Trong bối cảnh ấy, nhân dân các nước đang cùng chung tay để xây dựng một xã hội mới đạt được mục tiêu toàn cầu hóa, khát vọng được sống trong hòa bình, hữu nghị, biết yêu thương và chia
Trang 1
DƯƠNG THỊ NGỌC LINH
TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
Trang 2
DƯƠNG THỊ NGỌC LINH
TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Xuân Thanh Những kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Người cam đoan
DƯƠNG THỊ NGỌC LINH
Trang 4MỞ ĐẦU 1 Chương 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 10
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỈ XIV ĐẦU THẾ KỈ XV- CƠ SỞ KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 111.1.1 Điều kiện kinh tế Việt Nam cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV 11 1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV 22
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 361.2.1 Chủ nghĩa yêu nước truyền thống và tư tưởng thân dân trong lịch sử
tư tưởng Việt Nam – một trong những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng về
dân của Nguyễn Trãi 37
1.2.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho – Phật – Lão đến sự hình thành tư tưởng
về dân của Nguyễn Trãi 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 64
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI , GIÁ TRỊ
VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG ĐÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN,
VÌ DÂN 67
2.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 67 2.1.1 Quan niệm về dân và vai trò, vị trí của dân trong tư tưởng của Nguyễn Trãi 67 2.1.2 Quan điểm của Nguyễn Trãi về an dân và thân dân 80
Trang 52.2.1 Những giá trị lịch sử trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi…………88 2.2.2 Những bài học lịch sử rút ra từ tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân 103
Kết luận chương 2……… 117 KẾT LUẬN CHUNG……… 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 122
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây tình hình thế giới có nhiều biến động Biểu hiện của sự biến động đó chính là những cuộc nổi dậy, bạo loạn của những phần
tử mang tư tưởng cực đoan, khủng bố, chiến tranh sắc tộc, chạy đua vũ trang kéo loài người vào một cơn lốc bạo lực mới Trong bối cảnh ấy, nhân dân các nước đang cùng chung tay để xây dựng một xã hội mới đạt được mục tiêu toàn cầu hóa, khát vọng được sống trong hòa bình, hữu nghị, biết yêu thương và chia sẽ lẫn nhau, hợp tác cùng phát triển.Trong xu thế toàn cầu hóa trên đây, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam có những điều kiện phát triển về tiềm lực con người và những tiềm lực khác tạo điều kiện cho sự phát triển về mọi mặt trong đời sống Những năm vừa qua, tình hình thực tế tại Việt Nam cũng cho chúng ta thấy được quá trình xây dựng, phát triển đất nước dù đạt được những thành tựu to lớn nhưng vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, bất cập và những hạn chế Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta chỉ rõ “Bộ máy quản lý Nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm ở một số bộ phận công chức, nhất là ở những cơ quan trực tiếp giải quyết công việc của dân và doanh nghiệp, chậm được khắc phục.” [21, 64] Vì vậy, cùng với việc phát triển kinh tế, xã hội chúng ta cần phải xây dựng một nhà nước vững mạnh gắn liền với ý chí và nguyện vọng của nhân dân, đảm bảo được quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân nhằm phát huy sức mạnh toàn dân đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước Để làm được điều đó, chúng ta cần phải tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lí luận, trong đó có việc kế thừa những
Trang 7tinh hoa văn hóa nhân loại nói chung và giá trị tư tưởng của dân tộc nói riêng
Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc ta cho thấy, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã phải đương đầu với những thế lực hùng mạnh Đó chính là lí do làm nên sự đoàn kết dân tộc ta thành một khối thống nhất; và, từ trong những cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước đã xuất hiện những vị anh hùng kiệt xuất, những nhà tư tưởng lỗi lạc Tuy tư tưởng của họ chưa được trình bày một cách hệ thống nhưng đã có những giá trị Trong các nhà tư tưởng kiệt xuất đó, Nguyễn Trãi (1380 – 1442) nổi lên
“như một ngôi sao Khuê”, một nhà chính trị thiên tài của thế kỉ XV
Nguyễn Trãi đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam với tư cách là một anh hùng cứu nước vĩ đại, một danh nhân văn hóa kiệt xuất Ông là một nhà
tư tưởng, một nhà chính trị, một nhà chiến lược quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà thơ, nhà văn, nhà sử học địa lý…biết bao tài năng đã hun đúc nên con người ưu tú đó của dân tộc Kế thừa những truyền thống quý giá, cao đẹp của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Nguyễn Trãi là kết tinh những tinh hoa của thời đại mà tiêu biểu chính là thời đại Lý – Trần, cộng với óc tư duy sắc bén hơn người của ông Tư tưởng Nguyễn Trãi được hình thành từ thực tiễn sống động nên mặc dù không được ông trình bày trong các tác phẩm có tính hệ thống nhưng mang đậm nét hiện thực với những giá trị to lớn và sâu sắc Nguyễn Trãi không chỉ tổng kết về
lý luận đơn thuần mà đã biến những lý luận ấy thành sức mạnh khi kêu gọi
sự đoàn kết của muôn dân thành lực lượng hùng mạnh, mang lại chiến thắng vẻ vang cho dân tộc trong cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm Ông đã để lại cho hậu thế những tư tưởng quý báu phản ánh trung thực và sống động về một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế
kỷ XV, và một trong những tư tưởng ấy là tư tưởng về dân của ông với các
Trang 8quan điểm: an dân, thân dân, đề cao vai trò của dân…Tư tưởng đó không chỉ
có ý nghĩa thiết thực trong xã hội đương thời, mà còn có ý nghĩa đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân,
vì dân trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi
chọn đề tài “Tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi” làm đề tài luận văn thạc sĩ
triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quan điểm về dân của Nguyễn Trãi là quan điểm có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn nên đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Có thể khái quát các công trình nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Trãi nói chung và tư tưởng về dân của ông nói riêng theo những hướng sau :
Hướng thứ nhất, là các công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị của
Nguyễn Trãi trong dòng chảy tư tưởng Đại Việt cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ
XV Tiêu biểu cho hướng này là các công trình nghiên cứu: “Đại Việt sử kí
toàn thư”, Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), nhà xuất bản Khoa học
xã hội Hà Nội; “Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập” của GS Trương Hữu
Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn (chủ biên), nhà xuất bản
giáo dục, Hà Nội, năm 2008; “Lịch triều hiến chương loại chí”của Phan Huy Chú, nhà xuất bản sử học Hà Nội, năm 1960; “Nguyễn Trãi, một nhân
vật vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam” của Trần Huy Liệu, nhà xuất bản
Hà Nội, năm 1962 ; “Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp” của Trần Huy Liệu, nhà xuất bản Hà Nội, năm 1966; “Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến
trình lịch sử Việt Nam” của Võ Xuân Đàn, lời giới thiệu Trương Hữu
Quýnh, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, năm 1996;…
Tác phẩm Đại Việt sử kí toàn thư, là một công trình khá đồ sộ được
biên soạn bởi nhiều nhà sử học trong nước từ Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đến Phạm Công Trứ… Bộ sử này gồm quyển thủ và 24 quyển,
Trang 9biên chép một cách có hệ thống, chi tiết tỉ mỉ các sự kiện, nhân vật lịch sử dân tộc cung cấp cho chúng ta những chuyển biến tình hình xã hội cuối nhà Trần, sự thống trị của giặc Minh và tình hình kinh tế, chính trị - xã hội cũng như tư tưởng thời kì hậu Lê ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học Nguyễn Trãi nói chung và tư tưởng về dân của ông nói riêng
Cuốn sách Đại cương lịch sử Việt Nam, trình bày tiến trình phát triển
lịch sử Việt Nam qua 3 giai đoạn : thời kì nguyên thủy đến năm 1858; từ năm 1858 đến năm 1945 và từ năm1945 đến năm 2000 Trong đó các chương 7, 8, 9, 10 của phần 4 giai đoạn đầu tiên các tác giả trình bày và phân tích tình hình kinh tế xã hội Đại Việt cuối thế kỉ XV và cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, phong trào kháng chiến chống quân Minh và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, tình hình kinh tế, chính trị , văn hóa gắn liền với việc hình thành, phát triển quan điểm về nhân dân của Nguyễn Trãi
Tác phẩm “Lịch triều hiến chương loại chí” cũng đã tìm hiểu về thân
thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi và liệt kê, ghi nhận một số tác phẩm của
ông như : Quân trung từ mệnh tập, Ức trai thi tập, Quốc âm thi tập, Lam
sơn thực lục, Phủ núi Chí Linh…Trong thế kỉ XIX còn có tác giả Nguyễn
Bá Cung, người đã bỏ rất nhiều thời gian sưu tầm các tác phẩm của Nguyễn Trãi, giúp cho thế hệ sau có cơ sở để tìm hiểu thêm về con người cũng như tài năng của ông Trong các giai đoạn lịch sử Việt Nam tính từ giai đoạn Cách Mạng Tháng Tám cho đến sau ngày hòa bình lặp lại ở miền Bắc và sau khi thống nhất đất nước mà đỉnh cao là dịp kỉ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi năm 1980, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu giới thiệu
về Nguyễn Trãi có giá trị cao Trong số các công trình nghiên cứu đó phải
kể đến những tác phẩm: Nguyễn Trãi, một nhân vật vĩ đại trong lịch sử dân
tộc Việt Nam của Trần Huy Liệu, nhà xuất bản Hà Nội, Sử học (1962); tác
Trang 10phẩm Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp, năm 1966, Trần Huy Liệu đã tập
trung làm sáng tỏ: Nguyễn Trãi không chỉ là người tài cao trí lớn vào bậc nhất lịch sử Việt Nam mà còn là người có đạo đức lớn, với triết lý nhân sinh sâu sắc, gắn với điều kiện của đất nước Đại Việt hồi thế kỉ XV khi cuộc khởi nghĩa quân Minh vừa thắng lợi
Đi theo hướng này có các công trình như : “Lịch sử tư tưởng Việt
Nam”, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm
1993, “Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kì dựng nước đến thế kỉ
XX” của PGS TS Doãn Chính (chủ biên), nhà xuất bản chính trị quốc gia
Hà Nội, năm 2013; “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX
đến cách mạng tháng Tám của Trần Văn Giàu, nhà xuất bản Chính trị quốc
gia Hà Nội, năm 1973; “Nguyễn Trãi, thân thế và sự nghiệp”,Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, năm 1980; “ Tư
tưởng Việt Nam thời Trần” củaTrần Thuận, nhà xuất bản tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh, năm 2014; “Nguyễn Trãi, nhà văn học và chính trị thiên
tài” của Mai Hanh, Nguyễn Đổng Chi, Lê Trọng Khánh, nhà xuất bản Văn,
Sử Địa Hà Nội, năm 1957;
Ngoài các công trình nghiên cứu trên đây, một số công trình nghiên
cứu khác như : Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam của
Võ Xuân Đàn, lời giới thiệu Trương Hữu Quýnh (1966), nhà xuất bản Văn
hóa – Thông tin, Hà Nội; Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kì dựng
nước đến thế kỉ XX, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2011 cũng
đã đề cập đến điều kiện xã hội hình thành nên tư tưởng của Nguyễn Trãi nói chung, và tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi nói riêng
Nhìn chung, các công trình khoa học đi theo hướng trên đã trình bày, phân tích khá sâu sắc điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như cuộc đời thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi gắn liền với biến cố lịch sử dân tộc
Trang 11Việt Nam cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn về cuộc đời Nguyễn Trãi và tư tưởng của ông nói chung, tư tưởng
về dân của ông nói riêng
Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Trãi
nói chung và tư tưởng về dân của ông nói riêng qua việc phân tích các công trình tiêu biểu của Nguyễn Trãi và những nghiên cứu về tư tưởng của ông
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các công trình nghiên cứu: tác
phẩm “Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi”, nhà xuất bản khoa học, Hà Nội, năm 1963; Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, năm 1976, tác phẩm “Nguyễn Trãi”, Nguyễn Thiên Thụ, nhà xuất bản Lửa Thiêng, năm 1973; tác phẩm “Nguyễn Trãi, khí phách và tinh hoa
dân tộc”, Viện văn học Việt Nam, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội,
năm 1980; “Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi”, Ủy Ban khoa học xã hội Việt Nam, năm 1982; “Nguyễn Trãi nhà giáo dục Việt Nam” của Nguyễn Tiến Doãn, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, năm1996; công trình “Nguyễn
Trãi về tác giả và tác phẩm” của Nguyễn Hữu Sơn, nhà xuất bản Giáo dục
Hà Nội, năm 2002;
Trong các công trình nghiên cứu trên đây, các tác giả đã trình bày một cách khái quát nguồn gốc và nội dung tư tưởng xã hội và chính trị của Nguyễn Trãi cũng như tư tưởng về dân của ông được thể hiện trong tư tưởng quân sự và xây dựng đất nước thời bình mà ông đã đề xuất với Vua Lê Khi nghiên cứu về tư tưởng của Nguyễn Trãi, các tác giả cũng đã đi đến quan điểm chung thống nhất về tư tưởng của tư tưởng Nguyễn Trãi ở các quan điểm: tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi có cội nguồn ở tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam, ông còn tiếp thu và vận dụng những nội dung mang tính tích cực của Nho, Phật, Lão vào điều kiện thực tế của Việt Nam với tấm
Trang 12lòng yêu nước thương dân và đã mang lại được những giá trị lớn lao trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc
Các tác phẩm trên đây đã nghiên cứu về những tư tưởng của Nguyễn Trãi, trong đó có đề cập đến tư tưởng về dân của ông, nói lên tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc của ông Tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi là một
tư tưởng mang nội dung cụ thể, thiết thực, phù hợp với yêu cầu của thời đại Vượt lên các nhà tri thứ Nho học đương thời, Nguyễn Trãi đã có một nhận thức mới mẻ về dân Đối với ông nhân dân là một lực lượng có sức mạnh vô cùng to lớn trong mọi thời đại, nhân dân luôn tỏ rõ vai trò quyết định đối với lịch sử, nhất là trong những cuộc đấu tranh giữ nước, sức mạnh đoàn kết toàn dân là yếu tố quyết định làm nên thắng lợi
Đi theo hướng nghiên cứu tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi từ góc độ triết học trên đây còn phải kể đến một số bài viết đăng trên các tạp chí Tiêu
biểu là các bài viết Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi của PGS TS Trịnh Doãn Chính, tạp chí triết học, số 9 (220), tháng 9- 2009; Tư tưởng dân bản
trong đường lối chính trị của Nguyễn Trãi của tác giả Bùi Xuân Thanh, tạp
chí khoa học chính trị, số 1 + 2 năm 2016; …
Bài viết Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi của PGS TS Trịnh Doãn
Chính, tạp chí triết học, số 9 (220), tháng 9- 2009 đã trình bày sâu sắc và đầy đủ tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi mà trong đó đề cập đến tư tưởng
về an dân, thân dân của ông Bài viết Tư tưởng dân bản trong đường lối
chính trị của Nguyễn Trãi tác giả Bùi Xuân Thanh, tạp chí khoa học chính
trị, số 1 + 2 năm 2016 cũng đã phân tích tư tưởng coi trọng vai trò và vị trí của dân trong quá trình giữ gìn và phát triển đất nước của Nguyễn Trãi, trong đó tác giả nhấn mạnh nội dung cơ bản trong tư tưởng dân bản của Nguyễn Trãi, sự yêu nước thương dân của ông trong đường lối chính trị xây
Trang 13dựng đất nước, khát vọng hòa bình và phản đối chiến tranh, xây dựng xã hội thái bình thịnh trị
Tóm lại, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng của Nguyễn Trãi nhưng vẫn chưa có một chuyên khảo nghiên cứu riêng tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi và rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây là tư liệu quý giá cho chúng tôi tham khảo, kế thừa
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn nhằm làm rõ những nội dung trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi từ đó đánh giá và rút ra giá trị và bài học của tư tưởng
đó đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau :
Thứ nhất, trình bày điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam từ cuối thế kỉ
XIV đến đầu thế kỉ XV và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi
Thứ hai, trình bày và phân tích nội dung tư tưởng về dân của
Nguyễn Trãi
Thứ ba, trên cơ sở phân tích, đánh giá những giá trị trong tư tưởng về
dân của Nguyễn Trãi, luận văn rút ra những giá trị và bài học lịch sử của tư tưởng này đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Với mục đích và nhiệm vụ trên đây, luận văn được thực hiện trên cơ
sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
Trang 14nghĩa duy vật lịch sử Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử và logic…
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tư tưởng về dân là một bộ phận trong toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi qua một số tác phẩm tiêu biểu của ông, từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân,vì dân
6 Ý nghĩa của luận văn
Với việc trình bày, phân tích một cách có hệ thống tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi, cùng với việc phân tích, đánh giá những giá trị tư tưởng này, luận văn góp phần làm sâu sắc thêm tri thức về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và tư tưởng Nguyễn Trãi nói riêng
Đối với sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay, những giá trị trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi sẽ là những bài học bổ ích và thiết thực cho việc xây dựng, giữ gìn, bảo vệ Tổ quốc
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho
việc nghiên cứu, học tập môn Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam trong các
trường Đại học và Cao đẳng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 15Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
Dân tộc Việt Nam với chiều dài lịch sử của mình luôn gắn với lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước để bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc Trong quá trình ấy nhân dân Việt Nam đã đồng lòng cùng nhau chống lại những thế lực hùng mạnh nhất để bảo vệ non sông gấm vóc, là lý do làm nên sự đoàn kết dân tộc thành một khối vững chắc Đây cũng chính là mảnh đất hình thành, phát triển nên cách nghĩ, cách nhìn cũng như phương thức hành động của các nhà tư tưởng Việt Nam Tuy tư tưởng của họ chưa được trình bày một cách có
hệ thống nhưng chứa đựng không ít những giá trị sâu sắc và có ý nghĩa Trong số các nhà tư tưởng đó, Nguyễn Trãi nổi lên với tư cách là một nhà trí thức lớn, một lãnh tụ kiệt xuất trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn Lê Lợi
và Nguyễn Trãi đã biết dựa vào dân để tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, phù hợp với cuộc chiến tranh của một nước nhỏ chống lại sự xâm lược của một nước lớn Những tư tưởng của ông có vị trí hết sức quan trọng, là một trong những đóng góp to lớn trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam Bằng tài năng và đức độ của mình Nguyễn Trãi đã sáng tạo nên những tư tưởng tiêu biểu cho trình độ phát triển tư duy của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn từ cuối thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XV Tư tưởng của Nguyễn Trãi rất đa dạng và phong phú, vì nó được hình thành và phát triển từ thực tiễn đầy những biến động của lịch sử dân tộc.Với kinh nghiệm lịch sử cộng với tài trí hơn người và lòng yêu nước thương dân sâu sắc, Nguyễn Trãi đã hình thành nên tư tưởng về dân với những quan niệm an dân, thân dân, xây dựng một xã
Trang 16hội dựa trên việc coi trọng vai trò và vị trí của dân trong đời sống, đây là một
tư tưởng hành động mang nội dung cụ thể, thiết thực, phù hợp với yêu cầu của thời đại Tư tưởng ấy không chỉ có ý nghĩa trong xã hội đương thời mà còn là tư tưởng mang tính thời đại trong xã hội hiện nay
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ
KỈ XIV ĐẦU THẾ KỈ XV- CƠ SỞ KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
VỀ DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1.1 Điều kiện kinh tế Việt Nam cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV
Thế kỉ XIV là thế kỉ tiếp tục phát triển kinh tế, đồng thời cũng là thế
kỉ suy tàn của chế độ nông nô ở Anh do những cuộc khởi nghĩa liên tục của nông dân và sự nổi dậy của nhân dân ở thành thị Cuộc đấu tranh chống phong kiến đang trỗi dậy mạnh mẽ dưới hình thức những cuộc chiến tranh nông dân, những phong trào thị dân và phong trào cải cách tôn giáo Những cuộc chiến tranh liên miên giữa các nước ở Italia, Pháp và ở cả nước Anh với nguyên nhân là do sự tách rời thành thị khỏi nông thôn, sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp đã dẫn tới chỗ chuyển sự áp bức nặng nề theo kiểu nông nô sang hình thức áp bức tiền tệ Chế độ nông nô với sự phụ thuộc của nông dân vào giai cấp địa chủ dần dần bị thủ tiêu Việc phát minh
và sử dụng những thành tựu khoa học đã tạo nên những sự thay đổi vô cùng
to lớn đối với việc phát triển xã hội kéo theo những sự thay đổi về chính trị - văn hóa làm cho xã hội phương Tây lúc này đã bắt đầu có những tình trạng phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc, chủ xưởng bắt đầu đã có những ảnh hưởng rõ rệt trong xã hội, hàng loạt nông dân từ nông thôn đã bắt đầu ra thành phố để làm thuê cho các công trường thủ công để kiếm sống, đây chính là tiền thân của giai cấp công nhân sau này Thay thế cho nền kinh tế
tự nhiên kém phát triển là nền sản xuất công trường thủ công mang lại năng suất lao động cao hơn Nhiều công cụ lao động được cải tiến và hoàn thiện
Trang 17tạo ra nhiều sản phẩm nhằm thúc đầy sản xuất và mang lại lợi nhuận cho chủ xưởng Việc sáng chế ra máy tự kéo sợi và máy in đã làm cho công nghiệp dệt, công nghiệp ấn loát đặc biệt phát triển, nhất là ở Anh Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ cơ học đã giúp cho con người thời kì này sản xuất có kế hoạch, tiết kiệm thời gian và tăng năng suất lao động Những phát kiến địa lý như việc tìm ra Châu Mỹ và các đường biển đến những miền đất mới càng tạo điều kiện phát triển nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa Nhờ vào những cuộc phát kiến địa lý mà thị trường trao đổi hàng hóa giữa các nước được mở rộng Các cuộc giao du Đông – Tây được tăng cường Các nước tư bản chủ nghĩa sớm phát triển như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… thi nhau xâm chiếm thuộc địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên của các nước kém phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình và đặt nền móng cho việc buôn bán quốc tế sau này
Đồng thời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã hội Tây Âu thế kỉ XV, sự phân hóa giai cấp lúc này ngày càng rõ ràng Tầng lớp tư sản xuất hiện gồm các chủ xưởng của các công trường thủ công, chủ thuyền buôn… có vai trò và vị trí trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn Hàng loạt nông dân từ nông thôn di cư đến các thành phố, trở thành người làm thuê cho các công trường, họ dùng sức lao động của mình để làm thuê
và nuôi sống bản thân Các tầng lớp xã hội trên đại diện cho một nền sản xuất mới với những tiến bộ trong xã hội, cùng với nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến suy tàn Một khi nền kinh tế có sự biến đổi thì cũng sẽ kéo theo những biến đổi về đời sống văn hóa Trong thời kì này các nước phương Tây đòi hỏi giải phóng con người khỏi những ràng buộc cũ của thần quyền, những quy định của nhà thờ, của những giáo huấn tôn giáo, giáo hội
và sự phân tầng nghiệt ngã để hướng tới một nền văn hóa phục hưng Con người lúc này cần phải được tôn trọng quyền sống, quyền được yêu thương,
Trang 18chăm sóc và bảo vệ mạnh mẽ hơn bao giờ hết Bước sang thời kì phục hưng,
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây đã là một xu thế không thể ngăn cản Những mầm mống của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện trước tiên ở Italia, nước được coi là quốc gia tư bản sớm nhất ở Tây Âu Với nền văn hóa Phục hưng phát triển rực rỡ trong suốt thế kỉ XIV- XV , Italia trở thành trung tâm của vũ đài lịch sử thế giới, tiêu biểu cho nền văn minh nhân loại thời kì này Tiếp sau đó, các cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Hà Lan, đặc biệt ở Anh báo hiệu giờ cáo chung của chế độ phong kiến Châu
Âu đã đến Tính chất và sự thắng lợi của cách mạng tư sản Anh có ảnh hưởng to lớn tới những cuộc cách mạng tư sản ở những nước khác Cuộc đại cách mạng Pháp với việc xử tử Vua Louis XVI là một trong những đòn quyết định tiêu diệt chế độ phong kiến ở Châu Âu Cùng với nhiều biến cố lịch sử khác, những sự kiện trên cho thấy : bước sang thời phục hưng và hiện đại, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành một xu thế lịch sử mà không gì có thể ngăn cản nổi Công cuộc phục hưng văn hóa và quá trình hình thành dân tộc làm cho chủ nghĩa nhân đạo và ý thức dân tộc trở thành tinh thần tiến bộ nhất của phương Tây
Trong lúc các nước Châu Âu đang đang có những sự thay đổi rõ rệt thì ở các nước Châu Á nhất là Trung Quốc đã có những chuyển biến vô cùng lớn lao trong đời sống xã hội Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế đặt tên nước là Minh, lấy hiệu là Minh Thái Tổ, đóng đô ở Nam Kinh Để củng cố ngôi vị và chế độ chuyên chế tập quyền của mình, Minh Thái Tổ đã ban hành nhiều chính sách phát triển về kinh tế, ổn định về xã hội, giảm bớt cực khổ cho người dân nhưng đồng thời cũng có dã tâm mở mang bờ cõi của mình về các phía Minh Thái Tổ truyền ngôi cho Huệ Đế trước khi chết Năm 1402 Huệ Đế bị Yên Vương Lệ cướp ngôi Yên Vương Lệ lên ngôi lấy hiệu là Minh Thành Tổ, thiết lập 48 chiếc tàu và 28.000 thủy binh dưới
Trang 19quyền chỉ huy của đô đốc Trịnh Hòa thực hiện 7 chuyến viễn du, tiến hành chinh phục các nước Nam Á, Phi Châu Gần đây các sử gia Tây phương đã khám phá đoàn thám hiểm của Trịnh Hòa đặt chân đến Greenland, Bắc cực
và Châu Mỹ trước cả Comlombus Từ cuối thế kỉ XIV, khi nhà Minh thiết lập nền độc lập và thống nhất trên toàn lãnh thổ Trung Hoa và bắt đầu xúc tiến việc xâm lược Việt Nam Minh Thành Tổ muốn bình định lại Đại Việt
để biến Đại Việt thành quận huyện của Trung Hoa như Ngô Việt, Mân Việt trước đây, do đó cuộc nam chinh lần này không phải chỉ là cuộc viễn chinh thuần túy Minh Thành Tổ đã phát động một cuộc nam chinh tổng hợp không chỉ trên lĩnh vực quân sự, văn hóa mà còn cả việc cải tạo huyết thống bằng những chính sách nhằm đồng hóa dân tộc Đoàn quân 800 ngàn người
có tác dụng pha loãng dòng máu của nhân dân Đại Việt, làm thay đổi nếp sống và văn hóa Đại Việt để đồng hóa vào Trung Hoa Ngoài ra, nhà Minh
đã lợi dụng tình thế xã hội Đại Việt đang rối ren, một số địa chủ phong kiến
cũ bất mãn với chính quyền nhà Hồ mà đưa ra khẩu hiệu “Diệt Hồ phù
Trần” nhằm chi phối mạnh mẽ ý chí chống đối của nhân dân Đại Việt
Đứng trước tình hình này thì việc tăng cường phòng thủ và vỗ về lòng dân là vấn đề trở nên cấp thiết số một đối với nước ta
Xã hội Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV với các triều đại có lúc suy lúc thịnh nhưng nhìn chung xã hội phong kiến trong thời kì này đang trên đà phát triển, đất nước ngày càng được củng cố về nhiều mặt như chính trị, văn hóa, xã hội “Thế kỉ XIII, nhà Trần thay thế nhà Lý đã mở ra một thời kì tiếp tục phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt Nhà Trần đã tạo ra một nền chính trị thống nhất, ổn định, một nền văn hóa độc lập, thoát dần khỏi sự ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, và một hệ tư tưởng độc lập làm
chỗ dựa về mặt tinh thần vững chắc cho xã hội Đại Việt” [10, 15] Sự phát
triển về kinh tế, chính trị xã hội đã tạo nên những cuộc biến động xã hội
Trang 20gay gắt, những cuộc biến động này sẽ làm cho những yếu tố của xã hội cũ dần dần bị mất đi và thay thế bằng những yếu tố trong xã hội mới Xã hội Việt với các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý , Trần có lúc thịnh, lúc suy nhưng nhìn chung chế độ phong kiến đang trên đà phát triển mạnh mẽ, quốc gia phong kiến ngày càng được củng cố và trưởng thành về mọi mặt Tuy nhiên, sự phát triển nào cũng dần bị thay thế bởi những sự biến đổi sâu sắc dẫn đến suy vong và nguyên nhân của sự biến đổi này đó chính là sự thay
đổi về điều kiện kinh tế và xã hội
Bên cạnh những chiến công oanh liệt chống quan xâm lược Nguyên – Mông, thời Trần cũng có những thành tựu về mặt kinh tế, góp phần làm cho đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong chế độ phong kiến, nông nghiệp giữ vị trí vô cùng quan trọng, góp phần phát triển đất nước Nông nghiệp là cơ sở để sản xuất ra của cải cho xã hội, mặt khác ruộng đất lại đóng vai trò là cơ sở để tạo nên sự phân chia giai cấp trong xã hội Cũng giống như thời Lý, ruộng đất thời nhà Trần nằm trong tay Vua, nhưng thực chất thì ruộng đất là công điền, công thổ của làng xã, do công
xã quản lý và phân phối cho các xã viên cày cấy, ngược lại những xã viên
sẽ phải đóng tô dịch, đi lính cho nhà nước Để mở mang bờ cõi nhà Vua đã cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu mô dân nghèo để đi khai hoang các vùng đất ven biển để lập nên các điền trang Điều này có thể cho chúng ta thấy được rằng trong thời Nhà Trần việc mở mang ruộng đất là một bước tiến trong việc quản lý và phát triển kinh tế, tạo nên sự phong phú và đa dạng, mang thêm nhiều lợi nhuận cho giai cấp quý tộc phong kiến, góp phần mở rộng điền trang thái ấp làm cho kinh tế của tầng lớp quý tộc phong kiến ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Nhà Vua còn dùng đất đai để phong cấp cho các quý tộc quan lại và những người có công Điều này đã làm hình thành nên các thái ấp của quý tộc quan lại
Trang 21Ruộng đất trong thái ấp chỉ có một ít là được cấp vĩnh viễn, còn lại thì vẫn phải phù thuộc vào nhà nước Nông dân cày cấy trong các thái ấp là các xã viên, họ không làm cho nhà nước mà họ phụ thuộc vào chủ thái ấp, nộp tô thuế, đi lao dịch và cuộc sống của họ phụ thuộc vào chủ thái ấp Đây là đặc trưng của chế độ công xã nông thôn với quyền lực và sức ảnh hưởng của các chủ thái ấp lên chính đời sống của những người nông dân, xã viên để thu lợi cho chính bản thân họ Ngoài việc nhà Vua dùng đất đai để phong cấp cho các quý tộc quan lại thì nhà Trần còn có ruộng quốc khố do Nhà nước quản lý giao cho những người tù binh và phạm nhân cày cấy.Vào thời Trần, triều đình rất quan tâm đến việc phát triển nông nghiệp với những lễ hội lúc này như tịch điền, lễ cầu mưa, cầu được mùa… trong thời kì này cũng đã có những quy định để bảo vệ và phát triển nông nghiệp để đảm bảo cho nguồn nhân lực sản xuất nông nghiệp, tránh huy động sức của người dân trong những ngày mùa, quan tâm đến việc đê điều thủy lợi để phục vụ cho sự phát triển của nông nghiệp nước ta lúc đó Nói đến những chính sách phát triển nông nghiệp trong thời kì này chúng ta cũng cần nhắc đến là việc xây dựng những công trình thủy lợi Đây là công việc quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp Hệ thống đê điều được
tu bổ thường xuyên, nhà nước đã đặt ra chức danh phó Hà đê sứ để lo việc bảo vệ đê điều Vào những thời điểm thuận lợi hàng năm, tất cả nhân dân không phân biệt già trẻ lớn bé hay địa vị như thế nào đều phải tham gia vào việc đắp đê, kể cả học sinh ở Quốc tử giám cũng không được miễn Trong mùa mưa thì phó Hà đê sứ có trách nhiệm sẽ đi kiểm tra và kịp thời tu sửa những vùng đê bị sạt lở để tránh việc gây ảnh hưởng đến vụ mùa Ngoài ra, nhà Trần còn chú tâm đến việc khai hoang và mở rộng đất canh tác Bên cạnh việc nhân dân tự động khẩn hoang thì nhà Trần còn đặt ra những chức
vụ mới để đôn đốc việc khai hoang và quản lý đồn điền Những chính sách
Trang 22tích cực của nhà Trần lúc này đã thúc đẩy nền kinh tế ngày một phát triển hơn Cuộc sống của người dân trong thời Trần khá ổn định, nền kinh tế trong thời nhà Trần có nhiều bước chuyển nổi bật và đạt trình độ khá cao trong chế độ phong kiến thế kỉ XIV – XV
Thời kì này, ngoài nông nghiệp nhà Trần còn chú ý đến việc phát triển thủ công nghiệp Thủ công nghiệp phát triển mạnh, những xưởng chế tạo vũ khí , trang sức, đúc tiền, xây dựng đền đài, cung điện phục vụ cho vua
và hoàng tộc, các quan lại , đôi khi con phục vụ cho nhu cầu của nhân dân Một số xưởng thủ công của nhân dân như dệt lụa, làm đồ gốm, luyện kim,
đồ mỹ nghệ… đều phát đạt và làm ra sản phẩm cao Tuy nhiên trong thời kì này nghề dệt lụa được nhà nước coi trọng và phát triển , nhà nước phải đặt
ty phụ trách kho lụa để thu mua lụa của nhân dân và nghiêm trị những người thu thêm thuế lụa để tạo sự ổn định và điều kiện phát nghề trồng dâu nuôi tằm của nhân dân ta Thương nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ, nhà nước thu thuế bằng tiền, trả công thợ cũng bằng tiền, các đơn vị đo lường được thống nhất… tạo điều kiện để thị trường địa phương được mở rộng, sự giao lưu kinh tế hàng hóa được dễ dàng Việc buôn bán với nước ngoài cũng phát triển khá phát đạt, ở biên giới đã có những trung tâm buôn bán trao đổi giữa nhân dân và nhà nước Tuy nhiên những mặt hàng buôn bán đa số là những sản phẩm về tự nhiên, ít những sản phẩm thủ công, kỹ thuật vẫn còn mang tính thủ công truyền thống nên những mặt hàng này chưa được sự ưa chuộng của nhân dân trong nước Lợi dụng tình hình này một số nội gián nhà Nguyên đã lợi dụng việc buôn bán để hoạt động tình báo, gây rối loạn cho việc phát triển ngoại thương lúc này
Sau khi chiến thắng quân Mông – Nguyên, những khó khăn về kinh
tế, xã hội của đất nước dần dần được khắc phục, xã hội Đại Việt dần trở lại
ổn định và phát triển về kinh tế, chính trị và xã hội Tuy nhiên, đến nửa sau
Trang 23thế kỷ XIV, đất nước ta đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng, đó chính là sự suy thoái về kinh tế, sự rối loạn về đạo đức của tầng lớp quý tộc cầm quyền và cuộc sống cực khổ của nhân dân lao động Qua các triều đại nhà Trần đến thời Trần Dụ Tông những hiện tượng suy thoái ngày càng tăng thêm Sau khi gian khổ kháng chiến trong bao nhiêu năm, nhà Vua cùng các vương hầu quý tộc lại có khuynh hướng phóng đãng ưu du để hưởng thụ thái bình
Thời kì này nền kinh tế sản xuất nông nghiệp sa sút, nhà nước không chú tâm đến đời sống của nhân dân mà ngược lại còn gây những nhiễu nhương làm cho đời sống của người dân lúc này đã khốn khó nay lại càng khó khăn hơn gấp bội Trong khi đó các Vua, quan nhà Trần lúc này lại không quan tâm săn sóc đến đê điều, bảo vệ nông nghiệp như thời Trần sơ
mà ngược lại còn gây phiền phức thêm cho đời sống của người dân Thêm vào đó nạn hạn hán mất mùa xảy ra liên tục đã làm cho đời sống người dân càng ngày càng bước vào sự cùng cực, lầm than Địa chủ phong kiến xâm chiếm hoặc mua rẻ ruộng đất, mở rộng điền trang, tăng thêm số người làm Đời sống của người dân càng ngày càng trở nên khốn khó trong khi đó thì cuộc sống của vua, quan lại trong triều đình thì xa hoa, lãng phí Không chỉ thế giai cấp quý tộc còn tìm đủ mọi cách để bòn rút, bóc lột của cải của người dân bằng đủ hình thức
Kinh tế điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ phát triển đến cuối thời Trần đã trở nên lạc hậu, lỗi thời không còn phát triển mà ngược lại còn kìm hãm sự phát triển của sản xuất.Lúc này, kinh tế hàng hóa ngày càng trở nên phát triển và dần dần lấn át kinh tế điền trang thái ấp Trong những năm thuộc thế kỉ XIV lực lượng xã hội mới là giai cấp tiểu nông, tầng lớp tiểu thủ công và thương nhân Giai cấp tiểu nông và tầng lớp công thương hợp
Trang 24thành giai cấp tiến bộ và giai cấp đại địa chủ - quý tộc hay địa chủ hợp thành giai cấp bảo thủ
“Từ thời Trần sơ, chế độ tư hữu thổ địa phát triển, Trần Cảnh cho bán công điền cho dân làm ruộng tư, Trần Khâm cho phép những người đói bán
vợ con làm nô tỳ được chuộc lại mà bán ruộng đất thì không được chuộc như thế là bảo vệ chế độ tư hữu thổ địa” [2, 261] Chính do sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất này đã tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, xuất hiện thêm tầng lớp địa chủ phú thương Trong thời điểm này bên cạnh những nhà đại điền trang của bọn đại quý tộc đã dần xuất hiện những trang trại cũ địa chủ bình dân bóc lột nông dân bằng tô và tức Phương thức sản xuất của các trang trại này tiến bộ hơn phương thức sản xuất điền nô và gia nô của các điền trang của đại quý tộc Những gia nô trong các đại điền trang so đời sống của mình với đời sống của các nông dân
tự do càng cảm thấy bất mãn và tăng cường đấu tranh , khiến tình hình kinh
tế của các đại điền trang ngày càng xuống dốc Điều này cho thấy, sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất đã xúc tiến lịch trình tan rã của chế độ đại điền trang cũng như chế độ nô tỳ
Kinh tế hàng hóa làm lay chuyển chế độ điền trang thái ấp và chính điều này đã làm cho tầng lớp tiểu nông bị phá sản, trở thành tá điền hoặc nô
tỳ, gây nên tình trạng đói khổ, trộm cướp và nhiều cuộc nổi dậy của nông dân, nô tỳ chống lại tầng lớp quý tộc ăn bám “Năm nay (1343) mất mùa,
đói kém, dân nhiều kẻ làm trộm cướp, nhất là gia nô các vương hầu.” [69,
12 ] Những năm cuối thế kỉ XIII đầu thế kỉ XIV sự thống trị chính quyền
nhà Trần trong phạm vi cả nước và uy quyền chuyên chế của hoàng đế đã tạo thành quan niệm trong đời sống lúc bấy giờ “đất của Vua, chùa của bụt” xác nhận sự tồn tại tự nhiên đó chính là chế độ sỡ hữu nhà nước về ruộng
đất rất phổ biến
Trang 25Từ cuối thế kỉ XIV, người ta thấy dưới thời Trần Nghệ Tông chức vụ cao nhất về quân sự và dân sự dần dần được trao cho các quan liêu ngoài quý tộc Năm 1371, Hồ Quý Ly được cử làm Trung tuyến quốc thượng hầu, Phan Nghĩa làm Lang trung Bộ Lễ, Đỗ Tử Bình làm Hành kiểm tham mưu quân sự, Hồ Tông Xác làm Học sĩ viện Hàn Lâm Đến năm 1375, một chủ trương quan trọng nữa được công bố: tuyển chọn tất cả những quan viên người nào có tài, luyên tập nghề võ, thông hiểu thao lược thì đều được làm tướng coi quân, dù không phải là tôn thất Như thế là kẻ sĩ trước đây đã lần lượt được trao phó những chức vụ hành chính cao nhất, bây giờ lại được trao phó những chức vụ quân sự cao nhất Chỉ sau khi nhà nước đã trao chính quyền vào tay tầng lớp quan liêu, nhất là lượng quân đội trung ương, và gạt dần quý tộc ra khỏi những chức vụ quan trọng nhất, thì lúc ấy nhà nước quân chủ mới tiến hành bước tấn công cuối cùng quyết định vào toàn bộ giai cấp quý tộc nhằm tước bỏ thế lực kinh tế - chính trị của quý tộc và tập trung sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự vào nhà nước Trung ương Chế độ quân chủ phân quyền của giai cấp quý tộc lãnh chúa, chuyển thành chế độ quân chủ tập quyền của giai cấp trung và tiểu địa chủ Nhà nước quân chủ nhà Trần do quý tộc nắm từ thời Nghệ Tông chuyển dần sang quan liêu hóa, do tầng lớp quan liêu nắm – nhà Trần dần đi vào suy thoái Những biến động trong xã hội Việt Nam cuối thời Trần biểu hiện cuộc khủng hoảng của bộ phận kinh tế điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ Đó là cuộc khủng hoảng trên bước đường phát triển của chế độ phong kiến nước ta Cuộc khủng hoảng đó bộ lộ rõ yêu cầu cần thủ tiêu kinh tế điền trang thái ấp và quan hệ nông nô, nô tỳ để mở đường cho chế độ phong kiến tiến lên một giai đoạn cao hơn
Trong thời nhà Trần giai cấp thống trị bao gồm tầng lớp quý tộc và quan lại mà đại biểu là vua nắm mọi quyền hành Giai cấp địa chủ ngày một
Trang 26đông lên và có thế lực về kinh tế, giai cấp nông dân chủ yếu là xã viên cày ruộng công xã hoặc lĩnh canh của địa chủ Họ là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội lúc bấy giờ Đầu thời Trần cuộc sống của những người nông dân
có cuộc sống tương đối dễ chịu nhưng từ cuối thế kỉ XIV trở đi, họ bị giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột quá nặng nề, dẫn đến đời sống của họ ngày càng khó khăn hơn Nhiều người nông dân đã bán mình để trở thành nô tỳ phục vụ cho giai cấp địa chủ phong kiến Lúc này ở một số nơi nhiều cuộc khởi nghĩa của những người nông dân nổi lên tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa Ngô Bệ kéo dài 16 năm, cuộc khởi nghĩa do Trần Tề lãnh đạo bùng nổ năm 1354, các cuộc khởi nghĩa của Hồ Thuật ở Diễn Châu, Nguyễn Thanh ở miền sông Lương, Nguyễn Kỵ ở Nông Cống… Ngoài ra, trong xã hội lúc này còn có tầng lớp nông nô, nô tỳ là lực lao động trong các điền trang và gia đình quý tộc, sự phát triển mạnh của nền kinh tế điền trang, thái ấp đã làm tăng nhanh lực lượng nô tỳ Cuộc sống của những người nô tỳ này cùng cực nhất trong xã hội và họ sống chung với chủ Tuy nhiên, nô tỳ thời này không giống như nô
lệ ở các quốc gia phương Tây Nô tỳ thời kì này chỉ là những người ở đợ và làm những công việc đồng áng, cày thuê cuốc mướn Khi xã hội ngày càng loạn lạc thì những người nô tỳ này đã cùng với nhân dân lao động đứng lên để chống lại giai cấp địa chủ, phong kiến Ngoài ra những người thợ thủ công và thương nhân trong thời đại này là người sản xuất ra những mặt hàng tiêu dùng, đáp ứng những nhu cầu của xã hội tạo điều kiện cho sự giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa các địa phương diễn ra thuận lợi
Xã hội thời Trần là xã hội mang nhiều đặc điểm của chế độ phong kiến phương Đông thể hiện ở chỗ : chế độ sở hữu kép về ruộng đất, sự bóc lột địa tô, hiện vật; sự tồn tại với một vai trò hết sức quan trọng của cộng đồng làng xã,; sự phát triển lớn mạnh của chế độ điền trang, thái ấp mà ở đó những nô lệ vì nợ và những người nông dân bị nô dịch quanh năm Tuy lúc
Trang 27này số lượng những người nông nô và nô tỳ đã khá đông nhưng họ không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu Trong xã hội lúc này, những đặc điểm của chế độ quân chủ đã hình thành và phát triển Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất khá phát triển, nhà vua đã phong cấp cho công thần nhiều đất đai để làm thái ấp, rồi việc lập điền trang… Bên cạnh đó còn có một số nhà giàu bỏ tiền ra mua ruộng, hiện tượng tập trung ruộng đất đã được nhà nước cho phép
và diễn ra ngày càng rộng rãi Nhà Trần còn xây dựng một bộ máy quan liêu khá cồng kềnh, các định chế chính trị và pháp quyền được ban hành ngày càng chặt chẽ và cụ thể, chứng minh sự xác lập ngày càng vững chắc nền quân chủ ở nước ta Tuy nhiên, chế độ quân chủ thời Trần chưa thể hiện sự tập trung một cách triệt để, vẫn còn là một chế độ quân chủ mang tính tập quyền cao, trong đó vua Trần lại tự mình đề cao vị trí bản thân, đồng nhất ngôi vua với đất nước và tầng lớp quý tộc tôn thất chia nhau nằm giữ các cương vị chủ chốt trong triều Đời sống của cư dân Đại Việt ở thế kỷ XIII và nửa đầu thế kỷ XIV vẫn còn khả quan do có sự chăm sóc của nhà nước mặc dầu trải qua ba cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên Nhưng đến cuối thế
kỷ XIV thì các vua Trần bắt đầu đi vào con đường ăn chơi, sa đọa, không còn quan tâm đến đời sống của nhân dân Nạn mất mùa, đói kém lại cộng thêm sự nhũng nhiễu của tầng lớp quý tộc phong kiến đã làm cho đời sống người dân càng ngày càng đi vào ngõ cụt, những người nông dân nông nô tỳ phải đúng dậy để đấu tranh giành lại ruộng đất và chính bản thân của mình
1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV
Trong thế kỉ XIV – XV bộ máy chính quyền của nhà nước ta từ triều đình đến địa phương dần dần suy thoái Việc chia bè kéo cánh trong hàng ngũ giai cấp quý tộc làm cho nội bộ chính quyền lúc này càng trở nên rối ren, phức tạp Bọn gian thần tìm mọi cách để lũng đoạn triều chính, gây
Trang 28nhiều bất ổn cho đời sống của nhân dân Sau khi kháng chiến chống Mông – Nguyên thành công, những khó khăn về kinh tế, chính trị được khôi phục một thời gian, nhưng sau đó nhà Trần rơi vào giai đoạn khủng hoảng và sự ảnh hưởng đến bộ máy chính quyền trong xã hội lúc này được thể hiện bằng việc băng hoại về chính trị - xã hội, sự sa đọa của giai cấp cầm quyền và cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động
Bộ máy chính quyền của nhà Trần từ trung ương đến địa phương suy thoái, rệu rã, việc chia bè kéo cánh càng ngày càng làm cho triều đình đã rối loạn nay lại rối loạn hơn Tranh thủ việc xã hội không ổn định một số quý tộc , địa chủ đã ra sức mở rộng điền trang thái ấp, tăng lượng nông nô, nô tỳ
để củng cố địa vị của mình trong xã hội Những tên nịnh thần càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn và cấu kết với nhau để làm những điều xằng bậy, lũng đoạn triều chính Trong lúc này Chu Văn An là một nhà giáo yêu nước
đã dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần lúc đó nhưng vua Dụ Tông không nghe nên ông đã trả ấn từ quan, trở về làm thầy giáo ở quê nhà Nhà vua lúc này hoang dâm vô độ, không lo toan đến triều chính,xem nhẹ việc bảo vệ đất nước, chỉ lo cho việc hưởng thụ của bản thân mình Một số tên hoạn quan lúc này đã xàm tấu với vua bắt nhân dân phải đi phu, xây dựng đền đài, cung tẩm, tìm những loài vật mới lạ để phục vụ cho việc ăn chơi trác táng của nhà vua và các quan lại
Tình hình đất nước rối loạn khiến các nước nhỏ phía nam không còn thuần phục như trước nữa Để lấy lại uy quyền vua Trần đã nhiều lần đem quân đi chinh phạt nhưng cũng có lúc bị thua to Từ sau thất bại trong trận tấn công vào Chăm pa năm 1318, nhà Trần đã không còn sức khống chế nước này, Chăm pa còn đem quân quấy phá hai châu Ô, Lý mới được sát nhập của nước ta, cho đến khi nhà Trần tăng thêm quân biên phòng ở đây, đưa Trương Hán Siêu vào điều giải, tình hình mới được tạm ổn Những cuộc
Trang 29chiến tranh với các nước Ai Lao, Chăm pa cũng đã làm nhà Trần phải huy động nhiều của cải, lương thực, binh lính gây thêm nhiều khó khăn cho nhân dân Nhà nước đã không còn quan tâm đến việc sản xuất nông nghiệp, bảo
vệ đê điều hoặc phát triển các ngành thủ công nghiệp nữa Hậu quả của chiến tranh và thiên tai là mất mùa, đói kém chính điều này đã làm cho nông dân đã nghèo khó nay lại càng nghèo khó hơn Cuộc khởi nghĩa của nông dân cuối thời Trần đã nói lên cuộc khủng hoảng suy thoái của triều đại thống trị, những mâu thuẫn sâu sắc trong chế độ ruộng đất và nông nghiệp đương thời Các cuộc khởi nghĩa không chỉ lôi cuốn nông dân nghèo mà còn cả hàng loạt nông nô, nô tỳ ở các điền trang của vương hầu, quý tộc
Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XIV, Chăm pa hùng mạnh lên và thường xuyên đánh phá châu Hóa, cướp người, đòi đất Nhà Trần nhiều lần đem quân vào chống cự nhưng cũng nhiều lần thất bại Năm 1378 quân Chăm pa đánh ra Nghệ An rồi vượt biển đánh vào Thăng Long Hai năm sau chúng lại đánh Nghệ An nhưng lần này lại bị Hồ Qúy Ly đánh bại Tháng
10 năm 1389 quân Chăm pa lại đánh ra Thanh Hóa, quân nhà Trần do Hồ Quý Ly lãnh đạo bị thua trận Nghệ Tông cử tướng Trần Khát Chân đem quân Long Tiệp vào chống cự Nhận biết đươc thuyền chỉ huy của Chế Bồng Nga, Khát Chân hô quân nã súng lớn vào, Chế Bồng Nga trúng đạn chết, quân Khát Chân tấn công ồ ạt, quân Chăm pa bại trận, từ đó Chăm pa
bị suy tàn Cuộc chiến tranh với Chăm pa vừa nói lên sự suy yếu của nhà Trần vừa gây thêm nhiều khó khăn cho triều đình và nhân dân đương thời Cuộc khủng hoảng xã hội càng ngày càng trở nên trầm trọng
Xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV đang lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc, chính quyền suy yếu, bọn nịnh thần chuyên quyền, dòng họ thống trị phân tán, sa đọa, kinh tế nông nghiệp sa sút nghiêm trọng đã dẫn đến chỗ nông dân nghèo, gia nô, nô tì nổi dậy chống đối hay chạy trốn Trong lúc đó,
Trang 30những cuộc tấn công đánh phá của Chăm pa lại liên tục diễn ra, dù cuối cùng bị đẩy lùi hẳn, đã làm cho cuộc sống của nhân dân thêm khổ cực, triều chính thêm rối ren, tài chính kiệt quệ Đã thế Đại Việt lại đứng trước nguy
cơ một cuộc ngoại xâm ngày càng đến gần
Nhận thức được nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng nên Hồ Quý Ly lên nắm quyền đã tiến hành một loạt cải cách, những cải cách của ông có mặt tích cực tiến bộ nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội Kinh tế của nhân dân cũng như kinh tế của Nhà nước đã đến mức cùng kiệt, không còn để đảm bảo đời sống “Đối với ruộng tư từ thời Trần sơ đã phải nộp thuế mỗi mẫu 3 thăng thì nhà Hồ tăng lên mỗi mẫu 5 thăng Thuế đinh thì những người không có ruộng được miễn, người có 2 mẫu 6 sào trở lên thì phải nộp 3 quan, không đủ số ấy thì nộp ít hơn, so với ngạch thuế định năm
1378 thì có nhẹ hơn nhưng so với thời Trần sơ thì nặng Quý Ly lại đặt thêm ngạch thuế thuyền buôn, chia làm ba hạng, mối mái chèo phải nộp mỗi năm
từ 3 đến 5 quan.” [ 2, 271]
Về chính trị Quý Ly, từ năm 1375 khi được giao chức tham mưu quân
sự, Quý Ly chọn các quan viên, người nào có tài năng, luyện tập võ nghệ, thông hiểu thao lược thì không cứ tôn thất, đều cho làm tướng coi quân Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đặt lệ cử quan ở Tam Quán và Nội nhân đi về các
lộ thăm hỏi cuộc sống của nhân dân và tình hình quan lại để thăng chức hoặc giáng chức Năm 1402 Nhà Hồ xuất quân đánh Chăm pa, vua Chăm pa
sợ nên phải giao nộp hai vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy
Về xã hội, Hồ Quý Ly cũng đã có những thay đổi để khắc phục mâu thuẫn giai cấp gay gắt Ông đã xin Trần phủ ra lệnh rằng phàm những cung điện bị quân Chiêm phá hủy, chỉ tu bổ sơ sài và bắt người tôn thất và các quan hạ cấp ra làm, không được bắt dân phục dịch, như thế sẽ tránh được sự oán hận của dân, tránh được sự tụ tập sinh biến của dân Hồ Quý Ly đã có
Trang 31những bước tiến nhằm thay đổi mối quan hệ giai cấp sâu sắc của nhân dân lao động và giai cấp quý tộc, đại địa chủ Hạn chế những cuộc khởi nghĩa, đấu tranh của người nông dân “Năm 1373 Hồ Quý Ly lựa những dân lưu vong làm thuê ở Thanh Nghệ để sung vào quân đội, như thế cũng tránh được cái nạn dân nghèo tụ tập cướp phá Cũng trong mục đích trừ nạn ấy, năm
1403 Hồ Quý Ly định phép di dân, dời một số dân không có ruộng vào miền đất mới chiếm được của Chiêm Thành, hai xứ Chiêm Động và Chiêm Lũy
để khẩn đất lập ấp Di dân được tổ chức thành đội ngũ như quân đội, mỗi người phải thích ở cánh tay của mình hai chữ tên châu mình ở, như thế để đề phòng đào ngũ Năm sau, Quý Ly cho vợ con những di dân vào, nhưng thuyền đi giữa biển gặp bão, chết đuối rất nhiều.” [2, 272]
Nhằm mục đích để tước giảm thế lực của bọn đại quý tộc nhà Trần, một mặt thủ tiêu chế độ đại điền trang đã suy tệ bấy lâu, Hồ Quý Ly đặt phép hạn điền năm 1397 và phép hạn nô năm 1401 Theo phép hạn điền thì mỗi người thứ dân – địa chủ thường - chỉ được giữ 10 mẫu trở xuống, còn
dư phải nộp vào quan Đối với bọn đại quý tộc thì chỉ Đại vương và trưởng công chúa được giữ thái ấp biệt trang, số quan lại quý tộc còn lại tùy theo tước phẩm mà được giữ một số ruộng đất nhất định, quá số ấy phải nộp vào quan Lại có thêm lệ những người nào có tội được phép nộp ruộng chuộc tội Điều này cho chúng ta thấy rằng chính sách của Hồ Quý Ly đưa ra một mặt hạn chế bọn địa chủ thường, một mặt bác tước bọn đại quý tộc, duy bọn quan liêu là lớp địa chủ bậc trung, có thể gọi là lớp tiểu quý tộc thì đại khái không bị xâm phạm mấy, điều này lại khiến cho Nhà nước được thêm nhiều ruộng công Riêng về phép hạn nô thì phàm quý tộc, quan liêu mỗi bậc phẩm chỉ được giữ một số gia nô nhất định, còn dư thì xung làm quan nô Một số lớn gia nô của bọn đại quý tộc chuyển làm quan nô để canh tác ruộng công của Nhà nước, do vậy một số lớn tư nô đã chuyển thành quan
Trang 32nô Nhà Hồ còn cho làm lại sổ hộ, biên hết tên những người từ hai tuổi trở lên Những dân phiêu tán đều bị loại ra ngoài sổ, dân kinh thành trú ngụ ở các phiên trấn phải trở về quê quán Năm 1405 khi nạn đói xảy ra, nhà Hồ lệnh cho các quan địa phương đi khám xét các nhà giàu có thừa thóc, bắt phải bán cho dân đói theo thời giá
Năm 1397 theo đề nghị của Hồ Quý Ly, vua Trần xuống chiếu hạn định số ruộng tư, vua và trưởng công chúa không có hạn định còn thứ dân không được có quá 10 mẫu, người nào có nhiều ruộng thì được phép lấy ruộng ra chuộc tội, số ruộng thừa thì sung công Hồ Quý Ly cho các quan về địa phương làm lại sổ ruộng đất Ai có ruộng tư phải kê khai rõ số ruộng và ghi tên mình trên thẻ cắm trên ruộng, ruộng nào không có ai nhận thì nhà nước sẽ sung công Nhà Hồ còn định thuế ruộng, thuế đinh chỉ đánh vào người có ruộng được chia, còn đàn bà góa, trẻ mồ côi thì không cần phải nộp
Trong sự thay đổi về kinh tế của Hồ Quý Ly còn thể hiện ở việc ông
đã cho phát hành tiền giấy, Hồ Quý Ly đã cho in bảy hạng tiền giấy In xong ông cho nhân dân mang tiền đồng đến đổi, cứ một quan tiền đồng thì lấy một quan hai tiền giấy, tiền đồng thì cấm tuyệt không được dùng nữa, phải đem nộp hết cho quan, ai dùng riêng hay cất riêng sẽ bị tử hình cũng như người in tiền giả Để đề phòng nạn hạ giá vì lạm phát, Hồ Quý Ly lại cấm các nhà buôn không được tự ý đóng cửa hàng hay bán hàng giá cao và đặt chức thị giám ở kinh kỳ để kiểm soát việc buôn bán, cốt không cho nhà buôn phá giá tiền giấy Đây được coi là sự thay đổi táo bạo nhất của Hồ Quý Ly , ông đã thổi vào nền kinh tế đang suy sụp do hậu quả của việc ăn chơi trác táng của Vua, quan và giai cấp đại địa chủ phong kiến thời nhà Trần để lại một luồng gió mới mang lại nhiều thay đổi tích cực cho tình hình phát triển tài chính của nhà nước cũng như nông dân lúc bấy giờ
Trang 33Sau khi Hồ Quý Ly thực hiện chính sách cải cách vào thời nhà Trần
đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho việc phát triển kinh tế, trong đó điều đặc biệt nhất của ông đó chính là việc phát hành tiền giấy, tuy lúc đầu còn vấp phải những phản đối của tầng lớp thương nhân và phú thương, tuy nhiên điều đó cũng đã góp phần thúc đẩy làm cho thương nghiệp phát triển hơn Nhưng cuộc xâm lược của nhà Minh đã làm gián đoạn việc phát triển ấy, sự đàn áp, bóc lột không tiếc chi của nhà Minh kèm theo đó là sự cướp bóc , giết chóc của quân lính đã làm cho nền kinh tế của Đại Việt lúc bấy giờ trở nên kiệt quệ và đình trệ trong suốt thời gian dài
Ngoài ra, nhà Hồ còn có những chính sách thay đổi trong các lĩnh vực khác của xã hội như trong văn hóa – giáo dục Hồ Quý Ly soạn sách phê phán Khổng tử, chê trách các nhà Tống Nho , đề cao Chu công Năm 1369
Hồ Quý Ly bắt các nhà sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục và tổ chức thi về giáo lý nhà Phật, ai thông hiểu thì mới được ở lại làm sư Hồ Quý Ly cũng là người đề cao chữ Nôm, ông cho sửa đổi lại chế độ thi cử, đặt kì thi Hương ở địa phương và thi Hội ở kinh thành Những người đã thi Hội thì phải làm thêm một bài văn sách do vua ra đề để định thứ bậc Năm 1397 Hồ Quý Ly
đề nghị nhà nước đặt các học quan ở các lộ Sơn Nam, Kinh Bắc, hải Đông
và cấp ruộng cho các phủ, châu Hồ Quý Ly cho nhân dân xây kinh đô mới
ở An Tôn, để lại cho đời sau một công trình kiến trúc lớn thường gọi là thành nhà Hồ
Hồ Quý Ly không chỉ có những đóng góp trong việc thay đổi về xã hội mà ông còn có những đóng góp to lớn về mặt chính trị Cuối thế kỉ XIV nhà Trần đã mất đi năng lực quốc phòng để giữ gìn biên giới, các vị Vua cuối cùng nhà Trần nhu nhược yếu hèn Hồ Quý Ly xuất hiện như một cái phao cứu vãn nhà Trần Ông đã giúp triều đình củng cố lại triều chính và quân đội Hai cha con Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng đã xây dựng được
Trang 34một nền công nghệ quốc phòng cao độ có khả năng sản xuất ra những vũ khí tân kỳ Với sự khôn ngoan, mưu lược cùng với quyền lực trong tay Hồ Quý
Ly đã mở ra triều đại nhà Hồ Tuy nhiên, Hồ Quý Ly phải đương đầu với tham vọng to lớn hơn ở Phương Bắc Đầu thế kỷ XV Trung Hoa đã được bình định và bước vào giai đoạn phục hưng Minh Thành Tổ muốn mở rộng biên giới về phương Nam, nhân cơ hội một số quan lại nhà Trần chạy qua Kim Lăng dâng sớ tố cáo nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, Nhà Minh đã phất ngọn cờ Diệt Hồ Phù Trần để đem quân sang Đại Việt Thực chất của chiến dịch chinh Nam với 800 ngàn quân dưới nhãn Diệt Hồ Phù Trần của nhà Minh là một cuộc chiến tranh xâm lược đi liền với một cuộc di dân Mặt trận tâm lý Diệt Hồ Phù Trần của Minh Thành Tổ đã đánh vào nhược điểm về giá trị chính thống của chính quyền Hồ Quý Ly Đòn tâm lý này gây dao động mạnh mẽ trong quần chúng và chi phối mạnh mẽ ý chí chống quân xâm lược của nhân dân Đại Việt Mất đi tính chính thống, Hồ Quý Ly mất đi
sự ủng hộ trong công cuộc kháng chiến, cho nên Hồ Quý Ly đã thất bại trên mặt trận chiến tranh chính trị trước khi mặt trận quân sự bị sụp đổ “Có thể thấy, Hồ Quý Ly là một nhân vật hành động, có tầm nhìn, có năng lực và sự quyết đoán mạnh mẽ Đề ra những biện pháp cải cách, lật đổ triều Trần, ông muốn tìm ra con đường giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Đại Việt cuối thời kì nhà Trần, tìm ra lối thoát nhằm xây dựng một nhà nước tập quyền vững mạnh Tuy nhiên, Hồ Quý Ly cũng là một con người đầy thủ đoạn, độc đoán, chủ quan duy ý chí, cộng với các chính sách cải cách nửa vời, thiếu triệt để, dẫn đến chỗ làm mất lòng dân.” [10, 29]
Tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi không chỉ bị chi phối bởi điều kiện kinh tế, lịch sử xã hội nước ta thời bấy giờ mà còn phản ánh thực tiễn của cuộc cách mạng chống quân Minh xâm lược nhân dân ta.Từ lâu nhà Minh
đã có âm mưu xâm lược nước ta, nhưng khi nhà Hồ được thành lập thì tình
Trang 35hình Trung Quốc cũng có những rối loạn cho đến khi Minh Thái Tông diệt Huệ Đế, lên ngôi, âm mưu xâm lược Đại Việt mới được đẩy mạnh Năm
1406 nhà Minh sai hai tướng Hàn Quan và Hoàng Trung đem hơn 5000 quân kéo sang nước ta, lấy cớ là hộ tống Trần Thiêm Bình về làm vua nhưng đến Lạng Sơn thì bị quân nhà Hồ đánh tan, chúng phải xin nộp lại Thiêm Bình để được bình yên rút về Sau đó, nhà Minh còn cử hai đạo quân lớn gồm hàng chục vạn lính chiến và dân công, tấn công xâm lược nước ta theo hai đường vào Lạng Sơn và vào mạn Tây Bắc, ngoài ra nhà Minh còn cho người sang Chăm pa và xúi giục quân Chăm pa đánh vào phía nam Đại Việt Một số quan lại nhà Trần đã phản lại Tổ quốc, xin hàng quân Minh làm rối hàng ngũ kháng chiến Trước những hành động của nhà Minh, nhà Hồ đã khẩn trương phòng vệ nhưng trong tình thế khó khăn này lòng dân lại không hướng về nhà Hồ bởi những bất mãn về những chính sách cải cách mà Hồ Quý Ly đưa ra, nhà Hồ vẫn kiên quyết tổ chức cuộc kháng chiến Thực tế trong cuộc kháng chiến này chúng ta cũng thấy được rằng, quân tướng nhà Trần và một bộ phận nhân dân đã chiến đấu rất anh dũng và quyết liệt, nhưng cuối cùng cuộc kháng chiến vẫn thất bại Nguyên nhân thất bại không chỉ là cách đánh mà còn do những tác động của cuộc khủng hoảng cuối thời nhà Trần làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân và giai cấp thống trị ngày càng tăng Mong sớm giải quyết cuộc khủng hoảng trước nguy cơ ngoại xâm mà Hồ Quý Ly đã mạnh tay tiến hành cuộc cải cách về mọi mặt, thậm chí là giành lấy ngôi vua Hồ Quý Ly cũng đã làm được một số việc phù hợp với yêu cầu chung của xã hội đưa ra nhưng lại không thể xoa dịu những mâu thuẫn sâu sắc vốn có Một số hành động đàn áp, tàn sát do việc chuyển đổi triều đại gây
ra lại tạo thêm khó khăn cho việc giải quyết những mâu thuẫn Cuộc kháng chiến thất bại, cha con họ Hồ bị giặc bắt và đưa về Trung Quốc Nhưng cuộc
Trang 36thất bại của kháng chiến thời Hồ chỉ là tạm thời, với truyền thống yêu nước lâu đời, nhân dân ta lại đứng lên đấu tranh và giành độc lập cho dân tộc
Trong quá trình xâm chiếm nước ta Minh Thái Tổ muốn đồng hóa dân tộc ta và được thể hiện bằng những thủ đoạn nhằm tiêu diệt văn hóa, tiêu diệt dân tộc ta, biến dân tộc ta thành một dân tộc bị đàn áp, áp bức và xóa sổ đất nước ta khỏi bản đồ thế giới “Cụ thể là tên nước Đại Việt bị xóa bỏ, đất đai bị chia cắt thành quận, huyện, châu, phủ của nhà Minh Trong bộ máy chính quyền đô hộ, bên cạnh những tướng sĩ, quan lại nhà Minh cử sang giữ những chức vụ chủ chốt, chúng còn tích cực đào tạo một đội ngũ quan lại người Việt khá đông gọi là bọn thổ quan…chúng bắt những trẻ em khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú đưa về Trung Quốc, biến các em thành những tôi đòi trung thành, những người phục dịch trong cung cấm triều đình nhà Minh, người thì đưa về nước làm thổ quan.” [ 10, 30] Ngoài ra nhà Minh còn làm nhiều cách để nhằm xóa bỏ văn hóa Đại Việt tiêu hủy hết những bản in sách, các giấy tờ, sách học của học sinh, những bia do người Đại Việt dựng nên đều
bị phá bỏ Những diển chương, sách vở học tập của đất nước ta đều bị giặc Minh đem đốt hết, nhà Minh còn phát hành sách Ngũ Kinh, Tứ thư, Tinh lý đại toàn để cho các học hiệu phủ châu huyện cho học sinh ta học, theo hẳn chương trình học của Trung Quốc Nhà Minh còn đặt các cơ quan Y học, Âm dương học, Tăng cương ty…để truyền bá những học thuật và tín ngưởng tôn giáo của Trung Quốc cho nhân dân ta, cấm đàn ông, đàn bà không được cắt tóc ngắn, bắt đàn bà con gái phải mặc áo ngắn quần dài Nhà Minh còn bắt nhân dân ta phải bỏ đi những tập tục văn hóa lâu đời của dân tộc và thay vào
đó là văn hóa và phong tục tập quán của nhà Minh Trong những năm xâm chiếm nước ta, nhà Minh đã biến đất nước ta thành một quận của chúng và cắt cử những vị quan lại của Trung Quốc để quản lý đất nước
Trang 37Khi quân Minh xâm lược nước ta, chúng đã bắt đầu đặt ra những thuế khóa nhằm vơ vét tài sản của nhân dân ta Tại các châu, phủ đều được đặt những ty thuế khóa để thu các thứ thuế và để kiểm soát tình hình buôn bán bằng thuyền bè Chúng bắt nhân dân ta phải nộp điền tịch, thuế bãi dâu, nộp nhiều món phụ đảm linh tinh Ngoài thuế điền và các món sai dịch, nhà Minh còn đặt nhiều thứ thuế khác, đánh đủ các thuế thổ sản, thuế muối, đè nặng đôi vai của người dân Nhà Minh còn ra sức bắt nhân dân ta phải đi đến những nơi rừng thiêng nước độc để tìm những của cải trân quý nhằm phục vụ cho nhu cầu của nhà Minh “Nhà Minh lập những trường khai mỏ vàng bạc ở miền thượng du, đặt quan chức đốc suất ở mỗi trường, bắt dân đinh khai quật được bao nhiêu phải nộp cả cho quan Dân đinh làm vất vả,
ăn ở khổ sở, lại bị hành hạ và chịu khí hậu độc địa, chết chóc rất nhiều Dân
ở miền núi thì lại mắc vạ phải đi săn tê, săn voi, dân miền biển thì mắc vạ đi
mò ngọc trai ở Tĩnh An, mỗi ngày phải lấy hàng ngàn hột Phàm những thổ sản quý hiếm như các hương liệu, hươu sao, voi trắng, rùa rắn quý, chim muông hiếm, dân phải đi tìm kiếm để nộp cho quan …”[ 2, 296 - 297 ] Người dân Đại Việt đã phải chịu những thuế má nặng nề và còn phải chịu những hành hạ của quân Minh xâm lược, chính vì thấy được những điều ấy
mà trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của mình, Nguyễn Trãi đã khắc họa tội lỗi mà nhà Minh đã gây ra cho những người dân vô tội
Khai mỏ vàng, thì xông pha lam chướng, phá núi đãi vàng
Mò ngọc trai thì mặc giao long, giòng dây quẳng biển
Nhiễu dân đào hầm bẫy hươu đen
Hại vật, giăng lưới bắt chim trả
Cỏ cây sâu bọ, không loài nào được thỏa sống còn
Quan quả khốn cùng, chẳng một ai được ở yên ổn
Hút máu mủ sinh linh, quân tham ác miệng răng nhờn béo [ 66, 78 ]
Trang 38Dưới dự thống trị tàn ác và đồng hóa cưỡng bức của nhà Minh, nhân dân ta hết sức khổ cực và căm ghét chế độ độc tài ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa
đã nổi lên và chống lại ách đô hộ của nhà Minh, những nhà yêu nước, những nhân vật kiệt xuất mang trong mình tư tưởng lớn vì nước, vì dân lần lượt xuất hiện Một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu đó là cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn mà người đứng đầu chính là Lê Lợi với sự kết hợp tài tình với nhà yêu nước thương dân Nguyễn Trãi đã mở ra một chân trời mới cho người dân Đại Việt đang bị giày xéo dưới gót giày quân xâm lược Nguyễn Trãi xuất thân trong một gia đình dòng dõi khoa bảng, từng nắm giữ những chức vụ lớn trong triều Ông ngoại của ông quan tư đồ Trẩn Nguyên Đán là vị tôn thất nhà Trần Người ôn ngoại kính yêu luôn ở bên nuôi dưỡng Nguyễn Trãi từ khi sinh ra và lớn lên bằng những lời dạy thấm đẫm truyền thống dân tộc và đạo lý làm người, chính điều này cũng đã có tác động hết sức mạnh mẽ đến tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi sau này Ông ngoại và cha đều là những nho sĩ uyên bác có kiến thức sâu rộng và chí hướng cao đẹp cùng lòng nhiệt huyết yêu nước nên ngay từ khi còn nhỏ Nguyễn Trãi đã phần nào có thêm vốn hiểu biết, bản lĩnh vững vàng để quan sát và thể nghiệm việc đời “thanh niên phương dự ái nho lâm” [66, 364] Nguyễn Trãi ngay từ rất sớm đã bộc lộ trí tuệ hơn người, chăm lo dùi mài kinh sử và ông đã đậu Thái học sinh khi mới vừa 20 tuổi Nguyễn Trãi được tiếp thu những kiến thức đương thời đã góp phần hình thành nên tư tưởng Nguyễn Trãi có những nét riêng không một ai cùng thời có được Nguyễn Trãi đón nhận lòng “cao đẹp của những người tri thức gắn bó với nhân dân, học ở ông ngoại tấm lòng thương nhân dân đến bạc đầu” [67, 13] Cuộc đời Nguyễn Trãi đã trải qua bao biến cố lịch sử và với mỗi biến cố đó do hoàn cảnh của gia đình và bản thân, ông đều đứng vững và an tĩnh để đón nhận
Trang 39thông tin, để ngẫm nghĩ và phân tích, để đánh giá và tìm ra con đường thoát, hình thành nên nhận thức của ông luôn luôn năng động và sáng suốt
Ngay từ nhỏ Nguyễn Trãi đã được cha và ông ngoại dạy dỗ lối sống mộc mạc và giản dị Sau này, khi Nguyễn Trãi lưu lạc mười năm, sống cùng những người dân và nếm trải những khó khăn mà người dân đã trải qua làm cho ông có những ấn tượng sâu đậm và nung nấu thêm trong lòng ông những khao khát giải phóng nhân dân thoát khỏi áp bức đang đè nặng Khi giặc Minh sang xâm lược nước ta, cha của Nguyễn Trãi bị bắt đưa về Trung Quốc, ông cùng người em của mình là Nguyễn Phi Hùng đã đi theo cha Trên đường đi, Nguyễn Phi Khanh đã nói với Nguyễn Trãi “ Con là người học có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, báo thù cho cha Như thế mới là đạo hiếu Lọ là cứ phải đi theo cha khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao ?” [66, 13], ông đã quay trở lại tìm con đường đánh giặc cứu nước Về đến Thăng Long, Nguyễn Trãi bị quân Minh bắt, thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc tìm cách dụ dỗ nhưng ông cương quyết không theo giặc Nguyễn Trãi là người am hiểu thời thế và biết rõ bản chất cảu kẻ thù và không thể chịu cảnh sống cá chậu chim lồng trong khi thù nước hận nhà luôn luôn nung nấu và sôi trào trong tim gan ông Sau một thời gian bị giam lỏng, ông đã rời khỏi Đông Quan và ẩn náu trong nhân dân ở những vùng quê xa xôi, hẻo lánh:
“ Luân lạc từ khi ra đất khách,
Thanh minh tính đã trải bao hồi
Mả mồ nghìn dặm khôn thăm viếng,
Thân cựu mười năm thảy rụng rơi.”[66, 272]
Trong mười năm ông lưu lạc sống trong nhân dân ông đồng cảm với nỗi khổ của dân và nhận ra sự thống trị tàn bạo của quân Minh đối với dân tộc ta Ông cảm nhận sâu sắc những nổi khổ mà nhân dân ta đã phải gánh chịu, quân Minh bắt nhân dân ta phải đến những nơi nguy hiểm để săn bắt
Trang 40những con vật quý hiếm, lên rừng xuống biển để khai thác vàng, mò ngọc trai Quân Minh đã có những chính sách hà khắc, hình phạt nặng nề để chèn
ép, đàn áp nhân dân ta và tội ác của quân Minh lại chủ yếu đánh vào những người dân đen con đỏ Trong Lam sơn thực lục quyển thứ nhất, Nguyễn Trãi
có viết “ Từ đấy tướng giặc ngày càng kiêu, thế giặc ngày càng dữ, bắt giết
kẻ trung lương, ngược đãi người cô độc Trong nước oán thán, người ta không sống được Chính sự hà khắc, hình phạt nặng nề, không có cái gì là chúng không làm Cấm mắm muối để khốn sự ăn uống của dân, nặng thuế
má giao dịch để vét tài sản của dân Xuống biển mò ngọc, đục núi lấy vàng, ngà voi, sừng tê, lòng trả, gỗ thơm, phàm sản vật của ta, tất chúng muốn lùng vơ vét cho hết, không bỏ sót thứ gì để lấp dục vọng sâu như hang hốc Phàm dân ta bị coi là phản trắc, khó trị, tất bị chúng lừa dối đưa đi nơi khác
để thỏa lòng cùng binh độc vũ Lại xây hơn mười tòa thành, chia quân đóng giữ để trấn áp lòng người, khiến cho kẻ sĩ trí mưu của ta không hành động gì được Lại khéo dùng dang mục cưỡng ép hào kiệt giả cho vào triều làm quan
để an trí đất Bắc” [66, 48] Chính vì vậy mà những phong trào đấu tranh chống nhà Minh lúc này chủ yếu là những cuộc đấu tranh của người dân sống dưới sự cùm kẹp, đô hộ Tuy nhiên những cuộc đấu tranh của người dân càng phát triển mạnh mẽ thì lại càng bị quân giặc đàn áp dã man, tầng lớp quý tộc, địa chủ, bọn ngụy quan hay thương nhân giàu có lại rất ít ủng
hộ các cuộc khởi nghĩa này mà đa số là của những người nông dân đứng lên đấu tranh để giành lấy sự tự do của chính mình
Sống trong giai đoạn lịch sử này Nguyễn trãi đã chứng kiến tiến trình lịch sử từ thời kì xa hoa, giàu có của đại quý tộc nhà Trần Rồi ông lại chứng kiến chính sự suy tàn của Nhà Trần bởi những cải cách mang tính đổi mới của Hồ Quý Ly: phát hành tiền giấy, di dân khẩn hoang quy mô, xây thành trì kiên cố, đóng thuyền chiến, dời đô vào Thanh Hóa…Sự thất bại