cao, chất phác, ngay thẳng, yêu thích tự
do, không ham danh lợi Ông chỉ để lại hơn 100 bài thơ nhưng sự nghiệp thơ ca của ông lại có vị trí rất quan trọng trong lịch sử thơ ca Trung Quốc vì ông được xem là ông tổ của phái thơ điền viên hay thơ ẩn dật Trung Quốc Cũng vì thế, thơ ông
mang đậm màu sắc thoát ly của Đạo gia “Hộ đình vô trần tạp” (Trước nhà không
có cảnh phiền tạp của cuộc đời) (Quy điền viên cư, bài 1) [12; tr.281]
Thơ điền viên của Đào Uyên Minh kế thừa được phong cách chất phác của thơ
ca truyền thống và phát huy yếu tố đó lên đến đỉnh cao của sự giản dị Trong số tác phẩm của ông, những bài vịnh ca cảnh sắc nông thôn được truyền tụng nhiều nhất
với một số tác phẩm tiêu biểu như: Quy điền viên cư, Quy khứ lai từ, Đào hoa
nguyên ký, Khuyến nông, Ẩm tửu, Di cư… Đặc điểm nổi bật trong thơ ông là sự
“hoà tan triết lý vào trong hình tượng” [19; tr.529] Thơ ông mang phong cách thanh đạm, nhàn viễn, có sự thống nhất, hoà hợp giữa con người và thiên nhiên thông qua những câu chữ vừa lưu loát vừa chất phác trong ý thức luôn chú ý bồi dưỡng tình yêu với thiên nhiên và cuộc sống điền viên Trong số đó có những bài ngợi ca vẻ đẹp của ruộng vườn thôn dã cùng tình yêu lao động:
“Thái cúc đông ly hạ,
Du nhiên kiến Nam sơn”
(Hái cúc dưới hàng dậu phía đông, Bồi hồi trông thấy núi Nam Sơn)
(Ẩm tửu, bài 5) [12; tr.280]
Trang 19Và có cả những vần thơ xót xa, thương cảm về cảnh làng xóm thôn quê trong cảnh tiêu điều, xơ xác hay cảnh người nông dân làm ăn gặp nhiều khó khăn:
“Chủng đậu Nam sơn hạ, Thảo thịnh đậu miêu hy”
(Trồng đậu dưới núi Nam, Đậu thưa cỏ dại tốt)
(Quy điền viên cư, bài 3) [19; tr.507] Thái độ, tư tưởng trong phong cách sống và sáng tác của Đào Uyên Minh có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều thế hệ các nhà thơ của Trung Quốc, Việt Nam các thời sau
Khí tiết thanh cao, coi khinh quyền quý kiểu “Tâm viễn địa tự thiên” (Tâm hồn muốn xa rời cuộc sống ồn ào) (Ẩm tửu, bài 5) [12; tr.279] để “Phục đắc phản tự
nhiên” (Trở về với tự nhiên) (Quy điền viên cư, bài 1) [12; tr.281] của ông đã được
Lý Bạch, Cao Thích, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… đón nhận một cách nồng nhiệt Những vị này theo gương của Đào Uyên Minh mà từ bỏ vinh hoa phú quý, sống cuộc đời tự do, tự tại Thơ ca của họ cũng mang đậm tư
tưởng sống giản dị, thanh cao của thơ Đào Uyên Minh như tư tưởng “Áo mặc nài
chi gấm là” của Nguyễn Trãi, “Cơm ăn chẳng quản mùi xoa bạc” của Nguyễn
Bỉnh Khiêm hay cảm hứng “Thơ Đào cửa miệng đưa câu rượu” của Nguyễn
Khuyến
Tư tưởng vui với đạo tự nhiên, sống an phận của Đào Uyên Minh cũng được Bạch Cư Dị, Tô Thức, Nguyễn Bỉnh Khiêm… tiếp thu và thực thi Ví như, Nguyễn Bỉnh Khiêm không ít lần nhắc đến “dạ tự nhiên”, “phận tự nhiên”, “tính tự nhiên” trong thơ Nôm Đường luật theo phong cách điền viên - sơn thuỷ của mình Cái vẻ giản dị, không cầu kỳ gọt giũa trong phong cách nghệ thuật của thơ Đào Uyên Minh cũng được các thế hệ thơ sau hoan nghênh Lý Bạch, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Mai Thánh Du, Hoàng Tông Hiến, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… không ít thì nhiều đều chịu ảnh hưởng từ phong cách thơ Đào Uyên Minh Mai Thánh Du đời Tống đã lấy thơ họ Đào làm gương mà chống gọt
giũa câu chữ: “Quê kệch thà noi theo Đào lệnh, Tân kỳ đừng bắt chước Mạnh
Trang 20Giao” (Uyển Lăng thi tập) [76; tr.305] Chủ trương “tay viết theo mồm nói” của Hoàng Tông Hiến đời Thanh cũng là bắt chước sự tự nhiên trong nghệ thuật thể hiện của thơ Đào Uyên Minh Nét bình dị, tự nhiên trong cách thể hiện của các bài thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến cũng
là từ sự ảnh hưởng, bắt chước này mà ra Và dù bắt chước nhưng họ tự thấy thơ
mình không thể bằng thơ Đào Uyên Minh, nên “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”
(Nguyễn Khuyến)
- Nếu Đào Uyên Minh được coi là ông tổ của dòng thơ điền viên thì Tạ Linh Vận được xem là người mở đường cho dòng thơ sơn thuỷ Tạ Linh Vận (385 - 433) sống vào đời Tấn, Tống thuộc thời Nam Triều Ông được sinh ra trong gia đình có truyền thống sống gần gũi và yêu thích thiên nhiên Ông có tính tình phóng khoáng, từng ra làm quan nhưng rồi bất đắc chí nên từ chức đi ngao du sơn thuỷ Ông là một nhà thơ lớn của thời đại Thơ ông hiện còn lưu truyền khoảng hơn 100 bài Trong
đó, chủ yếu là thơ viết về đề tài sơn thuỷ Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như:
Thạch bích tịnh xá hoàn hồ trung tác, Tùng cân trúc giản, Nhập Bành Lãi hồ khẩu, Đăng trì thượng lâu, Tuế mộ, Quá thuỷ ninh dã, Du nam đình, Đăng thượng thú thạch cổ sơn…
Thơ sơn thuỷ của Tạ Linh Vận được sáng tác theo khuynh hướng miêu tả thực cảnh với những đặc điểm chung về nội dung và nghệ thuật: “Trước tiên là cảm thụ sơn thuỷ một cách tổng thể, thứ đến là miêu tả cảnh vật sở kiến một cách cụ thể và cuối cùng là biểu lộ một cách nhìn về thế giới mang ý vị triết lý theo vũ trụ quan và nhân sinh quan Huyền kết hợp với Phật” [25; tr.24] và “có sự kết hợp rất nhuần nhuyễn giữa sự cảm thụ khách quan với chủ quan, cảnh lại luôn thay đổi, di động (…) Cảm quan thẩm mỹ cũng rất phong phú, thay đổi theo đối tượng chiêm ngưỡng” [25; tr.25] Rất dễ dàng để nhận thấy những đặc điểm trên trong sáng tác của ông như: những vần thơ miêu tả thực cảnh, phản ánh sống động vẻ đẹp của núi sông Đó là cảnh vật khách quan:
“Nhật mạt giản tăng ba, Vân sinh lĩnh du điệp”
Trang 21(Cuối ngày suối lắm sóng, Mây lên núi nhiều tầng)
(Đăng thượng thú thạch cổ sơn) [19; tr.526] Còn đây là cảnh vật chủ quan khi cảnh vật được xuyên thấm qua cái nhìn tâm trạng trong sự tưởng tượng, hư cấu của con người:
“Ngạn khuynh quang nan lưu, Lâm thâm hưởng dị bôn”
(Vách đứng ánh sáng khó đậu, Rừng sâu âm thanh lan nhanh)
(Tùng cân trúc giản) [ 25; tr.25]
Những vần thơ sau đây lại cho thấy sự thay đổi, di chuyển của cảnh vật cùng với
tư tưởng triết lý mang đậm cảm quan tôn giáo:
“Xuất cốc nhật thượng tảo, Nhập chu dương dĩ vi
Lâm hách liễm minh sắc, Vân hà thu tịch phi”
(Ánh mặt trời lên khỏi núi thật sớm, Nhưng khi chiếu vào thuyền thì đã yếu rất nhiều
Rừng suối chìm trong sự âm u, Ráng chiều thu lại và mưa rơi tầm tã)
(Thạch bích tịnh xá hoàn hồ trung tác) [25; tr.24]
Đó là sự vận động của cảnh vật từ bình minh đến hoàng hôn Sự vận động này nhằm chuyển tải tư tưởng triết lý về quy luật vận động của sự vật, sự đổi thay trong muôn vàn sắc tướng của thực thể và sự chuyển hướng từ vui sang buồn của tâm trạng con người
Với những đặc điểm như trên, thơ sơn thuỷ của Tạ Linh Vận có sự kết hợp giữa cảnh - tình - lý và xuất hiện với một phong thái mạnh mẽ, có sức lấn át cả dòng thơ huyền ngôn trước đó Thơ ông có nhiều câu thơ đẹp, có thanh điệu du dương, có cách đối rất khéo Chính vì thế, Chung Vinh đã nhận xét: “Thơ hay, câu đẹp, chỗ
Trang 22chỗ như nhau, điển đẹp tiếng hay, ràng buộc dồn dập” [12; tr.286] Cũng vì vậy mà
số lượng tác giả điền viên - sơn thuỷ thời sau chịu ảnh hưởng từ phong cách thơ sơn thuỷ của ông nhiều hơn là ảnh hưởng từ Đào Uyên Minh: Tạ Diểu, Giang Hội, Khâu Trì, Thẩm Ước, Vương Duy, Lý Bạch… của Trung Quốc, và cả Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… của Việt Nam
Như vậy, Tạ Linh Vận và Đào Uyên Minh là hai tác giả đã đặt những viên gạch đầu tiên để tạo nền móng và họ được coi là ông tổ của dòng thơ điền viên - sơn thuỷ Trung Quốc Với sự kế thừa, các nhà thơ hậu thế thời Đường, Tống đã phát triển dòng thơ này lên đến đỉnh cao Cũng từ đó, các nhà thơ trung đại Việt Nam có sự học tập, tiếp thu, ảnh hưởng theo phong cách thơ này và kết quả cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể
1.2.1.2 Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy
Thơ Đường được xem là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc với nhiều phong cách thơ ca khác nhau Trong đó, không thể không kể đến phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ Để làm nên phong cách thơ này, các nhà thơ Đường đã kế thừa những thành tựu bước đầu từ thơ điền viên - sơn thuỷ của Đào Uyên Minh và Tạ Linh Vận thời Nam Bắc triều Những tác giả tiêu biểu cho phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ đời Đường gồm: Vương Bột, Mạnh Hạo Nhiên, Lý Bạch, Vương Duy, Đỗ Phủ, Lý Thương Ẩn… Trong số đó, Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy là hai tác giả có vai trò tiên phong, hai đại biểu ưu tú, nổi bật nhất
- Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740) tên Hạo, tự Hạo Nhiên, người huyện Tương Dương, Hồ Bắc Ông ở ẩn, ra làm quan rồi lại lui về ẩn cư Ông là nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường, từng kết bạn với Lý Bạch, Vương Duy, Trương Cửu Linh, Vương Xương Linh Hơn một nửa sáng tác của ông là thơ điền viên - sơn thuỷ
Những tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: Vọng Động Đình hồ tặng Trương Thừa
tướng, Tảo phát Ngư Phố đàm, Hoà đăng Vạn Sơn ký Trương Ngũ, Quá cố nhân trang, Tuế mộ quy Nam Sơn, Xuân hiểu…
Mạnh Hạo Nhiên kế tục từ Tạ Linh Vận và ảnh hưởng đến thơ điền viên - sơn thuỷ của Vương Duy Thơ điền viên - sơn thuỷ của ông kế thừa cách miêu tả thực
Trang 23của Tạ Linh Vận để vẽ lên cảnh núi sông hùng tráng với sắc thái ngập tràn sự lãng
mạn, hào phóng (Tự Tầm Dương phiếm châu chí Minh Hải tác, Dữ Nhan Tiền
Đường đăng Chương Đình vọng triều túc…) hoặc như:
“Bát nguyệt hồ thuỷ bình, Hàm hư hỗn thái thanh
Khí chưng Vân Mộng trạch,
Ba hám Nhạc Dương thành”
(Tháng tám, nước hồ phẳng lặng, Nước trời hoà hợp một bầu trong veo bát ngát
Làn khí mịt mờ bao phủ đầm Vân Mộng, Sóng bủa lay động thành Nhạc Dương)
(Lâm Động Đình)
Ông cũng theo bước Đào Uyên Minh để viết nên những vần thơ điền viên - sơn
thuỷ hết sức tự nhiên, chất phác Trong Quá cố nhân trang, ông ca ngợi:
“Khai hiên diện trường phố,
Bả tửu thoại tang ma
Đãi đáo trùng dương tiết, Hoàn lai tựu cúc hoa”
(Mở cửa là thấy vườn trước mắt, Nhấc chén rượu là bàn chuyện dâu đay
Hãy đợi đến ngày trùng dương,
Sẽ lại trở về thăm hoa cúc)
Bên cạnh đó, ông còn chú ý kết hợp miêu tả cảnh vật thiên nhiên với cảnh vật do
con người tạo ra Hoà đăng Vạn Sơn ký Trương Ngũ có cảnh:
“Thiên biên thụ nhược tể, Giang bạn chu như nguyệt”
(Chân trời cây như rau tể, Bến sông thuyền như trăng)
Trang 24Ngoài ra Mạnh Hạo Nhiên còn có những vần thơ tả cảnh hết sức tinh tế về
những cảnh vật tinh vi cùng sự kết hợp cảnh với Thiền như bài Xuân hiểu:
Xuân miên bất giác hiểu,
Có thể thấy: cảnh trong thơ Mạnh Hạo Nhiên được hiện lên một cách chân thực với một tình cảm rất chân thành và một cách cảm nhận rất mực tinh tế
Như vậy, cách miêu tả cảnh chân thực, cụ thể hoà lẫn chất Thiền với tâm hồn hào mại được Mạnh Hạo Nhiên tiếp thu, phát huy từ thơ sơn thuỷ của Tạ Linh Vận Ngôn từ chất phác, thanh tân với câu thơ gần như câu nói thường ngày cùng tình cảm yêu mến, gắn bó cùng làng quê thôn dã được ông học tập, tiếp nối từ thơ điền viên của Đào Uyên Minh Tất cả đã tạo nên nét riêng cho thơ điền viên - sơn thuỷ của Mạnh Hạo Nhiên Bên cạnh đó, chất hào phóng, lãng mạn trong thơ điền viên - sơn thuỷ của ông đã ảnh hưởng lớn đến cách tả cảnh trong thơ Lý Bạch và một số nhà thơ điền viên - sơn thuỷ khác Chất hào phóng, lãng mạn này, đứng ở một góc nào đó để xét thì thơ Mạnh Hạo Nhiên có thể đại diện cho “Thịnh Đường khí tượng” [25; tr.39] Chất Thiền và bút pháp tả thực trong thơ ông cũng rất gần gũi với chất Thiền trong thơ Vương Duy Chính vì vậy mà Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy có phong cách thơ khá gần gũi Do đó, người đời thường gọi chung thơ họ là phái thơ Vương - Mạnh
- Vương Duy (701 - 761), tự Ma Cật, xuất thân trong một gia đình quý tộc ở Kỳ Huyện, Thái Nguyên (Sơn Tây ngày nay) Vương Duy là người học rộng tài cao Ông sớm đỗ đạt và giữ nhiều chức vụ khác nhau trong triều Vương Duy là người
có lối sống khá đặc biệt so với các quan sĩ xưa nay: làm quan to nhưng ông ăn chay
Trang 25trường; vợ mất khi ông ba mươi tuổi và chưa có con cái nhưng ông không tục huyền; để tang mẹ hai năm tại Võng Xuyên, ông vui thú điền viên và làm bạn cùng cao nhân ẩn sĩ nơi đây; vừa làm quan vừa nghiên cứu Phật học để sống cuộc đời
“bán quan bán ẩn”… Ông còn nổi tiếng với danh tiếng của một thiên tài về mặt nghệ thuật: vừa là thi sĩ, vừa là hoạ sĩ, vừa là nhạc sĩ Tranh sơn thuỷ của ông có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm nghệ thuật, thẩm mỹ của các hoạ sư các đời sau Chính vì thế, ông được suy tôn là Tổ sư Nam Tông hoạ phái
Cùng với Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy được xem là đại biểu ưu tú nhất cho khuynh hướng thơ điền viên - sơn thuỷ thời Thịnh Đường và ông được mệnh danh
là “thi Phật” Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: Điểu minh giản, Sơn trung,
Thanh Khê, Chung Nam sơn, Lộc trại…
Thơ điền viên - sơn thuỷ của Vương Duy mang nhiều sắc thái: thời thanh niên, thơ ông mang khí chất hùng hồn, tráng lệ với nguyên tắc “tả cảnh nhập thần” và ảnh
hưởng của Thiền học (Chung Nam Sơn, Hán giang lâm thao…); thời “bán quan bán
ẩn”, thơ ông không mang tâm lý thất ý hay trốn đời mà tụng ca chân thực cảnh nhàn nhã, tự tại nơi thôn dã, cảnh thiên nhiên trong thơ ông mang đậm chất triết lý, suy tư
về sự tồn tại với những hình ảnh gần gũi đời thường (Trúc lý quán, Võng Xuyên biệt
nghiệp, Thu dạ độc toạ, Điểu minh giản…) Chính vì thế mà thơ Vương Duy luôn
biến hoá đa dạng cả về phong cách lẫn tình điệu Đó là chất hào hùng, tráng lệ mang
khí vị Thiền học của Hán giang lâm thao:
“Giang lưu đại địa ngoại, Sơn sắc hữu vô trung
Quận ấp phù tiền phố,
Ba lan động viễn không”
(Sông chảy tận ngoài cõi đất bao la, Dáng núi thấp thoáng khi có khi không
Quận ấp [như] nổi trên bãi sông đằng trước, Sóng nhấp nhô rung chuyển chân trời xa)
Trang 26Chất hào hùng, tráng lệ đó được chuyển hoá thành chất suy tư, triết lý về sự tồn
tại trước cảnh vật thanh tĩnh trong đêm u tịch của người nhàn trong Điểu minh giản:
Nhân nhàn quế hoa lạc,
Dạ tĩnh xuân sơn không
Nguyệt xuất kinh sơn điểu, Thì minh xuân giản trung
(Người thong thả, hoa quế rụng, Đêm vắng lặng, núi xuân chơ vơ
Trăng mọc làm chim núi giật mình, Thỉnh thoảng kêu trong khe xuân)
Là người kế thừa từ Tạ Linh Vận, Vương Duy đã có những bước tiến vượt bậc cho nghệ thuật thể hiện thơ điền viên - sơn thuỷ: từ tả cảnh thực đến tả cảnh kết hợp với Thiền (gồm cả Thiền cảnh, Thiền tình, Thiền ý và Thiền ngôn) và hoạ trong thơ
Ta có thể thấy rõ bước tiến này trong Hán giang lâm thao: thực cảnh được hiện lên
là cảnh của “giang lưu”, “địa ngoại”, cảnh của “quận ấp” nơi “tiền phố”; Thiền cảnh
ở đây là cảnh của “Giang lưu đại địa ngoại” và “Ba lan động viễn không” (người
quan sát đã dùng tâm để cảm nhận hết độ bao la cùng những chuyển động cụ thể của cảnh vật trong phạm vi ấy) Trong đó, Thiền tình là tình yêu cảnh vật, cuộc sống bao la của con người đã tương hợp với độ khoáng đạt của cảnh vật; Thiền ý là mọi sự trên thế gian này đều là hư vô, không ở nguyên một dạng thể mà luôn có sự chuyển dịch, xoay vần, huyền hoặc như nước sông luôn hướng về nơi vô định và sóng có thể làm rung chuyển cả chân trời Thiền ngôn là chữ “không” để liên tưởng đến tư tưởng “Không tức thị Sắc, Sắc tức thị Không” của Phật giáo Cảnh vật trong
Hán giang lâm thao cũng mang đậm màu sắc của một bức hoạ vì cảnh vật trong đó
được soi chiếu từ nhiều góc nhìn với một không gian đa chiều và nhiều đường nét, nhiều biên độ, hình sắc hài hoà, sống động
Về sự hoà hợp nhuần nhuyễn giữa thơ và hoạ trong thơ Vương Duy, Tô Đông
Pha đời Tống có nhận xét: “thi trung hữu hoạ, hoạ trung hữu thi”, tức xem thơ Ma Cật thấy trong thơ có hoạ, xem tranh Ma Cật thấy trong tranh có thơ Vũ Thế Ngọc
Trang 27khi nghiên cứu về thơ Vương Duy, cũng nhận định: “Thơ của Vương Duy là tranh thuỷ mặc” Ngoài ra, Thơ Vương Duy cũng rất giàu nhạc tính Những câu thơ của ông có sự hiện diện của những nốt nhạc trầm bổng êm ái, du dương, với những giai điệu sâu lắng, ngân nga tựa như những bản nhạc thanh thoát, an nhiên giữa rừng Thiền Do đó, thơ ông còn là sự kết hợp giữa chất thơ, chất Thiền, chất hoạ với chất
nhạc Tiếng chim hót vang trong đêm vắng của Điểu Minh giản, tiếng dế kêu dưới hơi thu, tiếng ve não nề trong rừng vắng của Tảo thu sơn trung tác, tiếng chim tìm
về núi của Võng Xuyên nhàn cư, tiếng nước cuộn đá, tiếng lá thu rơi rụng trên núi vắng của Sơn trung… đều là những thanh âm dìu dặt, trong trẻo trong một bản nhạc
ca ngợi cảnh Thiền, tình Thiền, ý Thiền trong những bức tranh thuỷ mặc tràn đầy cảm hứng phiêu du, nhàn nhã được chấm phá, điểm xuyết một số hoạ nét điềm đạm
mà sắc sảo
Nhìn vào những đặc điểm trong thơ Đường và những thể hiện trên trong thơ điền viên - sơn thuỷ của Vương Duy, chúng ta thấy, Vương Duy chính là người có công lớn tạo nên cách thể hiện của thơ Đường như: thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc, ý tại ngôn ngoại…
Cuộc đời và phong cách sống “bán quan bán ẩn” của Vương Duy đã có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, lối sống của nhiều nhà thơ sau này, trong đó có tư tưởng về sống ẩn dật của Nguyễn Trãi:
“Ẩn cả lo chi thành thị nữa,
Nào đâu là chẳng đất nhà quan”
(QÂTT, Ngôn chí, bài 16)
Như vậy, Vương Duy một mặt kế thừa những đặc điểm trong thơ điền viên - sơn thuỷ của Đào Uyên Minh, Tạ Linh Vận, Mạnh Hạo Nhiên, một mặt phát triển, bồi
bổ thêm cho thể tài để thơ điền viên - sơn thuỷ sánh ngang cùng các phong cách thơ khác thời Đường và góp phần tạo nên đặc điểm của “Thịnh Đường khí tượng” Với những đóng góp của mình, Vương Duy và Mạnh Hạo Nhiên là những người có công lớn trong việc tạo nên hình mẫu cho thơ điền viên - sơn thuỷ Thịnh Đường
1.2.1.3 Một số tác giả tiêu biểu khác
Trang 28- Sơ Đường có các nhà thơ điền viên - sơn thuỷ như nhóm Sơ Đường Tứ Kiệt (Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương), Trần Tử Ngang, Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn, Hạ Tri Chương, Lư Soạn, Trương Nhược Hư… Trong đó, đáng chú ý nhất là nhóm Sơ Đường Tứ Kiệt Nhóm Sơ Đường Tứ Kiệt được xem là những người tiên phong trong việc tiếp nhận ảnh hưởng từ thơ điền viên - sơn thuỷ thời Hán Nguỵ Nhóm thơ này chú trọng vào việc tả cảnh để bộc lộ
tình cảm trong thơ Họ kết hợp chặt chẽ giữa tả cảnh với ngụ tình (Xuân nhật hoàn
giao, Sơn phi dạ Toạ, Trọng xuân giao ngoại, Lâm tuyền độc ẩm của Vương Bột; Đăng Ngọc Thanh của Lư Chiếu Lân, Chung nhật dã vọng của Lạc Tân Vương…)
Do cuộc đời các thành viên trong nhóm gặp nhiều trắc trở nên thơ điền viên - sơn thuỷ của họ mang âm hưởng u buồn Cái mới trong thơ điền viên - sơn thuỷ nhóm
Sơ Đường Tứ Kiệt so với thơ điền viên - sơn thuỷ thời Nam Bắc triều là thơ họ có
sự kết hợp nhiều giác quan, nhiều góc nhìn trong miêu tả và cảm nhận Ví dụ:
“Đằng Vương cao các lâm giang chử Bội ngọc minh loan bãi ca vũ”
(Gác Đằng Vương cao ngất trông ra bãi sông Đeo ngọc reo chuông thôi múa hát)
(Đằng Vương các, kỳ nhất - Vương Bột)
Một cống hiến không nhỏ của nhóm thơ này đối với tiến trình phát triển của thơ điền viên - sơn thuỷ là việc họ phát huy tối đa sự biểu hiện tình cảm trong thơ bằng cách sử dụng thể thơ ngũ luật và thất luật cận thể trong sáng tác Bút pháp tả cảnh ngụ tình và sự cảm nhận cảnh vật theo nhiều giác quan, nhiều chiều hướng được Lý Bạch tiếp thu và hoàn thiện đến sự nhuần nhuyễn cực độ
- Ngoài Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy thì Lý Bạch là tác giả điền viên - sơn thuỷ nổi tiếng thời Thịnh Đường Lý Bạch (701 - 762), tự Thái Bạch, quê ở Lũng Tây (Thuộc Cam Túc ngày nay) Lý Bạch là người có tính tình phóng khoáng, yêu thích sự tự do, phiêu lãng Lý Bạch được mệnh danh là “thi tiên” và để lại hơn 1000
bài thơ với những tác phẩm tiêu biểu về thơ điền viên - sơn thuỷ như: Hoàng Hạc
lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Vọng Thiên Môn sơn, Vọng Lư sơn bộc
Trang 29bố, Độ Kinh Môn tống biệt, Thục đạo nan… Lý Bạch kế thừa cách miêu tả, cảm
nhận cảnh vật trong thơ Đào Uyên Minh, Tạ Linh Vận, nhóm Sơ Đường Tứ Kiệt Thơ sơn thuỷ của ông mang đậm tính phóng khoáng, hào mại, lãng mạn, tự do với phương thức thẩm mỹ đa dạng tuỳ thuộc vào những trạng thái khác nhau của cảm xúc Cảnh vật trong thơ ông được miêu tả và cảm nhận từ nhiều chiều hướng, nhiều không gian, thời gian, nhiều cảm xúc khác nhau với sự thống nhất giữa cái cao cả
và cái đẹp Phương thức chủ đạo trong việc miêu tả cảnh vật của Lý Bạch là nắm lấy cái thần, cái hồn của cảnh để thổi hồn mình vào đó - bút pháp “tả cảnh nhập thần” Để cảnh vật đạt được độ hào phóng, ông thường vận dụng nghệ thuật khoa trương, thần kỳ hoá cảnh tượng Ví dụ:
“Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.”
(Bóng cánh buồm đã khuất vào bầu không xanh thẳm, Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời.)
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
Cảnh tượng trong thơ sơn thuỷ của Lý Bạch được dựng lên theo nguyên tắc: lấy cảnh tả tình, lấy tình tả cảnh hay cảnh tình hoà hợp Nghệ thuật tả cảnh bậc thầy của
Lý Bạch được nhiều nhà thơ điền viên - sơn thuỷ khác học theo
- Trung Đường có những tác giả sáng tác thơ điền viên - sơn thuỷ như: Lưu Trường Khanh, Vi Ứng Vật, Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Mạnh Giao, Liễu Tông Nguyên… Trong số đó, Liễu Tông Nguyên là tác giả đáng chú ý nhất Liễu Tông Nguyên (773 - 819), tự Tử Hậu, người Hà Đông (thuộc Sơn Tây ngày nay) Ông để lại khoảng 140 bài thơ, trong đó có nhiều bài mang phong cách điền viên -
sơn thuỷ như: Ngư ông, Giang tuyết, Dữ Hạo sơ nhân khán sơn ký Kinh Hoa thân
cố, Điền gia tam phủ… Ông là người thừa kế phong cách thanh đạm, giản dị của
Đào Uyên Minh nên thơ điền viên - sơn thuỷ của ông lấy đạm bạc, thanh nhã làm
âm hưởng chính Do đó, phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ của ông là phong cách thanh đạm, điển nhã Ví dụ:
“Thiên sơn điểu phi tuyệt,
Trang 30Vạn kính nhân tung diệt”
(Ngàn núi chim bay hết, Hàng vạn con đường dấu chân người cũng mất)
- Thời Vãn Đường có Lý Thương Ẩn là tác giả tiêu biểu cho phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ Lý Thương Ẩn (831 - 858), tự Nghĩa Sơn, hiệu Ngọc Khê Sinh, người huyện Hà Nội, tỉnh Hà Nam Thơ ông hiện còn khoảng 600 bài với một
số tác phẩm thơ điền viên - sơn thuỷ tiêu biểu: Thường Nga, Vô đề… Thơ điền viên
- sơn thuỷ của ông chịu ảnh hưởng từ cổ thi, nhạc phủ Hán - Nguỵ và thơ cung thể Lương - Trần cùng sự kế thừa tính chất triết lý trong thơ Tạ Linh Vận, phong cách lãng mạn của Lý Bạch và phong cách hiện thực của Đỗ Phủ… Do đó, phong cách thơ Lý Thương Ẩn rất đa dạng và phức tạp Một số đặc điểm chính trong thơ điền viên - sơn thuỷ của ông là: đi sâu khám phá nội tâm, đượm tính trữ tình, lãng mạn, tính triết luận thâm trầm, lý trí làm chủ cảnh vật, cảnh tình không dung hợp, chuộng tính tự nhiên, coi trọng cấu tứ, gọt giũa câu chữ… Trong đó, âm điệu thâm trầm, giọng điệu triết luận, cảnh vật tiêu sơ làm cảm hứng chính Ví dụ:
“Hướng vãn ý bất thích, Khu xa đăng cổ nguyên
Tịch dương vô hạn hảo, Chỉ thị cận hoàng hôn”
(Trời chiều lòng chưa thoả, Giong xe lên đồng xưa
Bóng chiều đẹp vô cùng,
Trang 31Chẳng qua là đã đến hoàng hôn)
(Lạc du nguyên, kì nhất)
Chất triết lý trong thơ ông được các nhà thơ điền viên - sơn thuỷ thời Tống kế thừa và phát triển lên đỉnh cao, còn vẻ tài tình, u uẩn trong thơ ông được các nhà thơ phái Tây Côn chủ trương mô phỏng khi sáng tác
Cùng với Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, các nhà thơ nhóm Sơ Đường Tứ Kiệt,
Lý Bạch, Đỗ Phủ, Liễu Tông Nguyên, Lý Thương Ẩn xứng đáng là những đại diện tiêu biểu, những đỉnh cao, những mốc son trên tiến trình phát triển của phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ thời nhà Đường nói riêng, phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ ca Trung Quốc nói chung
1.2.2 Nhận xét chung về phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ ca cổ trung đại Trung Quốc
Thơ điền viên - sơn thuỷ cổ trung đại Trung Quốc được hình thành và phát triển qua nhiều triều đại với nhiều bước phát triển khác nhau Mở đầu là thời Nam Bắc triều Thời này, thơ điền viên - sơn thuỷ mới được khai sinh và chập chững bước những bước đi đầu tiên mà thành tựu đạt được là sự theo đuổi chân diện mục với cách tả thực có lồng ghép tả tình và triết lý sâu xa Phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ thời này mang đặc điểm của sự bình đạm, thanh nhã Phong cách này được hình thành trên cơ sở kế thừa truyền thống tả cảnh ngụ tình thời Kiến An với tư tưởng thuyết lý thời Tấn Những đặc điểm trong lối tả cảnh, ngụ tình, thuyết lý, sử dụng câu chữ… được các nhà thơ các thời sau, nhất là các nhà thơ đời Đường kế thừa, phát huy
Thời Đường, thơ điền viên - sơn thuỷ phát triển mạnh mẽ và đạt đến đỉnh cao của phong cách sau khi có một bước tiến ngoạn mục cho mối quan hệ giữa cảnh và tình trong thơ Thơ điền viên - sơn thuỷ thời Đường chú trọng đến sự gửi tình vào cảnh, cảnh tình hoà hợp nhuần nhuyễn vào nhau Do đó, đặc điểm chính trong phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ thời này là “trọng tình” với bút pháp đặc trưng
là “nhập thần” Trong đó, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử thơ điền viên - sơn thuỷ thời Đường lại có những đặc điểm riêng
Trang 32Thời Tống, thơ điền viên - sơn thuỷ mang đậm tính triết luận, đề cao lý tính trên
cơ sở kế thừa kiểu mẫu triết lý thời Đường và hình mẫu thuyết lý thời Nam Bắc triều Tính triết luận thời Tống mang tính trữ tình và âm điệu mượt mà, uyển chuyển hơn thời Đường Bút pháp chủ đạo được thơ điền viên - sơn thuỷ thời Tống sử dụng
là “tả cảnh nhập thần” Thơ điền viên - sơn thuỷ thời này cũng phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau: khuynh hướng theo đuổi sự bình đạm, tự nhiên, chất phác của Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị như Thân Hành, nhóm Cửu Tăng, Khâu Chẩn; khuynh hướng tả cảnh chủ yếu dựa vào trí tưởng tượng của phái thơ Hàn - Mạnh như Phạm Trọng Yêm; khuynh hướng chuyên sâu về triết luận dưới sự ảnh hưởng của Tạ Linh Vận, Vương Duy, Lý Thương Ẩn, Hàn Dũ với đại biểu là Tô Tuấn Khâm, Mai Nghiêu Thần, Hoàng Đình Kiên; và khuynh hướng tản văn hoá thơ điền viên - sơn thuỷ như Âu Dương Tu, Tô Thức Với những đặc điểm trên, thơ điền viên - sơn thuỷ thời Tống đã làm tốt sứ mệnh của mình là tiếp tục dòng chảy cho phong cách thơ trong lịch sử thơ ca dân tộc và cống hiến những đặc trưng mới mẻ so với những triều đại khác
Thời Nguyên, Minh, Thanh, thơ điền viên - sơn thuỷ không còn phong độ đỉnh cao như thời Đường, Tống nữa mà dần đi vào thoái trào với sự ảnh hưởng từ phong cách thơ thời Đường, Tống
Thời Nguyên, thơ điền viên - sơn thuỷ bắt đầu tuột dốc với hai dòng tác giả: người Nguyên và Người Hán cùng hai khuynh hướng sáng tác, hai âm hưởng khác nhau Dòng tác giả người Nguyên như Trần Phù, Gia Luật Sở Tài theo khuynh hướng miêu tả cảnh vật hùng tráng để bộc lộ chí hướng cao cả với âm hưởng hào hùng Các tác giả người Hán như Viên Giác, Liễu Quán, Chu Bá Kỳ… theo khuynh hướng tả cảnh vật u buồn để gửi gắm nỗi lòng người dân mất nước nên thơ họ có
âm hưởng bi tráng
Thời Minh, thơ điền viên - sơn thuỷ thực sự đi vào thoái trào với ba khuynh hướng sáng tác khác nhau Khuynh hướng muốn khôi phục lại phong cách thơ Thịnh Đường như Lý Đông Dương, Lý Phàn Long, Lý Mộng Long, Hà Cảnh Minh… Khuynh hướng triết luận phục vụ chính trị như Cao Kiêm, Lục Cơ, Cao
Trang 33Khải… Khuynh hướng theo đuổi sự tự do, giải phóng cá tính: Viên Hoằng Đạo, Viên Tông Đạo, Chung Tinh… Cảnh vật trong thơ điền viên - sơn thuỷ thời này được miêu tả trên cơ sở vừa hiện thực, vừa hư cấu, tưởng tượng
Thời Thanh, thơ điền viên - sơn thuỷ có sự vực dậy so với thời Minh nhưng không lấy lại được phong độ như thời Đường, Tống Các tác giả thời này (Cố Viêm
Vũ, Tiến Khiêm Ích, Viên Mai ) cùng chung mục đích là hướng đến sự cảm thụ vẻ đẹp vĩnh cửu của thiên nhiên với hệ thống ngôn ngữ tinh tế, bút pháp vừa tả thực vừa hư cấu trong âm hưởng vừa hào hùng vừa lãng mạn Như vậy, Thơ điền viên - sơn thuỷ thời Thanh đã có một cuộc lột xác để phong cách thơ này dần thoát ly khỏi dòng chủ lưu của văn học trung đại và bước dần qua thời hiện đại
1.3 Khái niệm thơ Nôm Đường luật và phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật qua các giai đoạn
1.3.1 Khái niệm thơ Nôm Đường luật
Thơ Đường luật là thể thơ ra đời vào thời Đường ở Trung Quốc với những quy định rất khắt khe về vần, luật, niêm, đối… Dù vậy, thơ Đường luật lại là thể thơ có sức quyến rũ rất lớn đối với các thi sĩ nhiều thời đại của các nước chịu ảnh hưởng vùng văn hoá Hán Từ những ảnh hưởng về lịch sử, thơ Đường luật đã được các thi
sĩ Việt Nam tiếp nhận một cách tự nhiên Khi du nhập vào Việt Nam, thơ Đường luật đã bị Việt hoá rất nhiều, nhất là trong thơ Nôm Đường luật Nói về sự Việt hoá này, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc có nhận xét:
Do nhu cầu diễn đạt nội dung dân tộc và nhiều khi cần diễn đạt với quy mô lớn, việc dùng nguyên vẹn thể thơ Đường luật có chỗ không thích hợp, nhà thơ thấy cần phải có những sáng tạo trong phương diện phản ánh Nhiều nhà thơ Nôm các giai đoạn trước đã đi đến việc cải biến thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thành thể thơ bát cú xen kẽ câu thơ sáu chữ với câu thơ bảy chữ (…) Kết quả là sự ra đời của loại thơ Nôm bát cú của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông [35; tr.19]
Như tên gọi, thơ Nôm Đường luật là thơ vừa có yếu tố Nôm vừa có yếu tố Đường luật Yếu tố Nôm trong thơ Nôm Đường luật thể hiện ở nhiều mặt: đề tài,
Trang 34chủ đề hướng tới những vấn đề của quốc gia, dân tộc; ngôn ngữ dùng là chữ Nôm, vận dụng nhiều yếu tố ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời thường; hình ảnh chân thực, bình dị, dân dã; bài thơ có những câu thơ năm chữ, sáu chữ xen lẫn với những câu thơ bảy chữ; thường ngắt nhịp 3/4 trong câu bảy chữ… Yếu tố Đường luật trong thơ Nôm Đường luật được thể hiện ở: vay mượn thể thơ từ Trung Quốc;
đề tài, chủ đề thường hướng tới những tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo; ngôn ngữ trau chuốt, gọt giũa, dùng nhiều từ Hán Việt, nhiều điển cố, điển tích; nhiều hình ảnh thanh tao ước lệ; số câu thơ, vần điệu, những quy định về bằng, trắc, niêm, đối được tuân thủ khá nghiêm túc… Từ những đặc điểm đó, Lã Nhâm Thìn quan niệm: “Khái niệm thơ Nôm Đường luật được hiểu là bao hàm những bài thơ viết bằng chữ Nôm theo luật Đường hoàn chỉnh và cả những bài viết theo thể thơ Nôm Đường luật phá cách - những bài có xen câu ngũ ngôn, lục ngôn vào bài thơ thất ngôn” [85; tr.542]
Lấy quan niệm của Lã Nhâm Thìn làm cơ sở lý luận cho khái niệm thơ Nôm
Đường luật của mình, chúng tôi cho rằng: thơ Nôm Đường luật ngoài việc khác với
thơ Đường luật ở chỗ thơ Nôm Đường luật được viết bằng chữ Nôm thì thể thơ này còn có “chất Nôm”- được tạo nên từ một số biến tấu hay sự phá cách - đặc trưng của nó Có nghĩa rằng thơ Nôm Đường luật là những bài thơ Nôm được viết theo thể thơ Đường luật đúng như những luật lệ được quy định và những bài thơ Nôm có
sự phá cách trong những quy định về luật lệ của thể thơ Đường luật đúng luật
1.3.2 Phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật qua các giai đoạn
Một trong những thể tài mà thơ Nôm Đường luật thường đề cập đến là thể tài điền viên - sơn thuỷ Thể tài này được các tác giả thơ Nôm Đường luật của các thời đại chủ động tiếp thu, ảnh hưởng lẫn nhau và có sự sáng tạo riêng để tạo thành một phong cách trong văn học Phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật đã có một tiến trình phát triển cùng với các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam
1.3.2.1 Giai đoạn thế kỷ XV
Trang 35Thơ điền viên - sơn thuỷ trong văn học thời Nam Bắc triều và thời Đường, Tống của Trung Quốc đã được các tác giả văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ X - XIV tiếp thu và đưa vào sáng tác thông qua những bài thơ chữ Hán Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi tiếp tục kế thừa, ảnh hưởng, tiếp thu từ thơ điền viên - sơn thuỷ của các tác giả, các thời đại trước để sáng tạo nên thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường
luật của mình: QÂTT
QÂTT là tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi được sáng tác vào nửa đầu thế kỷ XV
Thơ điền viên - sơn thuỷ trong tập thơ này mang phong cách ẩn dật, bình dân với
âm điệu trầm buồn và thấm đượm tư tưởng Thiền - Lão Phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng từ phong cách thanh đạm của Đào Uyên Minh:
"Tay còn lựa hái cúc Uyên Minh.”
(QÂTT, Mạn thuật, bài 9)
Thơ điền viên - sơn thuỷ của QÂTT có nội dung phong phú: ngợi ca vẻ đẹp
thiên nhiên, cuộc sống của người ẩn dật, triết lý về cuộc đời… Những tư tưởng triết
lý về cuộc đời, về Phật giáo trong đó được Nguyễn Trãi tiếp thu từ Tạ Linh Vận, Vương Duy, Lý Thương Ẩn Sau này, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại kế thừa tư tưởng triết
lý từ Nguyễn Trãi và phát triển dòng thơ triết luận này đến đỉnh cao trong BVQNT Cảm xúc trong thơ điền viên - sơn thuỷ của QÂTT là những dòng tình cảm chân thành, tha thiết, sâu lắng Không gian của QÂTT mang đặc điểm của cuộc sống nhàn
cư ẩn dật với những hình ảnh thiên nhiên chân thực, gần gũi, quen thuộc của cảnh vật vùng trung du rừng núi Côn Sơn Nghệ thuật thể hiện cảnh tình ở đây được tiếp
thu từ nghệ thuật tả cảnh tình của thơ Đường: từ cảnh đến tình “Thấy bóng cam
đường nhớ Thiệu Công” (QÂTT, Đào hoa, bài 1), từ tình đến cảnh “Vì ai cho cái đỗ quyên kêu” (QÂTT, Hạ cảnh tuyệt cú), cảnh tình hoà hợp “Ai ai đều có mỗ mùi hương” (QÂTT, Cúc) Trong mối quan hệ cảnh tình đó, tình luôn được đề cao hơn
cảnh
Ngoài ra, sự Việt hoá thể thơ Đường luật cũng là đặc điểm lớn trong nghệ thuật
thể hiện của phong cách thơ điền viên - sơn thuỷ của QÂTT Nhà nghiên cứu
Trang 36Nguyễn Phạm Hùng khi khảo sát về số câu thơ sáu chữ xen câu thơ bảy chữ trong
QÂTT đã kết luận: “số bài theo thể thơ này (bài có câu sáu chữ xen bảy chữ) chiếm
xấp xỉ 2/3 số bài trong tập” [21; tr.423]. Thơ điền viên - sơn thuỷ của QÂTT sở hữu
nhiều bài thơ có những câu thơ sáu chữ xen những câu bảy chữ trong số những bài
thuộc về tỉ lệ 2/3 đó: “Rồi, hóng mát thuở ngày trường” (QÂTT, BKCG, bài 43) Ngoài ra, thơ điền viên - sơn thuỷ của QÂTT còn những yếu tố Việt hoá khác như:
sử dụng nhiều từ láy (đùn đùn, lao xao, dắng dỏi…), đưa nhiều hình ảnh “xoàng” của thiên nhiên vào thơ (cây rau cải, đìa cỏ tươi, quả ổi chín…), nhiều câu thơ ngắt nhịp 3/4:
“Thạch lựu hiên/ còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì/ đã thiểu mùi hương”
(QÂTT, BKCG, bài 43)
Với những đặc điểm trên, thơ điền viên - sơn thuỷ trong QÂTT nói riêng, QÂTT
nói chung đã có vị trí, đóng góp quan trọng cho lịch sử thơ ca tiếng Việt: mở đầu cho nền thơ ca quốc ngữ “Có thể tin rằng luật của thể quốc ngữ chủ yếu được hình thành từ những cố gắng tìm tòi của Nguyễn Trãi nhằm xây dựng nền thơ quốc âm của dân tộc” [21; tr.411]
1.3.2.2 Giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII
Tiếp tục dòng chảy của thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật thế
kỷ XV, Nguyễn Bỉnh Khiêm là người kế thừa và phát huy thơ điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật lên một bước mới cho giai đoạn văn học đầu thế kỷ XVI
- nửa đầu thế kỷ XVIII
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), tên chữ là Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Phòng Năm 1535, ông
đỗ Trạng nguyên và làm quan dưới triều nhà Mạc Xin vua chém đầu mười tám tên lộng thần không được, ông lui về ẩn cư tại quê nhà, lập quán Trung Tân, dựng am Bạch Vân Tại đây, ông làm thầy dạy chữ và sống chan hoà cùng người dân thôn dã Học trò ông có nhiều người nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh nên ông được người đời suy tôn là Tuyết Giang phu tử Ông là người giỏi về Lý học
Trang 37và mặc dù ở ẩn nhưng ông vẫn tham vấn cho triều đình nhà Mạc nên ông được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình Quốc công Do đó, ông còn có tên gọi là Trạng Trình
Thơ Nôm Đường luật viết về điền viên - sơn thuỷ của Nguyễn Bỉnh Khiêm được
thể hiện trong BVQNT với phong cách của một ẩn sĩ điềm đạm, lý tính Phong cách
này có điểm khác với phong cách đượm tính trữ tình của Nguyễn Trãi Thơ điền
viên - sơn thuỷ trong BVQNT có yếu tố điền viên nhiều hơn yếu tố sơn thuỷ Nội dung của BVQNT thu hẹp hơn so với nội dung trong QÂTT khi chỉ tập trung vào:
thú vui ẩn dật, tư tưởng triết lý về cuộc sống… Trong những nội dung ấy, tư tưởng triết lý về cuộc sống là nội dung có ý nghĩa quyết định làm nên phong cách điền viên - sơn thuỷ cho Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tư tưởng triết lý trong thơ điền viên - sơn thuỷ của BVQNT được kế thừa trực tiếp từ tư tưởng triết lý của Nguyễn Trãi trong QÂTT, tư tưởng triết lý của cha ông
xưa trong văn học chữ Hán và xa hơn nữa là kế thừa tư tưởng triết lý của các nhà thơ triết lý thời Nam Bắc triều, thời Đường, Tống Trên cơ sở vẫn là kế thừa tư tưởng triết lý về cuộc sống của các bậc tiền bối nhưng tư tưởng triết lý của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở đây lại có nhiều nét riêng đặc trưng cho phong cách tác giả của mình Nếu thơ điền viên - sơn thuỷ của Nguyễn Trãi thường triết lý về những phẩm chất, tính cách, lối sống của người quân tử, bậc anh hùng, đấng trượng phu; thơ điền viên
- sơn thuỷ của Lý Thương Ẩn thường triết lý về những quy luật của tự nhiên, số phận con người trước thời cuộc… thì thơ điền viên - sơn thuỷ Nguyễn Bỉnh Khiêm lại đi sâu vào triết lý về cách sống, cách hành xử của con người nhất là những người dân quê trước thói đời đen bạc Nói cách khác, triết lý trong thơ điền viên - sơn thuỷ
trong BVQNT nặng về thuyết lý đạo đức Chính vì thế, Ngô Tất Tố có nhận xét:
“Ông là nhà Lý học nên thơ văn của ông giống như thơ văn Thiệu Ung nhà Tống, nhiều đạo đức hơn mỹ thuật” [67; tr.502]
Về mặt nghệ thuật, thơ điền viên - sơn thuỷ trong BVQNT một mặt kế thừa những yếu tố nghệ thuật thể hiện của thơ điền viên - sơn thuỷ trong QÂTT, một mặt
có bước phát triển mới Hình ảnh trong thơ vẫn là những hình ảnh nho nhỏ, bình dị,
Trang 38thân quen nhưng đây là những hình ảnh của vùng đồng bằng châu thổ đất Hải Phòng và những hình ảnh này chỉ được kể ra chứ không tả lại càng không phải vẽ
Ngôn ngữ của BVQNT gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng đã được rèn giũa hơn so với QÂTT Kỹ năng sử dụng từ ngữ tiếng Việt ở đây đã thuần thục hơn
trước nhất là khả năng vận dụng thành ngữ, tục ngữ nhưng nhìn chung thì ngôn ngữ thơ vẫn chưa uyển chuyển, tinh tế “tính cách giản dị, phác thực của Bạch Vân thi đánh dấu một giai đoạn sơ khởi kéo dài của thơ Nôm, chưa đi đến chỗ mỹ diệu, tinh tế” [67; tr.502] Về số chữ trong câu thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn dùng nhiều câu thơ lục ngôn xen câu thơ thất ngôn Điều này cho thấy sự ảnh hưởng rõ nét từ cách
sử dụng câu thơ sáu chữ xen câu thơ bảy chữ của Nguyễn Trãi trước đó Có điều câu thơ sáu chữ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mượt mà, trôi chảy hơn câu thơ sáu chữ của Nguyễn Trãi Ví dụ:
- “Vếu váo câu thơ cũ rích,
Khề khà chén rượu hăng xì”
(BVQNT, bài 84)
- “Đìa cỏ được câu ngâm gió,
Hiên mai cầm chén hỏi trăng”
(QÂTT, Mạn thuật, bài 2) Cách ngắt nhịp của BVQNT khá linh hoạt, trong đó nhiều câu thơ tiếp tục nhịp 3/4 như trước đó Ví như trong BVQNT, bài 124:
“Nết con dữ,/ chẳng hay rằng dữ, Ruộng lúa nên,/ còn biểu chửa nên”
Giọng thơ của BVQNT thường đủng đỉnh, khô khan hoặc trung hoà về sắc thái
cảm xúc vì phần lớn các bài thơ trong đó hướng tới sự triết lý, răn dạy về đạo đức nên trong những bài thơ ấy, yếu tố lý tính luôn lấn át yếu tố cảm tính Ví dụ:
“Rau không đắng dốt là rau mát,
Cá có tanh tao ấy cá bùi”
(BVQNT, bài 101)
Trang 39Hai câu thơ này triết lý về mối quan hệ giữa hiện tượng và bản chất của sự vật, hiện tượng nên giọng thơ trong đó là giọng khách quan tức trung hoà về cảm xúc
Như vậy, thơ điền viên - sơn thuỷ trong BVQNT của Nguyễn Bỉnh Khiêm có ý
nghĩa rất quan trong trong tiến trình phát triển của phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật: là bước quá độ từ bước khởi đầu trong thơ Nguyễn Trãi sang đỉnh cao của sự uyển chuyển, mềm mại, thướt tha trong thơ Bà Huyện Thanh Quan và đỉnh cao của sự tự nhiên, bình dân, hiện đại trong thơ Nguyễn Khuyến
1.3.2.3 Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX
Thơ Nôm Đường luật theo phong cách điền viên - sơn thuỷ giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX đã đạt đến sự trưởng thành trên tiến trình phát triển của mình với sự đóng góp tích cực của Bà Huyện Thanh Quan
Bà Huyện Thanh Quan (1805 - 1848), tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội Bà là học trò của Phạm Quý Thích,
là vợ một người họ Lưu làm quan tri huyện Thanh Quan nên người ta thường gọi bà
là Bà Huyện Thanh Quan Thời vua Minh Mệnh, bà được vời vào cung giữ chức Cung trung giáo tập để dạy các cung phi, công chúa Bà Huyện Thanh Quan sáng
tác không nhiều, tất cả đều là thơ Nôm Đường luật với những bài: Qua Đèo Ngang,
Thăng Long thành hoài cổ, Cảnh chiều hôm…
Thơ Nôm Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan đều là thơ sơn thuỷ Thơ bà mang phong cách đài các, quý tộc Tác phẩm của bà được sáng tác theo khuynh hướng hoài cổ với âm điệu trầm buồn nhưng trang nghiêm Những nội dung trong thơ bà được thu hẹp hơn so với nội dung trong thơ điền viên - sơn thuỷ của các tác giả trước Đó là: nỗi nhớ nước thương nhà, tiếc cảnh, nhớ người, sự ngợi ca cảnh
vật thanh bình nơi thôn dã… Thơ điền viên - sơn thuỷ trong QÂTT, BVQNT có nhắc
đến những ước ao về thời thái bình thịnh trị thuở Nghiêu Thuấn tức có chút hoài niệm Chút hoài niệm ấy đã được Bà Huyện Thanh Quan phát triển thành hẳn một khuynh hướng sáng tác cho mình Đây chính là điểm mới, những cống hiến về mặt
đề tài và mở ra một khuynh hướng sáng tác mới cho tiến trình phát triển của phong cách điền viên - sơn thuỷ trong thơ Nôm Đường luật Việt Nam
Trang 40Không những nội dung trong thơ Bà Huyện Thanh Quan mang đặc điểm của sự trang trọng, đài các mà nghệ thuật thể hiện trong thơ bà cũng như vậy Sự đài các, trang trọng này được thể hiện ở nhiều mặt Trước hết là mặt ngôn ngữ Ngôn ngữ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan được lựa chọn, gọt giũa, trau chuốt rất tỉ mỉ, kỹ càng nên lời thơ rất mềm mại, trong sáng, uyển chuyển, trang nhã, điêu luyện Những lời thơ ấy không khác gì những lời thơ tuyệt mỹ trong thơ Đường Ví như
hai câu thơ trong Thăng Long thành hoài cổ:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”
khi đọc lên chúng ta thấy ngay được cái hay, cái dư vị ngân nga, cái mềm mại, uyển chuyển trong từng chữ, từng lời Thứ đến là những hình ảnh được thể hiện trong thơ Hình ảnh trong thơ Bà Huyện Thanh Quan không hàm chứa chất triết lý như
trong QÂTT, BVQNT mà đó là những cảnh vật rất nhạt như trong Đường thi: cỏ dãi
dầu, bóng xế tà, dặm liễu sương sa… Do đó, cảnh trong thơ Bà Huyện Thanh Quan nếu được phác hoạ sẽ giống như những bức tranh thuỷ mặc bên Trung Quốc Với đặc điểm này, thơ Bà Huyện Thanh Quan đạt đến độ “thi trung hữu hoạ” từa tựa như những bài thơ Đường của Vương Duy Cách cấu tứ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan cũng đạt đến sự chuẩn mực về sự kết hợp cảnh với tình như trong thơ Đường Cảnh, tình trong thơ Bà Huyện Thanh Quan không có sự phân định vì cảnh chính là tình mà tình chính là cảnh Cảnh là hiện thân cụ thể của tình, tình nhuộm màu sắc tâm trạng lên cảnh mà cảnh tình hợp nhất thành “ta với ta” Ví như: người ‘trơ gan” với thời thế, “cau mặt” với tang thương được đồng điệu hoá thành:
“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương”
(Thăng Long thành hoài cổ)
Về mặt niêm luật, thơ Bà Huyện Thanh Quan tuân thủ rất nghiêm chuẩn theo niêm luật của thơ Đường Với sự tuân thủ ấy, thơ Bà Huyện Thanh Quan không có bài nào phá cách, không có câu lục ngôn nào xen lẫn câu thất ngôn như thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm Do quá dụng công, thơ Bà Huyện Thanh Quan có chỗ