1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tục thờ cúng tổ tiên của người công giáo tại giáo họ thủy trạm xã sơn thủy, huyện thanh thủy, tỉnh phúc thọ

113 629 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã góp phần hình thành nên những giá trị đạo đức truyền thống của người Việt đó là lòng hiếu thảo, tương thân tương ái, đoàn kết, yêu quê hương đất nước,…

Trang 1

Nguyễn Thị Hồng Duyên K37 – Lịch sử

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ -

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA

NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa

Người hướng dẫn khoa học ThS Nguyễn Thị Bích

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

Nguyễn Thị Hồng Duyên K37 – Lịch sử

LỜI CẢM ƠN

Là một sinh viên lớp K37B khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, với tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc, tôi trân trọng cảm ơn BGH Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, BCN khoa Lịch sử và các thầy cô giáo đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường, giúp tôi có thêm nhiều kiến thức chuyên nghành để hoàn thành bài nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Nguyễn Thị Bích đã tận tình hướng dẫn tôi, bổ sung, chỉnh sửa, đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình tôi hoàn thành bài khóa luận này Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn tới các ban, ngành, đoàn thể xã Sơn Thủy, BHG và toàn thể giáo dân giáo họ Thủy Trạm

đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp xúc, thâm nhập thực tế trong suốt thời gian tiến hành nghiên cứu, và đã cung cấp những tài liệu, số liệu chính xác, cụ thể giúp cho bài nghiên cứu này mang tính thuyết phục hơn

Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tuy đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy

cô giáo và các bạn đóng góp, bổ sung ý kiến để bài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Duyên

Trang 3

Nguyễn Thị Hồng Duyên K37 – Lịch sử

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự chỉ bảo tận tình của giảng viên Th.S Nguyễn Thị Bích – người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu của khóa luận này chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào, đó là những kết quả đúng, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Duyên

Trang 4

Nguyễn Thị Hồng Duyên K37 – Lịch sử

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM 8

1.1 Khái quát về tục thờ cúng tổ tiên của người Việt 8

1.1.1 Nguồn gốc, bản chất của tục thờ cúng tổ tiên 8

1.1.2 Biểu hiện của tục thờ cúng tổ tiên 12

1.1.3 Ý nghĩa của tục thờ cúng tổ tiên trong đời sống người Việt 16

1.2 Tục thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở Việt Nam 19

1.2.1 Quá trình du nhập đạo Công giáo vào Việt Nam 19

1.2.2 Tục thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở Việt Nam 23

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2: TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở HỌ ĐẠO THỦY TRẠM XÃ SƠN THỦY, HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ 35

2.1 Khái quát về xã Sơn Thủy (huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) 35

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 35

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội hiện nay 37

2.2 Khái quát về giáo họ Thủy Trạm 41

2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 41

2.2.2 Tổ chức và sinh hoạt tôn giáo tại giáo họ Thủy Trạm hiện nay 46

2.3 Biểu hiện của tục thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở giáo họ Thủy Trạm 50

2.3.1 Trong nghi thức tang ma 51

2.3.2 Trong nghi thức cúng lễ - chăm sóc mộ phần 55

2.3.3 Trong các nghi thức tôn giáo khác 68

2.4 Nhận xét 71

Trang 5

Nguyễn Thị Hồng Duyên K37 – Lịch sử

2.4.1 Sự tương đồng, khác biệt giữa nghi thức thờ cúng tổ tiên của người

Công giáo và lương giáo 72

2.4.2 Sự tương đồng, khác biệt trong nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở giáo họ Thủy Trạm và các giáo xứ khác 74

2.4.3 Xu hướng biến đổi trong hoạt động thờ cúng tổ tiên của người Công giáo trong giáo họ 76

2.4.4 Giá trị đặc trưng của tục thờ cúng tổ tiên của người Công giáo tại giáo họ trong xã hội đương đại 79

Tiểu kết chương 2 83

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 92

Trang 6

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay đạo Ông Bà được coi là một đạo hiếu của người Việt Nam nói riêng và của nhiều dân tộc khác nói chung Tuy nhiên ở mỗi quốc gia ảnh hưởng của nó lại không giống nhau Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ lâu đời ăn sâu trong tâm thức của người Việt Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã góp phần hình thành nên những giá trị đạo đức truyền thống của người Việt đó là lòng hiếu thảo, tương thân tương ái, đoàn kết, yêu quê hương đất nước,… Đó là những giá trị hết sức quý báu cần được bảo lưu, kế thừa và phát huy nhất là trong thời kỳ nước ta đang xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ hội nhập quốc tế

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định cần phải biết đoàn kết các tôn giáo, phát huy các giá trị tích cực của các tôn giáo cũng như các hình thái tín ngưỡng để góp phần vào công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việc thờ cúng tổ tiên của người Việt cũng mang ý nghĩa tưởng nhớ những người có công đối với dân tộc, đất nước, làng xóm,… Vì vậy mà tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thể hiện ở 3 cấp độ: cấp độ gia đình, dòng họ là tôn kính ông bà tổ tiên;

Trang 7

tổ tiên có nhiều nét khác biệt so với các tôn giáo khác

Trước đây khi mới du nhập vào Việt Nam thì những người theo đạo

Công giáo không được thờ cúng tổ tiên Đến khi Huấn dụ Plane Compertum est áp dụng ở Trung Quốc, Hội Đồng Giám mục Việt Nam xin theo và đến

ngày 20/10/1964 được Tòa thánh La Mã chấp thuận Việc thờ cúng hay tôn kính tổ tiên lúc đầu chỉ được áp dụng với Công giáo miền Nam trước giải phóng (30/4/1975), đến khi đất nước thống nhất Giáo hội Công giáo Việt

Nam trở thành một và đặc biệt khi ra đời Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, vấn đề thờ cúng Tổ tiên của người Công giáo Việt mới được

phổ biến rộng rãi

Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt hay của người Công giáo đều cần đến sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng Bởi trong bối cảnh hiện nay, phong tục thờ cúng tổ tiên có dấu hiệu bị biến tướng bởi yếu tố mê tín dị đoan Nhiều quan niệm về truyền thống gia đình ít nhiều

có sự thay đổi nên việc giúp con cháu hiểu một cách sâu sắc về ý nghĩa của ban thờ gia tiên trong gia đình là một điều rất cần thiết Việc này không chỉ có tầm quan trọng đối với người Việt lương giáo mà nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với người Công giáo Việt Nam Sự phát triển của tục thờ cúng tổ tiên có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển văn hóa của nước nhà Vì vậy, nhận thức về tín ngưỡng nói chung, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên nói riêng, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Công giáo là vấn đề mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm hướng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vào

Trang 8

Thủy, tỉnh Phú Thọ) Vì vậy mà tôi chọn đề tài “Tục thờ cúng tổ tiên của

người Công giáo tại giáo họ Thủy Trạm xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, với mong muốn làm sáng tỏ

phần nào vấn đề liên quan đến tục thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Qua

đó có thể thấy được quan niệm về cái chết, linh hồn, thiên đàng, địa ngục của người Công giáo

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề thờ cúng tổ tiên đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu như:

Trong Phong tục Việt Nam (thờ cúng tổ tiên) của Toan Ánh, NXB

Khoa học xã hội, 1991 cũng dành một phần riêng viết về thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam, trong đó tác giả nêu lên quan niệm về thờ phụng tổ tiên, việc cầu cúng lễ bái, nghi thức cáo gia tiên, ngày giỗ,… Ngoài ra, tác giả cũng viết

về việc làm giỗ của người Công giáo và người lương giáo

Trong Nghi thức và lễ bái của người Việt của Sơn Nam, NXB Trẻ Hà

Nội, 1997 cũng nêu lên được việc văn hóa Việt Nam trong ngày giỗ ông bà, trong hôn lễ, trong tang lễ,… thể hiện những khía cạnh khác nhau trong quan niệm về đạo hiếu của người Việt

Trong cuốn Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, NXB Hồng Đức,

2012 đã nêu lên phong tục truyền thống trong gia tộc của người Việt trong đó

có việc thảo hiếu của con cái với ông bà, cha mẹ và việc phụng sự tổ tiên

Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, tạp chí Văn hóa nghệ thuật, tạp chí Triết học, tạp chí

Trang 9

Nguyễn Thị Hồng Duyên 4 K37 – Lịch sử

nghiên cứu Tôn giáo,… cũng đã đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như: Phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong giai đoạn hiện nay (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 2- 2010), Thử tìm hiểu nguồn gốc tục thờ cúng tổ tiên (Tạp chí Văn hóa nghệ

thuật số 127-1995),…

Về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Công giáo cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đi vào tìm hiểu

Theo Nguyễn Đăng Duy trong “Văn hóa tâm linh” đã nêu ra việc thờ

cúng tổ tiên trong gia đình, dòng tộc; việc thờ cúng tổ tiên của cả nước Việt Nam; ý nghĩa của việc thờ cúng tổ tiên của người Việt Ngoài ra ông cũng dành một phần để nói về tâm linh trong Thiên Chúa giáo

Trong quan niệm về cái chết ông cho rằng: “Đã là tôn giáo thì phải làm cho con người theo tôn giáo yên tâm với cái chết về mặt tâm lý” [6; 286]

Ông đưa ra các quan điểm về từng tôn giáo như Đạo giáo, Nho giáo, Phật

giáo Riêng với đạo Thiên Chúa ông cho rằng: “Riêng Gia tô giáo thì cho cái chết là lên thiên đàng xa xôi mờ mịt” [6; 287]

Nguyễn Hồng Dương trong cuốn “Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam” đã nêu ra hai phần chính Đó là: Nghi lễ Công giáo trong

văn hóa Việt Nam và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam Trong đó ông cũng dành một phần để nói về vấn đề thờ cúng tổ tiên của người Công giáo

Ông chỉ ra trước Công đồng Vatican II Công giáo Việt Nam không chấp nhận viêc thờ cúng tổ tiên mà phải thờ phượng Thiên Chúa trên hết mọi

sự Ông cũng chỉ ra thái độ nhìn nhận và ứng xử của người Công giáo Việt Nam với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên từ buổi đầu truyền giáo đến Công đồng Vatican II và sau Công đồng Vatican II

Trang 10

Nguyễn Thị Hồng Duyên 5 K37 – Lịch sử

Hà Huy Tú trong cuốn “Tìm hiểu nét đẹp văn hóa Thiên Chúa giáo”

cũng dành ra một chương để viết về vấn đề thờ cúng tổ tiên của người Thiên Chúa giáo Ông có cái nhìn khách quan nhằm cung cấp những thông tin chính xác để nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng nhất

Ngoài ra cũng có rất nhiều các bài viết về vấn đề thờ cúng tổ tiên của người Công giáo được đăng trên các Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí

Dân tộc học như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với người Công giáo Đồng Nai (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5-2012), Một số vấn đề về hội nhập nghi lễ Công giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt hiện nay (Tạp chí

Nghiên cứu Tôn giáo số 12-2011),…

Tuy nhiên, trong các cuốn sách này, các tác giả mới chỉ ra việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo một cách chung chung mà chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở một địa phương cụ thể Từ đó chưa nêu lên được nét đặc trưng riêng biệt trong nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở từng địa phương, từng vùng miền

3 Mục đích, Nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Tìm hiểu về nguồn gốc, bản chất và hoạt động thờ cúng tổ tiên của tín

đồ Công giáo tại giáo họ Thủy Trạm xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ và nét đặc trưng của hoạt động thờ cúng tổ tiên ở giáo họ hiện nay

Nhiệm vụ

- Nêu bản chất, ý nghĩa của tục thờ cúng tổ tiên của người Việt

- Nêu lên được đặc điểm của tục thờ cúng tổ tiên của người Công giáo tại giáo họ Thủy Trạm Từ đó nêu lên sự tương đồng, khác biệt giữa tục thờ cúng

tổ tiên của người Công giáo và người Việt lương giáo

Trang 11

Phương pháp nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này tôi sử dụng kết hợp các phương pháp: logic

và lịch sử, thu thập và phân tích tài liệu, phương pháp xã hội học, quan sát từ thực tế đời sống, so sánh, đối chiếu Những phương pháp này giúp tôi có cái nhìn khách quan, chính xác hơn về vấn đề

huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ từ sau Thư chung 1980 của Hội đồng Giám

mục Việt Nam đến năm 2014

Trang 12

Nguyễn Thị Hồng Duyên 7 K37 – Lịch sử

Chương 2: Tục thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở giáo họ Thủy Trạm xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Trang 13

Nguyễn Thị Hồng Duyên 8 K37 – Lịch sử

Chương 1 TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO

Ở VIỆT NAM

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT 1.1.1 Nguồn gốc, bản chất của tục thờ cúng tổ tiên

Tổ tiên và tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên

Thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng mang tính lịch sử xã hội tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nó nhắc nhở thế hệ những người đang sống phải nhớ đến nguồn, phải biết kính trọng phụng dưỡng ông

bà, cha mẹ lúc sinh thời và thờ phụng khi mất Nét đẹp trong tư tưởng của hiện tượng này giúp nó trở thành đạo lý, nét đẹp văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc, ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của con người Ở Việt Nam, hiện tượng này trở thành một phong tục quan trọng trong cuộc sống của người dân Việt

Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùng huyết thống nhưng đã qua đời như cụ, kỵ, ông bà, cha mẹ… những người có công sinh thành nuôi dưỡng và có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của thế hệ con cháu đang sống

Thờ cúng Tổ tiên là hoạt động các có ý thức của con người nhằm thể hiện tình cảm biết ơn, hướng về cội nguồn của những người đang sống

Thờ là yếu tố thuộc về ý thức của con người về việc tưởng nhớ, biết ơn hướng về cội nguồn, quá khứ Cơ sở của sự hình thành ý thức về tổ tiên là niềm tin rằng linh hồn tổ tiên còn sống có thể che chở, phù hộ độ trì cho con cháu

Cúng là yếu tố mang tính nghi lễ, là việc thực hành một loạt các động tác (khấn, quỳ, vái, lạy,…) của người sống đối với người đã qua đời trong gia

Trang 14

Thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng mà thông qua nghi lễ thờ cúng nhằm xác lập “mối liên hệ” giữa người sống với người chết, giữa người thế giới hiện tại và thế giới tâm linh Là sự thể hiện quan niệm về nhân sinh của

người Việt Nam: Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn Nếu như tôn giáo

thường tuyệt đối hóa đời sống tinh thần, hướng con người về thế giới siêu thoát, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tuy có hướng con người về với quá khứ, song lại rất coi trọng hiện tại và tương lai Người Việt nghĩ rằng người chết vẫn còn quanh quẩn đâu đó trên trần thế này mặc dù mắt thường không nhìn thấy Người quá cố có thể nhận biết được tư tưởng của người đang sống cần

gì Ngược lại, người còn sống cũng muốn làm cho người đã khuất có được nhu cầu như khi còn sống

Nói theo cách khác, tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên là quan niệm

về sự tồn tại của linh hồn và mối liên hệ giữa người đã chết và người sống (cùng chung huyết thống) bằng con đường hồn về chứng kiến, theo dõi hành

vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ

Nguồn gốc, bản chất của tục thờ cúng Tổ tiên

Tục thờ cúng Tổ tiên có cơ sở tồn tại vững chắc trong xã hội Việt Nam truyền thống Trong xã hội nguyên thủy ý niệm về tổ tiên là tổ tiên Tô - tem giáo của thị tộc, bộ lạc Đó là những vật trong tự nhiên có mối quan hệ mật thiết với con người và được thần thánh hóa, thiêng liêng hóa trở thành vật tổ

Trang 15

Nguyễn Thị Hồng Duyên 10 K37 – Lịch sử

của thị tộc, bộ lạc Thời kỳ xã hội phụ hệ, tổ tiên là những người đứng đầu thị tộc, bộ lạc như tù trưởng, thủ lĩnh,… Tổ tiên trong xã hội có giai cấp là những người giữ địa vị chủ gia đình, gia tộc đã mất

Trong quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm Tổ tiên không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, dòng tộc mà đã mở rộng phạm vi ra toàn cộng đồng, xã hội Tổ tiên có thể là những người có công tạo dựng nên cuộc sống hiện tại như Thành hoàng làng, các vị tổ nghề… hay những người có công trong việc chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, lập nên quốc gia dân tộc như Trần Hưng Đạo… người có vai trò trong đời sống tâm linh của người Việt như mẫu Liễu Hạnh nên người Việt Nam thường có câu: “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” Tổ tiên trong tín ngưỡng của người Việt còn là mẹ Âu

Cơ – người sinh ra các dân tộc Việt Nam, vua Hùng – vị vua khai quốc của dân tộc Việt Nam Ngày nay giỗ tổ vua Hùng đã trở thành quốc giỗ của dân tộc Việt Nam:

“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”

Niềm tin đó trở thành sợi dây liên kết mọi người dân Việt Nam, tạo nên sức mạnh cộng đồng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nguyên nhân của việc thờ cúng Tổ tiên là do niềm tin vào cuộc sống sau khi chết Con người cho rằng sau khi chết linh hồn vẫn tiếp tục sống Ý niệm về linh hồn là một yếu tố cơ bản trong ý thức về Tổ tiên và là đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Niềm tin là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng này đặc biệt phát triển trong xã hội người Việt Trong gia đình của tất cả mọi người dân Việt đều có bàn thờ Tổ tiên Cây có gốc, nước có nguồn, con người

có Tổ tiên Tổ tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình Người con có hiếu thì phải hiếu với Tổ tiên, ông bà, cha mẹ tức là nhớ

Trang 16

Nguyễn Thị Hồng Duyên 11 K37 – Lịch sử

đến nguồn gốc của mình Lúc ông bà cha mẹ còn sống thì chăm lo phụng dưỡng, khi ông bà cha mẹ mất đi phải lo việc thờ phụng để tỏ lòng thành kính biết ơn

Tục thờ cúng Tổ tiên của người Việt bắt nguồn từ kinh tế nông nghiệp gia đình phụ quyền Nền kinh tế truyền thống của người Việt là nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp vì vậy làng xã được hình thành từ những hộ gia đình nhỏ cùng huyết thống Bước vào chế độ thị tộc, vai trò người đàn ông trở nên hết sức quan trọng trong hoạt động kinh tế cũng như trong mọi sinh hoạt gia đình, vợ và con cái phải phục tùng cha, chồng của mình Sau này những đứa con trai lại kế tiếp ý thức về uy quyền trong gia đình nhỏ của mình, vì vậy thờ cúng tổ tiên được xác lập theo dòng họ cha được bắt đầu, người đàn ông nắm quyền về kinh tế điều hành trong gia đình thì đồng thời cũng chịu trách nhiệm chăm sóc bàn thờ Tổ tiên

Trong xã hội Việt cha mẹ chưa lo được cho con trai ba việc lớn là mẫu ruộng, dựng nhà, lấy vợ thì cha mẹ nhắm mắt chưa yên Bởi vậy trong dân

gian có câu: Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển Cũng chính vì lý do đó

người Việt đối với cha mẹ tôn khi sống, thờ khi chết, cứ như vậy từ đời này qua đời khác lòng tôn kính của con cháu với ông bà cha mẹ trở thành tập tục, dần hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên trong xã hội người Việt

Tục thờ cúng Tổ tiên phát triển nhờ vào sự truyền bá Nho giáo vào nước ta với chữ hiếu được đề cao thành đạo Hiếu, cùng với nội dung chữ hiếu trong Nho giáo đã làm cho thờ cúng tổ tiên của người Việt trở nên có triết lý hơn Dân gian Việt Nam có câu “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn” là để khẳng định điều đó Với tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên chữ Hiếu không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà trở thành nghi thức, tập tục được truyền từ đời này sang đời khác Trong tín ngưỡng này, yếu tố đạo lý và yếu tố tín ngưỡng quyện chặt không rời Xét về mặt đạo lý, có thể thấy thờ cúng tổ tiên

Trang 17

Thờ cúng tổ tiên mang ý nghĩa là một tín ngưỡng bởi ở đó có niềm tin thiêng liêng vào linh hồn ông bà tổ tiên, coi họ như vị thần hộ mệnh Trong

“Việt Nam phong tục” Phan Kế Bính viết: “Xét cái tục phụng sự tổ tiên của

ta là rất thành kính, ấy cũng là một lòng bất vong bản, ấy cũng là nghĩa vụ của con người” [4; 22]

Như vậy có thể hiểu tục thờ cúng tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, là một loại hình tín ngưỡng dân gian được hình thành từ thời nguyên thủy với niềm tin thiêng liêng vào sự che chở, phù hộ của ông bà tổ tiên khi chết đối với con cháu Từ lâu thờ cúng tổ tiên ông bà đã trở thành một phong tục,

là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người, đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam

1.1.2 Biểu hiện của tục thờ cúng tổ tiên

Người Việt Nam cho rằng thờ cúng tổ tiên là sợi dây liên kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, vì vậy việc lập bàn thờ và thờ cúng tổ tiên mang ý nghĩa vô cùng thiêng liêng Cách bài trí bàn thờ hay nghi thức cúng lễ đặc biệt trong ngày giỗ hay ngày tết rất được coi trọng và được người dân tổ chức chu đáo và long trọng

Một trong những hình thức để biểu lộ sự tôn kính tổ tiên là việc săn sóc

mộ phần của tổ tiên Người Việt xưa có câu: “sống về mồ về mả, ai sống về

cả bát cơm”, bởi thế mồ mả rất quan trọng, là nơi yên nghỉ cuối cùng của

Trang 18

Nguyễn Thị Hồng Duyên 13 K37 – Lịch sử

người quá cố Khi người ta chửi rủa nhau “mả cha, mả mẹ mày” là sự xúc phạm ghê gớm Trong thờ cúng tổ tiên mồ mả là biểu tượng thiêng liêng không thể tách rời Từ ý niệm thiêng liêng đó con cháu ra sức xây dựng mộ

tổ, người sống lo cho người chết mồ mả càng to càng đẹp bao nhiêu thì tâm linh người sống càng được mãn nguyện bấy nhiêu Hằng năm ngày hết tết đến con cháu đi tảo mộ, đắp mộ thắp nhang mời ông bà về ăn tết, trong gia đình

có chuyện gì không hay người ta nghĩ ngay đến việc động mồ động mả phải

sửa lễ tạ Ngoài ra, “ngày Thanh Minh con cháu cũng đi tảo mộ mang theo vàng hương cắm đốt trước mộ Nếu mộ sụt thì đắp lại.” [2, 28]

Bàn thờ tổ tiên được coi là một yếu tố không thể thiếu trong tục thờ cúng tổ tiên Từ xưa đến nay, bất kể giàu nghèo trong mỗi gia đình người Việt đều có bàn thờ tổ tiên Bàn thờ tổ tiên là không gian thiêng liêng để các thành viên trong gia đình thể hiện gửi gắm lòng tưởng nhớ, biết ơn đến tổ tiên Bàn thờ tổ tiên là nơi tổ tiên “đi”, “về” và ngự trên đó Bàn thờ tổ tiên thường được lập cố định ở nơi cao ráo, sạch sẽ và là nơi trang trọng nhất trong gia

đình, gian chính giữa của nhà trên “Điều quan trọng hàng đầu trên bàn thờ

tổ tiên là xác lập linh vị theo triết lý 5 đời thờ cúng Tự mình là con tính ngược lên bốn đời nữa.” [6, 192]

Việc trang trí bàn thờ gia tiên thường không hoàn toàn giống nhau phụ thuộc vào quan niệm tâm linh và điều kiện kinh tế của gia chủ Nhìn chung, một bàn thờ gia tiên được chia làm ba lớp:

 Lớp ngoài cùng là chiếc phản để mọi người đến lễ, không có phản thì

để trống nền nhà để khi cần thì bày ghế hay trải chiếu

 Lớp thứ hai là hương án trên đặt đồ tam sự hay ngũ sự, bình hương, đèn, ống hương, mâm bồng,… nhà khá giả còn có đôi hạc nhỏ bằng đồng Hương án này là nơi khi có cúng bái người ta mời các vị thần trong gia đình

về dự

Trang 19

ở giữa, hai cây đèn nến thể hiện hành hỏa Nén hương đốt lên có đủ 3 yếu tố hỏa (phần đang cháy), mộc (phần thân hương), và thổ (phần chân hương) Mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, sự chuyển hóa thể hiện ước vọng sinh sôi, phát triển [26]

Những gia đình khá giả, bộ đồ thờ là bộ ngũ sự hay thất sự Bộ ngũ sự gồm bát hương, hai cây đèn nến, lọ độc bình, mâm bồng ngũ quả, cái kỉ hay còn gọi là tam sơn gồm bộ đài ba chiếc, giữa đặt chén rượu, hai bên một bên

để đĩa trầu cau, một bên để bát nước Rượu và nước mang tính âm, hành thủy Khi thắp hương đèn nến cúng vái, âm dương hòa hợp, mọi việc tốt lành Lọ độc bình để cắm hoa, cành hoa hành mộc cắm vào nước (thủy) ý nghĩa là khai hoa, tươi tốt quanh năm Mâm bồng để đựng hoa quả thể hiện ước vọng thịnh đạt, thường cúng ngũ quả thể hiện cho ngũ hành

Đối với những gia đình có điều kiện gian thờ thường treo các bức

hoành phi như: Ẩm thủy tự nguyên (uống nước nhớ nguồn), Phúc mãn đường

(thờ cúng tổ tiên phúc đức đầy nhà)…, các câu đối như:

“Công đức bách niên duy

Tử tôn vạn đại kiếp”

Trang 20

có nhiều đốt biểu hiện cho những nấc thang phát triển Cây mía được coi là bất tử bởi ngọn mía lại sinh ra các bụi cây mía mới, nó thể hiện mong muốn cho vũ trụ được sinh sôi phát triển

Vào các ngày sóc (ngày mồng 1), ngày vọng (ngày rằm) các gia đình thường quét dọn bàn thờ gia tiên, sắm biện hương hoa, châm hương cúng lễ

Lễ vật trong những ngày này thường đơn giản, chủ yếu là hương, hoa, trái cây, tiền vàng Một số gia đình còn sắm bánh trái hoặc xôi đỗ, gà luộc để làm

lễ Những đồ cúng gia tiên bao giờ cũng mang những con số lẻ 1, 3, 5, 7

Ý thức về cội nguồn được thể hiện tập trung ở lễ giỗ Ngày giỗ chính là ngày kỉ niệm người chết đã qua đời, còn thường được gọi là kỵ nhật

Trang 21

Giỗ năm thứ hai là giỗ hết hay còn gọi là hết tang, từ năm thứ ba là giỗ thường hay gọi là cát kỵ, là ngày giỗ lành Hàng năm đến ngày người chết qua đời người ta cũng làm cúng giỗ, nhưng ngày này là giỗ chính Trước ngày giỗ chính có lễ cúng tiên thường, phải thắp hương và có bát cơm, quả trứng đặt lên bàn thờ vào buổi chiều, người ta gọi là cúng cơm tối Từ lúc cáo giỗ tiên thường cho đến hết ngày hôm sau bàn thờ lúc nào cũng phải thắp hương, bởi người ta nghĩ rằng suốt thời gian này tổ tiên được mời đã về dự cùng con cháu, vẫn ngự trên bàn thờ

“Tục ta coi tên cha mẹ rất kính trọng, hễ đọc đến thì phải kiêng” [4,

23] Người Việt từ xưa đã có tục con cháu kiêng không nói đến tên ông bà, cha mẹ Đối với các vị tổ tiên đã mất, sự kiêng tên càng được giữ gìn hơn

“Khi con cháu làm một điều gì không phải bị người khác gọi tên ông bà cha

mẹ đã khuất ra mà réo, mà chửi là một điều tủi hổ lớn lao, có thể gây nên thù oán sâu đậm được.” [2, 33] Con cháu nhỏ không được biết đến tên tổ tiên, sợ

chúng nhắc bậy bạ phạm đến các ngài, gây điều bất hiếu cho cha mẹ Khi đặt tên con, cha mẹ phải kiêng không được đặt tên của tổ tiên Việc kiêng tên này ngày nay không còn thấy ở các đô thị nhưng ở các vùng quê nhiều vùng vẫn còn giữ

1.1.3 Ý nghĩa của tục thờ cúng tổ tiên của người Việt

Tục thờ cúng tổ tiên thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của người Việt Trong gia đình họ tộc, cứ mỗi dịp giỗ ông bà tổ tiên lại là dịp để con cháu ở xa nhớ về quê hương, làng xóm, con cháu có dịp tụ họp cúng lễ,

Trang 22

Tục thờ cúng tổ tiên ca ngợi chữ Hiếu của con người, nhờ tục thờ cúng

tổ tiên mà chữ Hiếu được nâng lên thành đạo lý, thành nghi lễ ăn sâu trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam, phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Truyền thống này được Nguyễn Đình Chiểu khẳng định trong thơ Lục Vân Tiên:

“Thà đui mà giữ đạo nhà Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ” [5]

Tục thờ cúng tổ tiên còn thể hiện ý niệm trong việc liên kết cộng đồng, giữa những con người trong cuộc sống hiện tại “Anh em như thể tay chân”,

“Bà con hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”,… tình làng nghĩa xóm tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong cuộc sống Tổ tiên dù xa hay gần đều được coi là thần bản mệnh của gia đình, dòng tộc, ông bà tổ tiên can thiệp vào cuộc sống của con cháu nên con cháu vừa chịu ơn cũng vừa sợ bị quở trách Con cháu thờ tổ tiên đến đời thứ tư, vì vậy mối liên kết giữa người đã khuất, người đang sống và người đã sinh ra là rất mật thiết trở thành cốt lõi trong tâm thức người Việt Tổ tiên được con cháu còn sống tôn thờ, có trách nhiệm phải lo lắng săn sóc theo tục lệ để tổ tiên được yên vui sống ở thế giới bên kia, được về “sum họp”, “ăn uống” quây quần bên con cháu, từ đó mà che chở cho con cháu Đến lượt mình, khi về nơi chín suối lại được con cháu tôn thờ, hương khói

Đó là mối liên kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, để từ đó con người tự thấy có trách nhiệm với cuộc sống trước khi về với tổ tiên

Tục thờ cúng tổ tiên mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc Nó trở nên quen thuộc, một thông lệ đối với mỗi người dân Việt, cho nên trước mỗi chuyến đi

Trang 23

Nguyễn Thị Hồng Duyên 18 K37 – Lịch sử

xa, trước một việc trọng đại con người thường có thói quen thắp nhang khấn vái tổ tiên, mong tổ tiên phù hộ cho mọi việc được suôn sẻ, tốt đẹp Nhờ đó con người có động lực thúc đẩy bản thân làm việc tốt hơn để có thể “vinh quy bái tổ” tự hào kính báo với tổ tiên, để không phải hổ thẹn với tổ tiên Tổ tiên không chỉ là tấm gương sáng cho con cháu noi theo, hiếu đễ với tổ tiên là con cháu phải thành đạt làm rạng danh tổ tiên, gia đình, dòng tộc

Tục thờ cúng tổ tiên không chỉ được thể hiện trong việc cúng giỗ, cúng bái ngày sóc, ngày vọng mà còn thể hiện ở các phong tục liên quan trực tiếp đến cuộc đời của mỗi con người như: sinh đẻ, trưởng thành, hôn nhân, ma chay,…

Đạo lý hướng về cội nguồn, về những người có công sinh thành tạo dựng cuộc sống đối với con người Việt Nam thì đồng thời cũng là đạo lý hướng về nguồn cội chung của dân tộc Tình yêu quê hương, đất nước cũng được hun đúc từ đây, kính hiếu với tổ tiên là kính hiếu với mẹ Âu Cơ, vua Hùng “đã có công dựng nước”, lòng yêu nước, tự hào dân tộc là giá trị đạo đức, truyền thống quý báu của dân tộc, xuyên suốt từ lịch sử và là “kim chỉ nam” cho lẽ sống của con người

Như vậy, tục thờ cúng tổ tiên của người Việt trải qua quá trình hình thành và tồn tại đã góp phần tạo nên các truyền thống đạo lý của dân tộc như: lòng hiếu thảo, lòng nhân ái, tính cộng đồng,… đó là những giá trị truyền thống hết sức quý báu cần được lưu giữ và phát huy Nhất là trong xã hội hiện nay, xu thế toàn cầu hóa với nhiều mặt tích cực nhưng cũng đặt ra thách thức cho việc đồng hóa dân tộc Cùng với các yếu tố văn hóa truyền thống khác, tục thờ cúng tổ tiên góp phần gợi lại các đạo lý truyền thống cho con người Việt Nam nhằm ngăn chặn xu thế đồng hóa dân tộc

Trang 24

Nguyễn Thị Hồng Duyên 19 K37 – Lịch sử

1.2 TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO

Ở VIỆT NAM

1.2.1 Quá trình du nhập đạo Công giáo vào Việt Nam

 Đạo Công giáo

Từ Công giáo được dịch từ tiếng Latinh (Catholicus) nghĩa là Phổ quát

có xuất xứ từ nguyên ngữ Hy Lạp (Katholikós) có nghĩa là toàn thể Theo quá

trình lịch sử Giáo hội Công giáo tính từ này mang những ý nghĩa khác nhau

Ta có thể hiểu Công giáo (còn gọi là Công giáo La Mã, hay ở nước ta còn dùng từ Thiên Chúa giáo) là bộ phận quan trọng nhất của Kitô giáo (Christianism), tôn giáo độc thần và cũng là tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay

Đạo Công giáo có đấng sáng lập là Chúa Giêsu Tôn giáo này thờ Ba ngôi Thiên Chúa cùng một bản thể và uy quyền như nhau, gồm Đức Chúa Trời, Đấng cứu thế Giêsu và Chúa Thánh Thần, với hệ thống giáo lý đồ sộ và

bộ máy hết sức chặt chẽ Giáo lý của đạo Công giáo chứa đựng trong Kinh Thánh: Tân ước và Cựu ước, với tổng cộng 72 sách thánh mà Giáo hội Công giáo dạy người tín hữu phải đọc để nuôi dưỡng đời sống đức tin nhờ nghe lời Chúa mà biết sống theo đường lối của Ngài Trong giáo lý của đạo có những điều phải tin, phải giữ và có những bí tích phải chịu để được sống trong tình yêu của Chúa

Công giáo xác định nhiệm vụ của mình là truyền bá Phúc Âm của Chúa Kitô, cử hành các bí tích và thực hành bác ái

Người Công giáo có đời sống tôn giáo xuyên suốt cuộc đời của mỗi người từ khi sinh ra đến khi nhắm mắt xuôi tay Trong gia đình Công giáo khi

có một đứa trẻ được sinh ra, vài ngày sau phải đưa đến nhà thờ chịu phép Rửa tội, đây được coi là mốc đánh dấu sự ra nhập đạo chính thức của đứa trẻ Khi lớn lên, đứa trẻ phải học giáo lý để được xưng tội rước lễ lần đầu, chịu phép

Trang 25

Nguyễn Thị Hồng Duyên 20 K37 – Lịch sử

Thêm sức Đến tuổi lập gia đình phải học giáo lý Hôn nhân để lấy vợ, chồng Đến khi già yếu thì chịu phép Xức dầu thánh để chuẩn bị tâm hồn trong sạch

về với Chúa

Trong đạo Công giáo mỗi lứa tuổi, mỗi giới đều có Hội đoàn riêng Các

em thanh, thiếu niên có hội Giới trẻ, sinh viên có hội Sinh viên Công giáo,… Nam giới có hội Gia trưởng, nữ giới có hội Hiền mẫu,… có lẽ không người Công giáo nào không là hội viên của hội đoàn Công giáo Các hội đoàn này cũng có những quy định chặt chẽ, có tổ chức rõ ràng

Niềm tin tôn giáo của người Công giáo thể hiện qua các giờ kinh, các buổi chầu, buổi lễ, qua các lớp học giáo lý Niềm tin này chi phối đến mọi suy nghĩ, hành động của mỗi giáo dân Người Công giáo thường sống vị tha, hòa đồng, ôn hòa, giúp đỡ mọi người; ít nói tục, nói dối vì theo trong giáo lý đây

là điều tội lỗi Người Công giáo thường đeo ảnh tượng hoặc Thánh giá như một thứ trang sức, người già thường mang theo bên mình một chuỗi tràng hạt Người Công giáo ít tin và tham dự vào các hoạt động mê tín như bói toán, lên đồng, xem ngày, xem tuổi,… Đối với các vị chức sắc trong tôn giáo, giáo dân rất kính trọng và gọi họ là cha Các vị này được coi là người thay mặt Chúa chăn dắt “con chiên” của Chúa, trong gia đình có gì ngon họ đều để một phần đem biếu “cha”

Hôn nhân Công giáo được coi là sự tác hợp của Thiên Chúa dành cho con người nên “loài người không được phân ly”, vì vậy những người Công giáo đã lập gia đình rất ít khi có sự ly hôn hay ly thân Gia đình công giáo gắn

bó với nhau bằng hôn nhân và quan hệ huyết thống, mỗi gia đình Công giáo được coi là một Hội thánh thu nhỏ Người Công giáo có nếp sống cộng đoàn hết sức đậm nét, người dân sống vì việc chung của cả Giáo hội, có khi việc của Giáo hội, của nhà thờ còn quan trọng hơn việc của gia đình Người Công giáo có câu: “mùng một tết Cha” nghĩa là mồng một đi lễ đầu năm mới xong

Trang 26

 Sự du nhập đạo Công giáo vào Việt Nam

Công giáo được truyền bằng nhiều con đường từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp hay từ Ma Cao vào Việt Nam

“Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn viết “Gia Tô: Theo sách Dã lục (một loại dã sử), thì ngày, tháng

3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1553), đời Lê Thánh Tông người Tây Dương tên

là Ynêxu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân và xã Trà

Lũ huyện Giao Thủy ngấm ngầm truyền giáo về Tả đạo Gia Tô.” [8, 26]

Theo như nhiều nhà nghiên cứu thì giáo sử Công giáo lấy năm 1533 làm mốc đánh dấu việc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam Các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộc Bồ Đào Nha và dòng Đa Minh thuộc Tây Ban Nha đóng vai trò chủ yếu đã đi theo các thuyền buôn vào Việt Nam vào thời kỳ 1533 đến

1614 Từ 1613 đến 1645 các giáo sĩ dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma Cao (Trung Quốc) vào Việt Nam, mở rộng phạm vi hoạt động cả ở đàng Trong và đàng Ngoài

Người tín hữu Việt Nam đầu tiên được nhiều người công nhận là Đỗ Hưng Viễn làng Bồng Trung, Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) Dựa vào gia phả họ Đỗ,

có lẽ ông đã chịu phép rửa tội, nhân một chuyến đi sứ đến Ma Cao thời vua

Lê Anh Tông

Trong hàng ngũ quý tộc phong kiến người theo đạo đầu tiên được giáo

sử nhắc đến là công chúa Ngọc Hoa Công chúa xin rửa tội vào ngày 22/5/1591, lấy tên thánh là Maria [8]

Trang 27

Nguyễn Thị Hồng Duyên 22 K37 – Lịch sử

Năm 1659 Tòa thánh ban hành sắc chỉ thành lập hai giáo phận đầu tiên

ở Việt Nam: địa phận Đàng Trong và địa phận Đàng Ngoài, dựa theo ranh giới do Trịnh - Nguyễn phân tranh

Thế kỷ XVII công cuộc truyền giáo đạt được những kết quả đáng chú ý như: tháng 3/1668 tại Thái Lan hai linh mục đầu tiên của người Việt ở Đàng Trong được phong chức là Joseph Trang và Luca Bền Đến tháng 6 hai linh mục ở Đàng Ngoài cũng được phong chức là Benedito Hiển và Gioan Huệ Tháng 2/1670 họp công đồng Đàng Ngoài và thành lập dòng Mến Thánh Giá – là dòng tu địa phận đầu tiên ở Việt Nam Công giáo Việt Nam bắt đầu phân định giáo xứ và đi vào hoạt động, trên cơ sở kết quả đạt được năm 1679 Tòa thánh chia địa phận Đàng Ngoài thành hai: địa phận Tây và địa phận Đông Đàng Ngoài

Trong 3 đời vua của triều Nguyễn là Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức

có tất cả 14 sắc chỉ cấm đạo Công giáo thời điểm trước và sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta

Sau hơn 400 năm truyền đạo Thiên Chúa, năm 1933, Tòa thánh Vatican mới trao quyền tự quản cho Giáo Hội Việt Nam Người Việt Nam đầu tiên được phong làm Giám mục là JB Nguyễn Bá Tòng Năm 1960, hàng Giáo phẩm Việt Nam được thiết lập Giáo hội Công giáo Việt Nam chia làm 3 Giáo tỉnh: Hà Nội – Huế - Sài Gòn với 3 vị Tổng giám mục là người Việt Nam phụ trách với 25 giáo phận 25 Tòa giám mục Việt Nam từ “hiệu hòa” được nâng lên thành “Chính tòa” Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất, từ 1976 lần lượt 3 vị Hồng y được tấn phong là Trịnh Như Khuê (1976), Trịnh Văn Căn (1980), Phạm Đình Tụng (1995) Năm 1980, Hội đồng Giám mục Việt Nam chung cho cả nước được thành lập Hội đồng Giám mục

Việt Nam đã họp và đề ra Thư chung mục vụ 1980 đề ra đường hướng mục vụ

là “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” để phục vụ hạnh phúc của đồng bào Sự

Trang 28

Nguyễn Thị Hồng Duyên 23 K37 – Lịch sử

kiện này đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của Giáo hội Công giáo Việt Nam: Hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo Việt Nam

Đến nay, Công giáo có 26 giáo phận, 6.2 triệu tín đồ, 6.270 cơ sở thờ

tự, 20.000 chức sắc, 06 Đại chủng viện và 02 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo

Trên đây là nét khái quát về tình hình truyền bá Công giáo vào Việt Nam Tính từ 1533 thì Công giáo Việt Nam đến nay đã có trên 400 năm Quá trình truyền bá ấy có lúc gặp khó khăn tuy nhiên vượt qua những khó khăn, kì thị của chính quyền phong kiến, Công giáo vẫn có chỗ đứng, giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Việt

1.2.2 Tục thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở Việt Nam

 Sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa của đạo Công giáo với tín

ngưỡng bản địa Việt Nam

Khi Công giáo được truyền bá vào Việt Nam thì nước ta đã có nền văn hóa bản địa phát triển hàng nghìn năm Với cơ tầng của nền văn hóa bản địa người Việt đã xây dựng nên nền văn hóa hết sức đa dạng với các loại hình tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu đời và các tín ngưỡng bản địa như: thờ thần, thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên,… Những giáo dân Công giáo người Việt là những người được sinh ra, lớn lên và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Việt, vì vậy dù theo Công giáo nhưng những tín đồ này vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Việt và bị nền văn hóa này chi phối trong đời sống tôn giáo

Tục đón tết Nguyên đán

Đây là tục lệ lâu đời của người Việt, thường tổ chức tế lễ giao thừa ở đình làng, đó là nghi lễ tế trời đất trong thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới Dịp tết đầu xuân là dịp người Việt họp mặt gia đình, cúng bái tổ tiên, họ tộc

Trang 29

Nguyễn Thị Hồng Duyên 24 K37 – Lịch sử

Người Công giáo có cách đón tết riêng của họ Trong ba ngày Tết thì:

Mồng một “KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA CHA CẦU BÌNH AN CHO NĂM MỚI”; mồng hai “KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA CON KÍNH NHỚ TỔ TIÊN VÀ ÔNG BÀ CHA MẸ”; mồng ba “KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN THÁNH HÓA CÔNG ĂN VIỆC LÀM” [32] Trong đêm giao thừa có dâng

thánh lễ Giao thừa để cảm ơn Chúa trong một năm vừa qua

Tục thờ thần

Đời sống tâm linh của người Việt không những chịu ảnh hưởng của Tam giáo mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tín ngưỡng thờ Thần Khi Tam giáo vào Việt Nam thì hệ thống các vị thần được thờ trở nên đa dạng hơn, chính vì vậy tâm thức thờ thần đã ảnh hưởng sâu đậm vào Tam giáo Khi

đi vào dân gian Tam giáo dần bị dân gian hóa để hình thành Phật giáo, Đạo giáo dân gian

Công giáo là một tôn giáo độc thần nhưng khi truyền vào Việt Nam cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ thần của người Việt

Thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng có từ lâu đời của người Việt, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo và đặc biệt là Đạo giáo Ở Việt Nam, sự phát triển của tín ngưỡng này gần như được coi là một tôn giáo – Đạo Mẫu

Trong các vị Thánh mà người Công giáo tôn kính có thánh nữ Maria Theo quan niệm giáo lý của đạo Công giáo, Đức Maria và các thánh không ban ơn cho giáo dân chỉ giữ vai trò trung gian “cầu bầu cùng Đức Chúa Trời” cho các tín đồ mà thôi Song cùng với thời gian việc tôn kính thánh nữ Maria dần chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở các phương diện: Tên gọi, quyền năng và nghi thức thờ cúng

Trang 30

Về nghi thức thờ cúng: Giáo hội Công giáo chọn tháng 5 là tháng Dâng

hoa kính Đức Mẹ “Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của

Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của mẹ chúng ta” [32; 59] Trong tháng kính Đức Mẹ này các

giáo dân phải đọc kinh Cầu Đức Bà, kinh Lạy Nữ Vương, và kinh Hãy Nhớ Trong tháng này các xứ đạo, họ đạo tổ chức đi kiệu, rước hoa dâng kính Đức

Mẹ Tháng 8 là tháng kính Trái tim Đức Mẹ, tháng 10 là tháng Mân Côi Đức

Mẹ, các xứ họ tổ chức rước kiệu kính Đức Mẹ Ngoài ra trong Giáo Hội Công giáo còn có các ngày lễ kính Đức Mẹ: Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời (15/8), Lễ Đức Maria vô nhiễm nguyên tội (8/12),… Cùng với niềm tin và sự ảnh hưởng của sự tôn kính Đức Maria nhiều nhà thờ họ đạo, xứ đạo đã lấy Đức Maria làm tước hiệu cho nhà thờ giáo họ, giáo xứ như: nhà thờ Ngô Xá (Cẩm Khê, Phú Thọ) lấy tước hiệu Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, nhà thờ Thủy Trạm (Sơn Thủy, Thanh Thủy, Phú Thọ) lấy tước hiệu là Đức Mẹ Sầu Bi, nhà thờ Tuyên Quang ( P Minh Xuân, Tuyên Quang, Tuyên Quang) lấy tước hiệu là Đức

Mẹ Mân Côi,…

Thờ thánh

Ngoài việc tôn kính thánh nữ Maria thì Giáo Hội Công giáo còn tôn thờ các vị thánh khác

Thánh quan thầy: Theo quan niệm của người Công giáo, thánh quan

thầy là vị thánh “bảo trợ”, quan phòng bảo vệ, nâng đỡ, hướng dẫn đời sống một giáo dân hoặc cộng đồng giáo dân trong một giáo họ, giáo xứ Trong đời sống của một làng Công giáo thánh quan thầy được coi trọng và có vai trò

Trang 31

Nguyễn Thị Hồng Duyên 26 K37 – Lịch sử

như Thành hoàng làng của người lương giáo, lễ quan thầy của giáo họ, giáo

xứ được tổ chức long trọng, ở một số giáo họ, giáo xứ có cả tổ chức tiệc ăn uống của cộng đồng giáo dân trong họ đạo, xứ đạo Hình thức tổ chức lễ quan thầy của giáo họ, giáo xứ như tổ chức một hội làng Các thánh quan thầy có thể là các vị tông đồ của Chúa Giêsu, cũng có thể là các thánh nam và các thánh nữ trong hệ thống các vị thánh của đạo Công giáo

Thánh tử đạo: thánh tử đạo là những giáo dân, giáo sĩ, tu sĩ chịu chết để

giữ đạo, đặc biệt là trong thời kỳ nhà Nguyễn cấm đạo Trước 1988 tòa thánh Vatican đã phong chân phúc tử đạo cho một số người chịu chết để giữ đạo Năm 1988, tòa thánh Vatican phong 117 chân phúc lên hàng Hiển thánh Khi những người tử đạo được được phong thánh thì xuất hiện các nhà thờ, xứ đạo tôn kính họ Các thánh được đắp tượng, vẽ ảnh, xây dựng các đền Thánh thờ

họ Tiêu biểu trong các vị thánh được tôn thờ ở miền Bắc là cha thánh Phêrô

Lê Tùy Đền thờ Cha Tùy được xây dựng ở Bằng Sở quê hương của ngài, đền thờ rất linh thiêng, hằng năm có hàng nghìn người cả giáo dân và người lương giáo đến đền thánh cha để cầu xin Hay nhà thờ Hoàng Xá (Thanh Thủy, Phú Thọ) cũng lập một đền thờ thánh Cha Tùy, và một đền thờ thánh Cần (hài cốt ngài được thờ là một đốt xương ngón tay), giới trẻ giáo xứ Hoàng Xá nhận thánh Cần làm quan thầy Việc tôn thờ các thánh tử đạo giống như việc người lương giáo tôn thờ các vị anh hùng có công đối với đất nước, dân tộc Họ có thể ban ơn, giáng phúc cho giáo dân giống như những phúc thần của người lương giáo

Thờ cúng tổ tiên

Trước năm 1939 ở Việt Nam giáo dân bị cấm không được thờ cúng Tổ tiên, nhưng do tâm thức bản địa của người dân Việt một số giáo dân vẫn lén

lút tiến hành thờ cúng tổ tiên Đến năm 1964, đặc biệt là sau Thư chung 1980

thì việc thờ cúng Tổ tiên mới được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam Giáo hội

Trang 32

Nguyễn Thị Hồng Duyên 27 K37 – Lịch sử

dành riêng tháng 11 cầu cho các linh hồn, con cháu đọc kinh, tham dự thánh

lễ cầu nguyện cho ông bà tổ tiên Việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo tuy hình thức khác nhưng đều mang ý nghĩa nhớ về cội nguồn tổ tiên giống như của người Việt lương giáo

 Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Công giáo ở Việt Nam

Người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng rất trọng chữ Hiếu Dù theo tôn giáo nào, người Việt cũng được nuôi dưỡng trong cách sống hiếu nghĩa Ngay từ nhỏ người Việt Nam đều được dạy:

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Những câu dạy trên đều nói đến công lao to lớn của cha mẹ đối với con cháu, phận làm con phải biết phụng dưỡng, tôn kính cha mẹ, ông bà tổ tiên

Ở nước ta, thờ cúng tổ tiên như một phong tục truyền thống, đồng thời cũng như một đạo lý làm người, trở thành hình thức sinh hoạt tâm linh không thể thiếu trong mỗi gia đình người Việt

Đối với những người theo đạo Công giáo thì việc thờ kính tổ tiên gặp không ít những khó khăn trên bước đường hội nhập với văn hóa dân tộc Trong một thời gian khá dài, Giáo hội Công giáo cấm các tín đồ của mình không được thờ cúng tổ tiên Nguyên nhân của việc phủ nhận thờ tổ tiên là do: Vào thời kỳ đầu các nhà thừa sai đến Trung Hoa và Việt Nam, thì chưa hiểu truyền thống văn hóa ở đây, nên coi nghi thức cúng bái ông bà tổ tiên như một thứ tôn giáo, trong đó người ta thờ cúng người chết, nên đã yêu cầu Giáo hoàng ra sức chỉ cấm việc thờ cúng này… Sự ngộ nhận đáng tiếc này chủ yếu là do các nhà truyền giáo phương Tây đồng hóa thuật ngữ “Thờ kính” của ta với thuật ngữ “tôn giáo” ở phương Tây Các thừa sai còn sợ các tín đồ

“rối đạo” nên đã cách ly lương giáo lập ra các làng Công giáo, chỉ để người Công giáo tiếp xúc với nhau Họ còn cấm các tín đồ, linh mục tham dự những

Trang 33

Nguyễn Thị Hồng Duyên 28 K37 – Lịch sử

nghi lễ của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cho rằng tất cả điều đó thực ra là trò

mê tín dị đoan, trò “ma quỷ”

Một lý do khác nữa là vấn đề độc nhất tôn thờ, người ta chỉ căn cứ vào

điều răn thứ nhất của Công giáo quy định là “phải thờ phụng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự” [33] Theo quan niệm này, các tín đồ phải coi

Chúa Trời là thiêng liêng nhất, bởi lẽ Thiên Chúa là đấng tạo ra mọi loài, tạo

ra con người, là người đã phái Chúa Giêsu xuống cứu chuộc con người khỏi tội lỗi đã mắc phải Con người sau khi chết sẽ được về với Chúa, linh hồn sẽ rời khỏi thân xác đến trước tòa Thiên Chúa chịu phán xét về những tội, phúc tùy theo việc lành dữ đã làm khi còn sống

Vấn đề nổi bật trong quan hệ giữa văn hóa dân tộc với Công giáo là sự mâu thuẫn giữa một bên là truyền thống thờ cúng tổ tiên với một bên là sự độc nhất tôn thờ của Công giáo Ngay chính linh mục A.de Rhodes cũng đã

kể lại trong cuốn “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài” những trường hợp về

một ông quan, một ông thầy thuốc từng được ông thuyết phục sẵn sàng chịu phép rửa tội để theo Kitô giáo sẵn sàng “từ bỏ hết mọi mê tín dị đoan” nhưng khi DeRhodes yêu cầu họ phá bỏ bàn thờ tổ tiên thì, theo lời De Rhodes họ

“không thể chấp nhận được”… Không chỉ việc thờ cúng tổ tiên, ngay cả Tam giáo – cả Nho, cả Phật, cả Đạo – đều bị các giáo sĩ coi là “mê tín dị đoan” và phủ nhận [30; 561]

Vấn đề thờ cúng tổ tiên của Công giáo tại Việt Nam nói riêng, ở phương Đông mà chủ yếu là Trung Quốc kéo theo sự quan tâm của các vị Giáo Hoàng, với những cuộc tranh luận giữa các thừa sai thuộc các dòng truyền giáo khác nhau Giáo Hoàng Clemente XI (1700 – 1721) đã tổ chức hội nghị gồm hai vị Giám mục truyền giáo ở Trung Hoa, các đại diện dòng Tên, dòng Đa Minh, cùng các giáo sĩ truyền giáo khác Hội nghị đưa ra quy định của Tòa Điều tra với 4 nội dung:

Trang 34

Nguyễn Thị Hồng Duyên 29 K37 – Lịch sử

1 Cấm dùng chữ THIÊN hoặc THƯỢNG ĐẾ để chỉ Thiên Chúa

2 Cấm treo trong thánh đường những tấm bảng có ghi hai chữ KÍNH THIÊN

3 Cấm cúng tế Khổng Tử, ông bà, cha mẹ

4 Cấm đặt bài vị trong nhà riêng

Nghị quyết này được Giáo Hoàng chấp nhận trong Tông hiến đề ra ngày 20/11/1704, Giáo Hoàng buộc các giám mục, linh mục ở các dòng truyền giáo đều phải tuân theo, không được có bất kỳ sự khiếu nại nào [8; 203]

Như vậy, Giáo hội Công giáo đã đưa ra những quy định rõ ràng về việc cấm tín đồ không được thờ cúng tổ tiên, từ đó không được thực hiện những nghi lễ liên quan đến họ tộc, không có cúng giỗ Sự định kiến như vậy kéo dài hàng thế kỷ làm cho người Công giáo dễ đi đến tình trạng sống biệt lập với cộng đồng, làng xóm ảnh hưởng đến lối sống dòng tộc truyền thống của người Việt

Vào nửa đầu thế kỷ XX với Huấn dụ: Plane Compertun est của Thánh

bộ Truyền giáo La Mã, được Giáo hoàng Pie XII chấp nhận ngày 7/12/1939

và được công bố sau đó một ngày 8/12/1939 Huấn dụ này bãi bỏ hai Tông chiếu ban bố thời Giáo hoàng Clemente XI và Giáo hoàng Benedito XIV Sau

đó, Giáo hoàng Pie XII ban hành sắc lệnh Summi Portificantus công nhận

những nghi lễ thờ cúng tổ tiên không phải là những nghi lễ đích danh tôn giáo, mà chỉ là biểu thị lòng sùng bái chính đáng với những bậc tài đức trong nước, cũng như lòng hiếu thảo với những người quá cố

Theo tinh thần Huấn dụ Plane Compertun est áp dụng ở Trung Hoa,

Hội đồng Giám mục Việt Nam xin theo và đến ngày 20/10/1964 được Tòa thánh La Mã chấp nhận

Trang 35

Nguyễn Thị Hồng Duyên 30 K37 – Lịch sử

Vấn đề thờ cúng tổ tiên được tái khẳng định trong Công đồng Vatican

II (1962 – 1965) Với Vatican II, Giáo hội từ chỗ đòi hỏi phải đồng nhất ở khắp nơi đã chuyển thành một Giáo hội hiệp nhất, một Giáo hội biết tôn trọng những sự khác biệt và các sắc thái văn hóa truyền thống của các Giáo hội địa phương Công đồng Vatican II nhấn mạnh đến sự hiệp thông với người quá

cố như sau: “Tất cả những ai thuộc về Chúa Ki Tô và lãnh nhận Thánh thần đều họp thành một giáo hội duy nhất và liên kết với nhau trong Ngài”

[Ep 4, 16] [34]

Để cụ thể hóa việc tôn kính ông bà tổ tiên trong đời sống tín đồ Công giáo, các Giám mục miền Nam trong phiên họp ngày 14/11/1974 tại Nha Trang đã đưa ra những quyết nghị cho phép người Công giáo Việt Nam quyền được tổ chức và tham dự nghi lễ tôn kính tổ tiên như sau:

1 Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan như hồn bạch,…

2 Việc đốt nhang, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo, tôn kính được phép làm

3 Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ” trong gia đình theo phong tục của địa phương miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín như đốt vàng mã… được phép dâng những lễ vật biểu dương đúng ý nghĩa thành kính, biết ơn ông bà như dâng hoa trái, hương đèn

4 Trong hôn lễ, dâu rể được làm lễ tế, lễ gia tiên ở trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với ông bà

5 Trong tang lễ được vái lạy trước thi thể người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất, cũng như

Trang 36

Nguyễn Thị Hồng Duyên 31 K37 – Lịch sử

Giáo hội cho đốt nến, xông hương nghiêng mình trước thi hài người quá cố [36; 490]

Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam được coi là cái

mốc quan trọng ghi nhận đường hướng hội nhập văn hóa dân tộc của Giáo hội Công giáo Việt Nam Thư chung này đã đề ra phương hướng “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc vì hạnh phúc của đồng bào” trong đó có đoạn ghi rằng “là Hội thánh trong lòng dân tộc Việt Nam chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mệnh quê hương noi theo truyền thống dân tộc, hòa mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước Cộng đồng dạy Hội thánh phải đồng tiến tới toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi làm con người” Theo Thư chung, Giáo hội sẽ có những thay đổi nhằm thực hiện hai nhiệm vụ cụ thể đó là “tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng Tổ quốc” và “xây dựng trong Hội thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc”

Trong tâm linh của người Công giáo Việt Nam ngoài việc thờ Thiên Chúa là đấng tạo dựng thì cũng tôn kính ông bà cha mẹ là đấng sinh thành Đây cũng là điều răn thứ tư trong những điều răn Chúa dạy con người phải

thực hiện, đó là “Thảo kính cha mẹ” [33] Đây được coi là điều răn quan

trọng nhất trong những điều răn nói về mối quan hệ giữa con người với con người

“Ngươi hãy thờ kính cha mẹ, như Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi, để được sống lâu, và để được hạnh phúc trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi.” [34]

Sau khi ba điều răn đầu tiên trong thập giới điều của Thiên Chúa đã nêu lên những bổn phận quan trọng đòi buộc con người nhất thiết phải chu toàn đối với Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa Toàn Năng, thì bảy điều răn còn lại đề

Trang 37

Nguyễn Thị Hồng Duyên 32 K37 – Lịch sử

cập tới những trách nhiệm hỗ tương giữa con người với con người trong các tương giao với nhau Bắt đầu là điều răn thứ tư, dạy con cái phải hiếu thảo và kính yêu đối với các bậc sinh thành là tổ tiên, ông bà và cha mẹ Điều này khẳng định tính chất cơ bản và trọng yếu của bổn phận thảo kính mà con cái phải có đối với cha mẹ, khi các ngài còn sống cũng như lúc đã qua đời, của đạo Thiên Chúa nói chung và của đạo Công giáo nói riêng Đồng thời điều đó cũng là một minh chứng hùng hồn phản bác lại những phê bình chỉ trích nông cạn của một số người không hiểu rõ giáo lý Công giáo nên đã hiểu lầm cho rằng đi theo đạo Công giáo là bỏ tổ tiên, bỏ ông bà và cha mẹ Ở đây bổn phận phải thảo kính cha mẹ không phải là một truyền thống tốt hay một luật

lệ đúng đắn do loài người đặt ra, mà là luật thánh do Thiên Chúa đã thiết đặt

và buộc tất cả mọi kẻ làm con phải chu toàn đối với cha mẹ mình Vì thế, điều răn thứ tư này thực sự là luật thánh, và những ai không chu toàn điều răn thứ

tư, tức không có lòng thảo kính cha mẹ, thì không những mắc tội bất hiếu đối với cha mẹ mà còn mắc tội với Thiên Chúa

“Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo Hãy tôn kính cha mẹ Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hưởng phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” [Ep 6; 1-3]

[34; 612]

Trong điều răn thứ tư còn cho những người trưởng thành biết trách nhiệm của họ đối với cha mẹ, về vật chất cũng như tinh thần khi các ngài già

yếu, bệnh tật, cô đơn hay hoạn nạn “Hỡi những người con hãy vâng lời cha

mẹ trong mọi sự, vì đó là đẹp lòng Chúa” [Cl 3; 20] [34; 635]

Giáo hội thấy rằng người Việt Nam rất coi trọng đạo hiếu nhưng đạo hiếu ở đây chỉ được hiểu là thái độ phải có đối với cha mẹ hay ông bà tổ tiên

ở mặt đất này, nhưng Giáo hội Công giáo còn có cha mẹ ở cấp cao hơn đó là cha mẹ ở trên trời, đấng sinh ra vũ trụ vạn vật mà con người có bổn phận phải

Trang 38

Nguyễn Thị Hồng Duyên 33 K37 – Lịch sử

thảo hiếu Công giáo chú trọng đạo hiếu và coi đó là nền tảng của mình nên phù hợp với tinh thần hiếu thảo của người Việt, tuy nhiên Công giáo còn giúp quan niệm về đạo hiếu của dân tộc Việt Nam trở nên rộng hơn, hoàn chỉnh hơn Nó được thể hiện qua ba chiều: đối với cha trên trời, đối với đất nước và Giáo hội, đối với cha mẹ ở dưới đất Trong đó, bổn phận với cha trên trời là căn bản nhất Trong đạo Công giáo Thiên Chúa và nhân loại như là một gia đình, trong đó Thiên Chúa là cha, nhân loại là anh em với nhau Do đó càng yêu Chúa thì con người càng phải yêu thương nhau và phải có bổn phận với cha mẹ ở mặt đất này hơn

Ngày nay, để thể hiện lòng hiếu thảo, đạo hiếu với ông bà tổ tiên các gia đình Công giáo, các tín đồ Công giáo đã và đang phát huy truyền thống tốt đẹp này, họ cùng sống và thực hành lời Chúa dạy Đó là tổ chức thánh lễ vào các ngày Giáo hội dành riêng cho việc kính nhớ tổ tiên, cầu cho các linh hồn,

và những ngày giỗ của ông bà tổ tiên

Tiểu kết chương 1

Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt là một loại hình tín ngưỡng dân gian, gắn liền với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” Đó là niềm tin ông bà tổ tiên có thể phù hộ cho con cháu, phù trợ, giúp đỡ cũng như quở trách con cháu Tín ngưỡng này đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Tín ngưỡng này mang đặc trưng, dấu ấn của xã hội phụ quyền, mang tính gia trưởng Nó được thể hiện qua quan niệm, hình thức cầu cúng của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội

Trải qua quá trình phát triển của xã hội, tín ngưỡng này cũng đã có những sự thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi của xã hội Dù là thờ cúng tổ tiên của người Công giáo hay lương giáo cũng đều mang ý nghĩa tưởng nhớ, biết ơn đến những người đã có công sinh thành, dưỡng dục con cháu Nó có vai trò gắn kết các thành viên trong gia đình, gia tộc trong mối quan hệ huyết

Trang 39

Nguyễn Thị Hồng Duyên 34 K37 – Lịch sử

thống để có thể sống sao cho không phải “hổ thẹn với tổ tiên” Đồng thời nó cũng có ý nghĩa giáo dục cho thế hệ sau về đạo lý nhớ đến nguồn cội, nhớ đến gốc rễ của mình Đặc biệt đối với người Công giáo làm những điều đó là làm đẹp lòng Chúa, là vâng theo ý Chúa, sống “tốt đời, đẹp đạo” làm rạng danh Chúa cũng như làm rạng danh gia đình, dòng tộc

Nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Công giáo đã làm phong phú thêm cho các nghi thức sinh hoạt tôn giáo, giúp cho cộng đoàn Thiên Chúa gần gũi, gắn bó hơn, hòa nhập hơn với cộng đồng làng xóm Việc tôn kính tổ tiên của người Công giáo Việt Nam đã góp phần làm đẹp thêm truyền thống văn hóa gia đình của người Việt

Trang 40

Nguyễn Thị Hồng Duyên 35 K37 – Lịch sử

Chương 2 TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở GIÁO HỌ THỦY TRẠM

XÃ SƠN THỦY, HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ

2.1 KHÁI QUÁT VỀ XÃ SƠN THỦY (huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ)

Sơn Thuỷ là một xã miền núi của huyện Thanh Thuỷ, có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.166,84 ha, với dân số là 7.531 nhân khẩu.Trong xã có 90,8% dân số theo đạo Công giáo, 5,2% theo đạo Phật, 4% không theo tôn giáo nào Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp.Trong xã có 8 khu dân cư, hình thành ở 3 thôn Thủy Trạm, Sơn Vi và Phù Lao

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Sơn Thủy là xã miền núi nằm về phía Tây – Nam tỉnh Phú Thọ cũng như của huyện Thanh Thủy Phía Đông giáp xã Bảo Yên; phía Tây giáp xã Tất Thắng huyện Thanh Sơn; phía Nam giáp xã Hoàng Xá; phía Bắc giáp thị trấn Thanh Thủy

Với diện tích đất tự nhiên là 1166,84ha – vào loại trung bình so với các

xã khác trong huyện nhưng Sơn Thủy lại có số dân đông đứng thứ ba của huyện Thanh Thủy Theo số liệu thống kê vào ngày 31/12/2011 toàn xã có 1.919 hộ, 7.159 người, mật độ dân số là 630 người/km2, cao hơn nhiều so với mật độ dân số trung bình của tỉnh Phú Thọ là 376 người/km2 Hiện tại, toàn

xã Sơn Thủy có diện tích đất canh tác là 356ha chiếm 30,5% Trong đó: diện tích màu mỡ, dễ canh tác có 341ha, chiếm 95,8%; diện tích đất lầy thụt hoặc ương điều khó canh tác, năng suất cây trồng thấp là 15ha chiếm 4,21%; còn lại là diện tích các loại đất khác [3]

Ngày đăng: 23/09/2015, 12:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12, Nguyễn Thị Đậm (2012), Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở giáo xứ Hoàng Xá tỉnh Thái Bình hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở giáo xứ Hoàng Xá tỉnh Thái Bình hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Đậm
Nhà XB: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Năm: 2012
13, Lê Đức Hạnh (2011), “Vấn đề tôn kính tổ tiên của người Việt Công giáo ở giáo họ Nỗ Lực tỉnh Phú Thọ”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 17-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn kính tổ tiên của người Việt Công giáo ở giáo họ Nỗ Lực tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Lê Đức Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 2011
15, Phạm Thị Bích Hằng (2012), “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với người Công giáo Đồng Nai”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5, 35-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với người Công giáo Đồng Nai
Tác giả: Phạm Thị Bích Hằng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Năm: 2012
16, Hội dòng nữ Đa Minh Thánh Tâm (2013), Lời Chúa trong giờ kinh gia đình, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời Chúa trong giờ kinh gia đình
Tác giả: Hội dòng nữ Đa Minh Thánh Tâm
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2013
17, Nguyễn Quang Hưng (2010), “Tư duy và lối sống của người Công giáo Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7, 45-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy và lối sống của người Công giáo Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Quang Hưng
Năm: 2010
18, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Hải Yến, Niềm tin vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và ảnh hưởng của nó đến lối sống của người dân Hà Nội trong thời kỳ hội nhập văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niềm tin vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và ảnh hưởng của nó đến lối sống của người dân Hà Nội trong thời kỳ hội nhập văn hóa
Tác giả: Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Hải Yến
19, Nguyễn Phú Lợi (2009), “Tổ chức xứ Đạo trong giáo hội Công giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, 42-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức xứ Đạo trong giáo hội Công giáo”, "Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Phú Lợi
Năm: 2009
20, Nguyễn Đức Lữ (2005), Thư chung 1980 của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Đức Lữ
Năm: 2005
21, Sơn Nam (1997), Nghi thức và lễ bái của người Việt, NXB Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi thức và lễ bái của người Việt
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1997
22, Giuse Nguyễn Trọng Pháo, Lược sử giáo họ Thủy Trạm 23, Sách lưu hành nội bộ, Niềm tin và Hy vọng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử giáo họ Thủy Trạm
Tác giả: Giuse Nguyễn Trọng Pháo
Nhà XB: Sách lưu hành nội bộ
26, Trần Đăng Sinh, Đào Đức Doãn (2009), Giáo trình Tôn giáo học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tôn giáo học
Tác giả: Trần Đăng Sinh, Đào Đức Doãn
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
27, Sử ký làng Thủy Trạm, Ry văn của cụ Chủ tháng 10/1923 đến 1926, ông Nguyễn Trọng theo chính bản sao lục và có hiệu đính, ngày 20/11/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ry văn của cụ Chủ tháng 10/1923 đến 1926
28, Sử ký làng Thủy Trạm, Hồi ký của cụ chùm Cuộc kể (20/11/1993) ông Nguyễn Trọng ghi chép lại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký của cụ chùm Cuộc kể (20/11/1993)
30, Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
31, Hà Huy Tú (2002), Tìm hiểu nét đẹp văn hóa Thiên Chúa giáo, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nét đẹp văn hóa Thiên Chúa giáo
Tác giả: Hà Huy Tú
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
32, Tòa Giám mục Hưng Hóa (2014), Lịch Công giáo năm phụng vụ 2015, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch Công giáo năm phụng vụ 2015
Tác giả: Tòa Giám mục Hưng Hóa
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2014
33, Tòa Giám mục Hưng Hóa (1996), Sách Kinh bổn, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Kinh bổn
Tác giả: Tòa Giám mục Hưng Hóa
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1996
34, Tổng tòa Giám mục Hà Nội (1997), Kinh thánh Tân ước, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh thánh Tân ước
Tác giả: Tổng tòa Giám mục Hà Nội
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1997
35, Đặng Nghiêm Vạn (1998), Về Tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
36, Văn phòng Tổng thư ký HĐGM Việt Nam (2004), Giáo hội Công giáo Việt Nam, Niên giám 2004, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo hội Công giáo Việt Nam, Niên giám 2004
Tác giả: Văn phòng Tổng thư ký HĐGM Việt Nam
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w