1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiên nhiên trong thơ vương duy

118 674 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên tinh thần tiếp thu những bài viết, những công trình của các tác giả cùng với những suy nghĩ và tìm tòi người viết sẽ làm sáng tỏa đề tài này bằng một góc nhìn mới hơn, từ góc nhìn c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN



NGUYỄN TRUNG NIÊN MSSV: 6116144

THIÊN NHIÊN TRONG THƠ VƯƠNG DUY

Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS.GV BÙI THỊ THÚY MINH

Cần Thơ, 2014

Trang 2

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Vương Duy- cuộc đời và sự nghiệp văn chương

1.1.1 Cuộc đời và thân thế

1.1.2 Thời thế con người và sự nghiệp văn chương

1.2 Đôi nét về thể loại thơ

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của thơ Đường ở Trung Quốc

1.2.2 Các thể loại thơ Đường luật

1.3 Sơ lược về yếu tố Thiền và hình ảnh Thiền trong thơ Đường

1.3.1 Quan niệm về Thiền từ thời khởi thủy

1.3.2 Sơ lược về Thiền thời hiện đại

1.3.3 Sự hòa hợp của Thiền và thơ trong thơ Đường

1.4 Vị trí thơ Vương Duy

1.4.1 Vị trí của thơ Vương Duy trong văn học Trung Quốc

1.4.2 Quá trình tiếp nhận và phát triển của thơ Đường ở Việt Nam 1.4.3 Thơ Vương Duy trong chương trình phổ thông hiện nay

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT BẢN DỊCH THƠ VƯƠNG DUY Ở VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về những công trình dịch có thơ Vương Duy ở Việt Nam 2.2 Một số bài thơ của Vương Duy được chọn dịch ở Việt Nam

2.3 Đánh giá những bản dịch thơ Vương Duy

2.3.1 Ưu điểm

2.3.1.1 Những bản dịch sát nghĩa

Trang 3

2.3.1.2 Đưa hồn thơ Đường vào Việt Nam

3.1 Tư tưởng và cảm hứng chủ đạo trong thơ Vương Duy

3.1.1 Cảm hứng trong thơ Vương Duy

3.2.1.1 Hình ảnh những dòng sông con suối

3.2.1.2 Hình ảnh của những dãy núi hùng vĩ

3.2.1.3 Hình ảnh những áng mây

3.2.1.4 Biểu tượng của rừng cây và những loài hoa

3.2.2 Hình ảnh điền viên

3.2.2.1 Khung cảnh xung quanh nơi ông sinh sống

3.2.2.2 Khung cảnh lao động của nhà nông

3.2.2.3 Hình ảnh những chú chim và những con tằm

3.2.2.4 Hình ảnh những gia xúc: bò, trâu gắn với nhà nông

3.2.2.5 Hình ảnh những loài côn trùng

3.3 Triết lí Thiền qua những hình ảnh thiên nhiên trong thơ

3.3.1 Tâm cảnh như không, động tĩnh tương sinh

Trang 4

3.3.2 Cảnh tùy tâm chuyển, lãng mạn siêu việt

3.3.2 Ánh mắt Bồ Đề, thanh tĩnh hòa điệu

3.4 Quan niệm sống của thi nhân qua những hình ảnh thiên nhiên 3.4.1 Mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người

3.4.2 Mối quan hệ giữa người với người

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỤC LỤC

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn với bề dày lịch sử và nền văn hóa vô cùng rực rỡ, những nét đẹp về văn hóa rất dần đi vào đời sống của người dân Trong đó văn học là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của họ Với kho tàng văn học rất đồ sộ, đã được biết đến với các tác phẩm nổi tiếng Tây Du Kí, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử… và không thể thiếu trong những tuyệt tác trên chính là thơ Đường một thể loại thơ có rất nhiều ảnh hưởng đến việc sáng tác của các thế hệ sau này

Những tác phẩm thơ văn trên đã xuất hiện từ lâu đời và có ảnh hưởng đến nền văn học thế giới Nhiều nhà thơ Trung Quốc cũng từ thơ Đường mà khẳng định tên tuổi của mình trên và đi sâu vào lòng người đọc Giai đoạn này thơ Đường đạt đến đỉnh cao với nhiều tên tuổi như Đỗ Phủ, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên… và rất nhiều trường phái thơ khác nhau mỗi người một vẻ đã làm cho bức tranh về thơ thêm phần tươi sắc Một trong số đó không thể không kể đến là tác gia Vương Duy, một nhà thơ gắn liền với phái điền viên sơn thủy và được mệnh danh là “thi Phật’ Mỗi sáng thức dậy và bước ra khỏi phòng chắc hẳn người đón chờ ta chính là ánh bình minh của một ngày đầy năng lượng, thiên nhiên không thể nào tách rời khỏi chúng ta, mỗi thực thể con người đang sống và tồn tại ngoài việc thích nghi với xã hội thì tiềm ẩn bên trong tiềm thức đó là khát khao hòa mình vào thiên nhiên, tận hưởng tất cả những gì thiên nhiên ban tặng Việc hòa mình vào thiên nhiên đã được nhiều thế hệ trước gởi vào thơ

ca với những hình ảnh thật thân quen giống như Chí Phèo đã từng cảm nhận tiếng chim hót, ánh nắng ban mai đầu tiên của một ngày

Trong bài viết của mình người nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến tác gia Vương Duy bởi phong cách độc đáo trong việc sử dụng ngôn từ và những hình ảnh trong thơ

Hơn thế nữa chính phái điền viên sơn thủy hướng về thiên nhiên đã vẽ nên những bức tranh tuyệt tác của cuộc sống đã tạo nên sự hấp dẫn đối với người viết Bên cạnh đó người viết muốn góp một phần nhỏ vào việc so sánh thơ đường luật trong văn

học trung đại Việt Nam, do vậy mà người viết quyết định chọn đề tài “Thiên nhiên

trong thơ Vương Duy” để tìm hiểu và phân tích làm bậc lên những giá trị nằm sâu

với những lớp ngôn từ thông qua những hình ảnh thiên nhiên gần gũi mà ông gởi vào thơ của mình Tuy là đề tài không mới nhưng người viết hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc học tập và nghiên cứu văn học Trung Quốc một cách dễ dàng hơn

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong nền văn học Trung Quốc Vương Duy được mệnh danh là thi Phật với những bài thơ thiền và triết lí đạo Phật vô cùng độc đáo Không dừng lại ở đó nhiều nhà nghiên cứu và phê bình Trung Quốc biết đến ông với một trường phái thơ sơn thủy

vô cùng nổi tiếng

Trong quyển Lịch sử văn học Trung Quốc tập một, do các tác giả Trung Quốc ở

Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn trong những năm 60 (thế kỉ XX), đã giành những trang viết giối thiệu về tác giả Vương Duy với cuộc đời, thân thế, tư tưởng và phong cách thơ của ông Đây cũng là quyển sách được giảng dạy trong các trường đại học ở Trung Quốc Qua khảo sát những quyển sách về thơ Đường của các học giả Trung Quốc thì tất cả đều có thơ Vương Duy Qua đó cho thấy Vương Duy có một vị trí quan trọng trong nền văn học Trung Quốc

Riêng thơ Vương Duy ở Việt Nam cũng được tiếp nhận với những bản dịch thơ đầu tiên xuất hiện trên văn đàn của nhưng tờ tạp chí được đăng theo kì Có thể điểm

qua là bản dịch thơ của bài Điểu minh giản, của Ngô Tất Tố năm 1938 trên tờ Nam

Phong tạp chí

Bên cạnh đó là những bản của Ngô tất Tố trong quyển Đường thi, xuất bản năm

1940 và quyển Đường thi, của Trần Trọng Kim xuất bản năm 1945 đó những người đi

tiên phong trong việc dịch thơ Vương Duy

Đa phần những bản dịch thơ Đường ở Việt Nam đều đề cặp đến nhà thơ Vương Duy Có thể kể những bản dịch đầu tiên với số lượng nhiều là của dịch giả Trần Trọng

Kim với 31 bài trong quyển Đường thi tuyển dịch

Về sau này có thể kể đến dịch giả Thái Bá Tân với quyển Cổ thi tác dịch, xuất

bản năm 1988 với hơn 40 bài thơ Vương Duy trong quyển sách này

Đến năm 1997 thì Lê Nguyễn Lưu cho ra đời quyển Đường thi tuyển dịch, với

hơn 50 bài thơ của Vương Duy chiếm 10% trong tổng số bài thơ Đây là quyển sách có nhiều nhất các bản dịch thơ của Vương Duy

Đây là những dịch giả nghiên cứu sâu về thơ Đường trong đó có thơ Vương Duy với những bản dịch chất lượng Nhưng ở các dịch giả này lại có phần hạn chế vì chưa viết nhiều Vương Duy mà chỉ phát triển phần dịch thơ của ông

Trong quyển Lịch sử văn học Trung Quốc tập một, do các dịch giả Lê Huy

Tiêu, Lương Duy Thứ, Nguyễn Trung Hiền, Lê Đức Niệm, Trần Thanh Liêm xuất bản

Trang 7

năm 1997 đã nói rất nhiều về Vương Duy, không chỉ nói về cuộc đời, thân thế mà còn

có những phần phân tích về tư tưởng nội dung chính trong thơ Vương Duy, đồng thời trong quyển sách này còn có những bản dịch thơ để làm sáng tỏ những nội dung cơ bản nhất trong thơ ông Tính đến nay thì đây là quyển sách có nhiều trang viết sâu và nhiều nhất về tác giả Vương Duy

Trong quyển Thơ sơn thủy cổ đại Trung Quốc, của Trần Trung Hỷ bàn về giá

trị nội dung cũng như nghệ thuật trong thơ sơn thủy Tác giả cũng đã bàn nhiều về thiên nhiên trong đó có cả thiên nhiên trong thơ Vương Duy Tuy nhiên vấn đề thiên nhiên chưa được bàn rõ ràng cho lắm chỉ dừng lại ở mức khái quát nhất Đây là công trình có đóng góp quan trong trong việc tiếp nhận về nội dung thiên nhiên lẫn phần nghệ thuật trong thơ

Mở trang Web: http//www.google.com.vn và tra với từ khóa “Thiên nhiên trong thơ Vương Duy” thì kết quả hiện ra chưa có một bài viết nào thật sự tốt về nội dung này Đại đa số chỉ là những bài viết manh mún bàn qua loa về thơ của ông mà chưa thật sự sắc nét Có những bài viết về thơ Thiền của ông và đề cặp đên nội dung thiên nhiên nhưng cũng chỉ là nội dung phụ, chưa làm sáng tỏ được vấn đề thiên nhiên trong thơ và những ý nghĩa của những hình ảnh thiên nhiên

Nhìn chung từ những công trình và bài viết về tác giả Vương Duy người viết tham khảo, tổng hợp và có những nhận định riêng về đề tài thiên nhiên trong thơ Vương Duy Trên tinh thần tiếp thu những bài viết, những công trình của các tác giả cùng với những suy nghĩ và tìm tòi người viết sẽ làm sáng tỏa đề tài này bằng một góc nhìn mới hơn, từ góc nhìn của một người hiện đại nhìn vào thơ Đường và phân tích thiên nhiên trong thơ Vương Duy một nhà thơ tiêu biêu của phái điền viên sơn thủy

3 Phạm vi nghiên cứu

Số lượng bài thơ của tác giả thì rất lớn, do vậy mà người viết tìm đọc và lựa chọn một số bài thơ được xem là độc đáo với hàng loạt hình ảnh như mây, núi, trăng, hoa… khá tiêu biểu về thiên nhiên để cho vào bài nghiên cứu của mình, bên cạnh đó người viết cũng tham khảo một số bản dịch thơ và dịch nghĩa của các thế hệ trước để làm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này tốt hơn Xin giới thiệu một số bài

thơ mà người viết đã sử dụng trong bài nghiên cứu của mình Điểu minh giản, Điền

viên lạc, Đào nguyên hành, Thu dạ độc tọa, Thanh Khê, Vị Xuyên điền gia, Quy Tung sơn tác, tống biệt (sơn trung tương tống bãi), tống biệt (há mã ẩm quân tủ), Chung

Trang 8

Nam Sơn, Hán giang lam phiếm, tảo thu trung sơn tác, Sơn trung, Sơn thù du, Quá hương Tích Tự, Chung Nam biệt nghiệp, Phụng hoạ thánh chế “Tòng Bồng Lai hướng Hưng Khánh các đạo trung lưu xuân vũ trung xuân vọng” chi tác ứng chế, trúc lý quán

4 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu

Với đề tài nghiên cứu này người viết cần chỉ ra được một số hình ảnh thiên nhiên và nắm bắt được những lớp nghĩa mà tác gia đã sử dụng trong thơ, thông qua bề mặt ngôn từ người viết làm sáng tỏ một số nét nghĩa và chỉ ra được một số điểm mới, cách nhìn mới vượt lên những công trình nghiên cứu trước đã nghiên cứu có liên quan

Bên cạnh đó là chỉ ra được một số đặc điểm về yếu tố Thiền trong một số bài thơ Vương duy, từ những nghiên cứu người viết sẽ đưa ra một nhận định về nội dung,

ý nghĩa cũng như những giá trị nổi bậc trong thơ Vương Duy

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu văn học thì rất đa dạng và phong phú, trong quá trình thực hiện đề tài người viết đã sử dụng phương pháp:

Phương pháp tiểu sử, để nghiên cứ về tác giả Vương Duy

Tổng hợp, phân tích để phân tích và đánh giá những hình ảnh mà tác giả sử dụng trong thơ

Bên cạnh đó là phương pháp thống kê để thống kê lại những bài thơ của tác giả

và sau đó là sử dụng phương pháp hệ thống để sắp xếp lại những hình ảnh có cùng đặc điểm cần nghiên cứu

Hơn thế nữa bài nghiên cứu áp dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu sự khác biệt giữa những hình ảnh trong từng bài thơ

Kết hợp với những kiến thức và lí thuyết về thi pháp học người viết đã vận dụng vào bài viết của mình để nhìn nhận vấn đề được tốt hơn

Cuối cùng người viết áp dụng phương pháp văn hóa học để nghiên cứu bởi lẽ với mỗi đất nước sẽ có một nền văn hóa khác nhau, việc áp dụng phương pháp này để đảm bảo tính khách quan và nắm được tốt hơn cốt lõi của những bài thơ

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Vương Duy cuộc đời và sự nghiệp văn chương

1.1.1 Cuộc đời và thân thế

Vương Duy 王維 (701 – 761) tự là Ma Cật, người đất Kì, Thái Nguyên (nay thuộc huyện Kì, tỉnh Sơn Tây) Ông có tuổi thơ khá bất hạnh bởi cha mất sớm, ông sống cùng người mẹ họ Thôi ở Bác Lăng thờ phật hơn ba mươi năm, điều đó có ảnh hưởng nhất định với tư tưởng Vương Duy sau này Vương Duy rất mực thông minh có thể nói “bảy tuổi học vỡ lòng, chín tuổi biết làm thơ”, về sau tài nghệ thơ văn của ông càng vượt trội hơn người Ngoài việc thành thạo thơ văn, ông còn có tài hội họa, từng sáng lập ra họa phái Nam Tông hay Nhân Văn họa phái Hồi nhỏ ông đã thạo âm nhạc, giỏi văn chương, năm hai mươi mốt tuổi đậu tiến sĩ, được bổ nhiệm làm quan đại nhạc thừa, vì chuyện con hát múa sư tử bậy bạ mà bị liên lụy rồi biếm đi Tế Châu (nay là huyện Trường Thanh, Sơn Đông) làm tư khố tham quan Năm khai nguyên thứ 22 đời Đường Huyền Tông, Chương Cửu Linh chấp chính, Vương Duy làm thơ dâng lên xin được tiến cử, do đó được bổ làm hữu thập di

Năm khai nguyên thứ 25, Trương Cửu Linh bị biếm, mùa thu năm đó, Vương Duy phải đi sứ ngoài biên ải, ở Lương Châu một thời gian Năm khai nguyên thứ 27, ông từ Lương Châu trở về Tường An, và về sau làm việc rất lâu Trong thời gian này,

vì công việc, ông có đi Tứ Xuyên, Hồ Bắc, nhưng thời gian không lâu Ông sống tương đối ổn định ở ngoại thành Trường An, một nơi rừng núi tráng lệ

Trong khoảng mười lăm, mười sáu năm, từ cuối Khai Nguyên đến cuối Thiên Bảo (740 - 745), Vương Duy sống cuộc đời yên tĩnh của một vị quan văn, chức tước thăng dần, nhưng đó không phải là mặt chủ yếu trong cuộc sống của ông, cuộc sống chủ yếu của ông là “suốt ngày gảy đàn thổi sáo, làm thơ làm phú” trong căn nhà đẹp

đẽ của mình Lúc này, Vương Duy là một cận thần của triều đình, ông viết rất nhiều thơ phụng họa, ứng giáo và nhiều bài văn ca ngợi hoàng đế Là chủ nhân của biệt thự Võng Xuyên, ông viết khá nhiều thơ sơn thủy điền viên Đây là thời kì chuyển tiếp từ tráng niên đến cảnh già của Vương Duy và cũng là thời kì từ chí tiến thủ tích cực chuyển sang sùng bái đạo Phật

Trang 10

Khi An Lộc Sơn chiếm thành Trương An và Lạc Dương, Vương Duy bị bức ra làm quan cho ngụy chiều Sau khi hai kinh được thu phục, lẽ ra bị tội nặng, nhưng người em trai là Vương Tấn nguyện từ bỏ chức quan của mình để chuộc tội cho, nên được miễn tội Từ đó tư tưởng tiêu cực của Vương Duy ngày một phát triển, “mỗi lần bãi triều về, đốt hương ngồi một mình, đọc kinh niệm Phật” Ông mất năm Thượng Nguyên thứ hai đời Đường Túc Tông (Lí Hanh), thọ sáu mươi mốt tuổi

1.1.2 Thời thế, con người và sự nghiệp văn chương

Trung Quốc đời Đường (618 – 907) là một trong những giai đoạn phát triển rực

rỡ nhất trong lịch sử đó là một quốc gia tiên tiến, văn minh trên thế giới đương thời

Trong lĩnh vực văn học, xuất hiện một cảnh tượng phồn vinh; thành tựu thơ ca tạo nên thời đại hoàng kim của lịch sự phát triển thơ ca trong xã hội phong kiến Trong mấy chục năm từ niên hiệu Khai Nguyên đến niên hiệu Thiên Bảo (713 – 756) đời Đường Huyền tông (Lí Long Cơ) là thời kì phồn vinh của xã hội phong kiến, và cũng

là thời kì phồn vinh của thơ ca cổ điển Trung Quốc Ở thời kì này, không chỉ xuất hiện các nhà thơ vĩ đại như Đỗ Phủ, Lí Bạch, mà cũng xuất hiện những nhà thơ kiệt xuất và

ưu tú, có phong cách nghệ thuật độc đáo như Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Cao Thích, Vương Xuân Linh v.v…cùng một lúc bao nhiêu sao sáng, huy hoàng, sáng lạn, hình thành thời đại hoàng kim của thơ ca cổ điển Trung Quốc Trong đó, nhà thơ Vương Duy mang trong mình một phong cách và những nét riêng, đã tạo nên những bài thơ miêu tả sơn thủy điền viên vô cùng tinh tế và độc đáo

Vương Duy là một người khá tài hoa, giỏi văn nghệ yêu thích tiêu dao dù là một người của chốn quan trường nhưng ông lại có chỗ yên tĩnh và đầy lãng mạn đó là nơi thỏa trí sáng tạo những vần thơ, thổi sáo gãi đàn tận hưởng thú vui tao nhã với biết bao cảm xúc dâng trào

Chính lòng yêu thiên nhiên, trải ra qua cuộc sống của một viên quan và hơn thế nữa là những trải nghiệm trong cuộc sống đã góp một phần không nhỏ vào việc sáng tác thơ Ông để lại khoảng bốn trăm bài thơ với nội dung phong phú trong đó có những bài thơ về thời trai trẻ, bộc lộ tâm trạng của những tri thức có tài năng nhưng không được dùng, sống trong cảnh hàn vi, còn bọn công tử quý tộc giàu có nhưng lại dốt nát, rong chơi xa hoa, trụy lạc

Có một điều chú ý trong thơ ông mà người viết nghĩ khá quan trọng đó là những trang viết về thiên nhiên đã tạo nên một Vương Duy của phái điền viên sơn

Trang 11

thủy gắn liền với những thú vui tao nhã hòa hợp tâm hồn với thiên nhiên với cảnh làng quê thanh bình yên ấm

1.2 Đôi nét về thể loại

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của thơ Đường ở Trung Quốc

Nói về lịch sử hình thành và phát triển của nhà Đường có thể khái quát lịch sử giai đoạn này gồm ba thời đại Tùy – Đường – Ngũ đại kéo dài khoảng 400 năm, Tùy

38 năm (581 – 681), nhà Đường gần 300 năm (618 – 907), Ngũ đại 53 năm (907 – 960) Khi nói về lịch sử người ta thường gộp chung cả ba thời kì nhưng khi nói về văn học thì chủ yếu là văn học Đời đường Mỗi giai đoạn có những sự phát triển khác nhau

và được những thành tựu riêng biệt Về văn học trong cả giai đoạn phát triển thì văn học thời Đường chiếm chủ yếu về mặt nội dung, số lượng và cả lực lượng sáng tác

Thơ Đường là một hiện tượng văn học thi ca rất đặc biệt từ khi được hình thành đến khi đạt được những thành tựu rực rỡ nhất Kéo dài suốt từ thời nhà Đường, từ khi Đường Thái Tông Lý Uyên dựng triều đại, cho đến khi nhà Đường mất, kéo dài ba trăm năm (618 – 907) sau công nguyên Theo ước lượng và thống kê có tới hàng vạn

bà thơ và khoảng hai nghìn ba trăm nhà thơ…

Văn học đời Đường như một những vì sao đang lấp lánh trên bầu trời văn học, như những bông hoa đang đua nhau khoe sắc trong khu vườn đầy hương thơm Trong

đó thơ ca là một phần quan trọng và chiếm vị trí độc tôn trong nền văn học Xuất hiện những nhà thơ kiệt suất như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Vị… và xuất hiện rất nhiều với những trường phái rất khác nhau tô điểm cho vườn hoa muôn sắc ấy, với Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên của trường phái điền viên, trường phái Tần Nhạc Phủ, trường phái lãng mạn… gắn với các tác giả như Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ, Lý Bạch…

Có thể chia văn học đời Đường thành các giai đoạn sau:

- Sơ Đường (618 – 713) tức là tính đến năm Khai Nguyên thứ nhất, sau khi Huyền Tông – Lý Long Cơ lên ngôi

- Thịnh Đường (713 – 766) tức là tính đến năm Đại Lịch thứ nhất, triều Đại Tông - Lý Dự

- Trung Đường (766 – 835) tức là tính đến năm Đại Hòa (càn gọi là Thái Hòa) thứ 9, triều Văn Tông – Lý Ngang

- Vãn Đường (835 – 907)

Trang 12

Tuy vậy nhưng cũng có một số nhà nghiên cú chia thành ba giai đoạn đó là: Sơ thịnh Đường, trung Đường và vãn Đường

Thơ Đường xuất hiện và phát triển như vậy chính là nhờ kết quả của việc phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa kết hợp với quy luật phát triển của bản thân văn học

Một trong những lí do tạo điều kiện để thơ Đường phát triển là do áp dụng chế

độ khoa cử và mở trường học dạy từ đó những tầng lớp trung và tiểu địa chủ có thể thi

và tha gia vào vũ đài chính trị Một điều chú là những tầng lớp này có cuộc sống khá gần gũi với người dân từ đó những hiện thực được phản ánh vào tác phẩm

Bên cạnh các yếu tố về kinh tế văn hóa tư tưởng ảnh hưởng đến sự phát triển của thơ Đường mà còn có yếu tố tự vận động và phát triển của thơ Đường và lực lượng sáng tác có nhiều trải nghiệm cũng là một yếu tố giúp thơ phát triển và làm phong phú thêm nội dung

Thơ Đường không chỉ phát triển về mặt số lượng thơ và lực lượng sáng tác mà

đề tài sáng tác cũng rất phong phú và đa dạng Đề tài đôi khi là đề tào lịch sử, xã hội, thiên nhiên, đề tài cuộc sống của những con người trong xã hội hay là đề tài chiến tranh Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng với hai trào lưu lãng mạn tích cực

và hiện thực sâu sắc Với hai trào lưu chính ấy, thơ Đường đã phản ảnh cả một mặt xã hôi, cả một thời đại

Nội dung thơ Đường hết sức phong phú, tâm tư và tình cảm đầy ấp những câu thơ Từ tình cảm đối với xã hội, đất nước đến tình cảm đối với thiên nhiên, con người, thơ Đường tập trung thể hện những mối quan hệ xã hội phức tạp với nghệ thuật tinh vi, ngôn ngữ điêu luyện với cách thể hiện độc đáo

“Thời thịnh Đường là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất mang một sắc thái của một thời đại phồn thịnh trẻ trung, đặc điểm nổi bậc chính là tính dân tộc được phát huy đến cao độ Thơ ca lãng mạn thời này kết tinh truyền thống tốt đẹp của mấy ngàn năm lịch sử, những đặc trưng mỹ học của thơ ca cổ điển được thể hiện rất rõ nét Trên thi đàn lực lượng sáng tác đông đảo, nhiều thành phần xã hội, nhiều tầng lớp khác nhau tạo nên sựu phong phú những sáng tác tên thi đàn Thơ thời thịnh Đường mang tính chất lạc quan tươi trẻ, nhưng đôi khi cũng dăm chiêu tư lự và suy ngẫm về một sự nhố nhăng của thời đại, đôi khi thết lên nhứng tiếng thét căm phẫn có lúc lại bó gối đầu hàng.”[9, tr 15]

Trang 13

Thời Đường là một trong những giai đoạn phát triển rục rỡ nhất lịch sử Trung Quốc đặc biệt là văn học có thể nói là trăm hoa đua nở Trong giai đoạn này thơ Đường là đỉnh cao của văn học với hàng vạn nhà thơ và có hơn hai nghìn ba trăm nhà thơ… đề tài thể hiện của các nhà thơ cũng rất phong phú từ những cảnh sinh hoạt sa hoa của quý tộc, đến cảnh nghèo túng của dân chúng, cảnh đời, cảnh thiền, cảnh tiên, cảnh núi sông, rừng núi cỏ cây hoa lá rất phong phú, ở giai đoạn này phong cách của các nhà thơ cũng vô cùng đa dạng hình thành những trường phái khác nhau xin nói thêm việc phân chia cũng mang tính tương đối:

 Trường phái Điền Viên

Với những bài thơ miêu tả cảnh thanh nhàn, yên bình nơi sơn trang, những bài thơ miêu tả cảnh sinh hoạt đời sống của người nông dân an nhàn, bên cạnh đó là những hình ảnh thiên nhiên cảnh vật thoát khỏi những ưu tư, phiền muộn của cuộc sống bon chen danh lợi phù hoa Ở trường phái này có một nhà thơ được mệnh danh là Thi Phật là Vương Duy với những trang thơ đậm triết lí bên cạnh đó là một đại thụ của trường phái này là Mạnh Hạo, Nhiên gắn liền với những bài thơ ngũ ngôn mang đậm chất thiên nhiên

 Trường phái lãng mạn

Với rất nhiều nhà thơ tiêu biểu nhưng nổi bậc hơn cả là Lý Bạch được tôn là thi

Tiên, thơ ông đậm chất lãng mạn theo đúng nghĩa “ý và tình thơ hòa huyện vào nhau

vừa diễm lệ kì vĩ nhưng cũng vừa mênh mông bát ngát” [9, tr 15]

 Trường phái biên tái

Thơ biên tái hầu như đa số các nhà thơ đều làm và theo một cách nào đó bởi khi cầm bút viết thì cảnh chiến tranh trận mạc, cảnh thê lương hoang vắng nơi chiến địa, nỗi nhớ vợ con quê hương của những người lính, lòng thương nhớ buồn đau của người khuê phụ nơi chốn cô phòng đều là nguồn cảm hứng cho hầu hết mọi nhà thơ

 Trường phái hiện thực

Trong giai đoạn này xuất hiện nhà thơ Đỗ Phủ, được mệnh danh là thi Thánh với tính hiện thực đậm chất trong thơ Ông lấy thơ để làm vũ khí phơi bày thực trạng thối nát của xã hội, bất an, đen tối, thối nát do vua Đường Minh Hoàng trong những thập niên cuối rơi vào con đường tửu sắc, bỏ bê triều chính từ đó làm cho đất nước rối ren vì những tên tham quan nha hiểm, độc ác từ đó đời sống nhân dân cở cực lầm than, thơ của Đỗ Phủ đã phơi bày được cuộc sống của những người dân thấp cổ bé họng

Trang 14

Ông đạt được nhiều thành tựu thơ với những bài thơ độc đáo, những lời thơ được chau chuốt một cách bóng bẩy như những viên ngọc được chạm khắc tinh xảo

1.2.2 Các thể loại thơ thời Đường luật

Theo nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học thì thơ Đường có thể chia

thành hai loại chính, trong quyển Đường thi tuyển dịch, của Trương Đình Tín cũng có

cánh phân chia như vậy, hai loại đó là cổ thể và cận thể

 Thơ cổ thể

Thơ cổ thể có tên gọi khác là cổ phong, đây là thể loại thơ có từ xa xưa việc xác định xuất xứ thời gian xuất hiện chính xác còn rất nhiều tranh cãi Đây là thể loại thơ được các nhà thơ trước thời Đường sử dụng rất nhiều và đặc biệt là được dùng trong kinh thi, đến thời Đường thì loại thơ này vẫn được tiếp thu và phát huy hơn trước cho phù hợp với thời đại Điều đặc biệt ở thể loại thơ này là không có luật lệ nhất định không gò bó về câu chữ và không theo bố cục, thể loại thơ hướng đến sự tự do rất phù hợp cho những nhà thơ sáng tác thiên về cám xúc trong mạch thơ, số chữ trong dòng thơ và số câu trong bài thơ không hạn chế và việc dài ngắn còn phụ thuộc vào cảm xúc của nhà thơ

Trong bài thơ “將進酒”Tương tiến tửu, của Lý Bạch không theo một một quy

luật nào cả, cảm xúc cứ dâng trào và được ghi lại từ đó làm người thưởng thức thơ cảm nhận được sự phóng khoáng và những dòng cảm xúc không đức mạch

將進酒 Tương tiến tửu Xin mời rượu

thượng lai, Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!

Hựu bất kiến:

Cao đường minh kính bi

bạch phát, Triêu như thanh ty mộ thành tuyết

Nhân sinh đắc ý tu tận hoan, Mạc sử kim tôn không đối

nguyệt!

Thiên sinh ngã tài tất hữu

dụng, Thiên kim tán tận hoàn

quay về, Lại chẳng thấy:

Thềm cao gương soi rầu tóc

bạc Sớm như tơ xanh, chiều tựa

tuyết ? Đời người đắc ý hãy vu

tràn, Chớ để bình vàng suông bóng nguyệt!

Trời sinh thân ta, hẳn có dùng, Nghìn vàng tiêu hết rồi lại đến

Mổ dê, giết trâu, cứ vui đi,

Trang 15

Tương tiến tửu, Bôi mạc đình!

Dữ quân ca nhất khúc, Thỉnh quân vị ngã khuynh

nhĩ thính:

"Chung cổ soạn ngọc bất

túc quý, Đãn nguyện trường tuý bất

hước"

Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền Kính tu cô thủ đối quân chước

Ngũ hoa mã, Thiên kim cừu,

Hô nhi tương xuất hoán

Sắp mời rượu, Chớ có thôi!

Vì nhau tôi xin hát, Hãy vì tôi hai bác nghe cùng:

"Này cỗ ngọc, nhạc rung, chẳng chuộng, Muốn say hoài, chẳng muốn

tỉnh chi!

Thánh hiền tên tuổi bặt đi, Chỉ phường thánh rượu tiếng ghi muôn đời! Xưa Trần Vương yến nơi

Bình Lạc, Rượu tiền muôn đùa cợt tha

nghìn thu!

(Tương Như và Hoàng Tạo

dịch)

 Thơ cận thể

Trong quyển “Đường thi tuyển dịch” của Trương Đình Tín thơ cận thể còn có

cánh gọi là kim thể hay cách luật trong thơ Đường, thể thơ này nó được gọi là cận thể hay cách luật để phân biệt với thể cổ phong ra đời trước nó” [14, tr 21]

Nói đến thể thơ cận thể thì ở thời Đường đạt được nhiều thành tựu nhất Với thể loại này để làm được một bài thơ là không hề đơn giản người sáng tác cần có một kiến thức nhất định về thơ đổng thời phải nắm được những những quy luật, cách gieo vần, niêm luật, bố cục… của thể loại thơ này Trong đó hai yếu tố căn bản cần chú ý nhất là thanh điệu và đối trong thơ

“Về hình thức, thơ cận thể hay cách luật thời Đường có thể chia làm hai loại chính: luật thi và tuyệt cú” [14, tr 21]

Trang 16

Để sáng tác một bài thơ hay thì yếu tố cảm xúc rất quan trọng, để thể hiện cảm xúc trong thơ và truyền tải những điều suy nghĩ tới độc giả thì ngôn từ là phương tiện

để người sáng tác nói lên những gì mình nghĩ Việc lựa chọn và sắp xếp ngôn từ để tạo nên câu thơ hoàn chỉnh thì không hề đơn giản vì ngôn từ cũng có những quy luật riêng

mà người sáng tác cần nắm, bên cạnh đó luật thi lại có những quy luật khá nghiêm ngặt nên người sáng tác cần phân bố hợp lí ngôn từ, kết hợp thanh điệu để tạo nên tiết tấu cho câu thơ

Luật bằng - trắc là một yếu tố rất quan trọng mà người làm thơ cần nắm và phối hợp vào trong thơ mình từ đó tạo nên sự hào hòa cho câu thơ Bên cạnh đó là “niêm” nghĩa là yếu tố kết dính trong thơ, trong một câu thơ hai câu thơ được gọi là niêm khi

chữ cái thứ hai của hai câu thơ đều là vần bằng hoặc vần trắc “Chẳng hạn trong một

bài thơ thất ngôn bát cú đường luật thì các câu sau sẽ niêm với nhau: câu một với câu tám, câu hai với câu ba, câu bốn với câu năm, câu sáu với câu bảy Bên cạnh đó để xem một bài thơ là luật bằng hay luật trắc thì chỉ cần xem chữ cái thứ hai của câu một” [14, tr 21]

Về bố cục của bài thơ đường phải tuân theo một cách sắp xếp chặt chẽ Trong bài thất ngôn bát cú xưa thì có bố cục:

Câu một và câu hai được gọi là khai đề

Câu ba và câu bốn gọi là thừa đề bắt buộc hai câu phải đối nhau

Câu năm và câu sáu được gọi là chuyển và cũng đối nhau

Câu bảy và tám được gọi là hợp

Khảo sát và cách dạy của ngày nay thì bố cục của bài thất ngôn bát cú có một

số thay đổi

Câu một và câu hai được gọi là phá mở ý cho bài thơ

Câu ba và câu bốn được gọi là thực giải thích ý đầu baì thơ rõ hơn

Câu năm và câu sáu gọi là luận bàn bạc mở rộng thêm nghĩa đầu bài

Câu bảy và câu tám gọi là kết tóm tắt ý nghĩa của cả bài thơ

 Thơ tuyệt cú

Thơ tuyệt cú hay còn đực gọi là tứ tuyệt đây là một thể loại thơ rất quen với bạn đọc, đây là một thể loại thơ thịnh nhất thời Đường “Tuyệt” được hiểu là tuyệt diệu là hàn hảo vì bài thơ chỉ có bốn chữ nhưng rất cô động và hàm súc, ẩn chứa là cả một

Trang 17

tinh hoa thơ và hơn thế nữa dù chỉ có bốn câu nhưng có bố cục khá đầy đủ với bốn phần đề, thực, luận và kết

Chẳng hạn trong bài “lộc trại”, “tống biệt”, “Trúc lý quán”…Vương Duy sử

dụng thể loại ngũ ngôn tuyệt cú để sáng tác, nội dung được thể hiện tinh tế qua từng

câu thơ Hay trong bài “絕句”tuyệt cú, của Đỗ Phủ tác giả đã sử dụng thể thơ thất

ngôn tuyệt cú để sáng tác miêu tả cảnh thiên nhiên dường như mỗi câu là một cảnh và

ẩn sau nó còn có nét nghĩa tinh tế hơn và có cả ý về chính trị, ở đây người viết chỉ đi vào thể loại không đi sâu vào nội dung:

thanh thiên

Song hàm Tây Lĩnh thiên thu

tuyết, Môn bạc Đông Ngô vạn lý

thuyền

Hai cái oanh vàng kêu liễu

biếc, Một hàng cò trắng vút trời

xanh

Nghìn năm tuyết núi song in

sắc, Muôn dặm thuyền Ngô cửa

rập rình

(Tản Đà dịch, tạp chí Ngày nay, số 97, 13-2-1938)

Nhận được cái hay, cái đẹp và từ đó tác động đến tâm thức người đọc qua đó định hướng đến cách nghĩ và cánh làm nếu được hiểu đúng Để cảm nhận được Thiền thì con người phải tri nhận không thể nói ra hay cố giải thích cho hiểu, với thơ thì thơ

là tiếng nói của tâm hồn không chỉ là một thứ để giải bày tâm tư hay là một thú vui tiêu khiển mà thơ còn là một cách giáo dục, cảm hóa, truyền thụ những nhận thức đúng tác động đến người thưởng thức

1.3 Sơ lược về yếu tố Thiền và hình ảnh Thiền trong thơ

1.3.1 Quan niệm về Thiền từ thời khởi thủy

Thiền Tông là một là một tông phái của Phật giáo đây là một phái rất đặc biệt trong lịch sử tôn giáo Trung Quốc Theo chỗ kiến lập và phát triển Thiền Tông thì khi

Tổ Đạt-ma đến Trung Hoa là kiến lập, đại khái vào đời Lương, ban đâu mỗi đời một thầy truyền cho một trò, đến khi Ngũ Tổ hoằng dương, sau đó là Nam tông Bắc phái,

Trang 18

do một người truyền pháp trải qua vài trăm năm đã trở thành một tông phái lớn Từ đó Thiền Tông phát triển với phương thức truyền giáo vượt ra ngoài Giáo Tông nên đạt nhiều thành tựu

Thiền Tông lấy bản tâm con người làm nền tảng chỉ thẳng vào tâm thức con người, và lấy vô tâm làm phương pháp với xu hướng tự ngộ và hợp với đạo Lúc đó con người thật sự nhập tâm mà quên đi những sự việc đang xảy ra xung quanh mình Chẳng hạn khi nghe tiếng sỏi chạm góc tre hoặc đi qua con suối, núi đá đều có thể khai ngộ, thấy hoa đào hay thấy mặt trời thì có thể minh tâm, hay nghe những tiếng như xét, tiếng người hét hay tiêng của các loài sinh vật…mà vẫn có thể nhập tâm và thiền thì khi ấy đã đạt được một cảnh giới rất cao

“Thiền Tông cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến thi ca, thiền nhân dùng thiền để ngụ thiền, thi nhân thì lại đem thiền vào thơ mà Vương Duy là một đại diện tiêu biểu khi ông đưa thiền vào thơ và làm cho thi ca toát lên nhiều vẻ khác nhau”[2, tr.11]

1.4.2 Sơ lược về Thiền thời hiện đại

Ngày nay nói về Thiền thật sự có rất nhiều định nghĩa kể cả sách và tài liệu mạng, trong mỗi định nghĩa lại mang một xu hướng riêng rất khó hòa hợp, nhưng mỗi cách hiểu lại mang trong mình một cái hay riêng, nhưng suy cho cùng đó là do sự quan tâm của nhiều người đến việc thiền Việc tham khảo các tài liệu và định nghĩa giúp

người viết có một số nhận xét về Thiền

Thật ra Thiền không phải là một quang cảnh để người ta quan xác rút ra những nhận xét, hay để người ta “sờ” vào và cảm nhận như cảm nhận một thứ vật chất, và cũng chẳng thể biến nó thành một thứ lý thuyết và đem ra trình bày và sau đó là cố hiểu nó, xét ở một bình diện nào đó Thiền cũng không phải là một triết lí của nhà Phật hay một phái nào đó và xem đó là một hình thức để tu tập Do vậy mà khi đi sâu vào định nghĩa Thiền thì càng thêm rắc rối và phức tạp hơn

Qua nhiều tài liệu người viết chọn và giới thiệu một cách hiểu về thiền rất thực

tế và dễ hiểu bên cạnh đó không kém phần sâu sắc, đặc biệt với cách hiểu này có liên quan và khá gần với bài nghiên cứu Đó là cách hiểu của nhà sư Thích Thông Huệ

trong quyển “Thiền là gì?” “Thiền có thể hiểu là trạng thái tâm linh vút cao của một

hành giả đã chứng ngộ Với nghĩa này, Thiền cũng là Đạo, là Phật, là Tâm Thiền cũng có thể được nhìn dưới một góc độ gần gũi hơn, là trạng thái của tâm khi thấy nghe hay biết tất cả sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh, mà không có một ý niệm

Trang 19

phân biệt so sánh Người có Thiền chứng là người không bị dính mắc đối với mọi thăng trầm vinh nhục của cuộc đời, không động tâm đối với tất cả các pháp thế gian

và xuất thế Có thể nói, lúc nào và ở đâu tâm ta thanh tịnh mà thường biết, ta sẽ có kinh nghiệm trực tiếp Thiền là gì? Như vậy, Thiền nằm trong mọi sinh hoạt thường nhật, rất đơn giản, rất thực tế và rất gần gũi với cuộc sống - con người”.[18, tr 1]

1.4.3 Sự hòa hợp của thiền và thơ

Bên cạnh sự phát triển cực thịnh của thơ thời Đường thì Thiền cũng đạt được những thành tựu trong giai đoạn này nếu không muốn nói là hoàng kim Ở thời kì này một bài thơ hay có thể truyền vang khắp thiên hạ, nổi tiếng khắp kinh kì, đây cũng là

thời kì mà các Thiền nhân dùng thơ ngụ Thiền “Khi Thiền Tông thịnh hành thì các thi

nhân và thiền nhân cùng ngồi chung chiếu, mắt thấy cây cảnh, tai nghe chuyển ngữ,

và khi đó họ đem thuyền vào thơ, tuy không cùng chung nhánh nhưng khi hòa hợp giống như sữa hòa vào nước với một chiếc cốc” [2, tr 11]

Thiền và thơ nếu xét ở nhiều phương diện thì giữa chúng dường như không có quan hệ gì với nhau, bởi chúng không có cũng xuất phát điểm và khác nhau khá xa Thiết nghĩ thơ là một thể loại văn học được văn học nghiên cứu hơn thế nữa thơ xuất hiện rất sớm và có trước Thiền từ rất lâu, về Thiền thì xuất hiện sau thơ nói về phạm vi thì thiền thuộc về Phật giáo Nói đến nội dung thì thơ dùng để bày tỏ tâm tư, tình cảm, những cảm xúc thăng hoa của con người trước nhiều sự việc của cuộc sống của thiên nhiên, đối với Thiền thì hướng đến sự giác ngộ từ tâm thức Thiền có tác dụng định hướng con người đến Phật và thành Phật, ngày nay Thiền còn có tác dụng giúp con người thư giản một cách hiệu quả nhất, đối với thơ thì làm cho con người cảm nhận về

sự giáo huấn và tiếp nhận kiến thức, về cơ bản thì Thiền và thơ khác nhau một số yếu

tố cơ bản như vậy

Tuy rằng có nhiều điểm khác biệt nhưng giữa thơ và Thiền có khả năng dung

hợp nhau “Thơ vốn dĩ là tiếng nói của tình cảm nhưng cũng có khả năng tải đạo

Vương Duy đã từng viết trong bài "Cấu thi", "Đi đến nơi xa xôi hẻo lánh, ngồi xem lúc mây đùn lên", nghĩa là tùy theo cảnh ngộ đều là đạo, đạo không nơi nào mà chẳng

có, hễ chạm đến đều có thể ngộ, vì thế ở nơi bản chất của thơ có thể hàm chứa đạo lý, nhất là "Tự tánh", "Đại toàn" mà Thiền Tông tham cứu, về mặt nhận thức luận, cố nhiên là do suy nghĩ mà có và cuối cùng đến chỗ "đường tâm dứt tuyệt" vượt qua cảnh giới của suy nghĩ và hiểu biết mà âm thầm khế hội chân lý Ở tình huống "đường tâm

Trang 20

dứt tuyệt" này, lúc đó Thiền sư muốn đem những gì có thể cảm giác để tỏ bày cái chẳng thể cảm giác, chẳng thể nghĩ bàn, ngoài việc nhướng mày, giơ tay, các ngài sử dụng thi ca làm phương thức biểu hiện tốt nhất, đặc biệt là ứng dụng thể thơ tỷ hứng rất nhiều Vì xét về phần mà thơ muốn biểu đạt thì, "điều nói ra được thì có hạn mà ý lại vô cùng" đó là cách mà thơ và thuyền hà hòa hợp vào nhau.” [2, tr 304]

Nói đến thơ Đường ngoài việc sáng tác về rất nhiều đề tài nhưng trong đó có thơ thiền cũng được chú ý, đặc biệt là trong thơ Vương Duy bởi lẽ từ nhỏ ông đã sống gần với đạo Phật, từ đó cũng ảnh hưởng đến việc sáng tác và những hình ảnh Thiền vào thơ, trong thơ ông sử dụng rất nhiều những hình ảnh thiên nhiên để làm nên chất Thiền rất độc đáo

Ở Việt Nam cũng có một giai đoạn thơ Thiền rất phát triển đó là thơ thiền Trần với rất nhiều bài thơ độc đáo được sáng tác bởi các nhà sư và được lưu truyền rất rộng rãi Nhưng thiết nghĩ để làm được một bào thơ Thiền thì không hề đơn giản cần

Lý-có sự hiểu biết rộng cùng với sự trải nghiệm và đặc biệt là thấm trong người một tư tưởng nào đó có thể là Phật giáo… Suy cho cùng khi Thiền được sử dụng trong thơ càng làm cho bài thơ thêm độc đáo và để cảm nhận được loại thơ này cần có cái “tâm” của người cảm nhận

“Gió đưa đưa hoa đẹp rực rỡ rơi đầy”, thiền học như gió nhẹ gió mạnh thổi nhẹ vào vườn thơ, với ngọn bút của khéo léo và trí thông minh nên thi nhân đã dẫn thiền vào thơ, như bong hoa như gió mà thụ phấn, như gió lay cành làm rụng hoa, gây biết bao là tan tác, biết bao rực rỡ, chiếu rọi lên màu sắc vi diệu của thiền”.[2, tr 11]

Có thể nói vào giai đoạn đạt được nhiều thành tựu và cực thịnh của mình thì những nhà Thiền nhân dùng thơ để tả thiền để truyền tải những triết lý nhà Phật, và đến khi Thiền đạt được thành tựu và hưng thịnh, thi gia đem thuyền vào thơ Dung hợp Thiền và thơ tạo ra một luồng sáng mới cho việc sáng tác và cảm nhận thơ vì Thiền lý

và thi luận là một sự kết hợp có thể nói là hoàn hảo giống như: “Thơ là chiếc áo gấm

thiêu hoa của thiền khách, thiền là chiếc dao gọt ngọc của thi gia” [2, tr 306]

1.4 Vị trí thơ Vương Duy

1.4.1 Vị trí của thơ Vương Duy trong văn học Trung Quốc

Nói về thơ Vương Duy có thể nói từ thời thịnh Đường với một triều đại hoàng kim của thơ ca với rất nhiều kiệt suất đã được người đọc biết đến Vương Duy cũng là

Trang 21

cùng với Mạnh Hạo Nhiên Và Trừ Quang Hi tạo nên phái điền viên sơn thủy rất độc đáo, mang trong mình phong cách riêng và cách thể hiện thơ riêng ông đã tạo nên nhiều điểm nhấn trong thơ và được nhiều người yêu thích Thơ ông không đơn giản chỉ là ngôn để tạo nên thơ mà trong thơ còn là những bức tranh mà ông đã vẻ bằng ngôn từ để người đọc không chỉ đọc và cảm thơ mà giống như cảnh đang hiện ra trước mắt và có thể “chạm” vào nó

Trong dòng chảy văn học Trong Quốc Vương Duy, đã tạo cho mình một chỗ

đứng có thể nói là quan trọng Trong quyển sách Lịch sử văn học Trung Quốc, một

công trình khảo biên của các học giả Trung Quốc biên soạn trong những năm 60 của thế kỉ XX với rất nhiều điểm chú ý về văn học Trung Quốc Quyển sách cung cấp nhiều kiến thức cơ bản về thời đại lịch sử cũng như cung cấp những thông tin về các tác giả Trung Quốc và điểm qua một số phong cách thơ của họ Trong quyển sách này cũng có một số lượng trang viết về tác giả Vương Duy, một số nét chính về cuộc đời,

sự nghiệp và phong cách thơ của ông Điều đặc biệt là quyển sách này chính là giáo trình được sử dụng trong các trường Đại học ở Trung Quốc, qua đó cho thấy thơ của ông đã được phổ biến rất rộng trong văn học nước này

Điểm qua những công trình biên soạn về thơ của Trung Quốc với số lượng tài liệu người viết hiện có thì những tuyển chọn hầu như tất cả đều có thơ của Vương

Duy Trong quyển Đường thi tam bách thủ, của các học giả Hành Đường Thoái Sĩ và

Trần Bá Anh (tên chữ là Uyển Tuấn) tuyển chọn và bổ chú sau đó Ngô Văn Phú dịch

và giới thiệu cùng bạn đọc, riêng phần tác giả Vương Duy cũng có số lượng bài rất lớn

đó là một yếu tố quan trọng thể hiện vị trí và giá trị của thơ Vương Duy trong học thuật ở Trung Quốc

Qua nhiều công trình biên soạn và các quyển tuyển tập thơ hầu như Vương Duy đều chiếm một vị trí quan trọng và có số lượng bài cũng rất nhiều Qua đó cho thấy Vương Duy có một vị trí rất quan trọng trong nền văn học nước nhà, ông là một đại diện của phái điền viên sơn thủy và là một “thi Phật” không thể nào thay thế được

1.4.2 Quá trình tiếp nhận và phát triển của thơ Đường ở Việt Nam

Ở nước ta suốt mười thế kỉ, từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, đất nước ta với những thế hệ cha, ông đã tiếp nhận sâu rộng và chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn học Trung Quốc trong quá trình xây dựng và phát triển của văn học nước nhà Về thi ca, đặc biệt

là thơ Đường luật có ảnh hưởng nhiều nhất Trong thơ của tác giả Việt Nam thời trung

Trang 22

đại và cận đại kể cả chữ Hán Và chữ Nôm, có đến 3/4 số bài được sáng tác theo thể Đường luật

“Xét từ nhiều nhiều thể loại cho đến đề tài, từ phần thơ chữ Hán cho đến thơ Nôm của dân tộc ta đều ghi dấu ấn đậm nét của Đường thi Các nhà nho Việt Nam đã coi các danh gia Trung Quốc là cổ nhân của mình, lấy thơ Đường làm khuôn mẫu, coi

là “khuôn vàng, thước ngọc” Thể dường luật đã được dùng phổ biến với niêm, luật chặt chẽ rõ ràng Chúng ta cũng quá quen với những bài thơ Việt với những hình ảnh ước lệ tượng trưng “tùng, cúc, trúc, mai”, những hình ảnh thiên nhiên trong thơ Đường.” [20, tr 7]

Khi chữ Nôm xuất hiện và thịnh hành từ thế kỷ XV những tác phẩm thơ văn nổi tiếng hàng loạt ra đời, xem xét ở một phương diện nào đó thì thơ Đường vẫn còn ảnh hưởng sâu đến các sáng tác Khi đi từ chữ Hán sang sáng tác bằng chữ Nôm là cả một quá trình đầy khó khăn, đồng thời cũng trong giai đoạn này cũng diễn ra những trào lưu mới về thơ đặc biệt là diễn ca thơ Đường

Những tuyển tập thơ Đường dần xuất hiện với những bài thơ được lựa chọn và dịch đi dịch lại nhiều lần Việc không thông thạo chữ Hán cũng là một phần mà các dịch giả Việt Nam đã cố gắng dịch thơ và giúp thơ Đường được thịnh hành hơn, cũng

từ đấy mà những bản dịch thơ Đường được hiểu mới hơn thể hiện sự sáng tạo của các

dịch giả Việt Nam “Nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân đã tìm được những bản

dịch thơ Đường sớm nhất được sưu tầm trong Hồng Đức quốc âm thi tập thế kỉ XV.”[20, tr 7]

Thơ Việt Nam có nguồn gốc và khởi điểm lịch sử từ thơ Đường Trung Quốc là một lẽ tất yếu Vào lúc ban sơ, người Việt Nam đã có thể bắt chước các thể thơ Cổ phong và thơ Đường của người Trung quốc một cách dễ dàng, không một chút gượng

ép Và về sau, với thể thơ Đường cũng vậy

Lý do là vì tiếng Việt Nam mang cùng một đặc điểm với tiếng Trung Quốc: cùng là loại tiếng độc âm và các thanh đều có thể qui thành hai thanh bằng và trắc Lúc bấy giờ, Việt Nam chưa có chữ viết và lại chịu ách đô hộ dã man của Trung Quốc hơn cả ngàn năm, tất cả sinh hoạt chữ nghĩa đều phải mượn chữ Hán mà sử dụng Mỗi dân tộc đều đã thay đổi chữ Hán cách này hay cách nọ để thích ứng với nét riêng của mình

Trang 23

Tại Việt Nam, hiện tượng sử dụng chữ Nôm trong khoảng 700 năm và tiếng Hán Việt là thí dụ cụ thể Tuy nhiên, người Việt Nam cũng có sáng tạo một số thể thơ riêng biệt, không chỉ dùng lối gieo vần ở chữ cuối câu mà còn gieo vần ở lưng chừng câu Thí dụ: thể thơ lục bát, song thất lục bát và các biến thể như: hát nói, sẩm, lý, hề…

Thơ Đường được tiếp nhận và biết đến ban đâu bởi các tạp chí có thể điểm qua:

Năm 1917 với Nam Phong tạp chí, do Phạm Quỳnh chủ biên, thơ Đường đã tìm

được chổ đứng cho mình Có thể nói đây là một tạp chí đi đầu trong việc dich và giới thiệu thơ Đường với nhiều bản dịch có giá trị, thu hút rất nhiều dịch giả tham gia và cho ra những sản phẩm dịch thơ rất phong phú

Năm 1934 Tiểu thuyết thứ bảy, do Vũ Đình Long chủ nhiệm ra đời Ở tờ này

nhiều đọc giả có thể bắt gặp những tác phẩm của các tác giả Trung Quốc đã trỏ nên quen thuộc ở Việt Nam như Đỗ Mục, Vương Duy, Đỗ Phủ, Lý Bạch… lực lượng tham gia dịch thơ Đường trên Tiểu thuyết thứ bảy gồm nhiều tác giả khác nhau

Năm 1935, thì tạp chí Ngày nay, ra đời do Nguyễn Tường Tam chủ nhiệm trong

vòng 5 năm (1935 – 1939), đã ra mắt hơn 77 tác phẩm dịch Đặc biệt lưu ý với tờ tạp chí này với những bài dịch của Tản Đà rất độc đáo, với ngôn từ mộc mạc gần gúi và với đó là thể thơ lục bát được ông sử dụng đã tạo nên những luồng sinh khí mới khi tiếp nhận thơ Đường với một dấu nhấn của người Việt Nhờ vào đó mà thơ Đường dần

đi vòa tâm trí người Việt hơn, rút ngắn được khoảng cách ngôn ngữ

Năm 1957 thì tạp chí Lành mạnh, ra đời do Lê Khắc Quyền làm chủ nhiệm và đến năm 1958 thì tạp chí Văn hóa ngày nay, ra đời do Nhất Linh làm chủ nhiệm trong

những năm này thơ Đường vẫn được giới thiệu với bạn đọc nhưng số lượng bài đã ít đi

“Đến năm 1960, thì Tạp chí Văn học ra đời trải qua thời gian dài phát triển và đạt được những thành tựu:

1962: Tác giả Bùi Thanh Ba trên tạp chí số 4 và số 11 có hai bài nghiên cứu về

Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị

1964: Trên tạp chí số 5 có bài nghiên cứu về tác giả Lý Bạch cũng bởi tác giả Bùi Thanh Ba

1988: 1 bài; 1966: 3 bài; 2001: 1 bài; 2002: 1 bài; 2003: 1 bài.”[20, tr 8]

Trên Tạp chí Hán Nôm ra đời năm 1985 do Trần Nghĩa chủ biên đã giành cho

nghiên cứu thơ Đường một vị trí xứng đáng Trong thời gian hoạt động tạp chí đã tìm

Trang 24

ra những văn bản thơ Đường rất có giá trị Từ nhiều góc độ nhiều tác giả có nhiều cách nhìn và dịch thơ Đường từ đó làm tạo nên sự phông phú trong việc tiếp nhận thơ Đường

Trong những năm 1997, 2002, 2004, 2005 các tác giả Trần Đức Thọ, Nguyễn

Quảng Tuân, Nguyễn Cảnh Phức, Kiều Thu Hoạch đã cho ra đời những tác phẩm dịch

về thơ Đường và đáng lưu ý là những bài trên đều viết về bài Phong Kiều dạ bạc của

nhà thơ Trương Kế Bính thời Thịnh Đường

Bên cạnh đó thì cũng có thể điểm qua một số công trình dịch, nghiên cứu, phê bình thơ Đường:

Theo tham khảo luận văn [20, tr 9] và tà liệu tham khảo thì những bản dịch thơ Đường sớm nhất là Bản dịch của Mạc Đình Tư xuất bản năm 1928 với bài thơ Tỳ Bà

hành của Bạch Cư Dị Tiếp đó là Đường thi hợp tuyển của Dương Mạnh Huy, xuất

bản năm 1931 Những bản dịch thơ đồng thời có dạy cả các phép làm thơ Đường như cách mở đề, gieo vần của một số thể loại như thất ngôn, ngũ ngôn

Các dịch phẩm trong Đường thi, của Ngô Tất Tố năm 1940, Đường thi Trần

Trọng Kim năm 1945 cũng rất quan trọng đã đóng góp rất lớn vào việc tiếp nhận thơ Đường ở Việt Nam và sự phát triển thơ Đường Ở Việt Nam

Qua những công trìn tác phẩm dịch thơ cho thấy rằng người Việt rất chú ý đến thơ Đường và việc phát triển của nó ở Việt Nam Qua quá trình dịch đó thì những nhà thơ mới Việt Nam có được diệp tiếp cận với thơ Đường Nhiều hơn và làm chi những sáng tác thêm phong phú

1.4.3 Thơ Vương Duy trong chương trình phổ thông hiện nay

Về thơ Đường được đưa vào chương trình phổ thông cũng rất được chú ý Trong ngữ văn lớp 10 ban cơ bản và nâng cao thì có tổng cộng 6 bài thơ được đưa vào

giảng dạy Ở ban cơ bản thì không có bài Tì bà hành theo thể cổ phong trường thiên của Bạch Cư Dị, hai bài ở thể thất ngôn bát cú (Thu hứng của Đỗ Phủ, Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu) và hai bài thất ngôn tứ tuyệt là Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên

chi Quảng Lăng của Lí Bạch và Khuê oán của Vương Xương Linh, một bài ngũ ngôn

là Điểu minh giản của Vương Duy

Tuy được đưa vào giảng dạy nhưng việc nhận định và đánh giá về những bài thơ là chưa thật sự sâu về nội dung và đa phần là bài đọc thêm, vì thế tâm lý tiếp nhận thơ của học sinh cũng chưa thật sự nhiệt tình với tư tưởng học để thi đã ăn sâu vô tiềm

Trang 25

thức Do đó giá trị của những bài thơ Đường ở phổ thông không được xem trọng cho

lắm Bài thơ thơ Xuân Điểu minh giản, cũng không ngoại lệ đây là một bài thơ độc

đáo nhưng chưa được tìm hiểu thật sâu và kĩ, đây là một thiếu sót khá lớn trong việc tiếp nhận thơ Đường ngay từ bậc học phổ thông Do là một bài đọc thêm nên không được chú ý nhiều ngay cả bản thân người viết khi học phổ thông cũng không nhớ thật

kĩ những nội dung chính của bài thơ

Khảo sát trong 20 bạn sinh viên đang làm luận văn của ngành văn học khóa 37, thì con số thống kê làm cho người viết thật sự bất ngờ về một tác giả Trung Quốc đã từng học Khoảng 18 bạn chiếm 90% không biết về tác giả này và 10% còn lại thì chỉ nhớ mơ hồ về tác giả này Dù là một cuộc khảo sát chủ quan của người viết nhưng qua những con số cho thấy việc tiếp nhận thơ Đường nói chung và thơ Vương Duy trong chương trình học phổ thông thật đáng báo động hơn Nếu cuộc khảo sát diễn ra trên quy mô lớn hơn thì có thể con số còn đáng báo động qua đó cần có một tiến trình trong việc giảng dạy và tiếp nhận thơ Đường ở bậc học một cách tốt hơn Nếu không đưa thơ Đường vào giảng dạy thì thôi nhưng khi đã đưa vào thì cần có một cách nào đó để tiếp nhận tốt hơn

Nhân đây người viết cũng nói vài điều về việc học hiện nay qua nhiều phương tiện thông tin đại chúng cũng như là chia sẻ của những thầy cô giảng dạy nhiều năm, thì việc học hiện nay chủ yếu là để thi và vượt qua kì thi và môn đó là xu hướng chủ yếu Tỉ lệ học sinh, sinh viên học để có nền tản kiến thức thì ngày càng giảm nếu có một cuộc khảo sát thì với quy mô lớn thì điều đó chắc chắn đúng! Nếu cách học và tư duy của người học không thay đổi thì sắp tới những “trí thức” liệu có đáp ứng được nhu cầu của công việc khi đất nước đang hội nhập

Tuy vậy nhờ việc học và tiếp nhận thơ Đường ngay từ phổ thông và đặc biệt là thư Vương Duy nên hôm nay người viết mới có một đề tài đúng sở thích của mình đó

là thơ Vương Duy một đại diện của phái điền viên sơn thủy mà lúc học phổ thông

người viết chưa hề biết đến Bài thơ Điểu minh giản, ở phổ thông được Ngô Tất Tố

dịch và đưa vào giảng dạy đó được xem là một bản dịch chất lượng và khó có bản dịch nào hơn được xin trích dẫn:

人閒桂花落, 夜靜春山空

Nhân nhàn quế hoa lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không

Trang 26

月出驚山鳥, 時鳴春澗中

Nguyệt xuất kinh sơn điểu, Thời minh tại giản trung

Người nhàn, hoa quế rụng,

Đêm yên tĩnh, non xuân vắng không

Trăng lên làm chim núi giật mình,

Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe núi

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh Trăng lên, chim núi giật mình Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi (Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục, 2006)

Dịch thơ

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,

Núi xuân quạnh quẽ, đêm dài vắng tanh

Thấy trăng chim núi giật mình,

Tiếng kêu nghe rộn thình lình trong khe

(Bản dịch của Trần Trọng Kim

[5, tr 360])

Nói tóm lại việc việc đưa thơ Đường nói chung và thơ Vương Duy vào chương trình là một đóng gớp rất quan trọng trong nền văn học nước nhà Tuy ở một mức độ nào đó thì nó chỉ mang tính chất giới thiệu nhưng đã tạo được cho người học và người tiếp nhận những dấu ấn ban đầu về thơ Đường một tinh hoa của nhân loại Dù ít hay nhiều thì một “thi Phật” như Vương Duy đã được biết đến ở Việt Nam

Trang 27

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT BẢN DỊCH THƠ VƯƠNG DUY Ở VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về những công trình dịch có thơ Vương Duy ở Việt Nam

Ở Việt Nam những công trình dịch thơ Đường rất phong phú về số lượng, những công trình thường thì không riêng về một tác giả nào mà thường là tổng hợp những bài thơ theo thể loại hay theo những chủ đề hoặc là tuyển chọn những bài thơ được cho là hay Riêng với nhà thơ Vương Duy thì chưa có công trình dịch nào riêng

về tác giả này, chỉ có những bản tuyển dịch và chọn dịch thơ của ông Nói chung thơ Vương Duy ở Việt Nam được dịch rất nhiều với nhiều xu hướng khác nhau, có thể điểm một số công trình dịch mà người viết có được những tài liệu trong tay:

Năm 1917, tờ tạp chí có tên là Nam Phong tạp chí, do Phạm Quỳnh làm chủ

biên được ra đời và với xu hướng phát triển của thời đại và với những bản dịch thơ Đường đầu tiên và có chất lượng đã thúc đẩy tờ tạp chí phát triển Từ đây thơ Đường

đã tìm được một vị trí cho mình trong việc tiếp nhận thơ ở Việt Nam Nhiều bản dịch thơ đã được phát hành để người độc có thể tiếp nhận và hiểu được nhiều về thơ Đường

hơn Một số bài dịch như Cung oán, Xuân dạ lữ Hoài, Thu dạ lữ hoài… đã được giới

thiệu và từ tờ tạp chí này đã làm nền tản cho việc dịch và tiếp nhận thơ Đường ở Việt Nam được phát triển

Năm 1934, Tiểu thuyết thứ bảy, do Vũ Đình Long chủ nhiệm ra đời Ở tờ này

nhiều độc giả có thể bắt gặp những tác phẩm của các tác giả Trung Quốc đã trở nên quen thuộc ở Việt Nam như Đỗ Mục, Vương Duy, Đỗ Phủ, Lý Bạch… đây có thể xem

là những bước tiến đầu tên trong việc dịch thơ Đường và đáng lưu ý hơn là tác gia Vương Duy đã được nhắc đến và có những bản dịch thơ

Trong quyển Đường thi, của tác giả Trần Trọng Kim xuất bản năm 1995 với

những bài thơ Đường ông chọn và tuyển dịch Với quyển sách này thì người dịch đã cung cấp nguyên văn, phiên âm và phần dịch thơ Riêng về phần dịch nghĩa thì không được đề cặp đến, đây là một công trình dịch tốt được rất nhiều tác giả tham khảo và tuyển chọn trong những công trình dịch sau này Trong quyển này tác giả cũng dành khá nhiều trang về phần thơ Vương Duy với nhiều thể loại khác nhau Với phần dịch thơ thì người viết cho rằng là khá sát và có chất lượng làm nền tản cho việc dịch và tiếp nhận thơ Vương Duy về sau Những quyển sách lại hạn chế ở việc dịch nghĩa và

Trang 28

chú thích một số nội dung cần thiết để người đọc có thể tiếp nhận tốt hơn và tăng hiệu quả của việc dịch và cả công trình

Trong quyển Đường thi tam bách thủ, của tác giả Ngô Văn Phú (dịch) và giới

thiệu, nhà xuất bản hội nhà văn xuất bản năm 2000 Đây là một công trình dịch có thể nói rất chất lượng bởi khởi thủy ban đầu của quyển sách này là của Hành Đường Thoái

Sĩ và Trần Bá Anh và đến sau này thì Ngô Văn Phú dịch lại và giới thiệu cùng bạn đọc Toàn bộ tập thơ với 312 bài, gồm 8 quyển, sắp xếp theo thể loại cổ thi, luật thi và tuyệt cú, ngũ ngôn và thất ngôn Một điểm hay và đáng được chú ý trong quyển sách này chính là tác giả tách riêng phần nhạc Phủ và xem như là một thể loại không để lẫn với cổ thi và tuyệt cú như các tập trước Và như thế người đọc mới hình dung được Nhạc Phủ ra đời trước thơ luật và đó vốn chính là lời của những khúc hát xưa Khác với các quyển dịch cũ người dịch đã lựa chọn những bài thơ và cũng như các phần dịch thơ, dịch nghĩa lẫn chú thích thật cần thiết để đưa vào bài chứ không dịch hết

Quyển sách ra đời thật sự mang nhiều ý nghĩa với nhiều bạn đọc vốn yêu thích

và muốn tìm hiểu về thơ Đường, quyển sách với những phần giới thiệu về thơ Đường cũng rất kĩ bên cạnh đó là phân tích cấu tạo của những bài thơ Đường và những dẫn chứng khá sinh động không mang nặng tính lý thuyết cứng ngắt Hơn thế nữa quyển sách cung cấp những bản dịch khá chất lượng về thơ Đường

Riêng về phần dịch thơ Vương Duy, có tổng số bài thơ là 25 bài với nhiều thể loại khác nhau Những bản dịch về phần thơ Vương Duy người viết cho rằng đảm bảo

về phần nội dung cũng như là ý nghĩa của câu thơ gắn với nghĩa gốc, một cái hay của quyển sách này là người dịch còn tổng hợp bản dịch của các tác giả khác trong đó có tác giả Trần Trọng Kim Tuy nhiên phần dịch thơ của quyển sách này chưa được sát lắm, nếu dựa vào phần dịch thơ để phân tích thì không thể nào thấy được hết cái thần trong những bài thơ, và một điều lưu ý nữa là phần chú thích quá ít so với nội dung bài thơ, từ đó hiệu quả để cảm thơ là chưa cao nếu không có những kiến thức về thơ Đường cơ bản thì việc tiếp nhận thơ Đường là không hề dễ

Cũng trong năm 2000 thì nhà xuất bản Văn học cũng xuất bản quyển sách 300

bài thơ Đường, cũng giống như cuốn Đường thi tam cách thủ, và cũng do những tác

giả trên tuyển chọn và Ngô Văn Phú dịch Riêng ở phần tác giả Vương Duy có bổ sung

thêm hai bài thơ là tổng số 22 bài về nội dung thì cũng không có gì thay đổi

Trang 29

Nguyễn Danh Đạt với quyển Bình và chú giải 100 bài thơ Đường hay nhất, xuất bản năm 1995 Nguyên thủy của quyển sách này là Đường thi nhất bách thủ, do

các học giả Trung Quốc biên soạn vào năm 1984 Đây là một quyển sách tuyển chọn những bài thơ hay của thơ Đường Trong đó tác giả Vương Duy có hai bài trong quyển này, quyển sách khá hay bởi không chỉ phần dịch mà tác giả còn cung cấp rất nhiều phần chú thích về thơ, đồng thời tác giả còn cung cấp thêm phần thuyết minh vào, thiết nghĩ đó là một phần khá hay nó có thể giúp người đọc dễ dàng nắm bắt nội dung cơ bản trong thơ và hiểu được thơ dễ dàng hơn Những bài dịch thơ này đã được các học giả Trung Quốc ấn định vì thế chất lượng của công trình dịch này là khá cao

Trong quyển Đường thi tuyển dịch, của Lê Nguyễn Lưu tập I nhà xuất bản

Thuận Hóa năm 1997 đây là một quển sách tuyển chọn những tác gia và tác phẩm của văn học Trung Quốc Sách gồm ba phần gồm phần tiểu luận cug cấp cái nhìn khái quát

về toàn bộ tình hình lịch sử, xã hôi, kinh tế, chính trị, văn hóa, học thuật… của triều đại nhà Đường, từ đó giúp người đọc dễ dành cảm thụ thơ hơn Phần chính của quyển sách là tuyển dịch hơn một nghìn bài thơ của gần 180 tác giả với sự khách quan cao nhất Và phần cuối là phụ lục chứa những vấn đề cần tra cứu Đây là một tuyển dịch hay và đầy đủ những bài thơ Đường hay và những tác giả nổi tiếng

Riêng về tác giả Vương Duy, trong quyển này có tới 50 bài thơ chiếm một số lượng rất lớn chiếm gần 10% trong tổng số bài thơ Về công trình dịch này cung cấp cho người đọc những nguyên bản và các phần dịch nhưng có một phần chú ý là phần chú thích không được nhiều và đầy đủ để cho người viết tiếp nhận nhanh hơn, bên cạnh đó thì phần nội dung trong thơ người dịch cũng không đề cặp đến từ đó hiệu quả tiếp nhận là chưa cao Đối với phần dịch thơ Vương Duy, người viết nhận định cũng chưa thật sự sát với nội dung nhất là những bản dịch thơ thiên về chủ quan của người dịch, từ đó sẽ ảnh hưởng đến cách hiểu của người tiếp nhận Nếu so với nhiều bản dịch thơ Vương Duy của các tác giả dịch khác thì không thể bằng Thiết nghĩ đây cũng là một công trình dịch rất công phu và trải qua nhiều giai đoạn và tất nhiên thì giá trị tham khảo và nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu thơ Đường nói chung và nghiên cứu thơ Vương Duy nói riêng

Trong công trình dịch của Thái Bá Tân với quyển Cổ thi tác dịch, xuất bản năm

1998 là một quyển sách cũng khá đặc biệt, ngoài việc dịch thơ Đường thì tác giả còn chọn và dịch những bài thơ bốn câu, Lý, Trần (Việt Nam) Công trình là một tuyển

Trang 30

dịch thơ về rất nhiều tác giả Trung Quốc và hàng loạt những bài thơ gắn liền với những thi nhân trên

Riêng về thơ Vương Duy có số lượng bài cũng rất lớn với 42 bài trong toàn quyển, điều đáng chú ý là thơ Vương Duy được chọn là phần đầu tiên trong phần mở đầu dịch thơ Trung Quốc Đây là một công trình dịch hay nhưng lại thiếu sót nhiều về việc cung cấp những phần như nguyên văn chữ Hán, phần dịch nghĩa của các bài thơ, nếu dựa vào phần dịch thơ của tác giả mà phân tích thơ thì tính khách quan và nội dung thơ sẽ bị thay đổi, bên cạnh đó việc chú thích cũng như tóm lược những nội dung

cơ bản không được chú ý đến dẫn đến việc tiếp nhận là không cao Với những bản dịch thơ của tác giả Vương Duy thì người viết lại nhận định khá hay bởi cách dịch của tác giả, khi đối chiếu phần dịch thơ với nhiều công trình dịch khác thì có phần trội hơn, phần dịch thơ có nội dung khá sát với nội dung toàn bài và nếu kết hợp với bản dịch nghĩa thì đạt chất lượng cao

Với công trình của Lê Giảng và Ngô Viết Dinh trong quyển Đến với tinh hoa

thơ Đường, in năm 2001 thì cũng là một công trình lý thú không những cung cấp về

những kiến thức sơ lược về nhà Đường mà tác giả đi sâu vào giải thích những nội dung chính của những bài thơ và cung cấp những chú giải rất bổ ích giúp người đọc dễ hiểu và cảm được thơ, bên cạnh đó còn có một phần về những bài bình về những tác giả trong thơ

Trong công trình thì những bài thơ của tác giả Vương Duy, có 14 bài và hầu hết

là những bài thơ rất nổi tiếng và được chú ý của ông Các dịch giả trong công trình này hầu như chỉ nghiên cứu và phân tích thơ, về phần dịch thì cũng khá hạn chế bởi trong công trình đã tham khảo và chọn những bản dịch từ nhiều tác giả dịch khác nhau Nhưng đây cũng là một phần đóng góp trong việc tiếp nhận thơ và cung cấp những kiến thức về thơ cho những người đọc, nếu các bản dịch chỉ chú ý nhiều đến phần dịch thì đây là một quyển sách tiếp bước nội dung tuy không được sâu nhưng cũng là một nền tản để tham khảo và tìm hiểu thơ

Bên cạnh đó về thơ Vương Duy còn có những bản dịch khác của các tác giả như: Tản Đà, Ngô Tất Tố… tuy nhiên những bản dịch này chỉ mang tính nhỏ và chỉ với số lượng rất ít và chỉ đăng trên các tạp chí

Những công trình dịch thơ Đường trong đó có thơ Vương Duy là một đóng góp rất quan trọng trong việc tiếp nhận thơ Đường ở Việt Nam Thể hiện sự giao lưu văn

Trang 31

hóa và văn học của hai nước vừ từ những công trình như vậy giúp người đọc hiểu được tốt hơn và sâu hơn về một thể loại thơ đã vang bóng ở Trung Quốc Qua những bản dịch thơ về tác giả Vương Duy đó là một nguồn tư liệu quý không chỉ là tham khảo mà nó càn là nền tản cho việc nghiên cứu và phát triển thơ Đường ở Việt Nam.

Trang 32

2.2 Một số bài thơ của Vương Duy được chọn dịch ở Việt Nam

終南別業中歲頗好道,

Chung Nam biệt nghiệp

Trung thế phả hiếu đạo, Vãn gia Nam sơn thuỳ

Hứng lai mỹ độc vãng, Thắng sự không tự tri

Hành đáo thuỷ cùng xứ, Toạ khan vân khởi thì

Ngẫu nhiên tri lâm tẩu, Ðàm tiếu vô hoàn kỳ

Nhà riêng ở núi Chung nam

Lúc đứng tuổi mớ yêu thích đạo phật, Nay về già, làm nhà ở núi Chung Nam Hứng đến thì đi chơi một mình,

Có điều thích chí chỉ riêng mình biết

Đi đến nơi tận cùng nguồn nước, Ngồi nhìn lúc mây đùn lên

Tình cờ gặp ông lão trong rừng, Trò chuyện vui vẻ quên cả lúc trở về

Biệt nghiệp ở Chung Nam

Trẻ từng yêu mùi đạo

Già ở núi Nam này

Lúc hứng riêng mình dạo

Khi vui chỉ tự hay

Ði theo nguồn nước đổ

Ngồi ngắm áng mây bay

Biệt nghiệp ở Nam Sơn

Mùi thiền đứng tuổi mới ham,

Về già ở cạnh núi Nam tu hành

Hứng đi lủi thủi vong tình, Thú vui chỉ có một mình mình hay

Ngồi nhìn những lúc mây bay,

Đi theo suối nước tới ngay chỗ cùng

Biệt nghiệp ở Chung nam

Nửa đời lấy đạo làm vui, Tuổi già về ẩn bên đồi Chung Nam

Hứng lên dạo bước sơn lâm,

Ý thích tự biết, sai lầm tự hay

Vui chân đến tận nguồn đây, Ngồi nhìn mây trắng bay bay mãi hoài

Thôi sự nghiệp ở Chung Nam

Đứng tuổi mới ham đạo, Già về núi Nam này Dạo chơi khi hứng đến, Vui thú chỉ mình hay Đến tận cùng nước chảy Ngồi ngắm phút dâng mây

STT

Trang 33

Chợt gặp ông già núi

Quên về, nói chuyện say

(Lê Nguyễn Lưu dịch)

Đường rừng chợt gặp lão ông, Vui cười trò chuyện quên không trở về

Chung Nam sơn

Thái Ất cận thiên đô, Liên sơn tiếp hải ngung

Bạch vân hồi vọng hợp, Thanh ái nhập khan vô

Phân dã trung phong biến,

Âm tình chúng hác thù

Dục đầu nhân xứ túc, Cách thuỷ vấn tiều phu

Núi Chung Nam

Toà núi Thái Ất này gần kinh đô Nguyên dãy núi chạy dài cho đến tận mé biển Mây trắng bao phủ kín mít chung quanh Núi non mù mịt chìm vào chỗ không còn thấy được Lấy những tinh tú làm khu vực thì từ chính giữa

núi ra có nhiều khu vực Phong cảnh nơi này nơi kia khác nhau Muốn tìm nơi có người ở để trú túc Cách con nước hỏi người tiều phu đường lối

Núi Chung Nam

Thái Ất gần kinh đô

Núi núi biển liền bờ

Mây trắng quay đầu gặp

Núi Chung Nam

Chung Nam gần cửa khuyết, Núi tiếp biển liền bờ

Mây trắng trông mù mịt,

Núi Chung Nam

Thái Ất gần thiên đô Núi lan tận góc biển

Hợp tan, mây trắng quẩn,

Núi Chung Nam

Chung nam cao tận trời xanh, Phía tây nối với bức thành, biển sau Leo lên mây trắng quấn đầu,

Trang 34

Xanh thẳm mắt hư vô

Chia khu ngọn giữa biển

Râm tạnh khác khe xưa

Muốn tìm nơi nghỉ trọ

Cách bến hỏi tiều phu

(Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Việt Anh dịch)

(Ngô Văn Phú dịch)

Càng lên mỗi ngọn khác nhau hình thù

Cỏ câu hang động thanh u, Lòng còn muốn được ngao du đất trời Núi rộng xa khách vắng rồi, Thôi đành vác củi giúp người tiều phu

(Ngô viết Dinh dịch)

鳥鳴澗人閒桂花落,

夜靜春山空。

月出驚山鳥,

時鳴春澗中。

Điểu minh giản

Nhân nhàn quế hoa lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không

Nguyệt xuất kinh sơn điểu, Thời minh xuân giản trung

Khe chim kêu

Người nhàn, hoa quế rụng, Đêm yên tĩnh, non xuân vắng không Trăng lên làm chim núi giật mình, Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe núi

Chim hót trong khe

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi

Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh

Trăng lên, chim núi giật mình

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi

( Ngô Tất Tố dịch)

Chim kêu trong khe

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi, Núi xuân quạnh quẽ, đêm dài vắng tanh

Thấy chăng chim núi giật mình, Tiếng kêu nghe rộn thình lình trong khe

(Trần Trọng Kim dịch)

Chim hót trong khe

Người nhàn hoa quế rụng, Đêm xuân núi vắng teo

Trăng lên chim núi hãi, Dưới khe chốc chốc kêu

(Tương Như dịch)

Trang 35

Dịch thơ Dịch thơ

Khe chim kêu

Người nhàn, hoa quế nở,

Lặng im rừng đêm hè

Trăng mọc làm chim sợ,

Giật mình, kêu dưới khe

(Thái Bá Tân dịch)

Chim kêu suối hát…

Người nhàn hoa quế ngại bay Đêm xuân núi trống không ai thình lình Trăng lên – chim núi – giật mình Suối xuân vẫn hát âm thinh thường hằng

(Lý Minh phỏng dịch)

桃源行漁舟逐水愛山春,

Cư nhân vị cải Tần y phục

Cư nhân cộng trú Võ Lăng nguyên

Bài hành về suối hoa đào

Thuyền chài xuôi nước yêu núi màu xuân, Hai bên bờ hoa đào giáp tận bến cũ

Ngồi nhìn cây đỏ rực trên cả đường xa

Đi hết dòng suối xanh chợt gặp người Cửa núi luồn mà đi ban đầu thì quanh co, Khi núi mở ra nhìn thấy đầy khoảng xanh bằng

phẳng

Nhìn xa thấy một nơi cây và mây quần tụ Đến gần thì có nghìn nhà rải rác trong hoa và tre Khách kiếm củi thoáng nói họ tên người Hán Dân ở đây vẫn mặc y phục nhà Tần

Trang 36

Sơ nhân ti địa khứ nhân gian Cánh văn thành tiên toại bất hoàn Giáp lý thuỳ tri hữu nhân sự Thế trung diêu vọng không vân sơn Bất nghi linh cảnh nan văn kiến Trần tâm vị tận tư hương huyện Xuất động vô luận cách sơn thuỷ

Từ gia chung nghỉ trường du diễn

Tự vi kinh quá cựu bất mê

An tri phong hát kim lai biến Đương thời chỉ ký nhập sơn thâm Thanh khê kỷ độ đáo vân lâm Xuân lai biến thị Đào hoa thuỷ Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm?

Dân đây đều ở bên suối Vũ Lăng, Ngoài ruộng nương không để ý chuyện gì khác Trăng sáng góc cây tùng, phong yên tĩnh Mặt tròi mọc trong mây; gà, chó huyên náo Rất hãi khi thấy khách ngoài đời, đua nhau tới, Tranh nhau dẫn về nhà hởi chuyện làng xóm

Sáng sớm quét hoa ở cổng ngõ, Chiều tối dân chài dân kiếm củi theo dòng suối trở

Ra khỏi động dù rằng cách sông, cách núi,

Từ biệt nhà nào có nghí đi xa đến thế

Tự bảo rằng dã đi qua, đường cú không quên,

Mà sao núi hang giờ đã khác trước

Lúc ấy chỉ nhớ là đi vào núi thẳm, Qua suối xanh một lúc thì vào rừng mây

Trang 37

Bài hát về suối hoa đào

Thuyền câu theo suối luyến non

xuân Đào nở đầy bờ chật bến xưa

Ngồi ngắm cây hồng xa chẳng biết

Tận nguồn suối bạc người không

qua Sơn động chậm trôi dòng khúc

khuỷu Núi hang rộng mở đất bình nguyên

Xa ngắm một miền cây khói toả

Gần xem ngàn nóc trúc hoa chen

Khách Tiều vừa đáp tên thời Hán

Dân chúng còn nguyên y phục Tần

Đào nguyên hành

Nước chảy thuyền trôi, cảnh

tuyệt vời Hoa đào bến cũ dọc bờ tươi

Ngồi xem cây thắm quên xa ngái, Cuối ngọn Thanh Khê bỗng gặp

người…

Quanh quất lần đi trong cửa

động, Bỗng đâu núi mở đồng bằng rộng

Vời trông, một khoảng lá chen mây, Gần đến, nghìn nhà tre phủ bóng

Tên họ tiều phu Hán đã xưa,

Áo quần dân dã Tần còn giống

Trang 38

Võ Lăng xưa vốn cùng chung ở

Từ giả vào đây khai ruộng vườn

Trăng tỏ thông ngàn phòng ốc tĩnh

Trời quang mây tạnh chó gà huyên

Kinh động nghe tin tục khách đến

Dẫn về tranh hỏi chuyện làng quê

Sớm mai hoa nở trước nhà

Chiều thẳm ngư tiều theo suối về

Trước vì lánh nạn trốn nhân gian

Nghe nói thành tiên không trở ra

Nhân sự láng giềng ai biết đến

Giữa đời nhìn ngắm núi mây xa

Nào biết cảnh linh khó nói nghe

Lòng trần chưa dứt nhớ quê nhà

Rời động không màng sông núi cách

Về rồi sắp đặt chuyến đi xa

Tự cho từng trải xưa không mê

Nào biết núi rừng nay khác ra

Chỉ nhớ lúc xưa vào núi thẳm

Vũ Lăng nguồn suối họp dân thường, Cuộc thế ngoài tai chỉ ruộng nương

Cửa nhà lặng lẽ soi vầng nguyệt,

Gà chó xôn xao đón ánh dương

Nghe khách tục vào liền tụ tập, Dẫn về thăm hỏi nơi đô ấp

Sớm mai ngõ sớm hoa tơi bời, Chiều tối ngư tiều thuyền tấp nập

Xưa vì lánh nạng bỏ làng quê, Tìm chốn thần tiên chẳng trở về

Trong hẻm ai ngờ còn cuộc sống, Cõi trần vời vợi núi mây che

Tiên cảnh nào hay tìm khó thấy, Tình quê vươn vấn lòng trần dậy

Sông núi ngoài kia biết mấy trùng?

Lại giã nhà đi vào chốn ấy

Đinh ninh không lạc lối ngày xưa, Khe núi ngờ đâu nay khác vậy

Còn nhớ ngày nào vượt núi cao,

Phòng tĩnh lặng, trăng soi tùng bách, Trời sáng ra nhộn nhịp chó gà

Hãi kinh khi gặp khách xa, Tranh nhau dẫn khách về nhà

nhớ thương

Động ra khỏi, sông ngăn núi cách

Giã biệt nhà nào biết bươn xa…

Đường xưa, đâu có quên mà!

Hang kia núi ấy nay đà đổi thay

Nhớ buổi vượt núi này quanh quất

Ngoái đầu chỉ thấy một miền

mênh mông

Trông trước mắt môt vùng đất lạ, Cây cùng mây tụ cả một nơi, Đến gần kinh ngạc không lời, Cửa nhà san sát hoa tươi, trúc hòa Bác tiều bảo ngàn nhà đây của, Dân Hán xưa lánh khổ vào đây,

Cư dân sống ở nơi này,

Áo quần chẳng khác những ngày

Tần xưa

Hỏi ra họ cũng vừa một góc, Đất Võ Lăng khổ nhọc trước đây, Bên ngoài chẳng biết chẳng hay, Ruộng vườn khai khẩn đất này

ẩn cư

Cảnh thật đẹp trăng như đèn sáng, Rừng tòng xanh chiếu rạng ánh lay, Mặt trời ra khỏi áng mây,

Trang 39

Dòng xanh bao thuở vượt rừng mây

Xuân về đây đó hoa và suối

Nhưng suối tiên đâu tìm chốn nào

(Vũ Thế Ngọc dịch)

Rừng mây cạnh suối cách là bao?

Hoa đào xuân đến trôi đầy nước,

Mù mịt nguồn tiên ở chốn nào?

(Lê Nguyễn Lưu dịch)

Qua suối xanh thì gặp mây tầng

Suối hao đào đã vào xuân Cõi tiên chẳng biết đâu lần bữa nay

(Ngô Văn Phú dịch)

Khắp nơi chó sủa, gà ngày gáy vang Nghe khách lạ cả làng họp lại, Trên mặt nhường kinh hãi, âu lo Tranh nhau kẻ hỏi người dò, Rằng khách ở mãi nơi mô đến làng? Bình minh đến cổng làng vội mở, Nhà nhà đều ra ngõ quét hoa, Men theo khe biếc vào ra, Ngư, tiều ai cũng về qua lối này Rời quê hương đến đây lánh nạn,

Đã bao đời xa hẳn trần gian, Sống đời thanh thản an nhàn, Cõi thần tiên bỗng quên đàng về quê Nơi núi Giáp chẳng nghe, cách biệt, Hỏi làm sao biết việc trên đời? Người trần trông núi mây trôi, Đâu ngờ tiên cảnh tuyệt vời nơi đây Cảnh bồng lai hỏi ai người thấy? Nên nghe rồi ngờ đấy lộng ngôn! Lòng tràn chưa dứt cỏn con,

Trang 40

Cố hương xa dưới mỏi mòn nhớ thương Rời tiên động theo đường lối cũ, Trở về nơi quê cũ của ta,

Về rồi lại muốn đi xa, Quên đời ô trục bỏ nhà tìm non Đường khe cũ lối mòn dấn bước, Đào nguyên băng vượt núi mây

Từ ngày rời khỏi chốn này, Đỉnh cao, hang thẩm đổi thay thế nào?

Cứ đi mãi khách vào núi thẩm, Nước vẫn trong dòng thấm tuyệt vời, Xuân về đào rụng nước trôi, Tìm đâu cho thấy mây trời đào nguyên?

(Trương Đình Tín dịch)

田園樂採菱渡頭風急,

Thú điền viên

Hái hoa sen về, gió nổi Chống gậy ven thôn chiều tà Ngư ông ngồi cạnh cây đàn hạnh Bên suối Đào Hoa có mấy nhà

Ngày đăng: 03/10/2015, 22:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w